Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế

2.1.1. Sáng chế là giải pháp kỹ thuật

Phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế được hiểu theo nghĩa giới hạn những đối tượng được bảo hộ sáng chế. Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành thì phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế ở đây chính là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên

Xét dưới góc độ lịch sử hình thành và phát triển của phát luật sở hữu trí tuệ, kế thừa và phát triển tinh thần pháp lý cơ bản đã được xây dựng và phát triển qua các văn bản luật như Nghị định 31/CP ngày 23 tháng 1 năm 1981 về ban hành Điều lệ về cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất và sáng chế, Pháp lệnh sở hữu công nghiệp năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995… Luật sở hữu trí tuệ năm 2006 tiếp tục khẳng định sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên. Như vậy, những đối tượng có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế, trước hết phải là những giải pháp có dấu hiệu kỹ thuật. Trong đó, dấu hiệu kỹ thuật theo pháp luật Việt Nam không khác biệt nhiều so với quan điểm truyền thống của thế giới về sáng chế. Cụ thể, dấu hiệu kỹ thuật được xác định rất rõ là việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên nhằm để giải quyết một vấn đề xác định nào đó. Hình thức của việc ứng dụng này có thể được biểu hiện dưới dạng những sản phẩm bao gồm máy móc, chi tiết máy, chất hóa học, nguyên liệu sinh học hoặc tương tự và quy trình bao gồm quy trình vật lý, quy trình hóa học hoặc các quy trình sinh học.v.v. Bởi vậy, các đối tượng không phải là những giải pháp mang dấu hiệu kỹ thuật, hoặc nói một cách khác, không phải là những vấn đề nhất định sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Bên cạnh đó, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã liệt kê danh mục các đối tượng không có dấu hiệu kỹ thuật bị loại trừ khả năng được bảo hộ sáng chế, bao gồm: (i) Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học; (ii) Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp khoa học để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; (iii) Chương trình máy tính; (iv) Cách thức thể hiện thông tin; và (v) Giải pháp chỉ mang tính chất thẩm mỹ. Trong đó, phát minh thuộc đối tượng không có dấu hiệu kỹ thuật và bị loại trừ khả năng được bảo hộ sáng chế, bởi lẽ phát minh xét về mặt bản chất thực chất chỉ là một sự nhận biết các hiện tượng, tính chất, hình thái vật chất cụ thể hoặc các quy luật của thế giới tự nhiên mà trước đó con người chưa có khả năng nhận thức hoặc kiểm chứng. Phát minh chỉ có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế nếu nó được ứng dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của con người. Ví dụ, nhà bác học Mari Quiry đã phát minh ra hiện tượng phóng xạ. Phát minh này không được coi là có dấu hiệu kỹ thuật, bởi về mặt bản chất đó chỉ là sự khám phá một hiện tượng tự nhiên tồn tại khách quan mà trước đó chưa được con người biết đến. Tuy nhiên, khi hiện tượng phóng xạ được ứng dụng để tạo ra một loại vũ khí có khả năng sát thương cao như bom nguyên tử, bom hạt nhân thì lại là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sáng chế có thể được bảo hộ. Nguyên lí khoa học và phương pháp toán học cũng là một hình thức cụ thể trong quá trình nhận thức thế giới tự nhiên của con người. Nói một cách khác, chúng chưa thể vận dụng được vào hoạt động thực tiễn sản xuất, sinh hoạt của con người. Do vậy, khả năng áp dụng công nghiệp của các đối tượng này đương nhiên bị loại bỏ mà không cần thiết phải trải qua các bất kỳ một thủ tục xét nghiệm nào về sáng chế.

Còn đối với sơ đồ kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh, cách thức thể hiện thông tin là những đối tượng chỉ có ý nghĩa áp dụng trong các hoạt động tư thuần túy hoặc các hoạt động kinh tế, xã hội khác của con người. Đây là những giải pháp thuộc về các lĩnh vực phi kỹ thuật. Bởi vậy, chúng không thể là đối tượng được bảo hộ sáng chế mà chỉ có thể được bảo hộ quyền tác giả.

Đối với đối tượng là chương trình máy tính, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam tiếp tục kế thừa quan điểm truyền thống đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 1995 và các văn bản hướng dẫn thi hành, không coi đây là một giải pháp kỹ thuật có khả năng được bảo hộ sáng chế. Chương trình máy tính được biểu hiện cụ thể dưới dạng những câu lệnh hoặc mã khóa nhất định. Về mặt bản chất, chương trình máy tính là việc thực hiện hàng loạt các phép toán logic, với các chữ số 0 và 1. Chính với đặc điểm này, chương trình máy tính được xác định là một dạng đặc biệt của phương pháp toán học và do đó không được coi là có dấu hiệu kỹ thuật. Chương trình máy tính đã và đang trở thành một thành phần chính không thể thiếu trong hầu hết các cải tiến kỹ thuật của thế giới. Bởi vậy, nếu nhìn nhận trong một tương lai xa hơn, việc quy định theo hướng loại bỏ tất cả các loại đối tượng phần mềm máy tính ra khỏi các giải pháp kỹ thuật có khả năng được bảo hộ sáng chế sẽ là không phù hợp.

Các giải pháp chỉ mang tính chất thẩm mĩ bao gồm các sản phẩm sáng tạo nghệ thuật như tác phẩm hội họa, kiến trúc, điêu khắc, múa, văn học.v.v. Những đối tượng này thuộc về một lĩnh vực này là sự thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới những dạng vật chất nhất định, không thuộc về lĩnh vực kỹ thuật. Đối với các đối tượng này, cần thiết phải xác định rõ, bản thân khía cạnh thẩm mỹ của giải pháp không thuộc phạm vi được bảo hộ dưới danh nghĩa như một sáng chế. Tuy nhiên, nếu trong giải pháp đó có chứa đựng những dấu hiệu kỹ thuật, và các dấu hiệu kỹ thuật đó có khả năng đáp ứng được những điều kiện khác về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng thì vẫn có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế. Ví dụ, một cuốn sách được cấu tạo bởi hình thức diễn đạt ngôn từ, cách thức sắp xếp các thông tin, sự phối kết hợp của màu sắc, và đường nét trong đó, những khía cạnh này sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế. Tuy nhiên, đối với các dấu hiệu kỹ thuật có thể có như chất liệu làm giấy, mực in, phương pháp in lại có thể được bảo hộ độc quyền sáng chế.

