Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Nhằm đảm bảo đủ nguồn nhân lực lao động cho hoạt động kinh doanh sản xuất cũng như nhu cầu đảm bảo cuộc sống của lao động chưa thành niên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, người đủ từ 15 tuổi trở lên có thể tham gia vào hầu hết các quan hệ lao động mà pháp luật không cấm, có quyền tham gia vào quan hệ lao động cũng như là một yếu tố trong quan hệ sản xuất. Trong mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động, người lao động chưa thành niên luôn ở vị trí yếu thế, phụ thuộc, phải chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động và quyền lợi của họ dễ bị người sử dụng lao động xâm phạm. Do vậy, bên cạnh việc đảm bảo việc làm, thu nhập của người lao động chưa thành niên, pháp luật lao động còn dành những quy định riêng dành cho đối tượng này nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của người lao động chưa thành niên. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua quá trình thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước thực hiện và bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên trong mối quan hệ pháp luật lao động.
Trong những năm gần đây nước ta đã có những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên. Công tác quản lý lao động chưa thành niên có nhiều chuyển biến tích cực, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuyển dụng và sử dụng chưa lao động thành niên ở các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất được tiến hành định kỳ và có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được chú trọng triển khai đến tận cơ sở. Nhận thức và ý thức pháp luật của cả người sử dụng lao động chưa thành niên và người lao động chưa thành niên không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Nhưng trên thực tế tình trạng vi phạm pháp luật đối với lao động chưa thành niên và đặc biệt là việc bóc lột lao động nhỏ tuổi vẫn đang diễn ra phổ biến và là một vấn đề hết sức lo ngại. Vẫn còn tình trạng người sử dụng lao động chậm chi trả hoặc nợ tiền lương, bảo hiểm xã hội của người lao động chưa thành niên, bắt ép người lao động chưa thành niên làm thêm giờ trái quy định của pháp luật, sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc không phù hợp với sức khỏe và độ tuổi của họ. Điều này chứng tỏ việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên còn nhiều tồn tại, hạn chế. Do vậy, việc nghiên cứu thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là cần thiết và phù hợp với xu hướng của quốc tế trong việc đảm bảo quyền con người mà đặc biệt là những người chưa phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý.
Với những lý do nêu trên tôi chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành Phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Vấn đề quyền con người nói chung và quyền của người chưa thành niên, trong đó có người lao động chưa thành niên nói riêng trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế cũng như nhiều quốc gia và đã được nhiều tổ chức, cá nhân nghiên cứu ở các phạm vi khác nhau. Hiện nay, đã có rất nhiều bài báo, bài viết, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề lao động chưa thành niên. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dưới một góc độ khác nhau, có kể đến một số bài báo, bài viết, công trình nghiên cứu nổi bật sau:
Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật của tác giả Bùi Thị Mỹ Viện – Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 với tên đề tài là “Pháp luật Việt Nam về sử dụng lao động chưa thành niên”. Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật, làm rõ thực trạng về sử dụng lao động chưa thành niên ở nước ta. Đồng thời, so sánh, đối chiếu với quy định quốc tế (chủ yếu là các công ước và Khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế ILO và quy định của một số nước trên thế giới) để từ đó phát hiện ra những lỗ hổng trong quy định pháp luật nước ta nhằm đưa ra một số kiến nghị, giải pháp phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững vì người lao động, vì con người mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Nhàn – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội năm 2016 với tên đề tài “Lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay”. Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật về lao động chưa thành niên, sau đó nêu ra và phân tích cụ thể các quy định của pháp luật lao động về việc làm, đào tạo nghề, giao kết hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, an toàn lao động, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, bảo hiểm xã hội, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về lao động chưa thành niên, giải quyết tranh chấp lao động đối với người lao động chưa thành niên, làm rõ thực trạng thực hiện các quy định này Việt Nam, nêu ra những kết quả đạt được và những bất cập hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên. Từ đó đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên cũng như các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy – Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2020 với tên đề tài “Pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên, bên cạnh đó đề tài đưa ra và phân tích một số các quy định về bảo vệ lao động chưa thành niên trong Công ước Quốc tế và của một số nước trên thế giới để nêu lên những gợi mở và kinh nghiệm về pháp luật bảo vệ lao động chưa thành niên cho Việt Nam. Đề tài cũng đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các biện pháp bảo vệ lao động chưa thành niên ở Việt Nam, nêu ra những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế còn tồn tại. Từ đó đề tài phân tích những yêu cầu đặt ra đối với với việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên.
Bài viết về vấn đề “Sử dụng lao động là người chưa thành niên” của Luật sư Phan Thị Tuyết – Văn phòng Luật sư Hoàn Kiếm đăng trên Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam ngày 28/03/2021. Trong bài viết người viết có đề cập đến các nội dung bao gồm các vấn đề liên quan đến sử dụng lao động là người chưa thành niên, việc giao kết hợp đồng lao động để sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc và các nguyên tắc chung khi sử dụng lao động là người chưa thành niên.
Bài viết của tác giả Hồng Anh có tiêu đề “Sử dụng lao động chưa thành niên không có sự đồng ý của cha mẹ sẽ bị phạt đến 25 triệu đồng” đăng trên báo Lao động và xã hội Online ngày 21/01/2022. Bài viết đề cập đến Nghị định số 12/2022/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17/01/2022 quy định xử phạt phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có quy định về mức phạt đối với người sử dụng lao động khi vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng người lao động chưa thành niên.
Bài viết của tác giả Lê Anh với nhan đề “Góc nhìn đại biểu: Giải quyết vấn đề lạm dụng sức lao động trẻ em cần sự tham gia chủ động, tích cực của xã hội” đăng trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam ngày 07/04/2021.
Nội dung của bài viết đề cập đến việc lạm dụng sức lao động của trẻ em. Lạm dụng sức lao động trẻ em hiện đang là vấn đề gây nhức nhối trên khắp toàn cầu. Vấn đề này là hồi chuông báo động đối với toàn xã hội bởi thực trạng này đã và đang gây ra những hệ lụy về cả thể chất, lẫn tinh thần; ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ em. Ngoài ra, bài viết còn nêu ra một số ý kiến và nhận định của các Đại biểu Quốc hội về vấn đề này. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Bài viết có nhan đề “Giảm thiểu lao động trẻ em: cần hành động thiết thực” của tác giả Nguyễn Thị Nga – Phó Cục trưởng Cục Trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng. Trong bài viết, tác giả đã nêu ra những sự nỗ lực, cố gắng, những kết quả đã đạt được của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây về giảm thiểu và bảo vệ quyền của lao động trẻ em. Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh để giảm thiểu và bảo vệ lao động trẻ em cần phải có sự giúp sức, chung tay của cả xã hội. Cuối cùng, tác giả nêu lên những nhiệm vụ trọng tâm trong tương lai cần được thực hiện để giảm thiểu và bảo vệ lao động trẻ em.
Tóm lại, đến nay đã nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau về vấn đề người lao động chưa thành niên hay lao động trẻ em nhưng các công trình này mang tính toàn diện đầy đủ chưa cao, nhiều vấn đề còn bỏ ngõ chưa được nghiên cứu. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những nghiên cứu chuyên đề, hoặc chỉ tạm dừng ở một phạm vi một địa phương. Do vậy, đề tài “Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu về người lao động chưa thành niên dưới góc độ pháp luật một cách tương đối toàn diện và có hệ thống. Các công trình khoa học có liên quan đều có mục đích, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và phương pháp tiếp cận khác đều là nguồn tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật đối với lao động chưa thành niên; phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đưa ra quan điểm và các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết những việc sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật đối với người lao động chưa thành niên.
- Đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra những ưu điểm, kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập cần được khắc phục.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên và bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên trong Bộ luật Lao động năm 2019, các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm tình hình lao động chưa thành niên và việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu:
Luận văn không nghiên cứu tất cả các quy định pháp luật về lao động mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật dành riêng cho người lao động chưa thành niên.
4.2.2. Phạm vi về không gian:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
4.2.3. Phạm vi về thời gian:
Luận văn nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành Phố Hồ Chí Minh từ năm 2019 đến năm 2023.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
Để đạt được mục đích nghiên cứu và giải quyết tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn lấy phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin cũng như của lý luận chung về Nhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp luận. Đồng thời luận văn cũng bám sát chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về bảo vệ người lao động chưa thành niên.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Bắt đầu từ việc xác định mục tiêu nghiên cứu cũng như để nắm rõ và phân tích những nội dung cần nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp như thu thập số liệu, thu thập thông tin, tổng hợp, quan sát. Sau đó để đi sâu vào đề tài tác giả dùng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh để hoàn thành luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy ở bậc cao học, đại học chuyên ngành luật lao động, vì mục đích và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai con em chúng ta.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu này giúp rà soát và đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động về lao động chưa thành niên từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó thấy được những kết quả đạt được cũng như những điểm còn tồn tại, hạn chế góp phần xây dựng và hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật và quá trình thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên.
7/ Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương.
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật đối với lao động chưa thành niên.
