Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật hiện hành về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định về “Phán quyết trọng tài nước ngoài” theo pháp luật Việt Nam.
2.1.1. Khái niệm “Phán quyết trọng tài nước ngoài” tại Việt Nam.
Nhìn từ quy định của Công ước New York, khái niệm PQTTNN là khái niệm quan trọng bậc nhất, đóng vai trò cốt lõi trong việc cho CNVCTHPQTTNN. Theo đó, ngay tại mục 1 của Điều I Công ước New York đã quy định về hai yếu tố để xác định một PQTT là PQTTNN, cụ thể như sau:
Yếu tố lãnh thổ nước ngoài (principle of territory hay territorial approach): “Phán quyết được xem là PQTTNN nếu phán quyết này được ban hành tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi mà việc yêu cầu công nhận và cho thi hành phán được tiến hành”5
Yếu tố không phải trong nước (non-domestic): “một phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi tiến hành việc công nhận và cho thi hành nhưng không được coi là PQTT trong nước thì cũng được xem là PQTTNN”.
Yếu tố lãnh thổ là yếu tố căn bản, chính yếu và có vai trò quyết định tính nước ngoài của một PQTT theo tinh thần của công ước để xác định PQTTNN. Theo đó, “PQTT được ban hành ở một quốc gia khác với quốc gia được yêu cầu CNVCTH được xem là PQTTNN”. Việc xác định thế nào là một PQTT không phải trọng tài trong nước được Công ước để ngỏ cho pháp luật của quốc gia nơi tiến hành thủ tục công nhận PQTT xem xét. Có nhiều lý do có thể khiến cho các PQTT được tuyên trong lãnh thổ quốc gia nhưng không được xem là PQTT trong nước như: “luật áp dụng cho tố tụng trọng tài là luật nước ngoài hoặc các bên tranh chấp cư trú hoặc có trụ sở kinh doanh ngoài lãnh thổ hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp ở quốc gia khác…”. Có thể thấy Công ước đã quy định tương đối rõ ràng về mặt cơ sở pháp lý để xác định PQTTNN. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam cũng có cách diễn giải khác khi nội luật hóa quy định của công ước về các cơ sở xác định PQTTNN.
Theo định nghĩa tại Khoản 11 Điều 3 của LTTTM 2010 về khái niệm trọng tài nước ngoài thì “Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Có thể thấy vấn đề mấu chốt là phải xác định rõ thế nào là “Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài” thì mới có cơ sở để xác định rõ TTNN. Việc thành lập trọng tài được hiểu là thành lập tổ chức/trung tâm trọng tài hay chỉ là việc thành lập hội đồng trọng tài (bao gồm trường hợp chỉ có một (01) trọng tài viên) để giải quyết tranh chấp. Khoản 1 Điều 3 LTTTM 2010 quy định rằng: “trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”. Quy định này chỉ ra rằng Trọng tài phải được hiểu đúng là “phương thức giải quyết” theo pháp luật về trọng tài chứ không phải là Tổ chức/trung tâm trọng tài hay Hội đồng trọng tài. Như vậy, “trọng tài” ở đây được hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp bao gồm nhiều vấn đề như xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (hội đồng trọng tài), các chuẩn mực về cách thức tiến hành tố tụng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài…”. Các vấn đề này được điều chỉnh bởi “pháp luật trọng tài áp dụng cho phương thức giải quyết tranh chấp trọng tài cụ thể” và còn được gọi là “pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài” (lex arbitri).
Như vậy, nếu pháp luật “điều chỉnh tố tụng trọng tài” là LTTTM Việt Nam thì trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và được xem là trọng tài trong nước. Ngược lại, nếu “pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài” là pháp luật nước ngoài thì trọng tài được thành lập theo pháp luật TTNN, do đó, trọng tài đó phải được coi là TTNN.
Việc xác định rõ ràng rằng Trọng tài là “phương thức giải quyết tranh chấp” chứ không phải là trung tâm/Hội đồng trọng tài hay quốc tịch của trọng tài viên, do đó việc pháp luật Việt Nam cũng sử dụng thuật ngữ “phán quyết của trọng tài nước ngoài” thay vì thuật ngữ “phán quyết trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral award) – một thuật ngữ chính thức hơn được ghi nhận trong các ngôn ngữ chính thức của công ước New York cũng là chưa phản ánh chính xác bản chất của khái niệm này. Cách gọi này dễ gây hiểu lầm rằng việc xác định thế nào là PQTTNN là việc xác định quốc tịch của trọng tài hoặc Hội đồng/trung tâm trọng tài thay vì bản chất đúng phải là xác định QPTTNN dựa vào pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài. Quy định về nơi tuyên PQTT cũng là một nội dung cần quan tâm để xác định PQTTNN. Theo Điều 1 công ước New York 1958 “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó …”. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam sử dụng cụm từ “được tuyên tại…” trong các quy định của luật quốc gia. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Cụ thể, theo Quy định tại Điều 2 QĐ số 453/QĐ-CTN ngày 28/07/1995 thì: “Công ước chỉ áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ quốc gia là thành viên của Công ước này. Đối với quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại”. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 12 Luật TTTM 2010 thì “Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”.
Vậy phải chăng “nơi tuyên phán quyết” và “nơi ban hành phán quyết” là một? Nếu xem hai khái niệm này là một thì một quy định khác cũng cần lưu ý tại khoản 8 điều 3 LTTTM 2010 như sau: “… Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phán quyết phải được coi là tuyên tại Việt Nam mà không phụ thuộc vào nơi Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để ra phán quyết đó”. Vậy phải chăng kể cả trường hợp vụ việc được TTNN giải quyết tại Việt Nam thì mặc nhiên là PQTT trọng nước và không có cơ sở để xem xét là PQTTNN, do đó không thuộc trường hợp áp dụng công ước New York căn cứ theo điều 2 của QĐ 453.