Qua những phân tích nêu trên, có thể thấy, theo pháp luật Việt Nam, phạm vi các đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế tương đối gần với quan điểm truyền thống của thế giới về khái niệm sáng chế. Tuy nhiên, nếu so sánh với các cách thức tiếp cận mới nhất về sáng chế đang được nhiều quốc gia phát triển trên thế giới thừa nhận, giới hạn các giải pháp được bảo hộ của Việt Nam khá hẹp. Xét trên một phương diện nào đó, với phạm vi đối tượng bảo hộ này, phần nào phù hợp với điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật còn hạn chế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong tương lai không xa, khi thực sự hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, việc không bảo hộ sáng chế cho một số các đối tượng mới, quan trọng như chương trình máy tính, phương pháp kinh doanh ứng dụng giao thức mạng rất có thể sẽ dẫn đến những thua thiệt không đáng có của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thương mại thế giới.

2.1.2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Theo quy định tại Điều 787 Bộ luật Dân sự 2005 “Nhà nước không bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà pháp luật về sở hữu công nghiệp quy định không được bảo hộ” [30, Điều 787]. Đây được coi là một nguyên tắc rất cơ bản để xác định phạm vi các đối tượng không được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng. Như vậy, các giải pháp kỹ thuật có nội dung đi ngược lại với lợi ích chung của xã hội.v.v. hoặc việc cho phép công bố, bảo hộ quyền độc quyền khai thác đối với chúng có khả năng ảnh hưởng đến trật tự công cộng hoặc nguyên tắc nhân đạo sẽ bị loại trừ, không được bảo hộ sáng chế. Điều này là hoàn toàn phù hợp với tinh thần của các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Mục 5, Điều 27.2 Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) quy định:

Các nước thành viên có thể loại trừ các sáng chế, ngăn cấm trong phạm vi lãnh thổ của họ việc khai thác thương mại các sáng chế cần thiết cho bảo hộ công cộng bao gồm việc bảo vệ vệ con người, động thực vật hoặc sức khỏe, hoặc để tránh các nguy hại nghiêm trọng tới môi trường.

  • Điều 7 Chương II của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng quy định:

Mỗi bên có thể loại trừ việc cấp văn bằng bảo hộ đối với các giải pháp mà cần phải cấm việc khai thác các giải pháp đó vào mục đích kinh doanh trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội [15, Điều 7].

Tiếp tục kế thừa nguyên tắc nêu trên, Luật sở hữu trí tuệ năm 2006 quy định loại trừ khả năng bảo hộ sáng chế đối với một số giải pháp kỹ thuật nhất định. Các đối tượng này bao gồm: (i) Giống thực vật, giống động vật; (ii) Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh; (iii) Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho con người và động vật. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Đối với các giải pháp kỹ thuật đề cập tới đối tượng là phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán, chữa bệnh cho người và động vật đều không thể bảo hộ sáng chế. Vì lý do nhân đạo, việc ngăn chặn bệnh nhân được quyền áp dụng những phương pháp chẩn đoán hoặc chữa bệnh có tính hữu hiệu nhằm để chống lại bệnh tật không được pháp luật bảo hộ. Điều này được thể hiện ở chỗ nguyên nhân gây bệnh, cơ chế lây truyền bệnh của mỗi cá thể trong xã hội là hoàn toàn khác nhau. Bên cạnh đó, việc điều trị bệnh không chỉ phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh mà còn phải xem xét cơ địa cũng như thể trạng của mỗi bệnh nhân tại thời điểm điều trị. Ví dụ, phương pháp điều trị bệnh ung thư bằng cách cho bệnh nhân uống một lượng hữu hiệu dược phẩm chứa asialo-inteferon ở động vật có vú chỉ phát huy tác dụng đối với một số loại bệnh ung thư gan nhất định như ung thư biểu mô tế bào gan kiểu tán tỏa, ung thư biểu mô tế bào gan kiểu sốt, và ung thứ biểu mô tế bào gan kiểu vàng da ở các bệnh nhân có biểu biện thể nhận asialo-glycoprotein. Mức độ biểu hiện thể nhận asialo-gycoprotein ở mỗi bệnh nhân thường rất khác. Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến thể trạng của bệnh nhân cũng rất ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của phương pháp điều trị, thậm chí có khả năng gây ra các tác dụng phụ không mong muốn. Bởi vậy, phương pháp điều trị bệnh ở người và động vật không có khả năng áp dụng một cách phổ biến, rộng rãi và do đó không đáp ứng được yêu cầu về điều kiện khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế.

Đối với giống cây trồng, do có những đặc trưng riêng biệt, theo pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam, đối tượng này được bảo hộ theo một hệ thống riêng biệt mà không phải là sáng chế. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 quy định:

Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kì quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được [32, Điều 4, Khoản 24].

Như vậy, có thể hiểu một cách gián tiếp là các đối tượng được bảo hộ theo các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp đối với giống cây trồng thì không được bảo hộ sáng chế. Vấn đề được đặt ra là, giới hạn loại trừ này có bao gồm cả loại cây trồng là sản phẩm biến đối gen hay không? Cho đến nay, chưa có một văn bản pháp luật của Việt Nam có quy định chính thức về vấn đề này. Trong khi trên thực tế, trong những năm qua, Cục sở hữu trí tuệ đã tiến hành cấp bằng độc quyền sáng chế đối với các đối tượng là cây trồng biến đổi gen. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Đối với giống động vật, vì lý do nhân đạo, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam không coi đây là một đối tượng có khả năng được bảo hộ sáng chế. Điều này là hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ nói chung và pháp luật về bảo hộ sáng chế nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ sinh học, các giống động vật là sản phẩm của quy trình biến đổi gen đang xuất hiện ngày càng phổ biến trên thế giới. Thực tế này đang có những ảnh hưởng rất đáng kể với các quy định về bảo hộ sáng chế của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, một số nước đã bắt đầu chấp nhận cấp bằng độc quyền sáng chế cho động vật biến đổi gen. Tuy nhiên, nếu dựa trên các quy định hiện có của Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ năm 2006, chúng ta chưa có đủ cơ sở pháp lý chắc chắn để từ chối bảo hộ đối với đối tượng là động vật biến đổi gen. Bởi, động vật biến đổi gen không bị giới hạn khả năng áp dụng đối với một giống động vật nhất định. Do vậy, nếu chỉ dựa trên cơ sở loại trừ không bảo hộ sáng chế đối với giống động vật là chưa thỏa đáng.

