Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tóm tắt: Song song với việc phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM trong các quan hệ thương mại quốc tế, CNVCTHPQTTNN hiện nay đang là vấn đề rất phổ biến và được quan tâm. Kể từ thời điểm Việt Nam tham gia Công ước New York 1958, LTTTM 2010 ra đời và sau đó là BLTTDS 2015 với các thay đổi, bổ sung về thủ tục CNVCTHPQTTNN, theo đó, vấn đề CNVCTHPQTTNN đã có nhiều tiến bộ khi các quy định pháp luật được thể hiện tương đối rõ ràng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng và giải quyết các đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế nhất định, dẫn tới tỷ lệ từ chối công nhận phán quyết của TTNN còn cao. Luận văn “Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài” trình bày, phân tích các quy định về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam cũng như tham khảo các kinh nghiệm quốc tế và trong đó chỉ ra một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.
Từ khóa: Trọng tài thương mại quốc tế, cho công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của TTNN, Công ước New York.
ABSTRACT
Abstract: In parallel with the strong development of the dispute settlement by commercial arbitration in the international economy and trade exchanges, the demand for recognition and enforcement of foreign arbitration awards in Vietnam has increased and concerned by many people. Since Vietnam became a member of the New York Convention 1958, the Commercial Arbitration Law 2010 was born and then the Civil Procedure Code of 2015 with changes and additions to recognition and procedures in enforcement of foreign arbitral awards, the regulation of recognition and enforcement of foreign arbitral awards has made much more appropriate in the progress and legal provisions. However, several shortcomings and certain limitations have been unveiled in recognizing and enforcing foreign arbitral awards in Vietnam for the last time, made a high rate of refusal to recognize foreign arbitral awards. The thesis “The Law on Recognition and enforcement of foreign arbitration awards in Vietnam”provides an introduction and analysis of the provisions on recognition and enforcement of foreign arbitral awards in Viet Nam as well as some references of international experiences, which point out some shortcomings and make recommendations for improvement.
Key words: International commercial arbitration, Recognition and enforcement of foreign arbitration awards in Vietnam, New York Convention 1958
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng mạnh mẽ, các hoạt động giao kết hợp đồng thương mại quốc tế diễn ra ngày càng phổ biến trong xu hướng hội nhập thế giới. Theo đó, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp được hầu hết các doanh nghiệp ưa thích chọn lựa khi ký kết các hợp đồng thương mại quốc tế. TTTM với lịch sử lâu đời và phổ biến trên toàn cầu, đã ngày càng chứng tỏ được sự hữu hiệu trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại quốc tế. Dù vậy, vì tính chất của các tranh chấp thường liên quan tới nhiều quốc gia, mang tính quốc tế, do đó sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Đứng trước sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế quốc tế và giao lưu thương mại, nhu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam cũng bắt đầu tăng theo. Nhiều năm qua, công cuộc cải cách pháp luật và tư pháp ở nước ta đã diễn ra mạnh mẽ, trong đó có hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật trong nước và gia nhập, ký kết các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Trong đó, phải kể đến phát triển chế định CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, mà điển hình là việc gia nhập “Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của TTNN” (Công ước New York), trở thành thành viên “Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL)” và ban hành các văn bản pháp luật nhằm thực thi việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam. Theo đó, pháp luật Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM, đánh dấu sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) và cải thiện thủ tục CNVCTHPQTTNN bằng những sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015). Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế nhất định. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Theo pháp luật Việt Nam, TTNN “là trọng tài được thành lập trên cơ sở quy định của pháp luật nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp có thể phát sinh ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. PQTTNN là phán quyết “do TTNN tuyên để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”, tức là không phụ thuộc vào địa điểm giải quyết tranh chấp. LTTTM 2010 không quy định rõ địa điểm tố tụng trọng tài có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất “nước ngoài” của trọng tài và căn cứ nào để xác định trọng tài được thành lập theo pháp luật nước ngoài. Do đó, với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, việc xác định một PQTT có phải là PQTTNN hay không còn bất cập. Thêm vào đó, các cơ sở để từ chối công nhận và cho thi hành PQTTNN cũng còn nhiều bất cập, chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng.
Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam nhằm góp phần làm rõ cơ sở lý luận; tìm ra những điểm bất cập, vướng mắc của quy định pháp luật và việc áp dụng thực tiễn. Từ đó kiến nghị các giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vấn đề này theo tinh thần cải cách tư pháp, phù hợp với các quy định thế giới. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài” làm công trình nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục đích của nghiên cứu của luận văn chính là đi sâu vào những vấn đề lý luận và thực tiễn về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, trên cơ sở có đối chiếu so sánh với các quy định trên thế giới và xem xét thực trạng giải quyết đơn yêu cầu cho công nhận và thi hành tại Việt Nam các PQTTNN nhằm góp phần làm rõ và phong phú thêm về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề pháp lý này, tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ của pháp luật quốc tế; đồng thời đưa ra được những kiến nghị cụ thể để hạn chế những bất cập, thiếu sót của quy định pháp luật và đề xuất được những phương hướng, giải pháp tăng cường tính hiệu quả của hoạt động công nhận và cho thi hành PQTTNN tại Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Về mặt lý luận: Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam? CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam đóng vai trò như thế nào trong sự phát triển của ngành tư pháp nói chung và sự phát triển kinh tế- xã hội hiện nay? Hệ quả của việc yêu cầu CNVCTHPQTTNN bị từ chối là gì?
Về mặt thực tiễn: Thực trạng giải quyết đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Các hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam là gì? Các giải pháp nào có thể hạn chế những bất cập và góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam?
4. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống những vấn đề pháp lý trong quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về CNVCTHPQTTNN. Đồng thời xuất phát từ việc phân tích các bản án và phán quyết của cơ quan tố tụng nhằm tìm ra những vấn đề còn thiếu sót, những điểm chưa hợp lý của luật dựa trên nền tảng lý luận được hình thành từ chương 1 và chương 2 của luận văn. Những kiến nghị cụ thể sẽ được đưa ra tại chương 3 để góp phần hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là Pháp luật về TTTM; Pháp luật về TTDS về thủ tục CNVCTHPQTTNN; Công ước New York 1958. Bên cạnh việc nghiên cứu LTTTM 2010 và LTTDS 2015, đề tài sẽ dựa trên những quy định của pháp luật thế giới để có sự so sánh, đối chiếu. Bên cạnh đó, đề tài sẽ có sự nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật thông qua bản án, quyết định của cơ quan tố tụng. Nội dung luận văn chỉ tập trung vào phân tích các phán quyết của TTNN về kinh tế thương mại, không bao gồm các vụ việc dân sự.
Không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu các quy định pháp luật về CNVCTHPQTTNN theo LTTDS 2015 và Công ước New York 1958; bình luận một số bản án qua thực tế giải quyết đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, đặc biệt tại những tỉnh thành lớn có hoạt động thương mại quốc tế nổi bật như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng…
Thời gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn đề CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam từ khi LTTTM 2010 và BLTTDS 2015 có hiệu lực tới nay. Bên cạnh đó, với mục đích đi sâu về mặt lý luận, tác giả cũng sẽ tìm hiểu những quy định pháp luật mang tính chất nền tảng cho hoạt động CNVCTHPQTTNN là Công ước New York năm 1958.
6. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, việc hoàn thiện pháp luật về CNVCTHPQTTNN đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, bài viết đăng trên các tạp chí, luận văn thạc sĩ Luật học, các bài tham luận trong các hội thảo khoa học của nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại học của Việt Nam. Tác giả xin phép được liệt kê sau đây:
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế 2019 (TS. Trần Minh Ngọc và TS. Vũ Thị Phương Lan là chủ biên, NXB Tư pháp). Trong tài liệu, nội dung công nhận và cho thi hành phán quyết của TTTM quốc tế được đề cập tại Mục 4 Chương V: “Trọng tài quốc tế”. Nội dung nghiên cứu cũng đề cập các vấn đề lý luận và quy định pháp luật. Công trình cũng đóng vai trò tham khảo quan trọng trong quá trình tác giả nghiên cứu đề tài luận văn.
Vũ Thị Phương Lan, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường: “Quy định của BLTTDS 2015 về giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017). Công trình nghiên cứu đã nêu sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng BLTTDS 2015; nghiên cứu các quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục CNVCTH tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, PQTTNN; địa vị pháp lý của các chủ thể nước ngoài trong tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Bành Quốc Tuấn, sách chuyên khảo: “Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài” (Nxb. Chính trị quốc gia, 2015). Trên cơ sở các quy định của các điều ước quốc tế, các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự mà Việt Nam tham gia, các quy định trong BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Luật tương trợ tư pháp năm 2007, Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản khác có liên quan, liên hệ với tình hình thực tế cũng như đối chiếu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, và trên cơ sở những quan điểm của riêng mình, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra đối với hoạt động CNVCTH các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này trong thời gian tới.
Lê Thế Phúc, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài” (Viện Khoa học xét xử – Tòa án nhân dân tối cao, 2009). Mặc dù công trình này đã được nghiên cứu khá lâu nhưng vẫn có rất nhiều giá trị về mặt lý luận. Trong công trình khoa học các tác giả đã trình bày và phân tích rất chi tiết những nội dung cơ bản có liên quan như khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của TTNN, khái niệm công nhận và cho thi hành, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, điều kiện CNVCTH. Tuy nhiên, công trình chưa đề cập nhiều đến kinh nghiệm quốc tế để đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam làm cơ sở cho việc đề xuất các kiến nghị khoa học của công trình nghiên cứu.
Bành Quốc Tuấn, “Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài” (Luận án tiến sỹ, 2015). Luận án đã nghiên cứu sâu về cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về CNVCTH tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài; phân tích thực trạng hiện nay về đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Mặc dù Luận án từ năm 2015 nhưng có thể nói những kết quả nghiên cứu này đã đóng góp những nội dung cơ bản nhất và mang tính lý luận, có liên quan chặt chẽ đến vấn đề luận văn nghiên cứu bởi vì công nhận và cho thi hành quyết định của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam có nhiều vấn đề tương tự với CNVCTHPQTTNN.