Liên quan tới nơi tuyên phán quyết trọng tài, có một sự thừa nhận chung rằng địa điểm ban hành phán quyết được xác định là “địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài” theo quy tắc tố tụng hoặc nơi có pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài (lex arbitri). Như vậy, theo thông lệ quốc tế thì “nơi có pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài” chính là “địa điểm ban hành phán quyết”, là cơ sở để xác định PQTTNN theo quy định của Công ước New York, tuy nhiên pháp luật Việt Nam gần như chỉ quan tâm tới việc xác định “địa điểm tuyên phán quyết” (nơi tuyên phán quyết). Như vậy, nếu hiểu rằng địa điểm tiến hành tố tụng trọng tài chính là “địa điểm ban hành phán quyết trọng tài” thì nơi tuyên PQTT và nơi ban hành PQTT là một. Sẽ có hai trường hợp tạo ra hai tình huống pháp lý đối với vấn đề này: trường hợp các bên không thỏa thuận về pháp luật điều chỉnh tố tụng trọng tài mà chỉ xác định PQTT dựa trên địa điểm giải quyết tranh chấp là Việt Nam thì pháp luật áp dụng là luật Việt Nam và phán quyết được xem là phán quyết trong nước. Tuy nhiên, trường hợp các bên thỏa thuận về pháp luật trọng tài áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp là pháp luật TTNN nhưng địa điểm tuyên phán quyết là tại Việt Nam thì trường hợp này cần xác định rằng “nơi tuyên phán quyết” và “nơi ban hành phán quyết” không phải là một. Và mặc dù, phán quyết được tuyên ở lãnh thổ Việt Nam nhưng sẽ được xem là PQTTNN, khi đó quy định tại khoản 8 điều 3 LTTTM 2010 cần điều chỉnh để phù hợp hơn về bản chất của PQTTNN.
Rất nhiều hệ quả nếu không có quy định rõ ràng để xác định được một phán quyết là PQTTNN hay phán quyết trọng tài trong nước. Một nguyên tắc cốt lõi của pháp luật về TTTM quốc tế là tòa án quốc gia chỉ có quyền CNVCTH hay không công nhận PQTTNN, chứ không có quyền hủy PQTTNN, bởi lẽ tòa án quốc gia chỉ có thể hủy PQTT trong nước. Do đó, việc xác định đúng PQTTNN sẽ giúp cho quá trình thực thi pháp luật trên thực tế được hiệu quả, ít vướng mắc hơn và đạt được mục đích cuối cùng của thủ tục CNVCTHPQTTNN.
2.1.2. Phạm vi công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam: Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
- CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam chỉ áp dụng đối với các PQTT cuối cùng.
Khi tiếp nhận đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN Tòa án cần xem xét xem vụ việc đó đã được đưa ra và giải quyết bằng TTTM theo đúng quy định hay chưa và quyết định trọng tài này đó có phải là một PQTT hay không? Khoản 2 Điều 425 BLTTDS 2015 quy định: “Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành”. Theo khoản 10 Điều 3 LTTTM 2010 thì: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”. Khoản 2 Điều 424 BLTTDS 2015 đã sử dụng thuật ngữ “phán quyết cuối cùng” để chỉ phán quyết trọng tài này.
Trên thế giới, từ góc độ xác định nội hàm của khái niệm PQTT, việc CNVCTHPQTTNN cũng được ghi nhận dưới nhiều góc độ. Theo đó, việc CNVCTH theo phạm vi rộng không những là cho công nhận các phán quyết cuối cùng hay các phán quyết chính thức mà còn CNVCTH các phán quyết từng phần hoặc tạm thời của TTNN như ở Đức, Singapore hay Thụy Sỹ (theo pháp luật Thụy Sỹ, phán quyết từng phần và phán quyết tạm thời có hiệu lực thi hành, chung thẩm, ràng buộc các bên như phán quyết cuối cùng. Các bên có quyền yêu cầu toà án CNVCTH cũng như có quyền yêu cầu hủy phán quyết này như đối với phán quyết cuối cùng) hoặc cho thi hành cả những PQTT phi chính thức như ở Italy (theo pháp luật Italia, các PQTT phi chính thức đã ghi nhận rất rõ sự đồng thuận của các bên về việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp, vì vậy hình thức phán quyết này hoàn toàn có giá trị ràng buộc các bên. Theo quy định của Điều 825 BLTTDS Italia, các bên có thể nộp PQTT tại Tòa phúc thẩm khu vực nơi mà phán quyết được lập để yêu cầu Tòa án CNVCTH). Như vậy, không khó để nhận thấy việc CNVCTHPQTTNN ở Việt Nam theo phạm vi hẹp, chỉ áp dụng với các phán quyết cuối cùng, giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp giữa các bên và chấm dứt tố tụng trọng tài hoặc các phán quyết đồng thuận (theo nội hàm của Điều 58 LTTTM 2010, theo đó, quyết định về sự thoả thuận của các bên phải đảm bảo “giải quyết trọn vẹn toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng” thì mới đạt đủ tiêu chuẩn của một PQTT theo pháp luật Việt Nam).
Quy định của BLTTDS 2015 về PQTTNN được CNVCTH tại Việt Nam đã kế thừa BLTTDS 2004 và phù hợp với Công ước New York 1958. Tuy vậy, thường có rất nhiều vấn đề về mặt nội dung hoặc thủ tục trong một vụ việc nên các PQTT từng phần hoặc tạm thời cũng mang lại những giá trị nhất định, giảm thiểu thời gian chờ đợi của các bên khi có một số nội dung đã nhận được sự thống nhất và cần được thi hành, chứ không nhất định phải đợi tới phán quyết cuối cùng. Do đó, việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam cũng đặt yêu cầu đối với việc xem xét CNVCTH tại Việt Nam đối với các PQTT từng phần và PQTT tạm thời. Đây là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng bối cảnh thực tế, mang lại lợi ích cho các bên khi giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài, đồng thời phát huy được sức mạnh thực tế của công ước New York nói chung. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
- CNVCTHPQTTNN chỉ áp dụng đối với các PQTT giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật thương mại.
Theo điểm (ii) điều 2 Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày 28/7/1995 (Quyết định 453), phạm vi CNVCTHPQTTNN ở Việt Nam còn được giới hạn ở các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật thương mại. Các tranh chấp thương mại quốc tế được hiểu với nội hàm khá hẹp, chỉ bao gồm “các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế…”. Trong khi đó, Khoản 3 Điều 2 LTTTM 2010 quy định về “thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài” bao gồm “tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”, có thể thấy phạm vi các vụ việc thuộc “thẩm quyền giải quyết của trọng tài” là rộng hơn. Căn cứ vào việc thượng tôn sự thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn cơ quan tài phán giải quyết các tranh chấp giữa hai bên thì ngoài các quan hệ pháp luật về thương mại, Trọng tài cũng có thể giải quyết nhiều loại tranh chấp khác nhau chứ không chỉ là các tranh chấp phát sinh từ thương mại. Tuy vậy, pháp luật Việt Nam đã thu hẹp phạm vi các PQTTNN được CNVCTH tại Việt Nam bằng các quy định bảo lưu khi gia nhập công ước New York. Thiết nghĩ, trong bối cảnh hiện tại, cũng cần nghiên cứu rút lại bảo lưu về phạm vi tại điểm (ii) Điều 2 của Quyết định 453 để phù hợp hơn với các chuẩn mực pháp lý quốc tế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Trung tâm TTTM Việt Nam cũng như mở rộng phạm vi các PQTTNN được CNVCTH tại Việt Nam, phù hợp với Công ước New York 1958.