Vì lý do nhân đạo cũng như khả năng ảnh hưởng xấu đến môi trường, pháp luật Việt Nam cũng không tiến hành bảo hộ sáng chế đối với các đối tượng là quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh. Các yêu cầu bảo hộ đề cập đến quy trình sinh học để tạo ra cây trồng hoặc động vật bằng các cách như chiết, ghép, ươm mầm hoặc nhân giống hữu tính… sẽ bị loại trừ, không được bảo hộ sáng chế. Vấn đề được đặt ra là các quy trình bị loại trừ nói trên có bao hàm cả các quy trình sản xuất thực vật hoặc động vật theo công nghệ cấy ghép gen, hoặc làm đột biến gen hay không? Bởi nếu xét về mặt bản chất, quy trình biến đổi gen là một sự kết hợp giữa quy trình sinh học tự nhiên của động thực vật với các kỹ thuật công nghệ hiện đại của con người. Thiết nghĩ, vấn đề này rất cần được giải quyết một cách triệt để trên cả phương diện lý luận và thực tiễn trong thời gian tới đây.

Qua những phân tích nói trên, có thể thấy giới hạn loại trừ các đối tượng không được bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tương hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có khá nhiều tồn tại chưa được giải quyết một cách triệt để cả về mặt lý luận và thực tiễn. Điều này có thể sẽ là một cản trở lớn cho công việc thực thi các quy định về bảo hộ sáng chế nói chung cũng như quy trình xét nghiệm sáng chế nói riêng ở nước ta trong thời gian sắp tới.

2.2. Điều kiện có tính mới Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

2.2.1. Khái niệm

Tính mới của sáng chế được coi là điều kiện tiên quyết để xét cấp bằng độc quyền sáng chế. Quy định về tính mới đối với sáng chế là tránh sự trùng lặp, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Tính mới là một yêu cầu bắt buộc đối với một giải pháp kỹ thuật để được coi là sáng chế và được pháp luật bảo hộ dưới hình thức bằng độc quyền sáng chế. Đây không chỉ là quy định riêng của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ mà đó là một điều kiện mang tính quyết định khi chủ sở hữu muốn sáng chế của mình được bảo hộ trên phạm vi toàn thế giới.

Xét dưới góc độ pháp luật thực định, pháp luật SHTT đưa ra khái niệm về tính mới của sáng chế, theo đó, sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộc công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hay nước ngoài trước ngày nộp đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên. Đồng thời, cũng khẳng định sáng chế được coi là chưa bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó. Khái niệm này đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất cần có để một sáng chế đáp ứng điều kiện tính mới đó là sáng chế đó chưa bị bộc lộ công khai.

Tuy nhiên, nếu xét dưới cả góc độ thực tiễn, tính mới của sáng chế phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: (i) sự không trùng lặp với những giải phát kỹ thuật đã được nộp đơn hoặc được bảo hộ và (ii) chưa bị bộc lộ công khai ngoài ý muốn của chủ thể dưới hình thức sử dụng hoặc mô tả tới mức một người trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện giải pháp đó. Trong đó, chưa được bộc lộ công khai được hiểu nếu chỉ có một số người biết về sáng chế đó như các thành viên trong nhóm nghiên cứu hay một số cơ sở nghiên cứu không liên quan đến nhau, song chưa ai trong số họ công bố kết quả nghiên cứu đó.

Với mục đích nhằm nhấn mạnh tính mới của sáng chế, một trong những điều kiện tiên quyết cấp bằng độc quyền sáng chế, Luật sở hữu trí tuệ nhấn mạnh các trường hợp sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố (với điều kiện đơn đăng kí sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố), cụ thể: (i) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được sự cho phép của người có quyền đăng ký. (ii) Sáng chế được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học. (iii) Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại các cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức. Trong đó, người có quyền đăng ký sáng chế theo quy định trên bao gồm: (i) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình; (ii) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật SHTT [3, Điều 86].

Từ sự nhận thức như trên, có thể hiểu tính mới của sáng chế là sự không trùng lặp với với những giải phát kỹ thuật đã được nộp đơn hoặc được bảo hộ và chưa bị bộc lộc công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hay nước ngoài trước ngày nộp đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

2.2.2. Cách xác định Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Tính mới là một trong những yêu cầu cơ bản trong quy trình xét nghiệm nội dung để tiến hành cấp văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế. Theo đó, chỉ những giải pháp kỹ thuật nào mà vào thời điểm nộp đơn yêu cầu bảo hộ, chúng có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, điều này làm cho giải pháp kỹ thuật có khả năng được bảo hộ sáng chế. Đây là một điều kiện mang định tính, không có khả năng được định nghĩa hoặc mô tả một cách cụ thể bằng ngôn ngữ. Chỉ có việc mất tính mới là có khả năng chúng minh được. Bởi vậy, cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, pháp luật về bảo hộ sáng chế của Việt Nam đã xây dựng điều kiện tính mới dựa trên mặt đối lập của chính nó.

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 quy định sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hay bất kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ngoài nước trước ngày nộp đơn đăng kí sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

Như vậy, theo quy định nêu trên, chúng ta có thể thấy, pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế đã định ra hai thời điểm khác nhau làm mốc căn cứ để xác định phạm vi tình trạng kỹ thuật của giải pháp yêu cầu bảo hộ: (i) ngày nộp đơn đăng kí và (ii) ngày ưu tiên. Đây cũng là hai nguyên tắc cơ bản liên quan đến việc đăng kí xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Việc xác định thời điểm này có ý nghĩa quan trọng đối với người nộp đơn, bởi vì có thể cùng một giải pháp kỹ thuật được nhiều người tạo ra, nhưng người nộp đơn đầu tiên sẽ được quyền ưu tiên, tức là người nộp đơn sau cùng một giải pháp sẽ bị từ chối. Ví dụ: ngày 20/10/2010, Anh A nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế X tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam. Anh B cũng nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế X’ (tương tự như sáng chế X) vào ngày 20/01/2010 nhưng có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đầu tiên đăng kí sáng chế tại Nhật Bản ngày 01/01/2010. Cục SHTT sẽ công nhận quyền ưu tiên của B so với A (nếu có đầy đủ cơ sở). Ngày ưu tiên của B là 01/01/2010 được xác định là ngày nộp đơn sáng chế của A bị coi là mất tính mới.