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. Quan niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về lao động chưa thành niên:
1.1.1. Quan niệm về lao động chưa thành niên:
- Khái niệm “trẻ em”:
Ở nước ta, trong tất cả các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và cho đến Hiến pháp hiện hành năm 2013, quyền trẻ em đều được ghi nhận một cách trang trọng và được quy định một cách cụ thể, rõ ràng. Nhiều bộ luật và luật đã được nghiên cứu, xây dựng, ban hành để thể chế, cụ thể hóa những quy định về quyền của trẻ em, trong đó có Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018.
Ngay tại Điều 1 của Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 đã có quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Thông qua khái niệm này có thể hiểu là tất cả trẻ em dưới 16 tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều nhận được sự bảo vệ, chăm sóc và giáo dục như nhau. Từ đó, có thể nhận thấy một điều rằng hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những sự điều chỉnh, bổ sung để trở nên phù hợp hơn, hài hòa hơn với hệ thống pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.
- Khái niệm “vị thành niên”: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm vị thành niên và chưa có một khái niệm chung, mang tính thống nhất dành cho khái niệm vị thành niên. Độ tuổi chưa thành niên theo như quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được xác định là độ tuổi 10-19 tuổi. Thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 14-19 tuổi.
Xét về mặt xã hội, vị thành niên là người chưa đến độ tuổi được pháp luật coi là đủ khả năng để sử dụng quyền, thực hiện nghĩa vụ và tự chịu trách nhiệm cho các hành vi mà mình thực hiện. Ở nước ta, vị thành niên được xác định là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Thanh niên là từ 19 đến 24 tuổi. Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Còn xét về mặt luật pháp vị thành niên là người dưới 18 tuổi.
- Khái niệm “người chưa thành niên”:
Trong Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 đã có quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Công ước đã công nhận các quyền trẻ em cũng như yêu cầu các quốc gia trên thế giới phải dành sự tôn trọng và bảo đảm việc thực hiện quyền trẻ em nhằm hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn nữa dành cho trẻ em.
Ở nước ta, độ tuổi của người chưa thành niên được quy định rõ ràng và thống nhất từ Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự cho đến Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Lao động và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều xác định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và đối với từng ngành luật cụ thể thì sẽ có quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên.
Nói một cách khái quát khái niệm người chưa thành niên có thể được hiểu như sau: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân, chưa có sự phát triển đầy đủ, toàn diện cả về mặt thể lực lẫn mặt trí lực, có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật ở các vai trò chủ thể khác nhau như quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật lao động,…
- Khái niệm “lao động chưa thành niên”:
Pháp luật quốc tế, trong đó chủ yếu là các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), chỉ sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” mà không sử dụng thuật ngữ “người lao động chưa thành niên”. Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (năm 1999), của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tại Điều 2 đưa ra khái niệm về trẻ em là người dưới 18 tuổi.
Việt Nam, trong Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”, bao gồm: người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi và người chưa đủ 13 tuổi. Quy định này cho thấy sự hài hòa, phù hợp và thống nhất với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong việc xác định độ tuổi, năng lực chủ thể và trách nhiệm của chủ thể, từ đó có thể giúp xác định phạm vi công việc mà người lao động chưa thành niên có thể tham gia, điều kiện đảm bảo và phương hướng, cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên trong các mối quan hệ lao động.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, có khả năng tham gia vào các quan hệ lao động, làm việc theo hợp đồng lao động đã được ký kết với người sử dụng lao động, được trả lương theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động.
1.1.2. Đặc điểm của lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Thứ nhất, lao động chưa thành niên là những người có độ tuổi dưới 18 tuổi. Ở lứa tuổi này, nhóm đối tượng lao động đặc biệt này tuy đã có những sự phát triển vượt bậc về mặt thể chất nhưng lại chưa có được sự ổn định về mặt tâm sinh lý. Tâm sinh lý phức tạp của người lao động ở lứa tuổi này là một vấn đề đáng lo ngại khi họ bắt đầu mở rộng việc sinh hoạt, giao tiếp với xã hội, không phải chịu sự quản lý chặt chẽ từ gia đình. Nếu không có sự uốn nắn, giáo dục kịp thời, người lao động chưa thành niên với tâm sinh lý phức tạp, chưa ổn định của mình sẽ rất dễ gây ra những tác động tiêu cực đến khả năng tìm kiếm việc làm, năng suất lao động, thậm chí là sự hình thành về tính cách sau này.
Thứ hai, người lao động chưa thành niên được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao hơn so với người lao động thành niên. Điều này xuất phát từ sự chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tinh thần của người lao động chưa thành niên nên khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, pháp luật sẽ bảo vệ họ theo hướng ưu tiên hơn trong việc được hưởng một số quyền ngang bằng hoặc hơn những quyền, lợi ích mà pháp luật quy định dành cho người lao động thành niên. Hơn nữa, pháp luật cũng có các quy định đặc biệt nhằm bảo vệ lao động chưa thành niên khỏi những hình thức lạm dụng, bóc lột sức lao động, hạn chế họ tham gia vào các công việc nguy hiểm, có hại cho sức khỏe hoặc ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của họ.
Thứ ba, người lao động chưa thành niên là người có sự hạn chế năng lực hành vi khi giao kết hợp đồng lao động. Tại Điều 20, 21 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định: người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuồi khi tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Người chưa đủ sáu tuổi khi tham gia giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Yêu cầu về người đại diện dành cho người chưa thành niên trong pháp luật dân sự cũng tương tự như trong pháp luật lao động. Theo đó, người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồng lao động cần phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật.
1.1.3. Quan niệm pháp luật về lao động chưa thành niên:
Những quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên đã được ghi nhận một cách rõ ràng, cụ thể cả ở trong pháp luật quốc gia lẫn pháp luật quốc tế. Xét một cách khái quát nhất, sự điều chỉnh của pháp luật về lao động chưa thành niên là một bộ phận của sự điều chỉnh pháp luật nói chung, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến người lao động chưa thành niên. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động chưa thành niên giúp xác định chính xác địa vị pháp lý của lao động chưa thành niên.
Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều ngành luật khác nhau, có đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Người lao động chưa thành niên với tư cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về người lao động chưa thành niên cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh thuộc phạm vi đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm: Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hình sự,… đều bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên theo một phương pháp và đặc thù riêng biệt theo ngành luật của mình. Bất cứ một ngành luật nào cũng coi trẻ em nói chung và người chưa thành niên nói riêng là một chủ thể pháp luật đặc biệt và có những quy định dành riêng cho người lao động chưa thành niên.
1.1.4. Đặc điểm pháp luật về lao động chưa thành niên:
Thứ nhất, độ tuổi tối thiểu để người lao động chưa thành niên tham gia vào quan hệ pháp luật lao động là 13 tuổi. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ người lao động chưa thành niên dưới 13 tuổi được chấp nhận tham gia các hoạt động lao động nhẹ nhàng, không gây nguy hiểm cho sức khỏe, được quản lý bởi các quy định cụ thể.
Thứ hai, giới hạn giờ làm việc dành cho người lao động chưa thành niên. Theo quy định của Bộ luật lao động, người lao động chưa thành niên không được làm việc quá 8 giờ mỗi ngày và 40 giờ mỗi tuần. Ngoài ra, người lao động chưa thành niên cũng được quyền nghỉ ngơi đầy đủ thời gian sau mỗi ca làm việc và ít nhất là 12 tiếng liên tục giữa các ca làm việc. Thời gian nghỉ ngơi sau khi tham gia lao động giúp lao động chưa thành niên hồi phục, tái tạo sức lao động và có thời gian tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí.
Thứ ba, các loại công việc mà người lao động chưa thành niên được phép tham gia lao động. Luật lao động cũng quy định một danh sách các công việc mà trẻ em dưới 18 tuổi được phép tham gia, và các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc có tác động xấu đến sức khỏe và phát triển của trẻ em đều bị cấm.
1.1.5. Nội dung pháp luật về lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.1.5.1. Quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên:
Quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên gắn liền với tư cách chủ thể của họ trong quan hệ lao động. Vì là quyền và nghĩa vụ pháp lý nên nó chỉ xuất hiện trong những điều kiện, bối cảnh pháp lý nhất định, không phải là những quyền có tính tự nhiên, tất yếu, chẳng hạn người lao động chưa thành niên có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, quyền được hưởng lương,… Tuy nhiên, để thực hiện được những quyền trên thì phải có sự xuất hiện những sự kiện pháp lý tương ứng và người lao động chưa thành niên phải thực hiện những trách nhiệm, nghĩa vụ nhất định: Để có quyền lựa chọn việc làm thì phải có sự kiện tuyển dụng của người sử dụng lao động và người lao động phải đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng; Để có quyền hưởng lương thì người lao động phải làm việc và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng… Nói cách khác, quyền và nghĩa vụ chủ thể có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Vì vậy, không thể nhận thức quyền là cái được còn nghĩa vụ là cái mất mà trong quyền có trách nhiệm và trong nghĩa vụ có lợi ích. Bộ luật Lao động năm 2019 đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên tại Điều 5 và cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ này trong từng chương tương ứng của Bộ luật.
Có thể chia các quyền của người lao động thành hai nhóm quyền chính đó là nhóm quyền về dân sự, chính trị và nhóm quyền về kinh tế, xã hội – văn hoá.
Nhóm quyền về dân sự, chính trị bao gồm: Tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe doạ trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ.