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ như: Phạm Văn Hải, “Pháp luật công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” (Luận văn thạc sĩ, 2022), Lê Hải Long “Pháp luật và thực tiễn công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam” (Luận văn thạc sĩ, 2019); Nguyễn Thanh Phong, “Thủ tục công nhận và thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài” (Luận văn thạc sĩ, 2019) cũng góp phần nghiên cứu về vấn đề của luận văn.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu khoa học, vấn đề luận văn nghiên cứu cũng được đề cập trong rất nhiều bài báo khoa học đã công bố trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành của Việt Nam từ trước đến nay. Có những bài viết không nghiên cứu vấn đề CNVCTH như là nội dung chính nhưng có đề cập trong nội dung nghiên cứu, có những bài viết tập trung phân tích chuyên sâu một nội dung cụ thể liên quan đến vấn đề CNVCTH. Tiêu biểu có thể đề cập một số bài viết như:
Nguyễn Thị Thanh Ngân, “Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài – kinh nghiệm từ Công ước New York năm 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10, tháng 5/2021 tr. 12-20). Bài viết đã trình bày, phân tích các quy định về CNVCTHPQTTNN tại Công ước New York năm 1958; Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài quốc tế năm 1985 (Luật Mẫu); và các quy định của pháp luật Việt Nam về CNVCTHPQTTNN, trong đó chỉ ra một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Vũ Thị Phương Lan và Nguyễn Thu Thủy, “Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài theo BLTTDS 2015” (Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 2/2018, tr. 47 – 59). Bài viết phân tích, làm rõ những quy định về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam theo quy định của BLTTDS 2015. Trên cơ sở đối chiếu, so sánh với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đặc biệt là Công ước New York 1958 về CNVCTHPQTTNN, các tác giả tập trung làm rõ sự phù hợp và những vấn đề đặt ra trong quá trình thi hành BLTTDS 2015 về CNVCTHPQTTNN, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện.
Nguyễn Văn Tuấn, “CNVCTHPQTTNN theo quy định của Công ước New York năm 1958 kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề Hội nhập quốc tế về pháp luật, 2017, tr. 36 – 46). Bài viết cung cấp một số thông tin về kinh nghiệm của một số quốc gia là thành viên trong việc thực hiện các quy định của Công ước New York 1958.
Và một số bài viết khác như: Dương Thị Bích Đào, “Công ước New York năm 1958 về CNVCTHPQTTNN và kinh nghiệm khi Việt Nam gia nhập, thực thi Công ước Liên Hợp quốc về thoả thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, 2021. Số chuyên đề 10, tr. 19-25). Lê Nguyễn Gia Thuận, “Phán quyết trọng tài phi chính thức: Quy định của pháp luật Italia, thực tiễn thi hành tại Đức và một số đề xuất cho Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5, 2019). Bành Quốc Tuấn, “Thực tiễn CNVCTH tại Việt Nam PQ của TTNN theo BLTTDS 2015 và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật” (Tạp chí Khoa học pháp lý số 3, 2019). Nguyễn Thị Thuỳ Dung, “Thực tiễn giải quyết yêu cầu CNVCTH bản án, quyết định của Toà án nước ngoài, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại TAND TP. Hồ Chí Minh” (Tài liệu Hội nghị Tập huấn Công nước New York 1958 về Công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN, Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01/2019). Bành Quốc Tuấn, “Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong CNVCTH tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của nước ngoài” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 18, 2017). Phạm Minh Thắng, “Trật tự công cộng – công cụ cản trở việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài”, (Trường Đại học Luật Hà Nội, Số đặc san Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế 2012).
Một số tài liệu như: Bộ Tư pháp – Đại sứ quán Anh tại Hà Nội, “Sổ tay hướng dẫn thực hiện Công ước New York 1958 về CNVCTHPQTTNN” (NXB Dân Trí, Hà Nội, 2017) hay Tòa án nhân dân tối cao, “CNVCTH phán quyết của TTNN tại Việt Nam”(Tài liệu tập huấn trực tuyến ngày 25/6/2018) hay Nguyễn Mạnh Dũng, “Báo cáo đánh giá, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành PQTT với Luật Mẫu UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam” (Báo cáo nghiên cứu độc lập, 2020). Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề CNVCTHPQTTNN trong thời gian qua. Nhìn chung, các công trình khoa học đã công bố tại Việt Nam về cơ bản đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận liên quan đến nội dung của luận văn. Tuy nhiên, một số công trình đã công bố trong thời gian khá lâu nên không có điều kiện nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn nhất, một số giải pháp hoàn thiện pháp luật đưa ra đã được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật ban hành sau đó nhưng đến nay cũng đã phát sinh những hạn chế trên thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá, phân tích tổng thể các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như tham khảo kinh nghiệm của pháp luật quốc tế và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, Tác giả lựa chọn đề tài này nhằm cố gắng tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn những luận cứ khoa học liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật về CNVCTH tại Việt Nam PQTTNN trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các phương pháp như phân tích, hệ thống hóa các quy định pháp luật, thống kê, so sánh, tổng hợp, bình luận án, đánh giá.
Phương pháp luận của chủ nghĩa triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn đề tài, áp dụng phương pháp này để tổng hợp và phân tích những quy định của pháp luật đối với hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, nhằm hiểu rõ mục đích, vai trò, ý nghĩa của các quy định pháp luật về lĩnh vực này. Ngoài ra, phương pháp phân tích, bình luận án được sử dụng chủ yếu trong chương 3 để làm rõ những bất cập, thiếu sót về hoạt động công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN thông qua thực tiễn xét xử và đưa ra một số góp ý, kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
Phương pháp thống kê: được sử dụng để làm rõ thực trạng giải quyết đơn yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam trên thực tế. Trên cơ sở kết hợp với phương pháp phân tích để đưa ra những đánh giá về thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu và áp dụng pháp luật trong hoạt động công nhận và cho thi hành các PQTTNN tại Việt Nam.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bằng cách thực hiện dựa trên việc tham chiếu các tài liệu khoa học, như: Báo khoa học, sách chuyên khảo, giáo trình, luận văn…nhằm xây dựng cơ sở lý luận và tìm ra sự tương đồng, khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành, từ đó phân biệt các quy định. Thông qua phương pháp so sánh, đối chiếu có thể tìm ra nguồn gốc, cốt lõi vấn đề, kết luận và đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp cho đề tài. Phương pháp này giúp phát hiện những khuyết điểm của văn bản pháp luật hay phát hiện những quy định cần đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, giúp đề tài pháp luật về thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam có ý nghĩa thực tiễn hơn.
Phương pháp lịch sử: thông qua phương pháp này có thể nhận biết từng giai đoạn thay đổi của pháp luật về hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam. Thông qua đó tạo nên một bức tranh tổng quát về căn nguyên của vấn đề, xác định được trọng tâm của vấn đề nghiên cứu.
8. Nội dung nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Về cơ bản, tác giả tập trung vào 3 phần là lý luận chung, quy định pháp luật về CNVCTHPQTTNN và thực tiễn của hoạt động này tại Việt Nam.
Về mặt lý luận, tác giả sẽ đi sâu vào việc cụ thể hóa những vấn đề lý luận xoay quanh CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam như khái niệm, nguyên tắc, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, từ đó rút ra được những nội dung lý luận cơ bản của vấn đề này. Tiếp theo, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, điều này đã góp phần giúp tác giả định hình và trả lời những câu hỏi nghiên cứu mà tác giả đã nêu tại mục Câu hỏi nghiên cứu.
Về thực trạng áp dụng, việc nghiên cứu những bản án, quyết định của Tòa án cũng như tham khảo quy định của các quốc gia khác trên thế giới là cách thức giúp tác giả tìm ra được những vấn đề, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật của cơ quan tố tụng về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam theo BLTTDS 2015 và qua đó, đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
9. Đóng góp của đề tài
Về lý luận: Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn, xác định những vướng mắc, bất cập của pháp luật Việt Nam về việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam, đồng thời phân tích các quy định của Công ước New York 1958; tìm hiểu các kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Từ đó góp phần xây dựng luận cứ khoa học nhằm mục đích hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả trong hoạt động công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Với những kết quả nghiên cứu, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam. Đề tài cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người học tập, làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và quan tâm đến vấn đề này. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Về thực trạng áp dụng pháp luật: Luận văn phân tích, bình luận các bản án, quyết định của cơ quan tố tụng để xác định những bất cập, hạn chế của hoạt động CNVCTHPQTTNN theo BLTTDS 2015 trên thực tế, và phân tích các nguyên nhân dẫn tới những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng pháp luật này. Bên cạnh đó việc tham khảo các quy định của một số nước có nền móng pháp lý bền vững trên thế giới trong hoạt động CNVCTHPQTTNN, sẽ giúp chúng ta có thêm cơ sở để hoàn thiện pháp luật trong nước ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và hiệu quả hơn về mặt áp dụng pháp luật.