Thứ nhất, là ngày nộp đơn đăng ký sáng chế (fist-to-invent). Ngày nộp đơn đăng ký sáng chế được hiểu là ngày mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng kí sáng chế chính thức tiếp nhận hồ sơ yêu cầu đăng ký sáng chế của chủ sở hữu. Trong đó, trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký cùng một sáng chế thì văn bản bảo hộ chỉ được cấp cho đơn được nộp sớm nhất trong số những đơn đáp ứng yêu cầu điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ. Nếu thời gian nộp hoàn toàn trùng nhau thì có thể chỉ cấp văn bằng bảo hộ cho một đơn duy nhất theo sự thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn, nếu không tất cả các đơn đều bị từ chối. Nguyên tắc này có ưu điểm là dễ xác định vì ngày nộp đơn được ghi rõ trong đơn đăng ký bảo hộ và chỉ quan tâm tới chủ thể nộp đơn sớm, không phải người tạo ra sáng chế đó trước. Song song với nguyên tắc này, trên thế giới (tại Hoa Kỳ) còn tồn tại nguyên tắc chỉ quan tâm tới người đầu tiên tạo ra sáng chế. Tuy nhiên, hệ thống này bộc lộ những hạn chế: (i) Có nên cấp bằng sáng chế cho người nghĩ ra giải pháp kỹ thuật không nộp đơn và đợi đến khi người khác nộp đơn và thấy rằng giải pháp kỹ thuật đó có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế mới nộp đơn hay không? (ii) Việc chứng minh ai là người đầu tiên nghĩ ra giải pháp kỹ thuật là rất khó và trong nhiều trường hợp là không thể thực hiện được.

Thứ hai, là ngày ưu tiên của đơn vị yêu cầu đăng ký bảo hộ sáng chế. Ngày ưu tiên của đơn có thể là ngày nộp đơn đầu tiên của sáng chế ở quốc gia là thành viên của Công ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia (ví dụ xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris hoặc theo Công ước quốc tế về hợp tác bảo hộ sáng chế -PCT.v.v.). Ngày ưu tiên cũng có thể là ngày mà đối tượng của giải pháp kỹ thuật đăng ký bảo hộ sáng chế được trưng bày hoặc được thuyết trình trong các cuộc triển lãm quốc tế hoặc trong nước. Kể từ trước hai thời điểm nói trên của đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ sáng chế, tất cả kiến thức thuộc về lĩnh vực kỹ thuật liên quan của sáng chế đã được bộc lộ dưới hình thức sử dụng, văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác trên thế giới, đều được coi là tình trạng kỹ thuật để tiến hành xem xét khả năng đáp ứng được yêu cầu về tính mới của giải pháp kỹ thuật yêu cầu đăng ký bảo hộ sáng chế.

Một vấn đề được đặt ra là thông tin của sáng chế được phổ biến đến giới hạn nào thì được coi là đã bị bộc lộ công khai? Khoản 1 Điều 60 của Luật sở hữu trí tuệ chỉ mới đề cập đến phạm vi không gian mà giải pháp kỹ thuật bị bộc lộ “ở trong nước hoặc ngoài nước” và các hình thức bộc lộ sáng chế “dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản, hoặc bất kỳ hình thức nào khác”, nhưng mức độ định tính của việc bộc lộ sáng chế thì hoàn toàn chưa được quy định một cách cụ thể. Đây thực sự là một thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn là đối với bất kỳ một quốc gia nào hiện nay trên thế giới trong việc xây dựng điều kiện tính mới của sáng chế. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Trước đây, Điều 4, khoản 1 Nghị định 63/CP đã ít nhiều đề cập đến việc bộc lộ công khai của sáng chế. Theo đó, sáng chế được coi là đã được bộc lộ công khai nếu trước ngày ưu tiên của sáng chế giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn đã được thể hiện tới mức căn cứ vào đó người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được giải pháp đó. Các nguồn thông tin kỹ thuật được tham khảo bao gồm: (i) Các nguồn thông tin liên quan đến sáng chế, giải pháp hữu ích ở nước ngoài, tính từ ngày công bố; (ii) Các nguồn thông tin khác, với bất kỳ vật mang tin nào (ấn phẩm, phim ảnh, băng từ, đĩa từ, đĩa quang) tính từ ngày vật mang tin bắt đầu được lưu hành; (iii) Các nguồn thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, tuyền thanh). Tính từ ngày công bố tin; (iv) Các báo cáo khoa học, các bài giảng tính từ ngày thực hiện việc báo cáo khoa học hoặc giảng bài; (v) Các triển lãm, tính từ ngày hiện vật bắt đầu được trưng bày.

Như vậy, nếu trước ngày ưu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, nội dung của sáng chế được bộc lộ rõ ràng đầy đủ đến mức mà căn cứ vào đó, người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể suy luận dễ dàng hoặc có thể thực hiện được ngay giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ thì sáng chế được coi là không có tính mới. Ví dụ, sáng chế đề cập đến đầu đốt của lò đốt chất thải nguy hại bao gồm bec phun, ống trộn, lưới phân phối, ống hướng dòng, đầu gió sơ cấp, đầu cấp gió thứ cấp và ống cấp gió thứ cấp. Tuy nhiên, một tài liệu khác trước đó đã mô tả mỏ phun nhiên liệu với kết cấu đầu đốt tương tự, mà qua đó, người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng hoàn toàn có thể ứng dụng được kết cấu nói trên vào lò đốt chất thải nguy hại. Trong trường hợp này, giải pháp kỹ thuật của sáng chế được coi là đã bị bộc lộ công khai và do đó không có tính mới. Việc bộc lộ sáng chế có thể là qua hình thức mô tả bằng văn bản, ấn phẩm; thông qua lời nói như diễn văn, bài giảng; thông qua việc ứng dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, chào bán sản phẩm trên thị trường; hoặc các hình thức khác mà qua đó người khác có thể tiếp cận được thông tin của giải pháp kỹ thuật của sáng chế.