Nhóm quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá bao gồm: Quyền được hưởng lương phù hợp với trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, nghỉ theo chế độ, nghỉ hàng năm có hưởng lương, được hưởng phúc lợi tập thể; Yêu cầu và tham gia đối thoại, thực hiện quy chế dân chủ, thương lượng tập thể với người sử dụng lao động và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình, tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động; Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động [10, tr.43-44]. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Bên cạnh đó, người lao động chưa thành niên còn có trách nhiệm phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình, các cam kết và thoả thuận hợp pháp khác trong mối quan hệ lao động. Bên cạnh đó, với sự tồn tại của yếu tố quản lý, điều hành, giám sát của nguời sử dụng lao động thông qua các yêu cầu, mệnh lệnh, đòi hỏi hợp pháp của họ thì người lao động chưa thành niên phải có nghĩa vụ thực hiện. Việc từ chối hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết hay yêu cầu quản lý của người sử dụng lao động luôn dẫn đến hậu quả bất lợi cho người lao động chưa thành niên, thậm chí có thể bị chấm dứt quan hệ lao động. Ngoài ra, người lao động chưa thành niên còn phải thực hiện một số trách nhiệm khác do pháp luật quy định vì chính quyền lợi của họ trong các mối liên hệ có liên quan đến quan hệ lao động như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động,… [10, tr.44-45].
Các quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên được quy định tại Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019 là những quyền, nghĩa vụ cơ bản, chủ yếu nhưng không phải là duy nhất. Ngoài các quyền, nghĩa vụ đó ra, người lao động có thể thoả thuận những nội dung khác mà pháp luật không cấm và khi đã đạt được sự thoả thuận thì những cam kết đó trở thành quyền và nghĩa vụ của người lao động trong quan hệ lao động.
1.1.5.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động chưa thành niên:
Các quyền của người sử dụng lao động được pháp luật quy định chủ yếu gắn liền với quá trình của quan hệ lao động: xác lập – thực hiện – chấm dứt và giải quyết xung đột, bất đồng.
Theo đó, trước hết với vị thế của mình trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có các quyền của người quản lý, điều hành trong phạm vi quan hệ lao động như: tuyển dụng, bố trí, giám sát lao động, áp dụng biện pháp kinh tế (thưởng, phạt) hoặc xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Đồng thời là các quyền liên quan đến sự tương tác trong quan hệ lao động như: thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thoả ước lao động tập thể, đối thoại, trao đổi với tổ chức đại diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động. Và khi xảy ra xung đột, bất đồng, tranh chấp thì người sử dụng lao động có quyền tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đóng cửa tạm thời nơi làm việc. Như vậy, các quyền của người sử dụng lao động khá đa dạng và có phạm vi rộng, song tuỳ vào từng điều kiện, bối cảnh, mà một hoặc một số quyền của người sử dụng lao động sẽ được pháp luật lao động đảm bảo thực hiện trên thực tế [10, tr.46-47].
Các nghĩa vụ của nguời sử dụng lao động gắn liền với cam kết của họ trong quan hệ lao động, trách nhiệm của họ với Nhà nước và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Người sử dụng lao động chưa thành niên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các cam kết như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động và các thỏa thuận hợp pháp khác với người lao động chưa thành niên. Đảm bảo các điều kiện làm việc cần thiết tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của mình về cơ sở vật chất, an toàn lao động, vệ sinh lao động,…Trách nhiệm trong việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đánh giá tiêu chuẩn chức năng nghề… cho người lao động nhằm đảm bảo cho họ có việc làm bền vững, chất lượng, hiệu quả. Đây vừa là trách nhiệm pháp lý, vừa là trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.1.5.3. Việc làm, đào tạo nghề, ký kết, thực hiện hợp đồng lao động, lương, thưởng, kỷ luật lao động, sa thải, bảo hiểm, trách nhiệm vật chất:
Về vấn đề việc làm đối với lao động chưa thành niên. Tại khoản 1 Điều Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như tại khoản 2 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 đều có quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”.
Pháp luật hiện hành khẳng định các quyền cơ bản về vấn đề việc làm cho người lao động, trong đó có người lao động chưa thành niên, cụ thể quy định người lao động chưa thành niên được tự do lựa chọn việc làm phù hợp với sức khỏe, độ tuổi của mình, làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm, trực tiếp liên hệ với người sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình (Điều 10 Bộ luật Lao động năm 2019). Do đặc thù người chưa thành niên còn non nớt, thiếu kinh nghiệm sống, chưa có nhiều kinh nghiệm lao động, nên việc lựa chọn một công việc phù hợp với thể trạng, sức khoẻ của họ là một việc không hề đơn giản, ngoài ra họ còn thiếu hiểu biết về pháp luật nên rất dễ bị bắt ép làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bình thường sau này. Chính vì vậy, tại các Điều 144, 145, 147 Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định về các nguyên tắc khi sử dụng người lao động chưa thành niên cũng như quy định về việc không sử dụng người lao động chưa thành niên làm việc ở những nơi hoặc những công việc mang tính chất nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại gây ảnh hưởng xấu đến người lao động chưa thành niên. Cụ thể hoá quy định của pháp luật, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 09/2020/ TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 11 năm 2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên, trong đó có danh mục nghề, công việc, nơi làm việc áp dụng đối với lao động chưa thành niên.
Về đào tạo nghề cho người lao động chưa thành niên. Vấn đề học nghề và đào tạo nghề được quy định cụ thể tại Chương IV của Bộ luật Lao động năm 2019. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về vấn đề đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề tại Điều 59. Quy định này đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động đào tạo nghề, dạy nghề cho người lao động chưa thành niên phát triển. Việc trao cho người lao động, đặc biệt là người lao động chưa thành niên quyền tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề nghiệp một mặt cụ thể hoá quyền tự do, dân chủ của công dân theo Hiến pháp Việt Nam, mặt khác việc thực hiện hoá quyền tự do làm việc của người lao động được quy định tại Điều 10 Bộ luật Lao động năm 2019. Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn đào tạo nghề nghiệp được bảo đảm tốt hơn khi có sự tham gia của người sử dụng lao động, bởi đây là chủ thể tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong quá trình đó, người sử dụng lao động xuất hiện những nhu cầu về lao động với yêu cầu về chuyên môn và trình độ nghề khác nhau. Chính vì vậy, Nhà nước luôn luôn có những chủ trương, chính sách để thúc đẩy và khuyến khích người sử dụng lao động chưa thành niên có đủ điều kiện đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề cho người lao động chưa thành niên đang làm việc cho mình [10, tr.187].
Tuy nhiên, để có thể tham học nghề, tập nghề người học nghề, người tập nghề phải đáp ứng được điều kiện là phải từ đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao (Khoản 4 Điều 61 của Bộ luật Lao động năm 2019). Quy định này đảm bảo cho người lao động chưa thành niên đã đạt đến một độ tuổi phát triển nhất định cả về mặt thể lực lẫn trí lực có thể tham gia đào tạo nghề, học nghề, tập nghề và tiếp thu việc đào học nghề, học nghề, tập nghề một cách hiệu quả nhất. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi cho người lao động chưa thành niên khi tham gia đào tạo nghề, Bộ luật Lao động năm 2019 đã có một quy định quan trọng đó là việc học nghề phải được hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề và phải lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản (Điều 62). Hợp đồng đào tạo nghề phải bao gồm các nội dung sau: ngành nghề đào tạo; địa điểm đào tạo, thời gian đào tạo và tiền lương trong thời gian đào tạo; thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo; chi phí của việc đào tạo nghề và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo; trách nhiệm của người sử dụng lao động chưa thành niên; trách nhiệm của người lao động chưa thành niên.
Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối với người lao động chưa thành niên. Để đảm bảo sự cân bằng, hài hòa và minh bạch, mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động chưa thành niên và người lao động chưa thành niên cần phải được ràng buộc bằng hợp đồng lao động. Quy định về điều kiện đối với người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồng lao động được xác định chủ yếu dựa trên cách phân loại theo tiêu chí độ tuổi; có thể chia thành ba nhóm sau:
Nhóm 1, người lao động chưa đủ 13 tuổi: Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thì hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa đủ 13 tuổi mới có hiệu lực ( Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019 và Khoản 3 Điều 4 Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên). Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH về thẩm quyền đồng ý việc sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc thì khi tuyển dụng, sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cơ quan sau:
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi có địa chỉ được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc quyết định thành lập cơ quan, tổ chức hoặc hợp đồng hợp tác của tổ hợp tác, trong trường hợp người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã.
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú của hộ gia đình, cá nhân, trong trường hợp người sử dụng lao động là hộ gia đình hoặc cá nhân.
Nhóm 2, người lao động từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Người lao động từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo Phụ lục II Ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH và nơi làm việc không thuộc các trường hợp sau: Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm; Công trường xây dựng; Cơ sở giết mổ gia súc; Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử; Danh mục nơi làm việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên theo Phụ lục III, Phụ lục IV Ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH.