Về tính mới của đề tài: Luật TTTM 2010 và BLTTDS 2015 còn chưa thống nhất trong định nghĩa phán quyết của TTNN (hay PQTTNN) và theo đó, nhiều vấn đề thực tiễn xảy ra gây hoang mang cho các cơ quan thực thi pháp luật khi áp dụng các quy định pháp luật có liên quan. Luận văn đã góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam khi nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Với những kết quả nghiên cứu, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam hay trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết các đơn yêu cầu trên thực tiễn. Đề tài cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người học tập, làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và quan tâm đến vấn đề này.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái quát chung về cho công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
1.1.1. Khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài
Trong tiến trình phát triển lịch sử pháp lý trên thế giới, hòa giải và trọng tài là hai phương thức giải quyết tranh chấp đã xuất hiện sớm hơn Tòa án. Các hình thức giải quyết tranh chấp này ra đời theo sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới. Theo đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, nhất là việc tăng cường mậu dịch quốc tế, TTTM đã trở thành phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là đối với các tranh chấp thương mại quốc tế. TTTM là phương thức giải quyết những tranh chấp thương mại thông qua việc các bên trong tranh chấp thỏa thuận đưa vụ việc ra hội đồng trọng tài theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật TTTM quy định. “Hướng dẫn của Hội đồng quốc tế về trọng tài thương mại” (viết tắt là ICCa) diễn giải Công ước New York 1958 cũng có nêu: “Thể thức trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên thống nhất đưa tranh chấp ra một bên thứ ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm và có tính ràng buộc thay vì đưa ra Tòa án”. Về định nghĩa PQTT, trong đại từ điển kinh tế thị trường có nêu: “PQTT được hiểu là quyết định mà trọng tài viên hoặc cơ quan trọng tài theo trình tự luật định sau khi xét xử, đưa ra đối với vụ việc đôi bên đương sự tranh chấp”. Nhìn chung, phán quyết trọng tài là quyết định do Trọng tài/Hội đồng trọng tài ban hành nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp mà các đương sự đã yêu cầu trọng tài giải quyết. Theo hướng dẫn của Hội đồng quốc tế về trọng tài thương mại thì các phán quyết sau có thể là PQTT: Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
- Là phán quyết chung thẩm, tức là phán quyết kết thúc toàn bộ vụ tranh chấp trọng tài;
- Phán quyết một phần, tức là các phán quyết đưa ra quyết định chung thẩm đối với từng phần của tranh chấp và để những yêu cầu còn lại cho giai đoạn tố tụng trọng tài tiếp theo;
- Phán quyết sơ bộ hay phán quyết tạm thời, tức là phán quyết quyết định một vấn đề cần thiết để giải quyết tranh chấp của các bên (những vấn đề về thời hạn, pháp luật áp dụng cho việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp, vấn đề về trách nhiệm);
- Phán quyết đồng thuận, tức là phán quyết ghi nhận việc các bên hòa giải được với nhau về giải quyết tranh chấp.
Có thể thấy, có nhiều loại phán quyết có thể được xem là phán quyết trọng tài, theo đó, phạm vi của việc CNVCTHPQTT trên thế giới cũng có thể rộng hay hẹp hơn tùy theo cách tiếp cận pháp luật của mỗi quốc gia. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể LTTTM 2010 quy định: “PQTT là quyết định của hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”. Căn cứ vào định nghĩa này, có thể thấy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì: “Phán quyết trọng tài là một dạng thức đặc biệt của quyết định trọng tài vì phán quyết trọng tài hướng vào việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp”. “Phán quyết trọng tài phải giải quyết trọn vẹn toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và một khi PQTT được tuyên sẽ chấm dứt toàn bộ quy trình tố tụng và hội đồng trọng tài hoàn thành nhiệm vụ và kết thúc hoạt động xét xử. Như vậy, quan niệm về PQTT của pháp luật Việt Nam được thiết kế với nội hàm theo hướng hẹp”. Chính việc thiết kế nội hàm hẹp của định nghĩa phán quyết trọng tài này đã ảnh hưởng tới phạm vi CNVCTHPQTTNN nói chung ở Việt Nam.
Về khái niệm phán quyết của TTNN, chúng ta chỉ có thể căn cứ vào quy định của LTTTM 2010 (Luật TTTM 2010) vì BLTTDS 2015 hiện hành với tư cách đạo luật điều chỉnh toàn bộ việc cho CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam cũng dẫn chiếu ngược lại các quy định tại LTTTM 2010. Theo khoản 11 Điều 3 LTTTM 2010 quy định: “TTNN là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. Do đó, việc xác định TTNN hay trọng tài Việt Nam không nhất thiết phải dựa vào quốc tịch của trọng tài viên, mà phải dựa vào căn cứ thành lập trọng tài giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Phán quyết của TTNN (hay PQTTNN) theo pháp luật Việt Nam là những “phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt thủ tục tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành tại nước được tuyên”. Các PQTT ở đây được hiểu là phán quyết cuối cùng, ghi nhận toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, có hiệu lực ràng buộc và chung thẩm như bản án của Tòa án. Khái niệm PQTT này được dùng để phân biệt với các quyết định trọng tài là những quyết định được ban hành trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp như “quyết định về ngày tổ chức phiên họp xét xử, quyết định đình chỉ vụ kiện, quyết định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…” hoặc các PQTT phi chính thức, một loại phán quyết được ghi nhận ở pháp luật một số nước, trong đó có Italia (tức các phán quyết mà “quy trình hoàn toàn dựa trên sự chủ động của các bên, và chính các bên, chứ không phải HĐTT, mới là người thiết lập nên phán quyết trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp. Phán quyết được thiết lập dựa hoàn toàn vào ý chí của các bên và trọng tài chỉ đóng vai trò là người chứng kiến sự thỏa thuận được gọi là phán quyết trọng tài phi chính thức”). Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Tiếp theo định nghĩa về trọng tài nước ngoài, LTTM 2010 tiếp tục quy định: “Phán quyết của TTNN là phán quyết do TTNN tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”. Có thể thấy, pháp luật Việt Nam xác định phán quyết của TTNN trên cơ sở quốc tịch của hội đồng trọng tài tuyên phán quyết, bất kể địa điểm đưa ra phán quyết là trong lãnh thổ Việt Nam hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Đối chiếu với quy định ngay tại Điều 1 của Công ước New York về khái niệm PQTTNN có thể thấy cách tiếp cận phán quyết TTNN là phán quyết của TTNN như pháp luật VN là có phần khác biệt so với thế giới. Điều I(1) Công ước New York nêu rõ: “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu”. Theo đó, có hai yếu tố để xác nhận một PQTT có phải là PQTTNN hay không, trong đó yếu tố chính yếu để xác định tính nước ngoài của một PQTT là tính lãnh thổ của phán quyết đó, chỉ cần PQTT đó được ban hành tại lãnh thổ khác với nơi có yêu cầu công nhận thì sẽ được xem là PQTTNN, không quan trọng quốc tịch của trọng tài hay Trung tâm trọng tài. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại chú trọng tới vấn đề quốc tịch của Trung tâm trọng tài khi xem xét một PQTT có phải PQTTNN hay không. Ngoài yếu tố chính là lãnh thổ thì Công ước New York cũng đồng thời nêu ra một yếu tố khác để có thể xem xét liệu rằng một PQTT có phải là PQTTNN hay không. Đó chính là việc một PQTT không phải là PQTT trong nước mặc dù được tuyên tại lãnh thổ của nước đó thì sẽ được xem là PQTTNN. Cách tiếp cận này được Công ước để mở để các quốc gia tùy nghi vận dụng một cách hợp lý theo truyền thống và nhận thức pháp luật riêng của đất nước mình. Tuy vậy, quy định của pháp luật Việt Nam lại để chưa quy định rõ vấn đề này và để ngỏ nhiều vấn đề như: việc một PQTT được tuyên ở Việt Nam nhưng trường hợp nào sẽ được xem là PQTTNN hoặc một PQTT được Trọng tài Việt Nam tuyên ở nước ngoài thì được xem là PQTT gì? Tóm lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì PQTTNN được hiểu là “PQ do TTNN tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn”.
1.1.2. Khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Khái niệm về CNVCTHPQTTNN nói chung đã hình thành từ lâu trong lịch sử tư pháp quốc tế. Công ước New York 1958 đã đề cập tới việc CNVCTHPQTTNN như sau: “Mỗi quốc gia thành viên phải công nhận PQTT có hiệu lực ràng buộc và thực thi các phán quyết này phù hợp với các quy định về thủ tục của nước nơi phán quyết được thực thi theo các điều kiện được nêu trong các Điều sau đây”. Với các hoạt động thương mại quốc tế, Việt Nam với mục tiêu hội nhập quốc tế đã mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trên thế giới. Từ việc thực hiện chính sách mở cửa để đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tại Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các quan hệ giữa pháp nhân Việt Nam với pháp nhân các nước khác. Từ đó, đã làm phát sinh nhu cầu được CNVCTH trên lãnh thổ Việt Nam những PQTTNN để bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân Việt Nam cũng như pháp nhân nước ngoài. Theo “nguyên tắc chủ quyền quốc gia” thì PQTT nước nào sẽ chỉ có hiệu lực và được thi hành trong phạm vi lãnh thổ của nước đó. Vì vậy, việc CNVCTHPQTTNN vẫn luôn là một thủ tục quan trọng trong tiến trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Theo đó, PQTTNN muốn có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành tại Việt Nam thì chúng phải được tòa án có thẩm quyền của Việt Nam CNVCTH.
Theo viện Khoa học xét xử, trong công trình nghiên cứu khoa học “Chuyên đề Khoa học xét xử: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài” năm 2009 đã nêu ra định nghĩa:
“Công nhận là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật; còn cho thi hành được hiểu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cho quyết định, bản án đó được thực thi trên thực tế”.
Có thể nhận thấy về mặt bản chất “công nhận” và “cho thi hành” có sự khác nhau cơ bản. Cho công nhận hoặc không cho công nhận một PQTTNN là một thủ tục của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận hoặc không thừa nhận giá trị pháp lý của phán quyết trên thực tế tại nước được yêu cầu. Đối với pháp luật Việt Nam, quy định về thủ tục công nhận chủ yếu được điều chỉnh bởi BLTTDS. Trong khi đó cho thi hành lại là quá trình trao hiệu lực bắt buộc thi hành cho các PQTTNN, làm cho PQTT đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành thực tế trên lãnh thổ được yêu cầu công nhận. Theo đó, nếu xét riêng về hoạt động “thi hành” thì ngoài quy định tại BLTTDS, hoạt động thi hành còn được điều chỉnh bởi đạo Luật về thi hành án dân sự (thường độc lập với BLTTDS) và mang nhiều ý nghĩa về tính thực thi trên thực tế, có thể bao gồm cả hoạt động cưỡng chế thi hành.