Tuy nhiên, giải pháp xác định sự bộc lộ công khai của sáng chế thông qua nguyên tắc mang tính chất định tính tuy có ưu điểm là có tính khái quát hóa cao nhưng lại hết sức khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn xét nghiệm sáng chế. Với quy định chỉ mang tính chất nguyên tắc chung như trên không cho phép xét nghiệm viên đánh giá được một cách chính xác và khách quan mức độ phổ biến của thông tin được bộc lộ, qua đó để thẩm định khả năng đáp ứng các yêu cầu của điều kiện tính mới của giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ. Ví dụ, sáng chế đề cập đến một loại con dấu có khả năng nạp mực tự động. Giả sử, sản phẩm này trước khi nộp đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ sáng chế đã được một chủ thể khác cho lưu hành trên thị trường ở phạm vi cấp huyện ở Việt Nam. Trong trường hợp này, giải pháp kỹ thuật của sáng chế bị coi là mất tính mới, hay chủ thể cho lưu hành sản phẩm tương tự với đối tượng yêu cầu bảo hộ của sáng chế được coi là người sử dụng trước? Trong một trường hợp khác, đối tượng yêu cầu bảo hộ của sáng chế là một thiết bị bơm nhiên liệu vào động cơ được lắp đặt trong phương tiện giao thông cơ giới. Đối tượng này sau đó đã được chứng minh là đã được lắp đặt vào một phương tiện giao thông cơ giới và được cho chạy thử nghiệm ở nơi công cộng. Như vậy, sáng chế có bị coi là mất tính mới hay không? Qua đây, có thể thấy, việc thẩm định sự bộc lộ công khai của sáng chế trong thực tiễn là hết sức phức tạp. Vấn đề khó khăn thường gặp không phải là việc xác định mức độ bộc lộ mà căn cứ vào đó người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kĩ thuật tương ứng có khả năng hiểu và thực hiện được, mà là việc xác định mức độ phổ biến của thông tin. Bởi vậy, xét trên phương diện này, có thể thấy, nếu chỉ với các nguyên tắc mang tính chất chung chung như trên, thì khả năng triển khai thực thi các quy định về điều kiện tính mới trong thực tiễn là không cao.

Trong một số trường hợp ngoại lệ, theo quy định tại khoản 3, Điều 60, Luật sở hữu trí tuệ, việc công bố thông tin của sáng chế trước ngày ưu tiên của đơn không coi là đã bị bộc lộ công khai và không bị mất tính mới, nếu đơn yêu cầu đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:(i) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, để bảo vệ một cách tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu sáng chế – những người có quyền tiến hành nộp đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ sáng chế. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Sáng chế được người có quyền đăng kí công bố dưới dạng báo cáo khoa học. Đây là một bổ sung mới được ghi nhận của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của pháp luật về bảo hộ sáng chế trên thế giới, đồng thời có tác dụng hết sức to lớn trong việc khuyến khích hoạt động sáng tạo khoa học trong nước cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Quy định này sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trong nước và quốc tế có thể chuyên tâm hơn trong các hoạt động chuyên môn, đồng thời vẫn có khả năng được bảo vệ một cách tối đa những công trình nghiên cứu của mình.

Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

Theo đó, giải pháp kỹ thuật được công bố công khai trong những trường hợp trên đây, khi tiến hành nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế được xem xét khả năng đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện tính mới dựa trên những tình trạng kỹ thuật trước ngày công bố lần đầu tiên mà không phải là ngày nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, với điều kiện đơn được nộp trong vòng sáu tháng kể từ ngày công bố.

Trong một trường hợp khác, sáng chế sẽ bị coi là mất tính mới ngay cả khi trước ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn của đơn yêu cầu đăng ký sáng chế, nội dung của giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ trùng lặp với nội dung của đơn đăng ký sáng chế có ngày ưu tiên và ngày nộp đơn sớm hơn tại Việt Nam. Đây là hệ quả từ việc áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng. Như vậy, ngay sau khi nộp đơn yêu cầu đăng ký sáng chế, nội dung đơn chưa được công bố công khai và đang được bảo hộ dưới dạng thông tin bí mật, tuy nhiên nó vẫn có thể được coi là tình trạng kỹ thuật để tiến hành xem xét và đánh giá tính mới của các sáng chế cùng lĩnh vực được nộp trong nước với ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn muộn hơn. Trong trường hợp này, đơn nộp sớm hơn sẽ chỉ được coi là tài liệu đối chứng có khả năng loại trừ tính mới của sáng chế nộp muộn hơn, nếu nội dung của hai giải pháp kỹ thuật là hoàn toàn trùng lặp với nhau. Tuy nhiên, nếu đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm hơn bị rút đơn hoặc bị coi là đã rút đơn ngay trong giai đoạn xét nghiệm hình thức, thì không còn được coi tình trạng kỹ thuật để xem xét khả năng đáp ứng được điều kiện tính mới của các đơn cùng lĩnh vực có ngày ưu tiên muộn hơn. Khoản 3, Điều 116 Luật sở hữu trí tuệ năm 2006 đã quy định rất rõ: Mọi đơn đăng ký sáng chế… đã rút hoặc bị coi là đã rút nếu chưa được công bố… đều được coi là chưa từng được nộp, trừ trường hợp được dùng làm căn cứ để yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.

Qua những phân tích nói trên, có thể thấy rằng, các quy định về điều kiện tính mới trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 đã có những bước phát triển mới rất đáng được ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số những điểm hạn chế nhất định, đặc biệt là trong việc xác định mức độ phổ biến của thông tin sáng chế khi được công bố phục vụ cho việc đánh giá, xét nghiệm khả năng đáp ứng yêu cầu của điều kiện tính mới của sáng chế.

2.3. Điều kiện có trình độ sáng tạo Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

2.3.1. Khái niệm

Xét dưới góc độ ngôn ngữ, sáng tạo được hiểu là kết quả của một ý tưởng, nó có thể bắt nguồn từ một sáng chế đã được đăng ký hoặc cấp văn bằng bảo hộ độc quyền, nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từ trình độ kỹ thuật hiện tại đối với những người có kỹ năng thông thường (trình độ trung bình) trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng [35, tr. 139]. Trình độ sáng tạo của một sáng chế thể hiện ở chỗ căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã biết, sáng chế yêu cầu bảo hộ khác so với những cái đã có, và sự khác biệt này phải mang tính sáng tạo (nghĩa là kết quả của ý tưởng sáng tạo), là một bước tiến (nghĩa là đáng được chú ý) đồng thời tạo ra được một khoảng cách rõ ràng mang tính “không hiển nhiên” giữa tình trạng kỹ thuật và sáng chế yêu cầu bảo hộ.

Để đánh giá một sáng chế có mang tính “không hiển nhiên” hay không thì người đánh giá phải có kỹ năng bình thường trong chuyên môn (hay “có trình độ trung bình trong lĩnh vực”); kỹ năng được áp dụng trong khi người này đánh giá phải là bình thường; và sự đánh giá này phải được thực hiện bằng việc so sánh sáng chế yêu cầu bảo hộ với tình trạng kỹ thuật đã có tương ứng với thời điểm nộp đơn. Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết.