2.2. Nguyên tắc và thủ tục cho công nhận và thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
2.2.1. Nguyên tắc công nhận và cho thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
BLTTDS 2015 quy định về các nguyên tắc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, theo đó, PQTTNN được xem xét công nhận và cho thi hành theo hai nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc có điều ước quốc tế về CNVCTHPQTTNN (Điểm a Khoản 1 Điều 421 BLTTDS 2015):
Nguyên tắc này cũng là một thông lệ quốc tế và được ghi nhận chính thức tại Điều 1 Công ước New York 1958 và BLTTDS 2015, theo đó PQTTNN được xem xét CNVCTH tại Việt Nam nếu nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về CNVCTHTTNN.
Theo quy định tại Luật điều ước quốc tế thì: “Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”68. Có thể hiểu rằng việc các quốc gia cùng là thành viên của điều ước quốc tế đó có nghĩa là về cơ bản các quốc gia đã đồng thuận với nhau trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện về mặt nguyên tắc, tinh thần để thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc, bao gồm các quyền và nghĩa vụ với nhau liên quan tới vấn đề pháp lý đó. Việc còn lại sẽ liên quan tới việc áp dụng quy định pháp luật quốc gia để đảm bảo sự hài hòa trong việc áp dụng pháp luật quốc gia mà vẫn đảm bảo tuân thủ những quy định của điều ước quốc tế đã ký kết. Có điều ước quốc tế là cơ sở đầu tiên để xem xét việc cho CNVCTHPQTTNN trên thực tế vì phù hợp với yêu cầu bảo vệ trật tự công cộng, lợi ích quốc gia của nước được yêu cầu CNVCTH. Việc CNVCTHPQTTNN hiện nay được các nước áp dụng theo quy định Công ước New York. Công ước đã chỉ ra các tiêu chuẩn pháp lý chung đối với hoạt động công nhận các thỏa thuận trọng tài cũng như việc CNVCTH các PQTTNN trên thực tế. Việc quy định rõ ràng trong điều ước quốc tế là cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch nhất để các quốc gia thực hiện các thủ tục CNVCTHPQTTNN này. Thực tế, đối với hoạt CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam thì việc PQTT ban hành ở các nước là thành viên công ước New York đều được Tòa án Việt Nam tiếp nhận và giải quyết đã tạo nhiều thuận lợi cho việc thực hiện thủ tục này. Đây cũng là cơ sở pháp lý được áp dụng gần như toàn bộ cho các yêu cầu này trên thực tế hiện nay. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Ngoài ra, về các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã ký kết thì có tổng cộng 18 nước đã ký Hiệp định song phương, trong đó có 14 hiệp định về tương trợ tư pháp đề cập đến quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, phán quyết của TTNN, bao gồm các hiệp định với: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ. Trong các HĐTTTP mà nước ta ký thời gian gần đây (Hiệp định với Nga, Trung Quốc, Pháp) cũng quy định đối với việc CNVCTH các PQTT cũng thực hiện theo các quy định của Công ước này.
Theo đó, “các PQTTNN sẽ được thi hành như những quyết định của Toà án trong nước và các cơ quan tư pháp của quốc gia đó có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành các PQTT này”.
Việt Nam đã là thành viên của Công ước New York với 172 nước là thành viên nên Tòa án Việt Nam sẽ CNVCTHPQTT các nước là thành viên của Công ước. Tuy nhiên, việc CNVCTH tại Việt Nam các PQTTNN còn phụ thuộc vào các quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam, chủ yếu là các quy định của BLTTDS 2015 và LTTTM 2010.
- Nguyên tắc có đi có lại (Điểm b Khoản 1 Điều 421 BLTTDS 2015):
Quy định này nhằm giải quyết các trường hợp phát sinh yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam mà nước đó chưa phải là thành viên của Công ước New York 1958 cũng như giữa hai nước cũng không tham gia ký kết bất kỳ văn bản hoặc thỏa thuận liên quan nào về vấn đề này. “Nguyên tắc có đi có lại” còn là cơ sở để Việt Nam bảo vệ các lợi ích công cộng của Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng. Trong trường hợp quốc gia nước ngoài từ chối công nhận PQTT Việt Nam với lý do giữa Việt Nam và nước đó chưa có điều ước quốc tế điều chỉnh vấn đề này thì Việt Nam có quyền từ chối công nhận PQTT của quốc gia đó trên cơ sở có đi có lại.
Hiện nay chưa có quy định pháp luật cụ thể xác định việc CNVCTH trên cơ sở “có đi có lại” sẽ căn cứ trên các tiêu chí nào và cơ quan nào có thẩm quyền quyết định. Mặc dù thực tế chưa có trường hợp nào tòa án phải xem xét vấn đề áp dụng “nguyên tắc có đi có lại” với việc CNVCTTPQTTNN tuy nhiên do không có hướng dẫn về các tiêu chí để áp dụng “nguyên tắc có đi có lại” nên các Tòa địa phương vẫn có thể gặp vướng mắc trong vấn đề này khi gặp phải trên thực tế. Tòa án thường viện dẫn đến các quy định của luật tương trợ tư pháp về thẩm quyền của bộ ngoại giao trong việc xem xét áp dụng “nguyên tắc có đi có lại trong hoạt động tương trợ tư pháp” tại Điều 66 Luật tương trợ tư pháp năm 2007. Tuy nhiên, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ đang làm việc tại Bộ Tư pháp thì vai trò của Bộ Tư pháp cần được phát huy hơn trong vấn đề này. Hiện nay, các vấn đề cụ thể liên quan đến việc áp dụng “nguyên tắc có đi có lại” chỉ được quy định tương đối chi tiết tại Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP- BNG TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và TANDTC cao về “Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp”.
Hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự trong đó có hoạt động phối hợp với bộ ngoại giao xem xét áp dụng “nguyên tắc có đi có lại” để tham vấn ý kiến của hai cơ quan này. Điều này có thể xuất phát từ việc hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự theo định nghĩa trong luật tương trợ tư pháp không bao gồm hoạt động CNVCTTPQTTNN nhưng vẫn được liệt kê trong phạm vi của các HĐTTTP về dân sự trong phương mà Việt Nam ký kết với các nước. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Mặc dù “nguyên tắc có đi có lại” là hoàn toàn có thể áp dụng giữa các nước nhằm đáp ứng được yêu cầu đảm bảo trật tự công cộng, bảo vệ lợi ích của Việt Nam, tuy vậy việc xác định một quốc gia nào đó để áp dụng nguyên tắc này là việc phức tạp. Điều này phụ thuộc vào nhiều khía cạnh như chính trị, ngoại giao giữa hai nước cũng như thực tiễn áp dụng việc CNVCTHPQTT ở cả hai quốc gia. Trên thực tế giải quyết các yêu cầu CNVCTHPQTTNN, tác giả chưa thấy một quyết định hay bản án nào áp dụng cơ sở pháp lý là nguyên tắc có đi có lại. Có thể thấy, các Tòa án cũng còn nhiều lúng túng trong việc xem xét xử lý các đơn yêu cầu CNVCTTPQTTNN liên quan tới việc áp dụng cơ sở có đi có lại trên thực tế, thậm chí không thể áp dụng hay thực thi nguyên tắc này trên thực tế, do đó cần có quy định hướng dẫn chi tiết hơn về cơ sở này.
2.2.2. Thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
2.2.2.1 Điều kiện về đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
- i. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Tại khoản 1 điều 425 BLTTDS 2015 về quyền yêu cầu CNVCTH hoặc không công nhận PQTTNN thì người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam CNVCTH tại Việt Nam PQTTNN, khi:
- Cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam;
- Cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam;
- Tài sản liên quan đến việc thi hành PQTTNN có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
Thứ nhất, quy định này chỉ ra tư cách chủ thể của người nộp đơn yêu CNVCTH là “người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Theo quy định này, chỉ có người được thi hành trong PQTTNN mới có quyền nộp đơn yêu cầu CNVCTHPQTT đó tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định điều kiện về thời hạn nộp đơn yêu cầu thì chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu bao gồm “người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Như vậy, phạm vi chủ thể được nộp đơn yêu cầu theo khoản 1 Điều 451 lại rộng hơn quy định tại khoản 1 Điều 425 và trên thực tiễn sẽ rất khó giải quyết yêu cầu CNVCTHPQTTNN nếu rơi vào trường hợp này do hai chủ thể “người được thi hành” và “người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan” là hai chủ thể khác nhau và trong BLTTDS 2015 chưa có quy định nào định nghĩa “người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan”. Tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 có quy định về “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” mà không phải là “người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan”. Như vậy, quy định của khoản 1 Điều 451 về “người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan” cần phải được làm rõ. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Thứ hai, quy định này chỉ ra điều kiện về nơi cư trú và tài sản của người phải thi hành. Theo đó, để người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ “có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành”, điều luật còn đặt ra điều kiện: “vào thời điểm yêu cầu” thì “cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành”. Do đó, trường hợp chưa đáp ứng các điều kiện trên thì một bên chưa thể yêu cầu CNVCTH tại Việt Nam.
Các quy định này chỉ ra các điều kiện để một PQTTNN được xem xét CNVCTH ở Việt Nam, cũng như là cơ sở để các Tòa án xem xét công nhận trong quá trình nhận và xét đơn yêu cầu.
- ii. Hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành ngoài việc phải đáp ứng một số nội dung nhất định về chủ thể có quyền yêu cầu như đã phân tích ở trên và thì cần phải đáp ứng một số yêu cầu về hình thức và nội dung đơn yêu cầu theo quy định của Điều 452 BLTTDS. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp (khoản 2 Điều 452 BLTTDS 2015).
Các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu được quy định tại Điều 453 BLTTDS 2015, cụ thể:
- Đối với đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN theo Công ước 1958 thì các giấy tờ, tài liệu kèm theo được quy định trong Công ước 1958.
- Đối với đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN trong trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì đơn yêu cầu phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:
- Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
- Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận trọng tài giữa các bên.
Nếu PQTTNN và thỏa thuận trọng tài không được lập bằng tiếng Việt, người nộp đơn phải gửi kèm theo bản dịch đã được công chứng, chứng thực hợp pháp của các văn bản này.
- iii. Thời hạn nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam tại Việt Nam. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Công ước New York để ngỏ vấn đề thời hạn trong thủ tục này, và chuyển lại cho pháp luật quốc gia hoạch định tùy theo quan niệm về thời hiệu/thời hạn của mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới. Ví dụ đối với các quốc gia thuộc truyền thống dân luật (civil law) thì quy định về thời hiệu/thời hạn này chịu sự điều chỉnh của luật nội dung, theo đó các nền pháp chế thuộc civil law như Thụy Sỹ, Pháp và Đức đều chế định thời hiệu thành một phần của bộ dân luật. Thời hiệu để bên thắng kiện trong tố tụng trọng tài có quyền yêu cầu CNVCTHPQTTNN là 10 năm theo luật Thụy Sỹ, 5 năm theo luật Pháp và 30 năm theo luật Đức. Hoặc đối với các quốc gia thuộc truyền thống thông luật (common law) thì thời hiệu/thời hạn được xem là một bộ phận cấu thành nên luật hình thức, theo đó các nền pháp chế thuộc truyền thống thông luật quy định rằng thời hiệu nói chung, cũng như thời hiệu CNVCTHPQTTNN chịu sự điều chỉnh của một đạo luật chuyên biệt, gọi là Đạo luật về Thời hiệu (Limitation Act). Theo các đạo luật này, thời hiệu để một bên yêu cầu CNVCTHPQTTNN lần lượt sẽ là 6 năm theo luật Anh, 3 năm theo luật Ấn Độ. Đặc biệt, Hoa Kỳ, dù cũng theo “common law”, nhưng quy định khác với các nước khác về vấn đề thời hiệu. Pháp luật Hoa Kỳ dự liệu vấn đề thời hiệu để yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại một điều luật nằm ngay trong Luật Trọng tài Liên bang (Federal Arbitration Act). Điều 207 dành cho bên được thi hành một khoảng thời gian tối đa là 3 năm để tiến hành yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Hoa Kỳ.
Pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề thời hạn yêu cầu CNVCTHPQTTNN cũng đã có nhiều sự thay đổi, tiến bộ qua mỗi thời kỳ. So với quy định thời hạn 1 năm ngắn ngủi từ BLTTDS 2004, tới nay theo quy định tại BLTTDS 2015 thì thời hạn nộp đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN là 3 năm kể từ ngày PQTTNN có hiệu lực pháp luật (Khoản 1 Điều 451). Trong trường hợp “do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà họ không thể nộp đơn trong thời hạn 3 năm thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không được tính vào thời hạn nộp đơn”. Hiện nay, quy định tại BLTTDS năm 2015 về thời hạn yêu cầu CNVCTHPQTTNN có ý nghĩa lớn đối với bên yêu cầu công nhận tại Việt Nam vì họ sẽ có thêm thời gian để nghiên cứu hồ sơ, xem xét các tình huống có thể xảy ra, chuẩn bị chu đáo hơn về mặt tài liệu cần thiết cho quy trình tố tụng cũng như xem xét lựa chọn tòa án nào mình có thể cậy nhờ để thi hành PQTT trên thực tế.