Mặc dù hai thuật ngữ “công nhận” và “cho thi hành” có bản chất hoàn toàn khác nhau nhưng có tính tương quan với nhau. Khi Tòa án được yêu cầu CNVCTHPQTT, Tòa án không chỉ được yêu cầu công nhận hiệu lực pháp lý của PQTT, mà còn phải đảm bảo PQTT đó được thi hành. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam quy định rằng “phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN có hiệu lực pháp luật”
Như vậy, “công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của TTNN là một thủ tục tố tụng đặc biệt do Tòa án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của PQTTNN trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam”. Sau khi PQTTNN đã được xem xét và công nhận hiệu lực tại quốc gia được yêu cầu thi hành thì sẽ được đảm bảo cưỡng chế thi hành. Thủ tục CNVCTHPQTTNN nhằm đảm bảo giải quyết các xung đột về quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán mỗi quốc gia.
1.1.3. Đặc điểm của pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Liên quan tới thẩm quyền tài phán quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, chính phủ Việt Nam luôn rất coi trọng vấn đề CNVCTHPQTTNN trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Điều này thấy rõ qua nội dung các hiệp định tương trợ tư pháp (“HĐTTTP”) mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết và việc trở thành thành viên Công ước New York về CNVCTHPQTTNN. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về thủ tục CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam. Hiện nay, thủ tục này được quy định cụ thể của BLTTDS 2015 (Phần thứ bảy). Theo đó, CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam có các đặc điểm như sau:
- Các loại phán quyết của TTNN được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam phải là “các phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt thủ tục tố tụng trọng tài và đã có hiệu lực pháp luật ở quốc gia giải quyết tranh chấp”.
- Xuất phát từ tính chất phi chính phủ của Trọng tài mà việc CNVCTHPQTTNN không đương nhiên được đặt Toà án các nước cũng như toà án Việt Nam chỉ thực hiện thủ tục này đối với PQTTNN khi có đơn yêu cầu CNVCTH.
- CNVCTHPQTTNN không phải là xét xử lại mà chỉ là một thủ tục xem xét về điều kiện để công nhận tính hiệu lực của phán định TTNN trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam. Theo đó, Tòa án Việt Nam không xem xét lại nội dung của vụ việc để tránh tình trạng một vụ việc bị xét xử hai lần mà chỉ kiểm tra, đối chiếu phán quyết của TTNN và các hồ sơ theo yêu cầu căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để quyết định có CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam hay không.
- Quá trình CNVCTHPQTTNN là bắt buộc để PQTT được thi hành ở Việt BLTTDS quy định rằng “phán quyết được công nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có quyết định của Tòa án Việt Nam CNVCTHPQTTNN có hiệu lực pháp luật”.
- Việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam đặt ra ngay cả đối với yêu cầu công nhận hoặc không công nhận giá trị của PQTT. Theo đó, đương sự có thể yêu cầu công nhận hoặc không công nhận PQTTNN tại Việt Nam.
- Đảm bảo nguyên tắc đối xử quốc gia trong tư pháp quốc tế. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong các hiệp định thương mại quốc tế (nguyên tắc này được quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS). Theo đó, “khi áp dụng pháp luật tố tụng của quốc gia nơi PQTTNN cần được thi hành thì sẽ theo hướng không kém thuận lợi hơn so với phán quyết trọng tài trong nước (về điều kiện công nhận hoặc chi phí tố tụng chẳng hạn)”.
- Các PQTTNN nếu được CNVCTH tại Việt Nam thì có giá trị chứng cứ, chứng minh. Hay nói cách khác với tư cách là một văn bản viết, PQTTNN khi được công nhận hiệu lực thi hành được coi là “một nguồn chứng cứ, chứng minh”.
1.1.4. Nguyên tắc chung về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Việc CNVCTHPQTTNN có một ý nghĩa to lớn, đảm bảo khả năng thực thi các PQTT đã được cơ quan TTNN tuyên đồng thời đảm bảo “quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng”, cũng như tránh được tình trạng về cùng một vụ việc nhưng lại bị xét xử 2 lần. Do đó, để đảm bảo phát huy tối đa vai trò pháp lý trong tiến trình tố tụng, việc CNVCTHPQTTNN được thực hiện dựa trên các nguyên tắc chung như sau:
- (i) Nguyên tắc có đi có lại:
Đây được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng của tư pháp quốc tế nói chung và vấn đề CNVCTHPQTTNN nói riêng. Đối với vấn đề CNVCTHPQTTNN thì nguyên tắc này được ghi nhận tại điểm a và điển b Điều 423 BLTTDS 2015. Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã tiến hành kí kết 27 hiệp định tương trợ tư pháp (“HĐTTTP”) trong lĩnh vực dân sự có liên quan đến vấn đề CNVCTHPQTTNN. Như vậy, đối với các quốc gia chưa có kí kết HĐTTTP với Việt Nam thì những PQTT của các quốc gia này sẽ không được kí kết nếu như không áp dụng “nguyên tắc có qua có lại”. Nhìn vào danh sách Việt Nam kí kết các HĐTTTP này có thể thấy, số lượng các quốc gia thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ chiếm đa số như Bungari (1986), Cu Ba (1984), Hungari (1985)…. Điều này dẫn tới một vấn đề nếu như không áp dụng “nguyên tắc có đi có lại” sẽ khó thực hiện trong vấn đề CNVCTHPQTTNN bởi nội dung của những HĐTTTTP này đã không còn phù hợp với thực tiễn và sự phát triễn của xã hội chưa kể có những HĐTTTTP không quy định về vấn đề này. Song song với đó chính là cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài hiện này tập trung ở những quốc gia mà Việt Nam chưa tiến hành kí kết HĐTTTP như Mỹ, Nhật, Anh, Đức…. Rõ ràng “nguyên tắc có đi có lại” đã góp phần khắc phục được những thiếu sót của vấn đề này khi Việt Nam chưa tiến hành kí kết HĐTTTTP hay những quy định về CNVCTH PQTT quy định chưa đủ hoặc không được quy định trong các HĐTTTTP.
Tóm lại, với tư cách là một nguyên tắc của tư pháp quốc tế nói chung, tương trợ tư pháp nói riêng, nguyên tắc có đi có lại đã mở rộng phạm vi các trường hợp công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, bảo vệ hiệu quả hơn trên thực tế lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong các quan hệ TTDS quốc tế.
- (ii) Nguyên tắc không xem xét lại nội dung phán quyết: Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Khi một PQTTNN được tòa án Việt Nam CNVCTH tại Việt Nam thì phán quyết đó sẽ có “hiệu lực pháp luật” như quyết định của tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, khi Tòa án được yêu cầu CNVCTHPQTTNN, tòa án không chỉ được “yêu cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán quyết mà còn phải đảm bảo PQTT đó được thi hành”. Cũng tương tự quy định pháp luật khi xem xét việc hủy PQTT, theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của LTTTM 2010 thì: “Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định tại Điều 68 của Luật này và các tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết”. Đối với yêu cầu CNVCTHPQTTNN, Tòa án cũng không được xét xử lại tranh chấp đã được TTNN ra phán quyết mà chỉ được kiểm tra, đối chiếu PQTTNN, các “giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu” để làm cơ sở quyết định cho CNVTH PQTT hoặc không. Nguyên tắc này cũng là khác biệt cơ bản giữa phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và Tòa án. Trường hợp lựa chọn Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thì sau sơ thẩm, một bên có quyền kháng cáo (vi phạm về trình tự, thủ tục và/hoặc nội dung) lên Tòa án cấp cao hơn để yêu cầu xem xét lại nội dung giải quyết tranh chấp và cách giải thích pháp luật của tòa án cấp sơ thẩm nếu phát hiện ra có vi phạm. Trong khi đó, việc xử lý tranh chấp bằng trọng tài càng ngày càng được sử dụng phổ biến thì một bên không được kháng cao lên cấp cao hơn do PQTT mang tính chung thẩm.
Điều V.1.b của Công ước New York chỉ cho phép các bên tranh chấp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài khi xuất hiện một số tiêu chí, trong đó có tiêu chí về vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng. Theo đó, nguyên tắc này yêu cầu hội đồng xét đơn yêu cầu phải đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư nhưng đảm bảo không xét lại, giải quyết lại nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp; không đánh giá quyền, nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ pháp lý đã được trọng tài quốc tế giải quyết dù đúng hay sai.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc xem xét các yêu cầu để ra quyết định có công nhận PQTT hay không với việc xem xét nội dung của PQTT trong nhiều trường hợp khó phân biệt rõ ràng như căn cứ liên quan đến “năng lực của các bên”, “hiệu lực của thỏa thuận trọng tài” hoặc “vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Do đó, hiện nay khi xét đơn yêu cầu ở một số vụ việc xem xét CNVCTHPQTTNN, một số Tòa cầu đã “xem xét” luôn lại nội dung vụ kiện đó để xem lại có đúng với pháp luật Việt Nam hay không. Sau đó, Tòa mới ra quyết định CNVCTH hay không, điều này đi ngược lại với các nguyên tắc đã được xác định theo luật pháp Việt Nam cũng như trái với thông lệ quốc tế. Như vậy, để đảm bảo việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam thì Tòa án cần đảm bảo nguyên tắc không xem xét lại nội dung PQTT, đây là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo giá trị pháp lý của thủ tục tố tụng đặc biệt này. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
- (iii) Nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự
“Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự” là một trong những biểu hiện của dân chủ trong tố tụng dân sự nói chung và trong thủ tục CNVCTHPQTTNN nói riêng. BLTTDS 2015 đã khẳng định: “Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự”. Chính vì vậy, nguyên tắc này là nguyên tắc quan trọng bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan và công bằng. “Quyền bảo vệ của đương sự” là sự tổng hợp các quyền tố tụng dân sự như: Quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi yêu cầu, cung cấp chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Việc “bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng” có ý nghĩa là bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự.
Đối với việc CNVCTHPQTTNN, nguyên tắc này được thể hiện tại quy định ở khoản 1 Điều 451 BLTTDS 2015: “người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó”.