Nhóm 3, người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó (điểm b Khoản 4 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2019). Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Về hình thức hợp đồng lao động. Theo quy định tại điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng có thể được giao kết dưới 3 hình thức sau: Giao kết bằng văn bản, Giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu; Giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới một tháng. Tuy nhiên, là hình thức nào thì do pháp luật quy định, không phải sự lựa chọn duy ý chí của các bên. Đối với hình thức bằng văn bản được áp dụng trong các trường hợp: (i) Hợp đồng lao động có thời hạn; (ii) Hợp đồng lao động do nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên ủy quyền cho một người lao động ký với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng (Khoản 2 Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2019); (iii) Hợp đồng lao động vời người chưa đủ 15 tuổi (điểm a Khoản 1 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019); (iv) Hợp đồng lao động với người giúp việc gia đình (Khoản 1 Điều 162 Bộ luật Lao động năm 2019). Hợp đồng lao động bằng văn bản thường do người lao động soạn thảo trước khi ký hợp đồng phù hợp với đặc thù, tính chất công việc, văn hoá doanh nghiệp,…đảm bảo các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và không vi phạm điều cấm của luật.
Hình thức bằng lời nói áp dụng với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng. Trong thực tế, loại hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng hầu như không được doanh nghiệp sử dụng. Chính vì vậy, với quy định hiện nay của Bộ luật Lao động có thể khẳng định hầu hết hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản. Điều này hoàn toàn hợp lý, bởi vì thông qua hình thức văn bản thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động sẽ rõ ràng, cụ thể và khi có xung đột, bất đồng, tranh chấp sẽ có căn cứ pháp lý để giải quyết.
Trong điều kiện của sự phát triển khoa học công nghệ thông tin hiện nay thì việc giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử là rất phổ biến. Với sự thừa nhận quan hệ hợp đồng lao động thông qua hình thức dữ liệu điện tử sẽ là tiền đề quan trọng trong thay đổi việc lưu trữ, bảo quản hợp đồng lao động bằng bản cứng với nhiều rủi ro về sự an toàn. Từ đó làm thay đổi cung cách quản trị nhân sự, hoạt động thanh tra, quản lý nhà nước về lao động truyền thống,… sang cách thức mới với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, tiết kiệm nhân lực và thời gian [10, tr.63-64].
Về nội dung hợp đồng lao động. Nội dung hợp đồng lao động hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố cấu thành nên bản hợp đồng lao động. Hiểu theo nghĩa hẹp, nội dung hợp đồng lao động là các điều khoản trong hợp đồng lao động. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Lao động năm 2019 các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động bao gồm: Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động; Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động; Công việc và địa điểm làm việc; Thời hạn của hợp đồng lao động; Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác; Chế độ nâng bậc, nâng lương; Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động; Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, có nghĩa rằng nếu thiếu một trong các nội dung này thì hợp đồng lao động sẽ có thể bị vô hiệu. Các nội dung này được coi là chủ yếu bởi nó là các nội dung thiết yếu, tối thiểu, cần phải có cho sự xác lập quan hệ hợp đồng lao động. Cũng cần lưu ý rằng, Bộ luật Lao động chỉ định danh tên từng nội dung chủ yếu trong hợp đồng lao động, còn thoả thuận chi tiết cụ thể từng nội dung đó trong hợp đồng lao động là quyền của hai bên khi đàm phán, thương lượng hợp đồng (ví dụ: trong hợp đồng phải có điều khoản về tiền lương, thời giờ làm việc,… nhưng cụ thể tiền lương là bao nhiêu, thời giờ làm việc như thế nào là do hai bên thoả thuận). Đây là quy định mang tính kế thừa các quy định trong các Bộ luật Lao động trước đó, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về nội dung này thường chỉ làm rõ thêm các nội dung chủ yếu và để các bên thống nhất cách hiểu mà không can thiệp vào sự thoả thuận của các bên.
Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi của người lao động chưa thành niên. Cụ thể tại Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời giờ làm việc bình thường của người lao động không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần. Theo đó, Điều 146 của Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định cụ thể, rõ ràng về giới hạn thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên khi tham gia vào quan hệ lao động. Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Đặc biệt, đối với người lao động chưa thành niên chưa đủ 15 tuổi, người sử dụng lao động không được bố trí làm việc quá 04 giờ trong 01 ngày, 20 giờ trong 01 tuần.
Người lao động chưa thành niên cũng có quyền được làm thêm giờ như người lao động thành niên nhưng khác với người lao động thành niên thì người lao động chưa thành niên có giới hạn về độ tuổi được làm thêm giờ. Khoản 2 Điều 146 Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định về vấn đề làm thêm giờ của người lao động chưa thành niên, theo đó người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. Cụ thể hoá những quy định của pháp luật, vấn đề này đã được quy định chi tiết tại Điều 10 về danh mục nghề nghiệp, công việc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm của Thông tư số 09/2020/ TT-BLĐTBXH do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Vấn đề về thời giờ nghỉ ngơi của người lao động chưa thành niên được quy định giống như với người lao động thành niên, cụ thể được quy định tại Mục 2 Thời giờ nghỉ ngơi, Chương VII Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như tại Chương VII Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung điều kiện nghỉ trong giờ làm việc là người lao động phải làm việc theo thời giờ làm việc bình thường (không quá 08 giờ trong một ngày) và phải có thời gian làm việc từ 06 giờ trở lên trong một ngày. Đồng thời quy định thêm: chỉ trường hợp người lao động làm việc theo ca liên tục từ 06 giờ trở lên thì thời gian nghỉ trong giờ mới được tính vào thời giờ làm việc. Như vậy, người lao động làm việc theo thời giờ làm việc bình thường từ 06 giờ trở lên đến 08 giờ trong một ngày thì thời gian nghỉ trong giờ làm việc mới được tính là thời giờ làm việc có hưởng lương. Độ dài thời gian nghỉ tuỳ thuộc vào thời điểm làm việc là ban ngày hay ban đêm. Người sử dụng lao động quyết định thời điểm nghỉ trong giờ làm việc, nhưng không được bố trí thời gian nghỉ này vào thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc ca làm việc (Khoản 3 Điều 64 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP).
- Quy định về tiền lương áp dụng đối với người lao động chưa thành niên.
Khi quy định về tiền lương, pháp luật quy định về mức lương tối thiểu. Đây là mức lương thấp nhất theo quy định mà người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả cho người lao động. Quy định về mức lương tối thiểu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người lao động chưa thành niên, khi mà họ chưa có sự phát triển đầy đủ về mặt trí tuệ để có thể thuận với người sử dụng lao động mức lương tương xứng với công sức lao động của mình.
Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định riêng Chương VI về vấn đề tiền lương. Điều 90 quy định về tiền lương như sau:“ Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Quy định về tiền lương này áp dụng chung cho cả người lao động thành niên cũng như người lao động chưa thành niên. Mức lương cho lao động chưa thành niên chủ yếu dựa trên sự thoả thuận và giá trị công việc. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật đã có sự đảm bảo công bằng cho người lao động trong đó có cả nhóm người lao động chưa thành niên. Tuy nhiên, các quy định liên quan đến tiền lương dành riêng cho đối tượng người lao động chưa thành niên vẫn còn khá hạn chế cũng như chưa có những sự hướng dẫn chi tiết, cụ thể, rõ ràng [10, tr.267-268]. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Quy định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động chưa thành niên. Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động áp dụng đối với người lao động chưa thành niên thường bao gồm các quy định về điều kiện lao động an toàn và vệ sinh có tính bắt buộc, các biện pháp ngăn ngừa hoặc loại bỏ những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động. Riêng đối với người lao động chưa thành niên, pháp luật chủ yếu tập trung vào việc quy định về những ngành nghề, công việc không sử dụng lao động chưa thành niên; quy định về chế độ khám, theo dõi sức khoẻ; quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc huấn luyện, trang bị phương tiện bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động chưa thành niên khi tham gia lao động.
Đối với người chưa đủ 13 tuổi, lứa tuổi thực sự còn quá nhỏ để tham gia quan hệ lao động, do đó về nguyên tắc không được sử dụng họ làm việc. Trong trường hợp họ tham gia lao động thì người sử dụng lao động chỉ được sử dụng họ làm các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định và phải bảo đảm không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của họ. Ngoài ra, khi sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, người sử dụng lao động cần phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời phải tuân thủ các quy định chung về sử dụng người lao động chưa thành niên. Điều này được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ. Các công việc nhẹ này được đề cập đến trong danh mục được quy định tại Phụ lục II được ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành ngày 12 tháng 11 năm 2020. Đây là quy định rất cần thiết, nhằm một mặt bảo vệ nghiêm ngặt người lao động chưa thành niên, mặt khác là cơ sở để xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động và Nhà nước đối với sự nghiệp chăm sóc, giáo dục, phát triển người chưa thành niên, thế hệ tương lai của đất nước. Các công việc nặng nhọc, công việc làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm là các công việc mang mức độ căng thẳng cao, hao phí sức lao động rất lớn và có thể gây ra những tác động xấu đến sự phát triển của người lao động chưa thành niên. Ngoài ra, một số nơi làm việc có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hình thành nhân cách của lao động chưa thành niên (sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử); hoặc có nguy cơ gây bệnh tật nguy hiểm, tổn hại đến sức khoẻ họ (như có bệnh truyền nhiễm, đột biến gen,…). Đây là một sự cụ thể hoá nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên tại Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2019, đồng thời thể hiện sự phù hợp trong quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật quốc tế và các quốc gia trên thế giới. Nếu người sử dụng lao động vi phạm các quy định này có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật và cụ thể mức xử phạt được quy định chi tiết tại Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 01 năm 2022.
