Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, Tỉnh Phú Yên có nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn, trong đó có vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và cho đối tượng là thanh niên nói riêng. Hơn lúc nào hết, nguồn nhân lực lao động thanh niên đang đứng trước nguy cơ gia tăng thất nghiệp do không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, đặc biệt ở các lĩnh vực hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao do quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế…
Sông Hinh là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Yên, có thế mạnh về nông nghiệp và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, du lịch – thương mại và dịch vụ; nguồn nhân lực thanh niên dồi dào. Tuy nhiên, do chất lượng lao động còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai. Cũng tương đồng với các huyện khác trong tỉnh, Sông Hinh dư thừa sức lao động nông thôn ở lĩnh vực nông nghiệp, ngược lại ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ, du lịch lại thiếu hụt lao động trầm trọng. Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải điều tiết về quy luật cung cầu nguồn lao động trong xã hội nhằm hạn chế tình trạng lao động thất nghiệp trong khi nơi khác, ngành nghề khác lại thiếu hụt lao động, và ngược lại, doanh nghiệp thiếu hụt lao động nhưng người lao động không tìm được việc để làm.
Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm là loại hình quản lý đặc biệt do Nhà nước tiến hành trên cơ sở nắm bắt mối quan hệ giữa dân số, lao động và người sử dụng lao động. Từ đó Nhà nước đưa ra những giải pháp và nội dung cụ thể nhằm nải quyết việc làm cho Người lao động để công dân được thực hiện quyền lao động của mình theo quy định của pháp luật.
Sông Hinh là vùng đất đầy tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp ngành và toàn xã hội về phát triển nguồn nhân lực chưa cao; quản lý nhà nước về việc làm còn bất cập, một số cơ chế chính sách chưa phát huy hiệu quả… ải quyết những vấn đề đặt ra và góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của huyện Sông Hinh trong thời gian tới, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết trong bất kỳ xã hội nào. Chính vì vậy đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu sau:
Ngô Quỳnh An, Luận án tiến sĩ, bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân với đề tài “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam”, đề tài đã phân tích các ảnh hưởng tới khả năng có được việc làm được trả lương cho toàn bộ dân số từ 10 tuổi trở lên trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ phải đạt từ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam. Như vậy trình độ văn hóa, đào tạo nghề có ảnh hưởng lớn đến cơ hội có việc làm của người lao động. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra rằng lao động là người thuộc các hộ gia đình nghèo có khả năng có được việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo. Nguyên nhân có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên tìm kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống mạnh mẽ hơn. Ngoài ra nó cũng phù hợp với cơ cấu việc làm hiện nay đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay và việc làm trong khu vực phi kết cấu. Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cũng cao hơn so với nam giới [1].
Phùng Ngọc Triều, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2007 tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Trong luận văn Thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp” đã xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội làm việc phi nghiệp của lao động nông thôn đó là: Giới tính của lao động có tác động nhiều đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động trong vùng. Tác động của yếu tố này thể hiện nữ giới có khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp tại địa phương cao hơn nam giới, họ tham gia dưới các hình thức việc làm tự tạo như buôn bán, may, thuê hay việc làm hàng gia công tại nhà; Trình độ giáo dục ảnh hưởng đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp, xu hướng chung là trình độ giáo dục của lao động càng cao thì khả năng tham hoạt động phi nông nghiệp càng lớn. Bên cạnh đó học nghề cũng có tác động rất lớn thúc đẩy lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp và đặc biệt đối với lao động nữ thì học nghề có tác động mạnh hơn lao động nam; Thông tin việc làm có tác động khá lớn đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động, nhưng là tác động ngược chiều. Lao động có biết nguồn cung cấp thông tin về việc làm phi nông nghiệp nhưng khả năng tham gia rất ít do chất lượng nguồn thông tin kém và việc làm không phù hợp; Các nhà máy, tổ hợp sản xuất chưa thể hiện tác động rõ nét đối với vùng nghiên cứu trong hiện tại nhưng sự xuất hiện và phát triển của chúng sẽ có tác động tích cực đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của người lao động [25].
Nguyễn Trọng Vân, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội. Trong đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh”. Tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng việc làm, các yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố về đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như các chính sách tạo việc làm cho thanh niên, hỗ trợ về vốn sản xuất, kỹ thuật, đào tạo nghề [28]. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Bài viết “Giải pháp việc làm cho thanh niên hiện nay” của tác giả Đoàn Nam Đàn được đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, (số 3) năm 2015. Trong bài viết này tác giả đã nêu lên một số nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên, đó là: Sự suy thoái của kinh tế thế giới và Việt Nam, dẫn đến nhiều doanh nghiệp hoạt động khó khăn; diện tích đất canh tác ở nông thôn, khu vực ven đô ngày một thu hẹp; Công tác tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, dẫn đến nhận thức về lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên chưa phù hợp. Bên cạnh đó tác giả cũng đề ra một số giải pháp để như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tiếp tục hoàn thiện chính sách giáo dục, đào tạo cho thanh niên; thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên theo các nhóm đối tượng; hực hiện xã hội hoá công tác giải quyết việc làm cho thanh niên; tăng cường công tác tuyên truyền và xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về hướng nghiệp, tạo việc làm cho thanh niên [7].
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Đề án được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định (số 1956/QĐ-TTg) phê duyệt. Đề án đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho 17 triệu lao động nông thôn, mở ra nhiều cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn [23].