So sánh với BLTTDS 2004 thì quy định này có sự điều chỉnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 364 BLTTDS 2004 thì chỉ có Bộ Tư pháp nhận đơn và hồ sơ yêu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam phán quyết. Đến BLTTDS 2015 thì đã có một sự điều chỉnh về “cơ quan có thẩm quyền nhận đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan”. Sự điều chỉnh mới này đã góp phần giúp cho đương sự có thêm sự lựa chọn để giải quyết các thủ tục một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Ngoài ra, nguyên tắc này cũng được thể hiện ở một khía cạnh khác trong BLTTDS mà như khoản 3 Điều 458 quy định về “phiên họp xét đơn yêu cầu”. Tại quy định này, khi đương sự vắng mặt có lý do chính đáng lần thứ nhất của phiên họp thì phiên họp đó sẽ được hoãn lại để chờ đương sự. Cũng tại quy định này, “việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành khi đương sự có yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt của họ trong lần triệu tập hợp lệ lần thứ hai”. Tức là, nếu khi vắng mặt với lý do chính đáng và có đơn yêu cầu vắng mặt được chấp thuận thì việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành theo đúng quy định pháp luật mà không có bất kỳ sự ràng buộc cố định nào đối với sự hiện diện của đương sự trong phiên họp cả. Có thể thấy quy định này là sự ưu ái và thể hiện pháp luật đã có một sự tôn trọng nhất định đối với quyền và lợi ích của đương sự.
Như vậy, nguyên tắc “đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự” cũng là một trong những nguyên tắc mà Tòa án cần tuân thủ trong quá trình tiến hành việc xem xét CNVCTHPQTTNN. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa cơ bản để đảm bảo tính công bằng, khách quan cho các bên tham gia tố tụng đặc biệt đối với những mối quan hệ pháp lý có tính chất quốc tế, đảm bảo cho sự phát triển chung của hệ thống pháp luật Việt Nam so với thế giới. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
1.1.5. Ý nghĩa của việc cho công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Về phương diện chính trị – ngoại giao: các quy định về CNVCTHPQTTNN thể hiện được sự phù hợp của hệ thống pháp luật tại Việt Nam với thế giới, thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị song phương cũng như góp phần củng cố địa vị của Việt Nam ở thị trường quốc tế. Quy định pháp luật về CNVCTHPQTTNN còn nhằm đảm bảo giải quyết xung đột về quyền tài phán và bảo đảm tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa Việt Nam với các nước trên thế giới trong việc thực thi các PQTT, vừa thể hiện rõ thiện chí hợp tác với các nước khác trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Thủ tục này tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức nước ngoài bảo vệ được quyền lợi chính đáng trên lãnh thổ nước mình. Đối với các cá nhân, tổ chức Việt Nam, việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam không những bảo đảm việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn cả trên lãnh thổ của nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại.
Riêng với trường hợp không công nhận PQTTNN trên lãnh thổ Việt Nam thì việc không công nhận đó là biện pháp pháp lý để Việt Nam bảo vệ chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tư pháp nói chung, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng.
Về phương diện kinh tế: Việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam góp phần bảo vệ lợi ích kinh tế chính đáng của đương sự trong các vụ việc liên quan tới hoạt động thương mại quốc tế, kể cả đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân Việt Nam hay nước ngoài. Trước hết, CNVCTHPQTTNN giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên được thi hành (nói cách khác là bên thắng kiện hoặc bên có yêu cầu thi hành PQTT). Không một chủ thể nào khi tham gia bất kỳ hoạt động kinh doanh với đối tác nước ngoài lại muốn xảy ra tranh chấp để phải nhờ đến các cơ quan tài phán để giải quyết, do vậy, khi một bên đã theo đuổi vụ việc tại các Trung tâm trọng tài trong một thời gian dài để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ xứng đáng nhận được sự bảo vệ của pháp luật. Việc này giúp đảm bảo niềm tin để thực thi các hoạt động pháp luật của các chủ thể trong các giao dịch dân sự, thương mại. Vấn đề phát sinh sau cùng là PQTT này có được thi hành ở quốc gia khác hay không. Trường hợp, PQTT này không được công nhận mà không có lý do chính đáng thì xem như mọi công sức, chi phí đã bỏ ra là vô ích và đồng thời việc này cũng tạo điều kiện cho hiện tượng trốn tránh các nghĩa vụ của chủ thể phải thi hành PQTT, nguy cơ gia tăng các hành động vi phạm pháp luật, theo đó, các quyền và lợi ích chính đáng của bên được thi hành sẽ bị tổn hại. Ở một khía cạnh khác, việc CNVCTPQTTNN góp phần bảo vệ lợi ích của cả bên phải thi hành bản án, quyết định đó bởi lẽ nếu như yêu cầu công nhận đó là không chính đáng hoặc không đáp ứng những điều kiện do pháp luật quốc gia nơi nhận được yêu cầu công nhận quy định thì yêu cầu đó sẽ không được chấp nhận. Điều này cũng giúp cho bên đương sự còn lại có cơ hội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính công bằng và khách quan của hệ thống pháp luật nói chung. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Ngoài ra, CNVCTPQTTNN sẽ góp phần hạn chế chi phí tư pháp của Việt Nam cũng như chi phí tố tụng của các bên đương sự. Trong bất kỳ một tranh chấp nào, các chi phí pháp lý phát sinh là không thể tránh khỏi, cả về thời gian và công sức của mỗi bên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, nếu PQTTNN không được CNVCTH tại nơi được yêu cầu thì hệ quả xảy ra là các chi phí pháp lý sẽ tiếp tục bị gia tăng, thời gian tiến hành tố tụng kéo dài và đồng thời, vụ việc không có cơ hội kết thúc tại thời điểm mà đáng ra nó đã phải kết thúc. Điều này cũng sẽ làm giảm hiệu quả của thể thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nơi mà được các chủ thể tin tưởng vì tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn thời gian hơn phương thức Tòa án. Như vậy, việc CNVCTPQTTNN sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm bớt thời gian, chi phí, khối lượng công việc cho tất cả các bên liên quan và cơ quan chức năng, tạo cơ hội để vụ tranh chấp được kết thúc, tránh tình trạng kéo dài thời gian giải quyết, một bên có cơ hội trốn tránh việc thi hành nghĩa vụ, gây ảnh hưởng tới lợi ích hợp pháp của bên còn lại. Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển như hiện nay, việc CNVCTHPQTTNN vừa là cơ sở pháp lý có giá trị thực tiễn, đảm bảo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên cũng đồng thời là động lực thúc đẩy giao thương quốc tế, mở rộng phạm vi của hoạt động giao thương quốc tế. Trên cơ sở của việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam ngày càng hoàn thiện, các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng việc hợp tác đầu tư quốc tế, tăng cường phát triển giao thương về mọi mặt đối với các nước trên thế giới.
Về phương diện pháp lý: CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam sẽ giúp môi trường pháp lý của Việt Nam được ổn định hơn và có thể dự đoán được, thúc đẩy tiến trình hội nhập phù hợp với các quy định chung của hệ thống pháp luật quốc tế, tạo ra hành lang pháp lý ổn định làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế. Một hệ thống pháp luật ổn định, ít thay đổi sẽ giúp cho các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật, chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật đó có thể dự đoán được những hậu quả pháp lý từ các hành vi thực tế của mình, yên tâm trong việc tham gia các quan hệ pháp luật mà không lo sợ các lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc trong trường hợp bị ảnh hưởng vẫn được pháp luật bảo vệ. Việc CNVCTHPQTTNN cũng đảm bảo tính công bằng trong hoạt động đối xử quốc gia, qua đó nâng cao vị thế pháp lý của pháp luật quốc gia và tính phù hợp với thông lệ quốc tế nói chung, theo đó sẽ giúp các doanh nghiệp nước ngoài có cái nhìn tích cực đối với môi trường pháp lý của Việt Nam, tự tin trong hoạt động tìm hiểu về đầu tư và kinh doanh ở một quốc gia khác đất nước mình. Một hệ thống pháp luật trong nước với các quy định về CNVCTHPQTTNN chặt chẽ, ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc chứng minh một môi trường pháp lý ổn định, đảm bảo được khả năng các chủ thể được bảo vệ một cách hữu hiệu theo các quy định pháp luật quốc gia, bất kể là cá nhân, tổ chức trong hay ngoài nước. Đây là yếu tố cốt yếu để lấy được niềm tin của nhà đầu tư, quyết định tác động tích cực trong việc hội nhập kinh tế của Việt Nam, nâng cao vị thế đất nước Việt Nam trên trường quốc tế
1.2. Nguồn luật điều chỉnh về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
1.2.1. Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
“Công ước của Liên Hợp quốc về CNVCTTPQTTNN” được ký tại New York ngày 10/6/1958, có hiệu lực ngày 07/6/1959 (Công ước New York). Đây là một điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực TTTM quốc tế, với 172 quốc gia thành viên (tính đến ngày 14/5/2023). Việt Nam tham gia Công ước này từ giai đoạn đầu mở cửa kinh tế vào ngày 12/9/1995, tạo hành lang pháp lý để những PQTTNN được ban hành hợp lệ tại các quốc gia thành viên của Công ước được xem xét CNVCTH tại Việt Nam. Công ước được thành lập với mục tiêu tạo ra những tiêu chuẩn pháp lý chung cho việc CNVCTHPQTTNN, là cơ sở để PQTTNN được CNVCTH tại các quốc gia trên thế giới. Về cấu trúc, trong 16 điều khoản của Công ước, Điều I đến Điều VII quy định về “thủ tục CNVCTTPQTTNN, việc từ bỏ tham gia công ước, việc sử dụng công ước của các quốc gia và trách nhiệm của Liên Hợp quốc trong việc triển khai thi hành Công ước; điều khoản còn lại quy định về hiệu lực của Công ước, và về các thủ tục gia nhập, ký kết, phê chuẩn của các quốc gia thành viên”. Trên cơ sở Công ước New York, khi gia nhập Việt Nam đã giới hạn “phạm vi áp dụng” của Công ước New York như sau:
“Thứ nhất, Công ước chỉ áp dụng đối với việc CNVCTH tại Việt Nam quyết định TTNN được tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Công ước; đối với quyết định của TTNN tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại.