Bên cạnh đó, vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng được quy định tại Điều 132 và Điều 134 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như trong Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thì an toàn lao động được hiểu là giải pháp phòng, chống tác động tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Còn vệ sinh lao động được hiểu là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khoẻ cho con người trong quá trình lao động. Chính vì vậy, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao động là nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm điều kiện làm việc, phòng tránh rủi ro từ môi trường làm việc cho người lao động. Do đó pháp luật lao động đã có quy định người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Quy định này bắt buộc tất cả các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh, cả ở khu vực có quan hệ lao động và khu vực không có quan hệ lao động đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Điều 134 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc, cụ thể như sau:
Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Bộ luật không chỉ rõ các giải pháp nhằm bảo an toàn, vệ sinh lao động, tuy nhiên căn cứ vào các quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 thì người sử dụng lao động phải thực hiện các giải pháp như sau: i) Bảo đảm nơi làm việc, máy móc, thiết bị sản xuất tại nơi làm việc đạt quy chuẩn kỹ thuật; ii) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; iii) Xây dựng và ban hành kế hoạch xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc; iv) Tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; v) Trang bị, cung cấp đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại; vi) Thực hiện các chế độ bảo hộ, chăm sóc sức khoẻ người lao động, các chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.
Người lao động có trách nhiệm chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động; tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Việc xác định nghĩa vụ như trên sẽ giúp người sử dụng lao động và người lao động biết để hiểu và thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm của mình trong vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động. Đây là cơ sở pháp lý để xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của từng bên khi xảy ra các sự cố về an toàn lao động, vệ sinh lao động [10, tr.375].
Những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động chưa thành niên. Pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện nay được quy định chủ yếu trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Bộ luật Lao động năm 2019. Tại điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014 có quy định về các loại đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, cụ thể như sau: “Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng”. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Quy định pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đối với lao động chưa thành niên. Pháp luật về kỷ luật lao động bao gồm các quy định của nhà nước, xác định rõ ràng và cụ thể nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động với đơn vị sử dụng lao động cũng như quyền xây dựng và áp dụng kỷ luật lao động của người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, kỷ luật lao động còn bao gồm các biện pháp xử lý đối với người lao động nếu họ vi phạm những quy định này.
Bộ luật Lao động năm 2019 đã dành riêng Chương VII để quy định về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động. Điều 118 Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định chi tiết, cụ thể và rõ ràng về nội quy lao động.
Chủ thể ban hành nội quy lao động là người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động. Đây được xem là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng lao động. Bởi vậy, nếu người sử dụng lao động không thực hiện sẽ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật lao động và có thể sẽ bị xử phạt. Đối với người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 lao động thì có thể ban hành nội quy dưới hình thức bằng miệng hoặc bằng văn bản. Khoản 1 Điều 69 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định người lao động nếu sử dụng dưới 10 người lao động thì không bắt buộc ban hành nội quy lao động bằng văn bản nhưng phải thoả thuận nội dung về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong hợp đồng lao động. Đối với người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì bắt buộc phải ban hành nội quy lao động bằng văn bản.
Nội quy lao động phải gồm 09 nội dung cơ bản. Cụ thể gồm các quy định về: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Trật tự tại nơi làm việc; An toàn, vệ sinh lao động; Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Việc bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động;
Trường hợp được tạm thời chuyển người lao động làm việc khác so với hợp đồng lao động; Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động; Trách nhiệm vật chất; Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động. Các nội dung này đã được hướng dẫn cụ thể và chi tiết tại Khoản 2 Điều 69 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2020. Người sử dụng lao động cần phải quy định cụ thể các nội dung này trong nội quy lao động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, yêu cầu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, xác định rõ những quy tắc mà người lao động phải tuân thủ trong các lĩnh vực này. Chẳng hạn như trong nội dung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, người sử dụng lao động cần quy định cụ thể về biểu thời giờ làm việc của người sử dụng lao động như sáng bắt đầu làm việc từ mấy giờ, giờ nào thì nghỉ giải lao, giờ nào thì kết thúc công việc,… Hay như về nội dung trật tự tại nơi làm việc, người sử dụng lao động cần quy định cụ thể về phạm vi đi lại, giao tiếp của người lao động khi thực hiện công việc,… [10, tr.336-338].
Quy định về giải quyết tranh chấp lao động liên quan đến người lao động chưa thành niên. Tranh chấp lao động có thể được hiểu là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động hoặc những quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động và gắn liền với quá trình tham gia lao động của người lao động chưa thành niên. Theo như quy định tại Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 thì có hai loại tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động chưa thành niên với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. Trong mối quan hệ lao động, người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động không thể tránh khỏi những tranh chấp, mâu thuẫn, những xung đột, va chạm về quyền, lợi ích của các bên, hai bên có thể tự thỏa thuận để giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột này nhưng nếu không thỏa thuận được thì hai bên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Có ba biện pháp thường được áp dụng để giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn trong quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên, đó là các biện pháp hòa giải, trọng tài, tòa án. Các biện pháp này đều nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích của các bên trong mối quan hệ lao động cũng như góp phần duy trì, củng cố, đảm bảo sự ổn định của quan hệ lao động.
1.1.5.4. Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về lao động chưa thành niên:
Một là, việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lao động. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lao động là việc đề ra và thực thi các chính sách thực hiện nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo mở việc làm, kết nối cung cầu cũng như giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động. Việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật là một khâu rất quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về lao động.
Bộ luật Lao động năm 2019 được xem là một trong những bước tiến quan trọng của pháp luật Việt Nam bởi những sự sửa đổi, bổ sung cũng như sự kế thừa các quy định trong Bộ luật trước đó của Bộ luật Lao động năm 2019 sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện, giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là người lao động chưa thành niên và tạo những điều kiện tốt nhất để các mối quan hệ lao động được ổn định và phát triển bền vững. Để triển khai thi hành một cách có hiệu quả Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021), đã có khá nhiều các văn bản pháp luật được ban hành để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm 04 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 04 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Hai là, chủ thể có thẩm quyền quản lý lao động chưa thành niên. Tại Điều 213 Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động, cụ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước. 2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động.
- Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong quản lý nhà nước về lao động.
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình”.
Để triển khai các nội dung quản lý nhà nước về lao động, Nhà nước đã thiết lập hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về lao động theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước. Với chức năng, nhiệm vụ được Hiến pháp và pháp luật quy định, Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi cả nước, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Trung ương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ để thực hiện quản lý nhà nước về lao động. Điều này cũng được thể hiện rõ trong Điều 1 Nghị định số 14/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ: “Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Lao động, tiền lương; việc làm; giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; bảo trợ xã hội; trẻ em, bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp được giao thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình. Giúp việc cho Ủy ban nhân dân các cấp về lĩnh vực lao động là các đơn vị chuyên môn, bao gồm: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, riêng với cấp xã thì không hình thành đơn vị chuyên môn mà phân công người phụ trách trong lĩnh vực văn hoá – xã hội giúp việc cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nắm bắt tình hình lao động trên địa bàn xã.
Ba là, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm quy định pháp luật về lao động chưa thành niên. Pháp luật lao động về thanh tra thường quy định chủ yếu về cơ quan có thẩm quyền thanh tra, thẩm quyền thanh tra. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền thanh tra lao động là cơ quan lao động ở cấp trung ương và địa phương. Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện sai phạm thì chủ thể tiến hành thanh tra có thẩm quyền xử phạt hành chính các hành vi vi phạm hoặc kiến nghị việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thanh tra lao động là hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành bởi chủ thể có thẩm quyền, được nhà nước trao quyền để thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật lao động nhằm phục vụ cho quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ lao động.
Mặc dù là một bộ phận của hệ thống thanh tra Nhà nước, song hoạt động của thanh tra lao động được tiến hành và tác động trực tiếp tới tất cả các ngành kinh tế quốc dân và trong các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Ở mỗi quốc gia, thanh tra lao động lại có phạm vi hoạt động khác nhau, tuy nhiên cơ bản đều dựa trên thanh tra việc chấp hành quy định của pháp luật về lao động.
Về vấn đề xử lý vi phạm pháp luật lao động được quy định tại Điều 217 Bộ luật Lao động năm 2019. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động là một trong những biện pháp xử phạt tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật Lao động, qua đó, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật lao động với tất cả các tổ chức, cá nhân là đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động.
Xử lý kỷ luật được áp dụng với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động vi phạm các quy định của Bộ luật Lao động, vi phạm kỷ luật lao động của đơn vị sử dụng lao động (ví dụ: người lao động vi phạm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động) và áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức. Các hình thức kỷ luật với từng đối tượng cụ thể được áp dụng theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức hoặc các luật khác có liên quan. Xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp có thể áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật lao động mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó đối tượng chủ yếu là người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật lao động. Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, trong đó có xử lý vi phạm về lao động chưa thành niên được thực hiện theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 01 năm 2022, cụ thể được quy định tại Điều 29 về hình thức xử phạt và mức xử phạt khi vi phạm quy định về lao động chưa thành niên [10, tr.637-638].
Ngoài ra, biện pháp bồi thường thiệt hại cũng là một biện pháp thường xuyên được áp dụng đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có những hành vi phạm các quy định của Bộ luật Lao động gây thiệt hại cho người khác.