Xét dưới góc độ pháp luật thực định, Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, đã nêu định nghĩa về trình độ sáng tạo như sau: Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ một hình thức nào ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng với những người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Để một giải pháp được cấp bằng độc quyền sáng chế thì đánh giá tính mới là chưa đủ, giải pháp kỹ thuật đó còn phải tạo ra tính khác biệt với tất cả những giải pháp kỹ thuật khác đã biết trên hai đặc tính:

Thứ nhất, phải sáng tạo, tức là giải pháp kỹ thuật được tạo ra phải có một khoảng cách đáng kể với những giải pháp kỹ thuật hiện có, phải có một bước nhảy vọt chứa đựng những yếu tố mới, nhận thức mới về các đối tượng vật chất mà chưa giải pháp kỹ thuật nào đề đến.

Thứ hai, giải pháp kỹ thuật được tạo ra không hiển nhiên, có nghĩa rằng giải pháp kỹ thuật không thể được tạo ra một cách dễ dàng với những người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Về khái niệm “người có hiểu biết trung bình”, Điểm 23.6 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN chỉ rõ: “Khái niệm người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực khoa học tương ứng được hiểu là người có các kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường là hiểu biết các kiến thức chung phổ biến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng” [6, Điểm 23.6].

Như vậy, vấn đề có trình độ sáng tạo của sáng chế được đặt ra nhằm khuyến khích sự tìm tòi, thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển. Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu so với những giải pháp kỹ thuật đã được công bố, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, mà người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực đó không thể tạo ra một cách dễ dàng được.

Từ nhận thức trên, có thể hiểu trình độ sáng tạo của sáng chế được hiểu mức độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật được công nhận là bước tiến sáng tạo và cho đến ngày ưu tiên của đơn so với trình độ kỹ thuật trong và ngoài nước, giải pháp đó không thể tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

2.3.2. Cách xác định Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Một điều kiện quan trọng khác cần phải được xác định trong quá trình xét nghiệm khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế là trình độ sáng tạo. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giải pháp kỹ thuật được coi là đạt trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở ngoài nước trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

Với một mức độ yêu cầu tương đối chặt chẽ cùng với tính chất định tính điển hình, cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới, điều kiện về trình độ sáng tạo của sáng chế theo pháp luật Việt Nam có thể được coi là khó xác định nhất trong quá trình xét nghiệm nội dung. Mặc dù cùng dựa trên một nền tảng kỹ thuật xác định (trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế), tuy nhiên, yêu cầu về trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật là một bước phát triển cao hơn rất nhiều so với yêu cầu về điều kiện tính mới. Theo đó, sáng chế được bảo hộ không chỉ phải khác biệt với những kiến thức đã được bộc lộ công khai trước đó, mà còn phải thực sự là một bước phát triển so với những hiểu biết thông thường.

Người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng ở đây phải được hiểu là một người có những kiến thức thông thường về toàn bộ lĩnh vực kỹ thuật được đề cập của sáng chế. Trình độ của họ phải đạt đến ngưỡng có khả năng cập nhật được tất cả những kiến thức mới liên quan đến lĩnh vực kỹ thuật tương ứng tính đến thời điểm ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế cũng như khả năng ứng dụng riêng rẽ hoặc kết hợp, khả năng suy luận logic thông thường từ những kiến thức tương ứng để giải quyết vấn đề kỹ thuật của sáng chế.