Thứ hai, chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại.
Thứ ba, mọi sự giải thích Công ước trước toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam”.
Tại quy định của BLTTDS thì BLTTDS được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; “trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Như vậy, Việt Nam chỉ áp dụng Công ước New York để xem xét CNVCTHPQTTNN được ban hành tại “các nước cũng là thành viên của Công ước”. Đối với các quốc gia không phải thành viên, Việt Nam sẽ áp dụng dựa trên “nguyên tắc có đi có lại”. Tuy nhiên, nếu quốc gia không phải là thành viên của Công ước và Việt Nam đã ký kết với nhau HĐTTTP thì việc CNVCTHPQTTNN có thể được xem xét dựa trên những quy định của Hiệp định này (nếu có). Ngoài ra, trường hợp một PQTTNN yêu cầu CNVCTH tại Việt Nam nhưng bị Toà án có thẩm quyền của Việt Nam từ chối vẫn có thể được yêu cầu CNVCTH tại một nước thành viên khác của Công ước New York.
1.2.2. Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Sau khi trở thành thành viên Công ước New York, từ năm 1995 đến nay, Việt Nam đã “nội luật hóa” những quy định của Công ước thể hiện tại nhiều văn bản là cơ sở pháp lý cho việc CNVCTHPQTTNN qua từng thời kỳ như sau:
- (i) Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài:
Ngay khi Việt Nam tham gia Công ước New York về CNVCTH quyết định của TTNN (tháng 7-1995), Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã thông qua “Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của TTNN” (Pháp lệnh 1995) vào tháng 9-1995. Việc gấp rút chuyển hóa các quy định của công ước New York nhằm đảm bảo việc mở rộng các quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước trên thế giới, thể hiện sự hội nhập của pháp luật Việt Nam đối với các yêu cầu cần thiết của thể chế TTTM trên thế giới. Theo Điều 1 của Pháp lệnh 1995, khái niệm quyết định của TTNN (Pháp lệnh vẫn sử dụng khái niệm “quyết định của trọng tài nước ngoài” thay vì “phán quyết của trọng tài nước ngoài”) được định nghĩa như sau: “(i) phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam do các bên thỏa thuận để giải quyết các tranh chấp thương mại, và (ii) phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên”. Theo quy định này, PQTTNN là PQTT được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc do TTNN tuyên trên lãnh thổ Việt Nam. Ở đoạn 1 tinh thần của của công ước New York được chuyển hóa chính xác khi thượng tôn yếu tố lãnh thổ để định nghĩa PQTTNN. Đoạn 2 lại hiểu theo cách hiểu phổ biến là hễ cứ “phán quyết không do trọng tài Việt Nam tuyên là không phải là phán quyết trong nước”. Do đó, cách diễn giải này lại không đúng với tinh thần của công ước New York. Theo như quy định này của Pháp lệnh 1995 thì tính chất nước ngoài hay trong nước của PQTT trong bốn trường hợp sau: “(i) Phán quyết do TTNN lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là PQTTNN; (ii) Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ngoài lãnh thổ Việt Nam là PQTTNN; (iii) Phán quyết do TTNN lập tại Việt Nam là PQTTNN; (iv) Phán quyết do trọng tài Việt Nam lập ở Việt Nam là phán quyết trong nước”.
Cho dù cách diễn dịch không hoàn toàn chính xác của Công ước New York đã dẫn đến việc đồng nhất hai khái niệm PQTTNN và phán quyết của TTNN, tuy nhiên quy định tại Pháp lệnh 1995 cũng tương đối phù hợp và có ý nghĩa nhất định trong việc đảm bảo tinh thần của Công ước New York.
- (ii) Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
BLTTDS 2004 được xem là bộ luật hình thức chuyên điều chỉnh các quan hệ tố tụng dân sự và thương mại đầu tiên của Việt Nam. Bộ luật này là kết tinh của một quá trình pháp điển hóa mạnh mẽ về pháp luật TTDS và bản thân bộ luật là sự tập hợp một cách có hệ thống hầu như tất cả các văn bản về pháp luật TTDS trước đó.
Với sự ra đời của BLTTDS 2004 thì vấn đề CNVCTHPQTTNN (trước đó được điều chỉnh bởi Pháp lệnh 1995), được nhập vào BLTTDS 2004 và được thiết kế trong Phần thứ sáu về “Thủ tục CNVCTH tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định dân sự của TTNN” và một số điều khoản khác có liên quan. Cụ thể, việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam sẽ được tiến hành theo Chương 26, 27, 28, 29 của BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung 2011; các căn cứ để từ chối CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 356, 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung 2011.
Về định nghĩa phán quyết của TTNN, theo quy định của BLTTDS 2004 thì: “phán quyết của quyết TTNN là phán quyết được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của TTNN do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động”. Có thể thấy tính nước ngoài hay trong nước của một PQTT chỉ được xác định dựa vào tính nước ngoài hay trong nước của quốc tịch trọng tài, bất kể nơi tuyên phán quyết cũng như bất kể luật áp dụng cho quy trình giải quyết tranh chấp là luật Việt Nam hay luật nước ngoài. Quan niệm này của BLTTDS 2004 đã phủ định tinh thần chính yếu của Công ước New York là nguyên tắc lãnh thổ. Vì vậy, nếu một phán quyết do trọng tài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ban hành ngoài lãnh thổ Việt Nam thì có được xem là PQTTNN hay không không thể xác định được.
- (iii) Luật Trọng tài thương mại 2010
Thực tế khái niệm TTNN lại không được định nghĩa trong BLTTDS 2004, cũng như các đạo luật có liên quan là “Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003” và “Nghị quyết 05/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003”. Khái niệm TTNN mới chính thức được xuất hiện trong LTTTM 2010. Với sự ra đời của đạo luật này, TTTM đã chính thức được điểu chỉnh ở cấp độ là luật và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền pháp luật Việt Nam.
Để khắc phục thiếu sót của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, Luật TTTM 2010 đã quy định chi tiết khái niệm TTNN, theo đó “TTNN được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”. Theo quy định này, yếu tố lãnh thổ đã không được xem xét đến, vì việc xác định TTNN dựa vào luật điều chỉnh việc thành lập của trọng tài. Trên cơ sở khái niệm TTNN, Luật TTTM 2010 cũng có quy định tương đồng với BLTTDS 2004, theo đó khẳng định rằng về khái niệm PQTTNN là “phán quyết do TTNN tuyên bất kể trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn”. Khái niệm này cũng không nêu bật được sự chính xác của khái niệm PQTTNN theo tinh thần của Công ước New York.
- (iv) Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Hiện nay, thủ tục CNVCTTPQTTNN được quy định trong phần thứ bảy BLTTDS 2015 (Chương XXXV và Chương XXXVII của BLTTDS 2015), các căn cứ để từ chối CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 439, 459 BLTTDS 2015. BLTTDS 2015 trên cơ sở đã tiếp thu tinh thần của Công ước New York và nội luật hóa các quy định này với nhiều dấu hiệu tích cực thông qua các sự thay đổi cụ thể trong quy định về CNVCTTPQTTNN.
BLTTDS 2015 đã bổ sung những quy định nhằm đảm bảo tính hiệu quả của việc công nhận này, đó là phân biệt giữa PQTT (quyết định giải quyết nội dung vụ việc) và các quyết định khác của trọng tài (về trình tự tố tụng), BLTTDS 2015 đã sử dụng từ “phán quyết” thay cho “quyết định”, đồng thời dẫn chiếu đến các khái niệm đã được định nghĩa trong pháp luật trọng tài; cho phép bên được thi hành nộp đơn yêu cầu trực tiếp ra Tòa án có thẩm quyền để giảm bớt khâu trung gian và thời gian tố tụng để đẩy mạnh tiến trình CNVCTTPQTTNN tại Việt Nam. Hay các quy định của BLTTDS 2015 đã chỉ ra rằng Tòa án chỉ xem xét các chứng cứ mà bên phải thi hành cung cấp để xem xét liệu có căn cứ từ chối yêu cầu hay không. Điều đó có nghĩa là nếu như bên phải thi hành không thể cung cấp được các chứng cứ phản đối hợp lý thì phán quyết nghiễm nhiên phải được CNVCTH tại Việt Nam. Bên được thi hành không phải nộp thêm bất cứ chứng cứ nào trừ những tài liệu đã được quy định cụ thể như Điều IV của công ước New York, cũng như Điều 453 BLTTDS 2015. Ngoài ra, BLTTDS 2015 cũng quy định cụ thể hơn về các trường hợp “đình chỉ và tạm đình chỉ xét đơn”, “quyết định phúc thẩm cũng có thể bị xem xét lại theo thủ tục Giám đốc thẩm”. Nhìn chung, các quy định liên quan tại BLTTDS 2015 được nội luật hóa tương đối tương thích với các quy định của Công ước New York.
1.3. Pháp luật một số quốc gia về cho công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài trên thế giới.
1.3.1. Pháp luật của Đức
Đức là một nền pháp chế mạnh về TTTM và là quốc gia có nhiều địa điểm trọng tài hấp dẫn trên thế giới. BLTTDS của Đức (Zivilprozessordnung – ZPO) quy định về tố tụng trọng tài thành một chương riêng biệt. Luật Trọng tài của Đức được Hạ Viện Đức ban hành ngày 22/12/1997 (Luật trọng tài 1998) và được thiết kế thành Chương X Bộ luật TTDS của Đức. Trong ZPO, vấn đề công nhận quyết định của tòa án nước ngoài và PQTTNN được quy định hoàn toàn tách bạch.