Bốn là, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lao động chưa thành niên. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật đồng thời là cầu nối giữa việc xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật nhằm truyền tải những đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người lao động, trong đó có người lao động chưa thành niên. Phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã đưa người lao động là một trong những đối tượng đặc thù cần được ưu tiên trong việc phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật. Tại Điều 18 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 có quy định về nội dung, hình thức trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động. Trong đó có quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí thời gian, đảm bảo các điều kiện cần thiết để phổ biến, giáo dục pháp luật; phối hợp với tổ chức công đoàn tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tại Điều 15 Luật Công đoàn năm 2012 đã quy định trách nhiệm của công đoàn trong tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến Công đoàn, người lao động; quy định của Công đoàn.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, hình thức, nội dung thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên:
Nhà nước cần đến pháp luật như một công cụ thiết yếu để thực hiện vai trò quản lý xã hội. Vì vậy, nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng phù hợp với nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật chỉ phát huy tác dụng thực sự khi được triển khai thực hiện trong cuộc sống mang lại hiệu quả điều chỉnh. Mặc khác, việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật trong cuộc sống đem lại hiệu quả điều chỉnh đến đâu lại phụ thuộc vào hành vi, vào thức của các chủ thể. Nhưng điều mà nhà nước mong muốn đạt được là các quy tắc xử sự chung mà nhà nước đặt ra trong các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh trong thực tế. Vì vậy, mọi chủ thể khi thực hiện pháp luật phải bằng những hành vi hợp pháp nghĩa là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Tóm lại, có thể hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên như sau: Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên đi vào thực tế cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện và đảm bảo quyền lợi cho người lao động chưa thành niên.
1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên cũng như bảo đảm những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên. Chủ thể thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên phải bằng hành vi hợp pháp của mình, có thể là hành động hoặc không hành động nhưng chủ thể đó phải làm đúng, làm đủ và không được làm trái với những quy định của pháp luật về lao động chưa thành niên và những quy định pháp luật khác có liên quan. Thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật vì đây là hành vi được khuyến khích tiến hành, có tác dụng tốt trong xã hội, thúc đẩy các hoạt động tích cực, hướng con người đến một xã hội văn minh, lành mạnh. Chủ thể thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên với hành vi bất hợp pháp hay hành vi trái pháp luật là một dấu hiệu của vi phạm pháp luật về lao động chưa thành niên.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là hoạt động đưa các quy phạm pháp luật về lao động chưa thành niên được thực hiện trên thực tế. Thực hiện pháp luật và xây dựng pháp luật là hai hoạt động pháp lý có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ và mật thiết với nhau. Nếu như hoạt động xây dựng pháp luật, trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật về lao động chưa thành niên được gọi là hoạt động sáng tạo pháp luật của nhà nước thì hoạt động thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên lại là hoạt động để đưa những kết quả đạt được của hoạt động xây dựng pháp luật đó là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành điều chỉnh về vấn đề người lao động chưa thành niên vào thực tiễn cuộc sống nghĩa là các quy phạm pháp luật về lao động chưa thành niên sẽ được các chủ thể pháp luật khác nhau thực hiện một cách hợp pháp bằng các hành vi hợp pháp trong thực tiễn cuộc sống. Đây là một hoạt động mang ý nghĩa thiết thực vì thông qua hoạt động này có thể kiểm nghiệm được tính đúng đắn, khách quan và sự phù hợp của các quy phạm pháp luật về lao động chưa thành niên. Từ đó có tác động ngược trở lại đối với hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước, đó là cơ quan nhà nước có thể kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật về lao động chưa thành niên còn thiếu sót, hạn chế hoặc xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh về lao động chưa thành niên nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và mục đích của nhà nước khi tiến hành điều chỉnh các quan hệ pháp luật có liên quan đến lao động chưa thành niên.
Thứ ba, việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau. Việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên cần phải có sự tham gia của mọi chủ thể trong xã hội. Các chủ thể thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên là các cá nhân, trong đó có người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động chưa thành niên, các cơ quan nhà nước, các tổ chức được nhà nước trao quyền. Hơn nữa, do việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên được nhiều chủ thể pháp luật khác nhau tiến hành thực hiện nên dẫn đến cũng sẽ có nhiều cách thức thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên khác nhau nghĩa là sẽ có các cá nhân, các cơ quan nhà nước, các tổ chức được nhà nước trao quyền bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể bằng hành động hoặc không hành động để tiến hành việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.2.3. Chủ thể thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên:
- Chủ thể thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên gồm ba chủ thể, đó là:
Thứ nhất, cơ quan Nhà nước bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban Nhân dân các cấp, Sở Lao động – Thương Binh và Xã hội, cơ quan Thanh tra lao động, tổ chức công đoàn. Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật như Bộ Luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều này tạo ra cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên. Chính phủ ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các luật liên quan, đảm bảo tính đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng các thông tư, nghị định hướng dẫn thi hành các quy định pháp luật liên quan đến lao động chưa thành niên, giám sát việc thực hiện các quy định này trên toàn quốc. Cơ quan thanh tra lao động có trách nhiệm thực hiện các cuộc kiểm tra, giám sát tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để đảm bảo tuân thủ các quy định về lao động chưa thành niên. Ủy ban Nhân dân các cấp chỉ đạo, điều hành và phối hợp với các cơ quan nhà nước trên địa bàn quản lý và giám sát việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại địa phương, tổ chức các cuộc kiểm tra định kỳ và đột xuất. Sở Lao động – Thương Binh và Xã hội tổ chức thực hiện các chính sách, quy định pháp luật về lao động chưa thành niên đồng thời thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, quy định này. Tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của người lao động, bao gồm cả lao động chưa thành niên, tham gia giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật tại nơi làm việc đồng thời tổ chức các chương trình giáo dục, tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của lao động chưa thành niên.
Thứ hai, người sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về lao động chưa thành niên, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh, không sử dụng lao động chưa thành niên vào các công việc bị cấm hoặc gây nguy hiểm đến sức khỏe của người lao động chưa thành niên. Người sử dụng lao động chưa thành niên còn có nghĩa vụ báo cáo đầy đủ và chính xác về tình hình sử dụng lao động chưa thành niên cho các cơ quan chức năng, thực hiện các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ lao động chưa thành niên.
Thứ ba, người lao động chưa thành niên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng lao động đã giao kết và tuân thủ các quy định pháp luật, đồng thời có quyền yêu cầu bảo vệ khi nhận thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm. Bên cạnh đó gia đình của người lao động chưa thành niên cũng phải hỗ trợ và giám sát người lao động chưa thành niên trong quá trình tham gia lao động, đảm bảo họ không bị bóc lột sức lao động hoặc làm việc trong điều kiện không an toàn. Việc thực hiện pháp luật lao động đối với người lao động chưa thành niên còn đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, gia đình và chính bản thân người lao động chưa thành niên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển toàn diện của họ.
1.2.4. Hình thức thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Một là, tuân thủ pháp luật về lao động chưa thành niên. Tuân thủ pháp luật là một phần quan trọng trong việc đảm bảo cho các quy tắc và quy định của hệ thống pháp lý được áp dụng một cách công bằng và hiệu quả, góp phần vào sự phát triển ổn định và công bằng xã hội. Hình thức thực hiện pháp luật này có nội dung là chủ thể phải kiềm chế mình không được thực hiện những điều mà pháp luật cấm. Tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định về những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động: Người sử dụng lao động không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động; Người sử dụng lao động không được yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động; Người sử dụng lao động không được buộc người người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động. Đây là những hành vi mà pháp luật lao động cấm người sử dụng lao động không được thực hiện, nếu người sử dụng lao động thực hiện sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động sẽ phải chịu sự xử lý của pháp luật cho hành vi vi phạm của mình.
Hai là, thi hành pháp luật về lao động chưa thành niên. Đây là quá trình áp dụng và thực hiện các quy định pháp lý liên quan đến vấn đề lao động chưa thành niên, bao gồm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên, điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa thành niên, đảm bảo các quy định pháp luật về lao động chưa thành niên được thực hiện đúng đắn trên thực tiễn. Trong hình thức thực hiện pháp luật này, các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã quy định cho mình bằng hành vi tích cực. Hơn thế, pháp luật còn yêu cầu các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý một cách nghiêm chỉnh, đầy đủ.
Ba là, sử dụng pháp luật về lao động chưa thành niên. Người sử dụng lao động chưa thành niên và người lao động chưa thành niên thực hiện các quyền mà pháp luật lao động quy định cho mình. Người sử dụng lao động có quyền tuyển dụng, bố trí, quản lý, giám sát lao động; thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động;… Còn người lao động chưa thành niên có quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề; nâng cao trình độ nghề nghiệp; hưởng lương phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động;… Tuy nhiên, yêu cầu pháp luật trong hình thức này là các chủ thể pháp luật thực hiện quyền một cách đúng đắn, tức là thực hiện quyền trong phạm vi pháp luật quy định, không được lợi dụng quyền để xâm hại quyền và lợi ích của người khác.
Bốn là, áp dụng pháp luật về lao động chưa thành niên. Là hoạt động mà Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và các cá nhân được Nhà nước trao quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật về lao động chưa thành niên. Hình thức này có điểm đặc biệt là nó chỉ được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và các cá nhân được Nhà nước trao quyền và trong áp dụng pháp luật về lao động chưa thành niên có cả tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật về lao động chưa thành niên.