2.2.2.2. Thủ tục xử lý đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài.
- i. Cơ quan có thẩm quyền nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN có thể được gửi tới Tòa án theo hai cách:
Thứ nhất, gửi cho Bộ Tư pháp khi “điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định và Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền sau khi kiểm tra sơ bộ đơn yêu cầu”. Trong số 18 HĐTTTP giữa Việt Nam và nước khác, chỉ có 6 điều ước quốc tế có nội dung “quy định đơn yêu cầu CNVCTTPQTTNN được chuyển qua Bộ Tư pháp”. Điều 451 BLTTDS 2015 quy định về đơn yêu cầu CNVCTH tại Việt Nam phán quyết của TTNN thì đơn yêu cầu được gửi đến “Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Điều đó có nghĩa là việc phải qua trung gian Bộ tự pháp chỉ bắt buộc khi điều ước quốc tế có nội dung về chủ đề này và thực tế các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có nội dung theo hướng phải qua trung gian Bộ tư pháp là không nhiều. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Thứ hai, trong các trường hợp khác, tức là “không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định, thì đơn yêu cầu có thể được nộp trực tiếp tới Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam”. Cụ thể, đối với yêu cầu CNVCTH bản án, quyết định dân sự của TA nước ngoài, Điều 432 BLTTDS 2015 quy định đơn yêu cầu được gửi đến “Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó”. Đối với “yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam”, Điều 447 BLTTDS 2015 có quy định với nội dung đơn yêu cầu được gửi đến “Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự đó”. Cũng tương tự như vậy, đối với yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, Điều 451 BLTTDS 2015 quy định đơn yêu cầu được gửi đến “Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó”. Như vậy, đối với trường hợp không có điều ước quốc tế buộc gửi đơn qua trung gian của Bộ Tư pháp, người có quyền yêu cầu được gửi đơn trực tiếp tới Toà án. Thực ra, quy định cho phép đương sự gửi hồ sơ yêu cầu CNVCTH đến thẳng Tòa án Việt Nam mà không phải gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam để chuyển cho Tòa án Việt Nam là quy định phù hợp với thông lệ quốc tế. Quy định này đã giúp phát huy triệt để tinh thần của Công ước New York đối với nguyên tắc pro-arbitration (ủng hộ trọng tài), giúp cho bên yêu cầu dễ dàng thực hiện được quyền của mình, đồng thời hạn chế được thời gian phải gửi đơn qua Bộ Tư pháp, giảm bớt được khâu trung gian, tiết kiệm được nguồn lực nhân sự và tài chính của Nhà nước cũng như của đương sự trong vấn đề này.
- ii. Chuyển, thụ lý hồ sơ và xét đơn yêu cầu công nhận cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Điều 454 BLTTDS 2015 quy định đối với hoạt động đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN thì “trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ…, Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền”. Kế tiếp đó là thủ tục thụ lý hồ sơ của Toà án, Điều 455 BLTTDS 2015 quy định “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc nhận được đơn và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có đơn yêu cầu gửi đến, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp”. Quy định này đề cập tới việc Toà án “xem xét, thụ lý hồ sơ” nên tuỳ vào hoàn cảnh vụ việc cụ thể mà Toà án căn cứ vào hai điều luật vừa được liệt kê để thụ lý hay từ chối thụ lý. Trong thời hạn 05 ngày như trên, Toà án phải “thông báo” cho các đối tượng được nêu trong điều luật và không lệ thuộc vào việc các đối tượng này có nhận được thông báo trong thời hạn 5 ngày hay không.
Bên cạnh đó, Điều 457 BLTTDS 2015 còn quy định về việc chuẩn bị phiên họp xét đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN với thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong giai đoạn này, Toà án có thể ra quyết định tạm đình chỉ hay đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong một số trường hợp theo khoản 2 Điều 457 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, trong khi thủ tục công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước tại Việt Nam khi có quy định về việc trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định (khoản 6 Điều 438 BLTTDS 2015) để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp đơn yêu cầu thì thủ tục CNVCTHPQTTNN lại không có quy định này. Việc không cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thủ tục CNVCTHPQTTNN sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án sau này. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
iii. Trình tự xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Toà án
Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán quyết, Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu PQTTNN, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận PQTTNN, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 và khoản 5 Điều 458 của BLTTDS 2015. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định (Điều 461 BLTTDS 2015).
Khi xem xét kháng cáo hay kháng nghị, Toà án nhân dân cấp cao có thể giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị; Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị; Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm; Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 của BLTTDS (khoản 3 Điều 462 BLTTDS 2015).
2.3. Quy định về từ chối cho công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Điều 3 của Công ước New York quy định về khả năng thi hành đương nhiên (tiếng anh là “presumptive enforceability/validity”) của PQTT như sau: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận các PQTT có giá trị ràng buộc và thi hành chúng theo quy tắc về thủ tục của lãnh thổ nơi phán quyết sẽ được thi hành”. Cũng tại Điều 5, Công ước New York đã quy định rằng việc CNVCTHPQTTNN có thể bị từ chối trong một số trường hợp, theo một số các căn cứ được xác định cụ thể. Quy định này đã được nội luật hóa tại điều 459 của BLTTDS 2015. Theo đó, tòa án Việt Nam khi xem xét CNVCTHPQTTNN có quyền không công nhận PQTTNN dựa trên các căn cứ pháp lý xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc CNVCTHPQTTNN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chứng minh giá trị của phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM quốc tế. Bên cạnh đó, việc đặt ra các căn cứ không CNVCTHPQTTNN nhằm đảm bảo tính khách quan và công bằng tối thiểu khi PQTT được xem xét trong phạm vi các nước khác nhau, cũng tránh các xung đột về vấn đề “thẩm quyền tài phán quốc gia” trong các mối quan hệ pháp luật dân sự mang tính quốc tế. BLTTDS 2015 chia các trường hợp không CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam thành 02 nhóm căn cứ: (i) Các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN theo yêu cầu của bên phải thi hành chứng minh; (ii) Các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN do tòa án xem xét.