Thực tế, luật trọng tài cũ của Đức cũng có nhiều quy định khác với Công ước New York, điển hình là việc nêu ra các căn cứ có thể được vận dụng để không công nhận PQTTNN bao gồm: “(1) phán quyết không có giá trị pháp lý; (2) việc công nhận phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Đức, nhất là các quyền hiến định; (3) các bên không được đại diện một cách hợp lý khi tham gia tố tụng, trừ khi có sự đồng ý của các bên; và (4) các bên không có cơ hội tham gia quy trình tố tụng”. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Rõ ràng là các nguyên tắc này được diễn dịch từ Điều V Công ước New York nhưng có rất nhiều sự khác biệt, dẫn đến nhiều sự xung đột pháp lý khi các thẩm phán giải quyết vụ việc trên thực tế. “Hiện nay, đối với vấn đề CNVCTTPQTTNN, pháp luật Đức hoàn toàn không có bất kỳ một sự xung đột nào với liên minh Châu Âu và đặc biệt là Công ước New York vì pháp luật Đức đã chọn phương pháp dẫn chiếu trực tiếp tới việc áp dụng công ước New York”, chứ không nội luật hóa các điều khoản của công ước New York thành luật quốc gia như Việt Nam. Công ước New York nêu ra hai cách thức mà một PQTT có thể được xem là PQTTNN: “(i) phán quyết được ban hành ngoài lãnh thổ của nước công nhận và cho thi hành và (ii) phán quyết được ban hành trong lãnh thổ nước công nhận và cho thi hành nhưng không được xem là PQTT trong nước”. Cả hai cách thức này đều căn cứ vào cách tiếp cận mang tính lãnh thổ (territorial approach), tức là nơi mà PQTT được ban hành, chứ hoàn toàn không nhấn mạnh về việc trọng tài ban hành ra phán quyết được điều chỉnh bởi luật của nước nào. Trong bối cảnh của Đức, do chọn cách dẫn chiếu trực tiếp Công ước New York nên quy định của ZPO không có bất kỳ điều khoản nào nêu bật khái niệm PQTTNN. Luật Đức quy định rằng nếu quy trình trọng tài được tiến hành trên lãnh thổ của Đức thì quy trình trọng tài đó sẽ chịu sự điều chỉnh của luật Đức. Thực tiễn TTTM của Đức chứng minh rằng, bất kể trọng tài giải quyết tranh chấp là trọng tài trong nước hay TTNN, cũng như bất kể luật áp dụng cho quy trình trọng tài là có phải là luật Đức hay không, thì phán quyết khi được tuyên trong lãnh thổ Đức sẽ là PQTT trong nước. Tương tự, nếu như một PQTT được tuyên ngoài lãnh thổ của Đức, không cần biết là có phải do TTNN tuyên hay không, cũng không cần biết luật áp dụng cho quy trình tố tụng trọng tài là luật của Đức hay luật của nước khác, PQTT đó sẽ được xem là PQTTNN. Từ quan niệm của luật Đức, có thể rút ra kết luận rằng chỉ cần căn cứ vào nơi tuyên phán quyết thì có thể dễ dàng xác định rằng một phán quyết có phải là PQTTNN hay không. Vì áp dụng triệt để nguyên tắc lãnh thổ nên khái niệm “phán quyết của TTNN” (award of foreign arbitration) là không có ý nghĩa và do đó không tồn tại trong pháp luật Đức. Nếu PQTTNN được công nhận tại Đức, nó đương nhiên được thi hành như là một phán quyết của tòa án Đức. Ngược lại, PQTTNN sẽ không được thi hành tại Đức nếu bị từ chối công nhận. Ngoài ra, luật Đức chỉ cho phép các tòa thượng thẩm khu vực (Oberlandesgericht) tham gia vào cả quá trình tố tụng trọng tài, ngoại trừ các trường hợp liên quan đến thu thập chứng cứ thì tòa thượng thẩm khu vực có quyền ủy thác cho các tòa sơ thẩm và tòa thượng thẩm. Về mặt nội dung của PQTTNN, một phán quyết muốn được CNVCTH tại Đức phải mang tính ràng buộc và chứa đựng những phán xét về nội dung của vụ tranh chấp. “Các phán quyết giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp (phán quyết toàn phần), một phần nội dung vụ tranh chấp (phán quyết từng phần) là những trường hợp phổ biến nhất và thường xuyên được yêu cầu CNVCTH tại các tòa án Đức”.
Nhìn chung, quy định của Đức về CNVCTTPQTTNN đã thượng tôn toàn vẹn hiệu lực và tinh thần của Công ước New York, theo đó, khi xét xử, không phụ thuộc vào quy định pháp luật của một quốc gia như thế nào về việc CNVCTTPQTTNN, thẩm phán bắt buộc phải áp dụng các quy định của Công ước New York. Điều này “thể hiện sự ủng hộ” của các tòa án Đức đối với việc CNVCTHPQTTNN, miễn là các PQTT này “đáp ứng được các điều kiện tối thiểu” mà Công ước New York thiết lập.
1.3.2. Pháp luật của Singapore Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Việc CNVCTHPQTTNN tại Singapore được quy định trong Luật trọng tài quốc tế năm 2002 (IAA). Các Tòa án ở Singapore rất có danh tiếng trong việc thi hành các PQTTNN, điều này thể hiện qua các số liệu được thống kê như sau: Theo số liệu của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC), riêng năm 2022 SIAC thụ lý giải quyết 357 đơn khởi kiện mới với tổng trị giá tranh chấp là 5,61 tỷ USD. Quý đầu tiên của năm 2023, SIAC gia tăng đáng kể đối với số lượng thụ lý đơn khởi kiện mới, 332 vụ. Việt Nam (cùng với các quốc gia ASEAN) là nước được xem là “khách hàng” sử dụng dịch vụ SIAC đứng trong “Top 10”.
Danh tiếng về sự hiệu quả của Tòa án Singapore trong việc giải quyết các yêu cầu CNVCTTPQTTNN là do cách giải thích hạn chế các căn cứ từ chối thi hành theo Công ước New York. Tòa án Singapore có cách tiếp cận rất nghiêm ngặt về các căn cứ từ chối CNVCTHPQTTNN quy định tại Điều V Công ước New York. Một căn cứ thường được viện dẫn phổ biến để không CNVCTHPQTTNN là vi phạm “trật tự công” – cơ sở cho phép Tòa án có thể từ chối việc CNVCTH một PQTT nếu việc đó trái với trật tự công của quốc gia đó. Định nghĩa liên quan đến thuật ngữ này thường được diễn giải rất chung chung và rộng để có thể áp dụng chính xác. Tuy nhiên, pháp luật Singapore có cách tiếp cận giới hạn hẹp hơn rất nhiều. Theo đó, việc đưa ra các căn cứ pháp lý sai hoặc áp dụng sai các quy định pháp luật hay sự kiện thực tế không tương đương với việc vi phạm trật tự công. Việc phản đối CNVCTHPQTTNN vì lý do vi phạm “trật tự hay chính sách công” chỉ khi: “(i) việc công nhận vi phạm “các giá trị cơ bản nhất về đạo đức và công lý”; (ii) “gây xói mòn lương tri, niềm tin nội tâm của Tòa án”; hoặc (iii) có căn cứ và bằng chứng chắc chắn chỉ ra rằng có sự việc lừa đảo và tham nhũng giữa các bên và trọng tài viên”.
Pháp luật Singapore cho phép việc CNVCTH không chỉ phán quyết cuối cùng mà cả các phán quyết từng phần và phán quyết tạm thời, cũng như các quyết định khẩn cấp tạm thời của HĐTT nước ngoài tại Singapore – quy định mà hiện tại Việt Nam đang không có cơ chế. Singapore có cơ chế hỗ trợ tố tụng trọng tài quốc tế trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể, nếu nguyên đơn của một vụ kiện trọng tài quốc tế (như VIAC, ICC) xác định được bị đơn có tài sản tại Singapore, nguyên đơn có thể nộp đơn đến tòa án có thẩm quyền của Singapore để yêu cầu áp dụng “lệnh Mareva” (Mareva Injunction) đối với tài sản đó. Theo đó, một bên yêu cầu áp dụng lệnh Mareva cần phải chứng minh được: (i) bên đó có vị thế đủ mạnh về nội dung của các yêu cầu khởi kiện của họ; và (ii) tồn tại rủi ro thật sự rằng bị đơn sẽ tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thi hành án.
Vị thế đủ mạnh của một bên về nội dung của vụ kiện mà tòa án Singapore thường sẽ xem xét sẽ ở mức khoảng trên 50% cơ hội chiến thắng, nhưng không nhất thiết phải luôn xem xét yếu tố này trong tất cả các trường hợp yêu cầu áp dụng lệnh Mareva: “Những yếu tố liên quan đến việc xác định rủi ro thật sự về việc tẩu tán tài sản điển hình gồm: bản chất của tài sản là đối tượng của lệnh Mareva, và mức độ mà bên có tài sản đó có thể tẩu tán; bản chất và vị thế tài chính của bị đơn; địa điểm trụ sở hoặc cư trú của bị đơn; có cơ sở nào thể hiện bị đơn có khuynh hướng sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án hay không …”
1.3.3. Pháp luật của Australia (Úc)
Australia cũng như một số quốc gia khác đã tiền hành áp dụng cả công ước New York lẫn Luật mẫu vào vấn đề này khi ban hành Luật Trọng tài quốc tế 1974 (IAA). IAA được ban hành dựa trên Công ước New York và Luật Mẫu với những quy định cơ bản về CNVCTHPQTTNN trên toàn liên bang. Các quyết định về CNVCTHPQTTNN tại Australia đã chứng minh Australia ngày càng ủng hộ trọng tài và ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của trọng tài quốc tế. “Australia hiện trở nên ngày càng nổi bật, vị thế ngày càng được nâng cao, với nền dân chủ tự do ổn định, cam kết tuân thủ pháp quyền và nên độc lập tư pháp. Đây chính là lợi thế hiển nhiên về mặt pháp lý trong thế giới hiện đại”. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Phạm vi áp dụng Công ước New York trong hệ thống pháp luật Australia khi áp dụng cả phán quyết được tuyên theo cả Công ước và không theo Công ước. Theo đó Điều 8 (1) IAA đã quy định rằng “phán quyết nước ngoài ràng buộc theo Luật này vì tất cả các mục tiêu với các bên trong phán quyết”. Bên cạnh đó Điều 20 IAA đã quy định rằng một phán quyết có thể được thực thi theo cả Công ước New York và Luật Mẫu, việc thi hành phải được tiến hành theo Công ước.