1.2.5. Nội dung thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên:
1.2.5.1. Thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên:
Thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên là một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của lao động chưa thành niên trong môi trường làm việc. Hơn nữa điều này còn góp phần vào việc giúp người lao động hiểu và biết rõ hơn về những quyền của họ trong quan hệ pháp luật lao động từ đó có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất cũng như nắm được và thực hiện tốt những nghĩa vụ của mình đã được pháp luật lao động quy định trong mối quan hệ pháp luật lao động với người sử dụng lao động chưa thành niên.
Việc thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên còn đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan chức năng, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội. Cần có sự chú trọng vào việc bảo vệ sức khỏe, giáo dục và đào tạo, đồng thời thực hiện các biện pháp giám sát và xử lý phạm nghiêm túc để đảm bảo quyền lợi của người lao động chưa thành niên được bảo vệ một cách toàn diện. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.2.5.2. Thực hiện pháp luật về việc làm, đào tạo nghề đối với người lao động chưa thành niên:
Thực hiện pháp luật về việc làm đối với người lao động chưa thành niên là quá trình áp dụng, thi hành các quy định pháp luật về việc làm nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động chưa thành niên được thực hiện đúng đắn và đầy đủ. Đồng thời giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên trong mối quan hệ pháp luật lao động, thúc đẩy môi trường làm việc công bằng và bình đẳng, và góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Để việc thực hiện pháp hiện pháp luật về việc làm đối với người lao động chưa thành niên thực sự đạt được hiệu quả, các cơ quan chức năng cần tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về việc làm tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để đảm bảo tuân thủ pháp luật. Khi phát hiện các hành vi phạm pháp luật về việc làm đối với người lao động chưa thành niên của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, các cơ quan chức năng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý khác nhau, bao gồm xử phạt hành chính, khởi tố hình sự hoặc các biện pháp khác tùy theo mức độ vi phạm.
Người lao động chưa thành niên có quyền tham gia học nghề, đào tạo nghề phù hợp với lứa tuổi của mình. Các cơ sở đào tạo nghề cần tuân thủ các quy định pháp luật về đào tạo nghề, dạy nghề đối với người lao động chưa thành niên. Người sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề tạo điều kiện và hỗ trợ cho người lao động chưa thành niên tham gia học nghề nâng cao trình độ, kỹ năng tay nghề. Việc thực hiện pháp luật về đào tạo nghề đối với người lao động chưa thành niên là một yếu tố quan trọng để đảm bảo họ được trang bị kỹ năng cần thiết và có cơ hội phát triển trong tương lai.
1.2.5.3. Thực hiện pháp luật về giao kết hợp đồng lao động đối với người lao động chưa thành niên:
Người lao động chưa thành phải đáp ứng các yêu cầu về điều kiện giao kết hợp đồng lao động. Lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể giao kết hợp đồng lao động. Lao động dưới 15 tuổi chỉ được giao kết hợp đồng lao động cho các công việc phù hợp với sức khỏe và được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Người lao động chưa thành niên không được làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc những công việc có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần và nhân cách. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động chưa thành niên với người lao động chưa thành niên cần ghi rõ thời hạn, có thể là hợp đồng xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn, tùy theo thỏa thuận giữa hai bên. Hợp đồng lao động phải nêu rõ các điều kiện làm việc, bao gồm thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, và các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Hợp đồng lao động phải nêu rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động, bao gồm quyền lợi về tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ phúc lợi khác. Đối với lao động chưa thành niên dưới 18 tuổi, việc giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Hợp đồng lao động với người lao động chưa thành niên phải được lập thành văn bản.
Các cơ quan nhà nước tiến hành thực hiện thanh tra định kỳ và đột xuất tại các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thành niên để kiểm tra việc tuân thủ các quy định về giao kết hợp đồng lao động. Áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp vi phạm về giao kết hợp đồng với lao động chưa thành niên, đảm bảo tính răn đe và bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên.
1.2.5.4. Thực hiện pháp luật về tiền lương đối với người lao động chưa thành niên:
Người sử dụng lao động phải thực hiện chi trả đầy đủ lương thưởng và các khoản phụ cấp theo đúng những gì đã giao kết trong hợp đồng lao động và theo đúng quy định của pháp luật. Người lao động không được có hành vi trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu được pháp luật quy định, không trả đầy đủ các khoản thưởng, phụ cấp đã cam kết với người lao động chưa thành niên. Lao động chưa thành niên có quyền được hưởng mức lương không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Tiền lương của lao động chưa thành niên phải được tính dựa trên công việc thực hiện, không phân biệt tuổi tác, đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Lao động chưa thành niên có quyền được hưởng các khoản phụ cấp, thưởng, và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật và hợp đồng lao động. Việc thực hiện pháp luật về tiền lương đối với người lao động chưa thành niên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ từ nhiều phía, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội. Nâng cao nhận thức, tăng cường giám sát và hỗ trợ pháp lý sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi và đảm bảo thu nhập công bằng cho lao động chưa thành niên.
1.2.5.5. Thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động chưa thành niên:
Người sử dụng lao động phải tuân thủ các các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi dành cho người lao động chưa thành niên, không được bắt ép người lao động chưa thành niên làm thêm giờ trái với quy định của pháp luật. Việc pháp luật quy định về thời gian nghỉ ngơi dành cho người lao động chưa thành niên giúp họ có thêm thời gian để họ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, tham gia học tập, hồi phục, tái tạo lại sức lao động sau quá trình tham gia lao động.
Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh tra định kỳ và đột xuất tại các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thành niên để kiểm tra việc tuân thủ các quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi. Áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp vi phạm về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của lao động chưa thành niên, đảm bảo tính răn đe và bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Công đoàn, và các tổ chức xã hội để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý và thực hiện các quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi cho lao động chưa thành niên. Việc thực hiện pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động chưa thành niên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ từ nhiều phía, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội. Nâng cao nhận thức, tăng cường giám sát và hỗ trợ pháp lý sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sức khỏe, sự phát triển cho lao động chưa thành niên. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.2.5.6. Thực hiện pháp luật về an toàn lao động và vệ sinh lao động đối với người lao động chưa thành niên:
Người sử dụng lao động cần tuân thủ, đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động dành cho người lao động chưa thành niên tại nơi làm việc. Điều này giúp bảo vệ tính mạng cũng như sức khỏe của người lao động chưa thành niên khi tham gia lao động. Ngoài ra, người sử dụng lao động còn trách nhiệm thực hiện tổ chức khám sức khỏe định kỳ dành cho người lao động chưa thành niên nhằm xác định khả năng lao động của lao động chưa thành niên, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp người lao động chưa thành niên không đảm bảo sức khỏe tham gia lao động, sắp xếp lại công việc phù hợp với tình trạng sức khỏe của người lao động chưa thành niên. Người lao động chưa thành niên cũng có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất tại các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thành niên để kiểm tra việc tuân thủ các quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động. Áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp vi phạm về an toàn lao động và vệ sinh lao động, đảm bảo tính răn đe và bảo vệ quyền lợi của lao động chưa thành niên. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Công đoàn, và các tổ chức xã hội để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý và thực hiện an toàn lao động và vệ sinh lao động cho lao động chưa thành niên. Việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động và vệ sinh lao động đối với người lao động chưa thành niên là cần thiết để bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của họ. Sự phối hợp chặt chẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội, cùng với các biện pháp nâng cao nhận thức, cải thiện điều kiện làm việc và giám sát chặt chẽ sẽ góp phần đảm bảo quyền lợi và an toàn cho lao động chưa thành niên.
1.2.5.7. Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động chưa thành niên:
Người lao động chưa thành niên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội và được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như đối với người lao động thành niên. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký tham gia và đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động chưa thành niên đang tham gia lao động sản xuất tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của mình. Các cơ quan quản lý nhà nước về lao động có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có sử dụng người lao động chưa thành niên trên địa bàn. Nếu phát hiện có vi phạm về bảo hiểm xã hội đối với lao động chưa thành niên cần cần tiến hành xử phạt các chủ thể vi phạm. Việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với người lao động chưa thành niên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ từ nhiều phía, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, và các tổ chức xã hội. Tăng cường tuyên truyền, cải thiện công tác quản lý, hỗ trợ tài chính và tư vấn pháp lý sẽ góp phần đảm bảo quyền lợi và an sinh xã hội cho lao động chưa thành niên, từ đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.2.5.8. Thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đối với người lao động chưa thành niên:
Người sử dụng lao động có trách nhiệm ban hành nội quy lao động tại nơi làm việc. Việc ban hành nội quy lao động một cách rõ ràng và cụ thể sẽ giúp người lao động chưa thành niên hiểu và thực hiện các nội quy lao động nghiêm túc, hình thành một tác phong làm việc nề nếp, kỷ luật. Hơn nữa, điều này cũng giúp các cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thể kiểm tra, giám sát việc thực hiện xây dựng nội quy lao động, từ đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên.
Bản thân người lao động chưa thành niên có nghĩa vụ chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động của người sử dụng lao động. Tuy nhiên do tâm lý bồng bột, chưa ổn định của tuổi trẻ cộng với kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc chưa nhiều nên người lao động chưa thành niên rất dễ vi phạm kỷ luật lao động và gây ra những thiệt hại không đáng có trong quá trình tham gia lao động. Người lao động chưa thành niên nếu gây ra thiệt hại cho người sử dụng lao động trong quá trình lao động sẽ có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.