Tuy nhiên, đối với mỗi nhóm căn cứ luật định, thực tế chỉ ra chỉ có một vài các căn cứ chính được Tòa án áp dụng cho đa số các quyết định từ chối CNVCTHPQTTNN, cụ thể:
Đối với nhóm các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN theo yêu cầu của bên phải thi hành chứng minh thì các căn cứ này được thiết lập theo quy định công ước New York và được nội luật hóa tại Điều 459 Bộ luật TTDS 2015. Nghĩa vụ chứng minh của các bên trong các quy trình tố tụng liên quan đến các quan hệ pháp luật về dân sự và thương mại giữa tư nhân với nhau, thường liên quan đến các nguyên tắc “actori incumbit probatio” và “collaboration”.
Nguyên tắc “actori incumbit probatio”, nghĩa là nguyên đơn phải gánh chịu trách nhiệm chứng minh. Đây có thể xem là lý thuyết tố tụng cơ bản nhất, là căn nguyên trong lĩnh vực tố tụng của bất kỳ quốc gia nào, giúp đảm bảo sự tôn nghiêm của công tác xét xử, để tránh việc phải xem xét một yêu cầu “khống”, bất kỳ bên nào thực hiện quyền khởi kiện hoặc yêu cầu của mình tới Tòa án hay bất kỳ cơ quan tài phán nào, bên yêu cầu phải cung cấp được các bằng chứng liên quan xác đáng để xác thực cho vấn đề pháp lý được yêu cầu và đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết các yêu cầu của bên yêu cầu.
Nguyên tắc “collaboration”, đây là nguyên tắc bao hàm cả nghĩa vụ chứng minh của bị đơn bên cạnh nghĩa vụ chứng minh của nguyên đơn như trong nguyên tắc “actori incumbit probatio” nêu trên. Nguyên tắc này là nguyên tắc phái sinh từ nguyên tắc trên vì chỉ khi quy trình tố tụng được tiến hành, nghĩa là nguyên đơn đã khởi phát các yêu cầu, cáo buộc thì bị đơn mới phải thực hiện chứng minh. Nghĩa vụ chứng minh của bị đơn trong trường hợp này không phải quyền khởi kiện hoặc yêu cầu vì họ là bên bị kiện, nó là sự biện minh (defense). Sự biện minh chính là quyền của bị đơn khi nêu ra những lập luận, biện bác đối kháng lại với các yêu cầu, cáo buộc của nguyên đơn. Theo đó, bị đơn khi nêu ra các biện bác của mình, cũng phải trình cho cơ quan tài phán những chứng cứ phục vụ cho lập luận của mình. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Pháp luật Việt Nam khi nội luật hóa Công ước New York đã quy định về nghĩa vụ chứng minh của bên phải thi hành tại khoản 1 điều 459 BLTTDS 2015 với 07 trường hợp. Tuy nhiên, trong thực tế đối với nhóm căn cứ này thì các căn cứ phổ biến Tòa án thường viện dẫn để từ chối CNVCTHPQTTNN bao gồm:
2.3.1. Các bên tham gia thỏa thuận trọng tài không có (đủ) năng lực ký kết
Theo quy định tại “điểm a khoản 1 Điều 459 của BLTTDS 2015” (Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung 2011), để xác định năng lực ký kết của người đại diện mỗi bên phải căn cứ vào “luật áp dụng đối với mỗi bên”. Vì vậy, Hội đồng xét đơn không chỉ áp dụng pháp luật Việt Nam cho vấn đề này. Tòa án không thể mặc định luật Việt Nam là luật áp dụng duy nhất để quyết định việc người ký thỏa thuận trọng tài của bên nước ngoài không có năng lực để ký kết. Ngược lại, đối với việc áp dụng pháp luật nước ngoài cũng vậy, Tòa án phải luôn xem xét toàn diện các khía cạnh pháp luật cũng như áp dụng nguyên tắc xung đột pháp luật của Tòa án để xem xét “năng lực ký kết” thỏa thuận của mỗi bên. Để xác định Luật áp dụng trong từng trường hợp, đối với đương sự nước ngoài, Tòa án phải áp dụng “nguyên tắc xung đột pháp luật” tại Điều 466 về cho người nước ngoài và Điều 467 đối với pháp nhân nước ngoài. Cụ thể như sau:
- “Năng lực pháp luật của cá nhân nước ngoài được xác định theo luật của nước nơi họ có quốc tịch” (Khoản 1 Điều 466 BLTTDS 2015).
- “Năng lực pháp luật của doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài được xác định theo luật của nước nơi doanh nghiệp, tổ chức đó được thành lập” (Điều 467 BLTTDS 2015).
Ngoài ra, việc áp dụng luật nước ngoài cũng cần lưu ý Điều 481 BLTTDS 2015 về “xác định pháp luật nước ngoài để áp dụng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài”. Theo đó, Tòa án phải xem xét cẩn trọng các văn bản pháp luật có liên quan và căn cứ theo các hồ sơ, tài liệu pháp lý nhất định trên thực tế để “xem xét năng lực ký kết hợp đồng” của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam một cách phù hợp nhất. Theo đó, người đại diện của pháp nhân để “ký kết thỏa thuận trọng tài” phải là người có đầy đủ thẩm quyền về mặt pháp lý, được thể hiện thông qua các hồ sơ, văn bản pháp lý nhất định.
Công ước New York 1958 quy định về căn cứ từ chối này tại Điều V(1)(a) như sau: “Các bên tham gia thỏa thuận được quy định tại điều II, theo luật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực, hoặc thỏa thuận nói trên vô hiệu theo luật mà các bên chịu sự điều chỉnh hoặc nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ban hành phán quyết”.
Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định LTTTM (“Nghị quyết số 01/2014”) thì “Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” là “người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền”. Như vậy, trong những trường hợp người ký kết không đủ năng lực pháp lý để đại diện pháp nhân ký kết thỏa thuận trọng tài mà dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Điều 18.2 Luật TTTM thì Tòa án có quyền sử dụng điều này làm căn cứ để không công nhận PQTTNN (điểm a Khoản 1 Điều 459 của BLTTDS 2015). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp “thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối” thì thỏa thuận trọng tài như thế nào? Đối với vấn đề này, Nghị quyết số 01/2014 đã có quy định và theo đó các thỏa thuận trọng tài trong trường hợp này không vô hiệu. Tuy nhiên, thực tế giải quyết các đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam thì cơ sở này không phải lúc nào cũng được Tòa án viện dẫn với đầy đủ lý luận thuyết phục, luôn có những bất cập nhất định liên quan tới việc giải thích và áp dụng căn cứ này, do đó căn cứ cần được hướng dẫn chi tiết hơn trong quá trình thực thi trên thực tế. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Một bên không được thông báo kịp thời và hợp thức hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình Việc thông báo ngày nay đã trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc thực thi các quyền và nghĩa vụ có liên quan trong quá trình tố tụng của các bên, trong bối cảnh các quy định về việc thông báo trở nên nghiêm ngặt và đòi hỏi tính thực thi cao. Đây là căn cứ không CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam khi “bên đương sự phải thi hành án không có cơ hội một cách bình đẳng để trình bày vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích của mình”. Một số trường hợp làm căn cứ theo quy định này bao gồm:
- “Bên phải thi hành án không được thông báo về thủ tục trọng tài; hoặc
- Bên phải thi hành án không được thông báo về việc bổ nhiệm trọng tài viên; hoặc;
- Bên phải thi hành án không thể trình bày vụ việc của mình.