Tòa án Liên bang Úc gần đây đã xem xét đơn kháng cáo bản án thi hành PQTT theo điều 8(3) của Đạo luật Trọng tài Quốc tế 1974. Hub Street cho rằng PQTT không nên được thi hành dựa trên lý do cơ bản là “thành phần của hội đồng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên” như dự kiến trong điều 8(5)(e) của IAA: “Thành phần của Cơ quan trọng tài hoặc thủ tục trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc nếu không có thỏa thuận đó thì không phù hợp với luật pháp của quốc gia nơi diễn ra hoạt động trọng tài”. Lập luận chính của Energy City là phán quyết do Tòa án Qatar đưa ra phải được coi là hợp lệ theo luật nơi diễn ra và biện pháp của Hub Street là phải tranh cãi vấn đề đó tại đó thay vì phản đối việc thi hành tại Úc.
Thẩm phán đã phát hiện rằng Tòa án Qatar đã thành lập ủy ban trọng tài dưới sự hiểu lầm rằng Energy City đã gửi thông báo cho Hub Street để bổ nhiệm một thành viên của ủy ban trọng tài, và rằng Hub Street đã không thực hiện điều này. Trong tình huống đó, theo luật pháp Qatar, sự hình thành ủy ban không phù hợp với thoả thuận của các bên. Ông đã kết luận rằng đây là cơ sở để phản đối việc thi hành phán quyết theo điều 8(5)(e) của IAA. Thẩm phán sau đó xem xét liệu PQTT có nên được thi hành theo quyền tự do. Thẩm phán lưu ý rằng trong khi Công ước New York có một xu hướng tích cực để thi hành, không có cơ sở để kết luận rằng có sự tự do rộng lớn hoặc không giới hạn để thi hành, hoặc rằng không có sự tự do nào để thi hành PQTT. Dù sao, việc thẩm phán xem xét rằng sự hình thành của ủy ban trọng tài theo thoả thuận của các bên và việc không thông báo về cuộc họp trọng tài cũng là một vấn đề quan trọng. Do đó, ông Thẩm phán từ chối thực hiện CNVCTHPQTTNN. Mặc dù thẩm phán đã cẩn thận nhấn mạnh sự ủng hộ việc thi hành của Công ước New York, nhưng trường hợp này là một ví dụ tương đối rõ ràng về các trường hợp trong đó một bên có thể phản đối việc thi hành PQTT theo IAA và tòa án Úc sẽ áp dụng nghiêm các yêu cầu để thi hành phán quyết theo IAA.
Tuy nhiên ở một vụ việc khác đã cho thấy nỗ lực thật sự của Australia trong việc CNVCTHPQTTNN. Trong vụ Kingdom of Spain v Infrastructure Services Luxembourg S.à.r.l, vấn đề quan trọng trong việc thực thi là liệu PQTT đầu tư được điều chỉnh bởi Công ước ICSID có nên được thi hành theo mục 35(4) của Đạo luật Trọng tài hay không. Nguyên đơn là nhà đầu tư đã tìm cách thi hành phán quyết đối với tài sản nhà nước của Tây Ban Nha đặt tại Australia. Tây Ban Nha khẳng định rằng họ được miễn trừ quyền tài phán theo Đạo luật miễn trừ quốc gia nước ngoài năm 1985 (Cth), trong đó, như đã lưu ý, tuyên bố rằng “trừ khi được quy định bởi hoặc theo Đạo luật này, quốc gia nước ngoài được miễn trừ quyền tài phán”. Ở cấp sơ thẩm, thẩm phán đã nhận định rằng Tây Ban Nha được hưởng quyền miễn trừ, nhưng cho rằng với tư cách là một bên ký kết Công ước ICSID và Hiệp ước Hiến chương Năng lượng, Tây Ban Nha đã tuân theo thẩm quyền của Tòa án Australia (cũng như quyền tài phán của tòa án của các quốc gia ký kết khác đối với việc CNVCTH bất kỳ phán quyết nào sau đó) và đây là sự từ bỏ quyền miễn trừ của nước này. Cuối cùng, tòa án cho rằng các bị đơn có thể phải thi hành PQTT theo Đạo luật Trọng tài. Tòa án Tối cao từ chối áp dụng quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài đối với việc CNVCTHPQTTNN đã củng cố danh tiếng của Úc như một khu vực tài phán ủng hộ trọng tài.
1.3.4. Pháp luật của Hàn Quốc. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Năm 1999, Hàn Quốc thông qua đạo luật trọng tài được áp dụng dựa trên mô hình của Luật mẫu và Công ước New York. Đối với vấn đề CNVCTHPQTTNN được quy định tại Điều 37 và 39 của Đạo luật trọng tài.
Căn cứ Điều 37 của Luật quy định về thủ tục yêu cầu để được CNVCTHPQTTNN, một bên nộp đơn lên tòa án Hàn Quốc để được công nhận hoặc cơ quan thi hành án phải nộp “(i) bản gốc được chứng thực hợp lệ hoặc một bản sao có chứng thực hợp lệ của phán quyết trọng tài và (ii) bản sao được chứng thực hợp lệ bản gốc hoặc bản sao có chứng thực hợp lệ của thỏa thuận trọng tài”. Nếu những tài liệu không phải bằng tiếng Hàn, cũng phải có bản dịch được chứng thực hợp lệ. Những quy định này phản ánh các quy định tại Điều IV của Hiệp định Công ước New York và là những yêu cầu về thủ tục duy nhất đối với việc CNVCTHPQTTNN tại Hàn Quốc. Mặc dù các yêu cầu về thủ tục này hoàn toàn không gây gánh nặng cho một bên muốn thi hành PQTT ở Hàn Quốc, nhưng Điều 37(1) của Đạo luật quy định rằng việc CNVCTHPQTTNN sẽ được cấp bởi phán quyết của tòa án Hàn Quốc. Do đó, nếu không có phán quyết của tòa án Hàn Quốc cho phép thi hành, PQTTNN có thể không có hiệu lực pháp lý thực tế tại Hàn Quốc. Ngoài ra, quá trình thi hành án có thể mất một khoảng thời gian đáng kể nếu bên thua kiện kháng cáo lên Tòa án tối cao. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Hàn Quốc gần đây đã cho rằng PQTTNN áp dụng Công ước New York có cùng hiệu lực pháp lý như phán quyết cuối cùng của tòa án Hàn Quốc, gây ra một số điểm mơ hồ như về hiệu lực của phán quyết trước khi có lệnh công nhận hoặc thi hành cuối cùng của tòa án Hàn Quốc.
Điều 39 của Đạo luật quy định rằng việc CNVCTHPQTTNN mà Công ước New York áp dụng sẽ được thực hiện theo Công ước. PQTTNN từ các khu vực tài phán không tham gia Công ước New York sẽ được CNVCTH theo Điều 217 của BLTTDS và Điều 26(1) và 27 của Đạo luật thi hành án dân sự, là những quy định áp dụng cho việc CNVCTH bản án của tòa án nước ngoài.
Trên thực tế, Hàn Quốc là quốc gia bảo lưu nguyên tắc có đi có lại và cả khái niệm thương mại theo Điều 1 của Công ước. Điều này dẫn tới Hàn Quốc chỉ CNVCTHPQTTNN mà là quốc gia thành viên của Công ước và chỉ áp dụng cho những vụ việc được định nghĩa thương mại theo pháp luật Hàn Quốc. Nói cách khác là những vụ việc không được xem là thương mại theo pháp luật Hàn Quốc sẽ không được áp dụng các quy định của Công ước.
Tuy nhiên, quan điểm này đã được nới lỏng trong những năm sau đó và các tòa án Hàn Quốc nhìn chung có xu hướng thi hành các phán quyết của tòa án nước ngoài miễn là sự công bằng về thủ tục được đảm bảo và không có mối lo ngại nào về chính sách công. Điều 26(1) của Đạo luật thi hành án dân sự yêu cầu tòa án Hàn Quốc phải thi hành phán quyết nước ngoài, giống như yêu cầu về phán quyết công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài theo Điều 37(1) của Đạo luật trọng tài. Điều 27 của Đạo luật Thi hành án dân sự quy định rằng phán quyết thi hành án đó sẽ được đưa ra mà không cần xem xét nội dung vụ án và vụ kiện yêu cầu thi hành án sẽ chỉ bị bác bỏ khi phán quyết chưa được chứng minh là cuối cùng và có tính kết luận, hoặc không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu này rất giống với các quy định của Công ước New York.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Việt Nam trong thời đại hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phương thức giải quyết tranh chấp bằng TTTM, nhu cầu CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam ngày một tăng cao và có giá trị lớn về mặt kinh tế, chính trị xã hội và pháp luật. CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam là “một thủ tục tố tụng đặc biệt do tòa án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của PQTTNN trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam”. Loại việc này được Tòa án xem xét giải quyết căn cứ các quy định tại BLTTDS và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Ở chương 1 của luận văn, tác giả đã đi vào tìm hiểu chung về pháp luật đối với hoạt động CNVCTH tại Việt Nam các PQTTNN, bao gồm tìm hiểu các khái niệm chung, đặc điểm pháp luật và nguyên tắc của việc cho công nhận và thi hành PQTTNN cũng như ý nghĩa của hoạt động này trên thực tế, các nguồn luật trong nước và quốc tế điều chỉnh vấn đề này. Thêm vào đó, tác giả cũng tham khảo một số quy định của một số quốc gia khác trên thế giới về việc CNVCTHPQTTNN tại Việt Nam nhằm làm cơ sở để so sánh, đối chiếu với quy định tại Việt Nam. Việc này cũng giúp tác giả có một cái nhìn tổng quan về hoạt động CNVCTHPQTTNN trên thế giới nói chung. Việc phân tích các vấn đề liên quan tới lý luận chung về CNVCTH tại Việt Nam các PQTTNN là tiền đề để tác giả tiếp tục tìm hiểu, đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật hiện hành liên quan tới vấn đề này trong chương 2 của Luận văn. Luận văn: Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định Pháp luật về cho công nhận và thi hành tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