1.2.5.9. Thực hiện pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động đối với người lao động chưa thành niên:
Thanh tra lao động có thể được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất tại các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa thành niên. Nội dung thanh tra bao gồm kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, điều kiện làm việc, và các quyền lợi khác của lao động chưa thành niên. Thanh tra viên thực hiện việc thanh tra, kiểm tra có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến lao động chưa thành niên, tiến hành kiểm tra thực tế tại nơi làm việc, và lập biên bản vi phạm nếu phát hiện sai phạm. Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về lao động chưa thành niên bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoạt động, hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm của các doanh nghiệp. Quy trình xử lý vi phạm phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo tính minh bạch, công bằng và kịp thời. Các biện pháp xử lý vi phạm phải đảm bảo quyền lợi của lao động chưa thành niên, bao gồm việc bồi thường thiệt hại nếu có.
1.3. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
1.3.1. Yếu tố kinh tế – xã hội:
Yếu tố kinh tế – xã hội bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế – xã hội, hệ thống các chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực thực tế xã hội. Nền kinh tế – xã hội phát triển ổn định, bền vững sẽ tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, đặc biệt là thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên, tác động tích cực đến việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể quan hệ pháp luật lao động. Bên cạnh đó thực tiễn hiện nay cũng cho thấy rằng yếu tố kinh tế – xã hội còn có những tác động quan trọng đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của nhân dân đối với pháp luật. Khi kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Khi đó, niềm tin của các chủ thể pháp luật đối với pháp luật sẽ được củng cố một cách vững chắc, hoạt động pháp luật sẽ mang tính tích cực, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành.
1.3.2. Hệ thống pháp luật về lao động:
Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật lao động Việt Nam không ngừng được hoàn thiện và đạt được những bước phát triển quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ lao động ổn định và phát triển, bảo đảm quyền của người lao động và người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động. Ngày 20 tháng năm 2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động mới 2019 – Bộ luật có sự tiếp thu, kế thừa những tinh hoa của Bộ luật Lao động trước đó và đã có những sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới của đất nước. Bộ luật Lao động đã cụ thể hóa, thể chế hoá những đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các quy định của Hiến pháp năm 2013 trong lĩnh vực lao động. Bộ luật Lao động đã góp phần đảm bảo nhu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế của đất nước, giải quyết việc làm cho người lao động, củng cố và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bộ luật Lao động đã tạo ra một hành lang pháp lý để mọi người có quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử về việc làm, học nghề và khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm cho bản thân và người khác. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Hệ thống các văn bản pháp luật lao động góp phần tạo điều kiện thuận lợi giúp thị trường lao động ổn định và phát triển, duy trì mối quan hệ lao động hài hòa, bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động, là căn cứ pháp lý quan trọng, chủ yếu để giải quyết tranh chấp lao động xảy ra trong mối quan hệ lao động. Bộ luật Lao động và các văn bản của pháp luật lao động đã tạo ra những tác động quan trọng trong vấn đề điều chỉnh quan hệ hợp đồng lao động giữa người lao động, trong đó có người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động. Chính sự điều chỉnh này đã tạo nên một diện mạo mới, mang tính thực tiễn và khoa học cao, chi phối và ảnh hưởng đến hệ thống quan hệ lao động. Bởi vì sự điều chỉnh này đã xác định một cách cụ thể, rõ ràng địa vị pháp lý và trách nhiệm của các bên trong mối quan hệ lao động thông qua hệ thống các quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động.
1.3.3. Trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền quản lý, sử dụng lao động chưa thành niên:
Trách nhiệm của các cơ quan Trung ương: Các cơ quan Trung ương có vai trò và trách nhiệm vô cùng quan trọng trong việc ổn định, phát triển thị trường lao động cũng như trong việc quản lý và sử dụng người lao động, trong đó có người lao động chưa thành niên nhằm đảm bảo sự hài hòa, cân bằng giữa quyền và lợi ích của các chủ thể trong mối quan hệ lao động. Bên cạnh đó, các cơ quan Trung ương còn có trách nhiệm đảm bảo việc thi hành và hướng dẫn, tổ chức thực hiện áp dụng các quy định của pháp luật về lao động, đặc biệt là các quy định pháp luật về lao động chưa thành niên.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương (Ủy ban Nhân dân các cấp, Sở Lao động,…): Ủy ban Nhân dân các cấp, Sở Lao động và các cơ quan khác ở địa phương có trách nhiệm liên kết và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc tổ chức thực hiện, thực thi và đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc các văn bản pháp luật, trong đó có các văn bản pháp luật trong lĩnh vực lao động và đặc biệt là các văn bản quy định về lao động chưa thành niên. Thường xuyên tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra đến những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có sử dụng người lao động chưa thành niên trên địa bàn nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm về sử dụng lao động chưa thành niên.
Trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội (Liên đoàn lao động, Hội phụ nữ, Thanh niên,…): Các tổ chức chính trị-xã hội có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc chăm lo cho đời sống của người lao động, đặc biệt là lao động chưa thành niên, thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động chưa thành niên để các em hiểu và bảo vệ tốt các quyền của mình trong trường hợp bị xâm phạm đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ lao động của mình.
1.3.4. Ý thức, trách nhiệm của người sử dụng lao động:
Người sử dụng lao động chưa thành niên quản lý và sử dụng lao động chưa thành niên theo đúng những quy định của pháp luật lao động cũng như tôn trọng, đảm bảo các quyền của người lao động chưa thành niên. Đồng thời tạo điều kiện cho lao động chưa thành niên tham gia các hoạt động khác ngoài thời gian làm việc như vui chơi, giải trí,… cũng như liên kết, phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề, dạy nghề để người lao động chưa thành niên tham gia học nghề, đào tạo nghề để nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ tay nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong quá trình hội nhập kinh tế sâu sắc hiện nay.
1.3.5. Ý thức pháp luật của người lao động chưa thành niên: Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
Ý thức pháp luật của người lao động chưa thành niên được tập trung thể hiện chủ yếu ở ba hình thức. Đầu tiên là ý thức tuân thủ những quy định của pháp luật lao động, người lao động chưa thành niên phải tuân thủ và thực hiện theo đúng những gì mà pháp luật lao động đã quy định và không làm những điều mà pháp luật lao động cấm. Tiếp theo là ý thức thi hành pháp luật lao động, người lao động chưa thành niên có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà mình đã cam kết thực hiện trong mối quan hệ lao động. Cuối cùng là ý thức sử dụng pháp luật, người lao động chưa thành niên sử dụng đúng và hợp lý các quyền của mình theo quy định của pháp luật lao động. Tương tự như ý thức pháp luật pháp luật nói chung, ý thức thực hiện pháp luật lao động của người lao động luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: trình độ giáo dục, văn hóa, truyền thống, điều kiện kinh tế, mối quan hệ với người sử dụng lao động và mối quan hệ với các tổ chức đại diện, cơ quan quản lý lao động… Các yếu tố này bao gồm cả yếu tố chủ quan của người lao động chưa thành niên và các yếu tố khách quan khác.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
- Qua nghiên cứu Chương 1 đề tài luận văn, có thể rút ra các kết luận sau:
Thứ nhất, để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, việc tuyển dụng và sử dụng lao động, trong đó có lao động chưa thành niên của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ngày càng trở nên phổ biến. Lao động chưa thành niên là một chủ thể, thậm chí còn là một chủ thể đặc biệt trong các quan hệ lao động mà họ tham gia. Sự tham gia vào quan hệ lao động của chủ thể lao động đặc biệt này vừa phản ánh được nhu cầu khách quan của thị trường lao động vừa là nhu cầu chủ quan của người lao động chưa thành niên.
Thứ hai, khi tiến hành thực hiện điều chỉnh pháp luật đối với người lao động chưa thành niên cần phải đặc biệt chú ý đến những điểm đặc thù của họ. Một mặt, tham gia vào quan hệ lao động là quyền của người lao động chưa thành niên, với việc sử dụng có hiệu quả các quyền của mình được pháp luật lao động quy định, người lao động chưa thành niên có khả năng đạt được các yêu sách chính đáng về quyền và lợi ích trong quan hệ lao động. Mặt khác, nếu phải làm việc quá sức, làm việc trong môi trường độc hại, công việc không phù hợp với độ tuổi sẽ để lại những hậu quả tiêu cực có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển toàn diện của người lao động chưa thành niên. Do đó, khi tiến hành xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các vấn đề pháp luật liện quan đến người lao động chưa thành niên, Nhà nước cần phải rất thận trọng, các quy định pháp luật không được quá nghiêm khắc, cứng nhắc sẽ làm giảm đi tính tích cực trong mối quan hệ lao động giữa người lao động chưa thành niên và người sử dụng lao động chưa thành niên. Đồng thời, các quy định của pháp luật cũng không nên quá thông thoáng, lỏng lẻo vì sẽ dễ dẫn đến tình trạng người sử dụng lao động lạm dụng những lỗ hổng trong các quy định của pháp luật nhằm mục đích ép buộc người lao động chưa thành niên làm việc quá sức chịu đựng của họ hoặc làm những công việc không phù hợp gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển cả về thể lực lẫn trí lực của người lao động chưa thành niên. Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật lao động chưa thành niên tại HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật lao động chưa thành niên tại HCM
Luận văn: Pháp luật về lao động chưa thành niên tại HCM