Bài viết “Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay của tác giả Đặng Cảnh Khanh, Phạm Bằng đăng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tháng 7 năm 2012. Trong bài viết này tác giả đã nêu lên được cơ cấu lao động, việc làm trong thanh niên; phân tích rõ về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên hiện nay; đánh giá về hiệu quả việc nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên [15].
Bài viết “Chính sách việc làm: thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thúy Hà đăng trên cổng thông tin điện tử của Viện Nghiên cứu lập pháp (vnclp.gov.vn) tháng 6 năm 2013. Trong bài viết này tác giả đã phân rõ việc làm và chính sách việc làm ở nước ta. Hệ thống hoá khái niệm, vai trò của việc làm; phân tích thực trạng việc làm của nước ta và đưa ra các phương hướng giải quyết vấn đề việc làm như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, đảm bảo và thực hiện các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan tới thị trường lao động ở nước ta; mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề. Đồng thời tác giả đã hệ thống chính sách việc làm, đánh giá chính sách việc làm và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm. Tuy nhiên, tác giả chủ yếu đưa ra các số liệu thống kê năm 2011, ít có sự so sánh giữa các năm, và chưa đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm và chính sách việc làm ở nước ta [9]. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Luận văn thạc sỹ với đề tài “Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên ở tỉnh Phú Thọ” được tác giả Nguyễn Thị Hoài Lan bảo vệ thành công năm 2012. Kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đã làm rõ một số nội dung như: Quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề cho thanh niên; những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho thanh niên và đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho thanh niên [16].
Luận văn thạc sỹ “Giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc” của tác giả Vũ Thị Việt Anh. Kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đã làm rõ một số nội dung như: hệ thống một số khái niệm cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động; những đặc điểm cơ bản của người dân tộc thiểu số; nêu lên tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Đắc Lắc ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số, qua đó tác giải cũng đề ra một số giải pháp để giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc [2].
Nhìn chung, những công trình và bài viết nói trên đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề việc làm, vấn đề tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến người lao động nói chung và đến vấn đề việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên ở nhiều góc độ, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực ( nông thôn, thành thị, miền núi, đồng bằng…) khác nhau và gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới rất bổ ích. Song, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những ưu điểm, hạn chế vấn đề quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên một cách có hiệu quả từ nay đến năm 2020.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết các nhiệm bàn thiện giải quyết hành vi tại huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
- Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Thanh niên từ 15 đến 30 tuổi đang sinh sống, lao động, sản xuất trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Những vấn đề kinh tế – xã hội liên quan đến quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Phạm vi không gian: Trong phạm vi địa giới hành chính của huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Phạm vi thời gian: Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ năm 2012 đến 2016. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn thanh niên, hộ gia đình thanh niên, mạng lưới việc làm, các cơ quan năm từ 2012 đến 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết việc làm hiện đại.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp hệ thống hóa, thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích, phương pháp khảo sát thực tế….Ngoài ra, Luận văn sử dụng số liệu sơ cấp, số liệu sơ cấp được thu thập từ số liệu thống kê về kết quả điều tra khảo sát, từ các báo cáo tổng kết và các văn bản quy phạm pháp luật; các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận
Luận văn làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên nói riêng.
Về thực tiễn
Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với bộ máy quản lý nhà nước các cấp, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, hộ gia đình về giải quyết việc làm cho thanh niên, góp phần nâng cao hình ảnh của người thanh niên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm có 03 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm;
- Chương 2. Thực việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên;
- Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. Một số khái niệm cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khao học, đầy đủ và đúng đắn hơn.
Dưới góc độ kinh tế – xã hội:
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của con người. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm.
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình.
Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội. Sở dĩ có sự phát sinh này là do con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân người lao động cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.
Tóm lại, xét về phương diện kinh tế – xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Dưới góc độ pháp lí
Theo quan niệm quốc tế:
ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” [16]. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO.1993) và được áp dụng ở nhiều nước. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc.
ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)…
Theo quan niệm của Việt Nam:
Tại Khoản 1, Điều 35 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” [17]. Từ quan niệm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Điều 9 Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [20].
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:
Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định.
Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.
Hoạt động hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm.
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc làm – Trên bình diện kinh tế – xã hội. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
Về mặt kinh tế: việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế.
Về mặt xã hội: bảo đảm việc làm có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội. Thất nghiệp và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nạn của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp.
- Trên bình diện chính trị – pháp lí.
Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế – xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh và sự ổn định của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn, nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình, đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị.
Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
- Trên bình diện quốc gia – quốc tế.
Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình. Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những người lao động mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động. Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn.
Vấn đề việc làm – giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nước có nền kinh tế phát triển. Và để giải quyết vấn đề này, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động nhưng cũng có biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ. Các biện pháp mang tính hỗ trợ cho giải quyết việc làm như khuyến khích đầu tư, lập các chương trình việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng…Các biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm như đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng lao động và tự do lao động… Tất cả nhằm hướng tới mục đích làm giảm tình trạng thất nghiệp, mất cân bằng lao động…
1.1.3. Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm cho người lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có của từng đơn vị, từng địa phương và người lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định cho người lao động; những công việc đó phải đem lại thu nhập, đảm bảo thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân người lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và chuyên môn nghề nghiệp của bản thân người lao động.
Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành. Giải quyết việc làm phải được xem ở cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của nhà nước.
Vì vậy, “Giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô cho đến vĩ mô có tác động đến người lao động có thể có việc làm” [16]. Luận văn: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn nhà nước