Loại hình thông báo về việc chỉ định trọng tài viên, về thủ tục trọng tài hay về phiên họp trọng tài được điều chỉnh bởi quy tắc tố tụng trọng tài do các bên lựa chọn trong thỏa thuận trọng tài và không áp dụng các quy tắc tố tụng dân sự của Việt Nam về thông báo”. Nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp này thuộc về bên phải thi hành, họ cần chứng minh rằng họ đã bị tước mất quyền được có thủ tục tố tụng hợp lý trong quá trình tố tụng tại TTNN. Tuy nhiên đây chính là một trong những vấn đề quan trọng cần được lưu ý bởi tính dễ vi phạm của nó và việc xem xét tính phù hợp khi áp dụng còn cần dựa trên hoàn cảnh cụ thể và do đó, có thể gây khó khăn trong quá trình xem xét công nhận PQTT. Như vậy, trong trường hợp “một bên không được thông báo kịp thời và hợp thức hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình” thì Tòa án có thể viện dẫn để làm căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam (điểm c Khoản 1 Điều 459 của BLTTDS 2015). Quy định này nhằm mục đích bảo đảm cho các đương sự được thực hiện quyền tố tụng, bảo đảm tính khách quan của PQTT trong quá trình giải quyết tranh chấp.
2.3.3. Các vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc bằng phương thức trọng tài. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
- Thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn hoặc pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên”.
Theo LTTTM 2010, các bên ký hợp đồng có thể thỏa thuận lựa chọn luật nội dung khi giải quyết tranh chấp bằng phương thức TTTM. Trong khi đó, để xác định được tính có hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài phải căn cứ vào quy định pháp luật cụ thể về thủ tục nơi tranh chấp được giải quyết hoặc nơi PQTT được tuyên. Do đó, cũng rất ít trường hợp rơi vào quy định tại điều này dẫn tới thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Một số trường hợp nếu chứng minh người ký hợp đồng không phải là “đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền” của một bên dẫn tới thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì PQTTNN cũng sẽ bị từ chối CNVCTH tại Việt Nam. Như vậy, trường hợp Tòa án có đủ cơ sở xác định được “thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo quy định của nước mà các bên đã chọn hoặc pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên” thì Tòa có thể sử dụng làm cơ sở từ chối không CNVCTHPQTTNN (điểm b Khoản 1 Điều 459 của BLTTDS 2015). Đối với căn cứ này, một điểm cần lưu ý là “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực hoặc giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài”. Theo đó, thỏa thuận trọng tài có nội dung riêng biệt, có giá trị pháp lý độc lập và có thể được xem là một hợp đồng nhỏ, do đó, dù được thể hiện dưới hình thức nào đi nữa (hoặc nằm trong điều khoản của hợp đồng chính hoặc là văn bản riêng được đính kèm theo hợp đồng chính) thì vẫn sẽ được coi là tách biệt và vẫn tồn tại không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng (bị thay đổi, hủy bỏ, hết hiệu lực).
- “Thành phần của Hội đồng trọng tài, thủ tục giải quyết không phù hợp với Thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi PQTT được tuyên”.
Thành phần trọng tài tham gia giải quyết tranh chấp hay các thủ tục tố tụng trọng tài trong các tranh chấp thương mại có yếu tố quốc tế đều là những vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới vụ việc được xét xử. Do đó, Tòa án sẽ xem xét các nội dung này trước quyết định công nhận hoặc không CNVCTHPQTTNN. Căn cứ này được quy định tại điểm đ, khoản 1 điều 459 BLTTDS 2015 với các nội dung sau:
- Thành phần Hội đồng trọng tài Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Về thành phần của Hội đồng trọng tài, Tòa án cần xác định xem có cơ sở dẫn tới vi phạm hay không, các căn cứ bao gồm: “(i) thỏa thuận trọng tài; hoặc (ii) nếu thỏa thuận trọng tài không quy định thì căn cứ vào pháp luật của nước nơi PQTTNN ban hành” theo điểm đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 . Trường hợp “một bên đương sự bị tước quyền chỉ định Trọng tài viên hoặc quyền yêu cầu các thành viên hội đồng trọng tài phù hợp với thỏa thuận trọng tài của các bên (hoặc quyền thay đổi trọng tài viên để đảm bảo tính công bằng) trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài” thì quy định tại căn cứ này có thể được áp dụng để Tòa án không CNVCTHPQTTNN. Một ví dụ cụ thể liên quan tới số lượng trọng tài viên như theo thỏa thuận trọng tài thì 3 trọng tài viên sẽ được lựa chọn để tham gia vào hội đồng trọng tài. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 2 trọng tài viên được chọn, số lượng này không phù hợp theo sự thống nhất ban đầu của các bên trong thỏa thuận trọng tài (03 trọng tài viên). Theo đó, trường hợp này, PQTT chỉ do 2 trọng tài viên tuyên là sự vi phạm thỏa thuận trọng tài giữa các bên.
- Thủ tục trọng tài bị vi phạm.
Về thủ tục trọng tài, đây là trường hợp HĐTT thực hiện không đúng quy định liên quan tới thủ tục trọng tài và dẫn tới một bên “bị ảnh hưởng nghiêm trọng về quyền lợi, có khả năng bị bất lợi trong quá trình xét xử”. Thực tế, trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp TTTM quốc tế, HĐTT sẽ phải tiến hành rất nhiều thủ tục tố tụng để đảm bảo các quy định về hình thức liên quan tới quá trình tố tụng nên cũng không tránh khỏi sai sót. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp sự vi phạm thủ tục trọng tài ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc xét xử. Ví dụ trường hợp “một bên không được thông báo về đơn khởi kiện một cách kịp thời và hợp pháp theo quy tắc tố tụng trọng tài, dẫn tới việc không đảm bảo được quyền được thành lập Hội đồng trọng tài” là trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài. Hay một số trường hợp “hội đồng trọng tài dùng ngôn từ mang tính chất… “thân thiện” trong thông báo mời họp là “mời” thay vì “triệu tập” và đương sự không tham gia vì lý do “mời” thì đương sự có thể đến hoặc không đến”. Điều này làm ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Như vậy, các vi phạm về “thỏa thuận thành phần trọng tài” hay “thủ tục trọng tài” có thể coi là vi phạm gây ra ảnh hưởng đáng kể trong quá trình tố tụng trọng tài và do đó, Tòa án sẽ xem xét các vi phạm này như là cơ sở để không CNVCTHPQTTNN.
Đối với nhóm các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN theo do tòa án xem xét thì chỉ có một cơ sở mà Tòa án thường viện dẫn để làm cơ sở từ chối CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam:
2.3.4. Trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Điều 5 Công ước New York 1958 quy định về căn cứ này như sau: “Việc công nhận và thi hành phán quyết sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó” . Pháp luật Việt Nam khi nội luật hóa điều khoản này của Công ước New York đã không quy định về khái niệm “trật tự công cộng” mà sử dụng thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Thuật ngữ này được giải thích bởi Nghị quyết số 01/2014 là “các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam”. Liệu rằng nội hàm của quy định này so với quy định về “trật tự công cộng” có hoàn toàn phù hợp theo thông lệ quốc tế để giúp thể hiện bản chất của căn cứ này. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “public policy”, “chính sách công” hay “trật tự công” không có một nội hàm cụ thể nhưng có thể được phân loại là trật tự công quốc tế và trật tự công quốc gia. Trên bình diện quốc tế, căn cứ từ chối dựa trên “trật tự công cộng” theo quy định tại Công ước New York được diễn giải tương đối khác nhau theo từng quốc gia. Khái niệm “chính sách công” theo tinh thần Công ước New York được để ngỏ cho các nước tham gia công ước tự xác định phù hợp với quan điểm của pháp luật quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên cũng như đảm bảo các giá trị quốc gia khác bên cạnh sự hội nhập với nền thương mại quốc tế. Tùy thuộc vào quan niệm của mỗi quốc gia mà “chính sách công” sẽ được diễn dịch theo nghĩa rộng hay hẹp. Trường hợp “chính sách công” được hiểu theo nghĩa rộng có thể kể đến pháp luật Trung Quốc, theo đó “lợi ích công cộng và xã hội với nội hàm là các tiêu chuẩn trong nước, luôn có nghĩa là lợi ích công cộng và xã hội cơ bản ở Trung Quốc, tức là quy tắc pháp lý và đạo đức cơ bản của Trung Quốc”, không có một định nghĩa thống nhất nào về “chính sách công” và khái niệm này được hiểu rất rộng khi xem xét CNVCTHPQTTNN ở Trung Quốc. Tương tự, Hàn Quốc không công nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại vì có thể đi ngược lại chính sách công. Trường hợp “chính sách công” được giải thích theo nghĩa hẹp có thể kể đến một số quốc gia như Singapore, Ấn Độ. Theo đó, tòa án quốc gia sẽ CNVCTHPQTTNN trừ khi chính sách công quốc tế bị vi phạm.
Theo điểm d Khoản 1 trong Bản Khuyến nghị ILA thể hiện rằng “trật tự công quốc tế của bất kỳ quốc gia nào” có thể xác định dựa vào một trong hoăc kết hợp ba yếu tố sau: “(i) các nguyên tắc cơ bản, gắn liền với công lý hoặc đạo đức (violation of basic notions of morality and justice), mà Quốc gia mong muốn bảo vệ thậm chí khi quốc gia đó không trực tiếp liên quan; (ii) quy tắc được thiết kế để phục vụ lợi ích thiết yếu về chính trị, xã hội, hoặc kinh tế của Quốc gia, được gọi là “lois de police” hay “quy tắc trật tự công” (violation of international public policy); và (iii) Quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng nghĩa vụ của mình đối với các Quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế (violation of transnational or international public policy). Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, việc giải thích thuật ngữ “vi phạm trật tự công cộng” sẽ bám sát theo một trong ba hình thức trên, với phạm vi áp dụng giảm dần theo thứ tự. Theo đó, cách giải thích theo hướng đầu tiên (công lý và đạo đức) là cách giải thích với phạm vi rộng nhất giúp Toà án dễ dàng từ chối việc công nhận và thi hành một phán quyết của trọng tài trên cơ sở “vi phạm trật tự công cộng”. Ngược lại, hướng thứ ba (nghĩa vụ quốc gia hoặc quốc tế) đem đến một cách giải thích “trật tự công cộng” ở một phạm vi thu hẹp và Toà án sẽ có xu hướng hạn chế từ chối việc công nhận và cho thi hành trên cơ sở vi phạm trật tự công cộng”.
Có thể thấy các hướng dẫn của Nghị quyết 01/2014 về “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” dường như đang được hiểu theo nghĩa nguyên tắc cơ bản trong phạm vi quốc gia và vì vậy, việc giải thích này có phạm vi rất rộng, với nhiều nội hàm chung chung, chưa được hướng dẫn cụ thể. Do đó, căn cứ này nếu không được xem xét một cách thận trọng thì rất dễ bị áp dụng một cách tùy tiện. Do đó, việc Tòa án xem xét quy định này để làm căn cứ cho việc không CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và dễ gây ra tranh cãi nhất trong các căn cứ.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
Ở chương 2 của luận văn, dựa trên những cơ sở lý luận về cho công nhận và thi hành PQTTNN nói chung, tác giả đã phân tích, đi sâu vào những quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến CNVCTHPQTTNN. Cụ thể, tác giả đã xác định được khái niệm PQTTNN là gì, phân tích phạm vi của hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, các nguyên tắc và điều kiện cũng như các quy định pháp luật khác liên quan tới việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam. Đặc biệt, tác giả quan tâm tới các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN và đã phân tích các căn cứ chính làm cơ sở từ chối cho công nhận PQTTNN. Việc không CNVCTHPQTTNN mà không có cơ sở hợp lý sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho các bên tham gia, cho sự phát triển chung của nền kinh tế quốc tế, cho sự phát triển đa phương giữa Việt Nam và các nước khác. Nhìn chung, các quy định về việc CNVCTHPQTTNN đã được quy định khá rõ ràng và ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, tuy nhiên một số quy định còn chung chung, chưa được hướng dẫn cụ thể cũng như phạm vi khá rộng của một số cơ sở từ chối CNVCTHPQTTNN đã tạo ra một số khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật. Từ những quy định hiện hành về CNVCTHPQTTNN làm cơ sở, nền tảng để tác giả tiếp tục nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về CNVCTHPQTTNN cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật tại chương 3 của Luận văn. Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