Giải pháp kỹ thuật của sáng chế có thể được thực hiện hoặc được tạo ra một cách dễ dàng đối với những người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng khi vấn đề kỹ thuật được sáng chế đề cập nằm trong khả năng giải quyết của các chủ thể trên, dựa trên việc ứng dụng những kiến thức đã được bộc lộ công khai trước đó. Việc ứng dụng này có thể là riêng rẽ như dựa trên khả năng kết dính của hỗn hợp tinh bột và nước để sản xuất keo dán; có thể là bằng cách kết hợp như nối mô tơ điện với máy khâu thông qua một đai truyền động để chế tạo máy khâu chạy bằng điện…; hoặc bằng cách suy luận logic một cách thông thường như tính năng sinh học của loài nấm thích hợp với môi trường có độ ẩm cao để đề xuất quy trình nuôi cấy nấm bằng cách phun nước lên các vật liệu có khả năng giữ ẩm cao… Bởi vậy, để đánh giá được khả năng đáp ứng điều kiện về trình độ sáng tạo của sáng chế được yêu cầu bảo hộ, đòi hỏi xét nghiệm viên không chỉ so sánh một cách đơn giản các tài liệu kỹ thuật đối chứng mà phải xem xét một cách toàn diện các kiến thức liên quan đến lĩnh vực kỹ thuật của sáng chế đã được bộc lộ công khai trước đó. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Sáng chế chỉ được coi là có khả năng đạt được điều kiện về trình độ sáng tạo nếu giải pháp kỹ thuật mà nó đề cập tạo ra được bước phát triển căn bản so với những hiểu biết thông thường trước đó. Sự phát triển này được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, vấn đề mà sáng chế giải quyết: Việc xác định trình độ sáng tạo của sáng chế dựa trên vấn đề mà giải pháp kỹ thuật hướng tới có phần tương đối đơn giản. Giải pháp kỹ thuật của sáng chế chỉ được coi là có khả năng đạt trình độ sáng tạo dựa trên vấn đề mà sáng chế giải quyết, nếu tính đến trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, vấn đề đó chưa từng được đặt ra hoặc chưa từng được giải quyết. Ví dụ, ngày 17 tháng 10 năm 2005, theo quyết định số A11086/QD-DK, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã tiến hành cấp Bằng độc quyền sáng chế số 5237 cho giải pháp kỹ thuật liên quan đến vấn đề sản xuất chất dẻo các nguyên liệu vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên như bã rượu, vỏ trấu, bã mía. Vấn đề kỹ thuật được đặt ra trong sáng chế chưa từng được đề cập trong lĩnh vực tương ứng tính đến ngày ưu tiên của đơn đăng kí sáng chế. Bởi vậy, nếu chỉ dựa trên những kiến thức đã được bộc lộ trước đó, người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng không có khả năng thực hiện được giải pháp được sáng chế này đề cập. Do đó, giải pháp kỹ thuật của sáng chế được coi là đạt trình độ sáng tạo. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Thứ hai, giải pháp giải quyết vấn đề được đặt ra của sáng chế: Sáng chế cũng có thể được coi là có khả năng đạt trình độ sáng tạo, ngay cả khi vấn đề kỹ thuật được giải quyết không mới, nếu giải pháp để thực hiện vấn đề kỹ thuật đó có khả năng tạo ra được sự đột phá về chất so với những kiến thức đã được công bố công khai trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế. Việc đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế trong trường hợp này là tương đối phức tạp, đòi hỏi xét nghiệm viên xem xét kỹ lưỡng không chỉ từng dấu hiệu riêng biệt mà còn phải xét nghiệm tính không hiển nhiên của việc lựa chọn và kết hợp các dấu hiệu của giải pháp kỹ thuật được đề cập. Ví dụ, việc dập ghim vào các tài liệu giấy tờ văn phòng đã được biết đến rất rộng rãi trong thực tế và cũng đã được mô tả rất cụ thể trong nhiều tài liệu công bố sáng chế trước đây. Giải pháp kỹ thuật này trước đây được thực hiện bằng việc sử dụng các thiết bị dập ghim với bộ phận tiếp lực đầu đặt ở đầu trước của thiết bị cho phép người sử dụng có thể dập ghim vào tài liệu một cách dễ dàng với một lực không lớn. Trong trường hợp này, giải pháp kỹ thuật sau đề cập đến vấn đề kỹ thuật nêu trên cũng có khả năng đạt trình độ sáng tạo nếu thiết bị dập ghim theo sáng chế được thiết kế theo một phương thức khác, nhưng vẫn đạt được hiệu quả kỹ thuật mong muốn. Trình độ sáng tạo của sáng chế cũng có thể được xem xét, mặc dù từng dấu hiệu kỹ thuật riêng rẽ của sáng chế có thể đã bị bộc lộ công khai, những sự kết hợp và sự lựa chọn các dấu hiệu kỹ thuật của sáng chế được coi là không hiển nhiên đối với người có hiểu biết thông thường trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Ví dụ, sáng chế đề cập đến loại găng tay có khả năng lồng vào nhau hai lần dùng trong lĩnh vực y tế được sản xuất từ các loại cao su nitril được carboxy hóa và nhựa butadiene styrene được carboxy hóa. Việc sử dụng riêng rẽ hai loại nhựa nêu trên để chế tạo găng tay có khả năng lồng vào nhau hai lần để được biết đến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Tuy nhiên, sáng chế vẫn có thể được coi là có trình độ sáng tạo nếu việc kết hợp hai chất liệu nêu trên vào trong một hỗn hợp chung, với những tỷ lệ nhất định để tạo ra một vật liệu có tính năng đặc biệt hữu hiệu cho việc sản xuất loại găng tay này nằm ngoài khả năng thực hiện đối với những người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

Thứ ba, kết quả được bảo đảm bởi việc áp dụng giải pháp kỹ thuật của sáng chế: Hiệu quả kỹ thuật của sáng chế sẽ được xem xét để đánh giá trình độ sáng tạo khi hai khía cạnh trên đây của giải pháp kỹ thuật được coi là hiển nhiên đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng. Theo đó, giải pháp được đề cập của sáng chế cần thiết phải đạt được những hiệu quả kỹ thuật có tính chất bất ngờ. Đây chính là điểm khác biệt căn bản nhất giữa việc đánh giá tính mới về tính sáng tạo của sáng chế. Ví dụ, một tài liệu công bố đơn đã mô tả cách thức để hạn chế những sự bất tiện trong việc nấu nướng do dầu mỡ bị dây vào các vật dụng nấu nướng như thìa, dĩa, bàn xẻng bằng cách dùng một cơ cấu kẹp giữ nhằm làm cố định thìa dĩa vào cán chảo. Cơ cấu này được thiết kế như một bộ phận độc lập, tách rời hoàn toàn, cán chảo. Trong khi đó, để đạt được mục đích nêu trên, giải pháp kỹ thuật đăng ký bảo hộ sáng chế đã đề xuất phương thức gắn dụng cụ nấu nướng lên bề mặt cán chả.Theo đó, thìa, dĩa hoặc bàn xẻng sẽ được cố định lên cán chảo thông qua một cơ cấu giữ có sử dụng nam châm được thiết kế nối liền với cán chảo. Trong trường hợp này, giải pháp kỹ thuật của sáng chế có thể đạt được tính mới, do tồn tại ít nhất một dấu hiệu kỹ thuật không được bộc lộ trong các nguồn thông tin đối chứng là mối nối liền giữa cơ cấu giữ và cán chảo. Tuy nhiên, so với giải pháp kỹ thuật của tài liệu đối chứng, dấu hiệu khác biệt nêu trên không tạo được một hiệu quả kỹ thuật có tính chất bất ngờ.

Trong trường hợp khác, mặc dù không tồn tại sự khác biệt về các khía cạnh liên quan đến vấn đề kỹ thuật được giải quyết và phương thức để giải quyết vấn đề kỹ thuật, nhưng sáng chế vẫn có thể đạt được trình độ sáng tạo nếu việc áp dụng các phương án của sáng chế có khả năng tạo ra những bước phát triển đột biến về hiệu quả kỹ thuật. Chẳng hạn, việc tạo ra một loại chất dẻo có khả năng đàn hồi từ nhựa nitril được cacboxy hóa đã được công bố công khai trong khá nhiều tài liệu công bố đơn sáng chế. Lượng nhựa nitril được cacboxy hóa được sử dụng trong hỗn hợp nhựa để sản xuất chất dẻo theo hiểu biết thông thường nằm trong khoảng từ 30% đến xấp xỉ 50%. Giải pháp kỹ thuật được đề cập trong đơn đăng ký sáng chế sau đó cũng hướng tới việc sử dụng nhựa nitril được cacbonxy hóa nói trên để tạo ra chất dẻo có độ đàn hồi cao. Tuy nhiên, tỷ lệ nitril được cacboxy hóa trong hỗn hợp nhựa chỉ nằm trong khoảng không quá 5%. Hiệu quả kỹ thuật đạt được từ việc áp dụng phương pháp nói trên là có thể sản xuất một loại chất dẻo có tính đàn hồi rất cao, đồng thời, khắc phục được tình trạng bị đông cứng lại trong điều kiện nhiệt độ xuống thấp của chất dẻo thông thường được sản xuất theo phương án kỹ thuật đã được bộc lộ trước đó. Trong trường hợp này, phương pháp giải quyết vấn đề kỹ thuật là không khác biệt nhiều, tuy nhiên hiệu quả kỹ thuật đạt được có thể được coi là một bước phát triển có tính chất đột phá. Do vậy, nếu chỉ dựa vào những kiến thức đã được bộc lộ trước đó, người có hiểu biết thông thường về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng không thể thực hiện được giải pháp kỹ thuật của sáng chế. Do đó, sáng chế này có khả năng đạt trình độ sáng tạo [44, tr.46] Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

  • Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ còn quy định các trường hợp cụ thể xác định sáng chế không đạt trình độ sáng tạo:

Thứ nhất, sáng chế không đạt trình độ sáng tạo nếu sáng chế đó yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế khác các sáng chế khác đã biết bởi việc sử dụng vật liệu theo các tính chất đã biết của các vật liệu hoặc nếu sử dụng công nghệ đã biết trong lĩnh vực kỹ thuật tương tự. Ví dụ: Giải pháp kỹ thuật yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế được thể hiện là nguồn xung điện dùng để điều khiển động cơ điện của cần trục và hệ thống điều khiển như vậy trước đó đã được sử dụng để điều khiển chuyển động của toa tàu.

Thứ hai, sáng chế yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế không được coi là có trình độ sáng tạo nếu nó được thể hiện bởi sự ghép nối các cơ cấu hay quá trình thực hiện chức năng bằng phương pháp thông thường và có dạng liên kết rõ ràng. Ví dụ: Máy sản xuất giò có kết cấu gồm máy xay thịt đã biết và máy hấp thịt đã biết đặt cạnh nhau.

Thứ ba, sáng chế yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế không đạt trình độ sáng tạo nếu chỉ chọn một trong số các khả năng loại trừ nhau. Ví dụ: Giải pháp liên quan tới các quá trình hóa học đã biết, trong đó hỗn hợp được đun nóng bằng điện năng. Đã biết các phương án cấp điện năng khác nhau, việc chọn một trong số các phương án cấp điện năng khác nhau, việc chọn một trong số các phương án đó được coi là không đạt trình độ sáng tạo.

Việc chọn một chế độ thực hiện một công đoạn nhờ thử nghiệm không được coi là sáng tạo nếu việc đó không đưa đến kết quả bất ngờ. Không thỏa mãn trình độ sáng tạo nếu giải pháp kỹ thuật được tạo ra bằng cách nội suy và ngoại suy.

Trong các trường hợp sau, ứng với một điểm thuộc phạm vi bảo hộ, sáng chế được coi là không có trình độ sáng tạo:

  • Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt mang tính hiển nhiên (bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng cũng biết rằng để thực hiện chức năng đã định hoặc để đạt được mục đích đã định tất yếu phải sử dụng tập hợp các dấu hiệu đó và ngược lại khi sử dụng tập hợp các dấu hiệu đó thì tất yếu phải đạt được mục đính hoặc thực hiện được chức năng tương ứng) Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.
  • Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt đã được bộc lộ dưới dạng đồng nhất hoặc tương đương trong một/một số giải pháp kỹ thuật nào đó đã biết trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc;
  • Giải pháp kỹ thuật là sự kết hợp đơn giản của các giải pháp kỹ thuật đã biết với chức năng, mục đích và hiệu quả cũng là sự kết hợp đơn giản chức năng, mục đích và hiệu quả của từng giải pháp kỹ thuật đã biết.

Để đánh giá một sáng chế không đạt trình độ sáng tạo đòi hỏi thẩm định viên phải là người có kiến thức, hiểu biết đối với lĩnh vực đó. Thực tế có thể xảy ra trường hợp sáng chế không đạt trình độ sáng tạo lại được cấp bằng độc quyền và ngược lại. Nhất là khi pháp luật SHTT quy định cả giải pháp hữu ích được cấp bằng độc quyền, mà đối với giải pháp hữu ích trình độ sáng tạo không phải là một điều kiện bảo hộ thì cần thiết phải có sự đánh giá chuẩn xác, minh bạch.

Nhìn chung, quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến điều kiện trình độ sáng tạo của sáng chế tương hợp với các quy định của pháp luật quốc tế. Đây sẽ là một thuận lợi căn bản trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Tuy nhiên, như đã được phân tích trên đây, việc xác định điều kiện trình độ sáng tạo của sáng chế là tương đối phức tạp, phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn của xét nghiệm viên. Do vậy, việc quy định một cách cụ thể về các khía cạnh cần được xem xét đối với sáng chế liên quan đến quy trình xác định trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật trong các văn bản hướng dẫn thi hành là điều hết sức cần thiết.

2.4. Điều kiện có khả năng áp dụng công nghiệp

2.4.1. Khái niệm Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

“Khả năng áp dụng công nghiệp” là một thuật ngữ được sử dụng nhằm để chỉ khả năng chế tạo, sản xuất hoặc khả năng thực hiện hay sử dụng trong thực tiễn của sáng chế. Đây là một trong những tiêu chí bảo hộ sáng chế có lịch sử hình thành và pháp triển từ rất lâu đời. Ngay từ đạo luật đầu tiên trên thế giới về bảo hộ sáng chế, yêu cầu về khả năng thực hiện trong thực tế của giải pháp kỹ thuật được tạo ra. Đạo luật Venice năm 1474 đã quy định rất rõ: “bất kỳ người nào sáng tạo ra những cỗ máy mới trong thành phố, chưa từng được biết đến trong xã hội chúng ta, khi đã hoàn thiện và có thể sử dụng trên thực tế thì có thể trình diện trên hội đồng thành phố. Trong thời hạn 10 năm, không bất kỳ một vùng lân cận được quyền chế tạo ra loại cỗ máy giống hoặc tương tự, nếu không được sự cho phép cả nhà sáng chế”.

Trong đó, thuật ngữ “công nghiệp” được sử dụng trong tiêu chí khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế có ý nghĩa đặc định dùng để phản ánh khả năng thực hiện giải pháp kỹ thuật của sáng chế bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định nào đó. Theo Mục 4.1, Chương IV, Phần C, Điều lệ xét nghiệm sáng chế của Uỷ ban sáng chế Châu Âu (EPO), thuật ngữ “công nghiệp” được dùng để chỉ tất cả các hoạt động thực tiễn, bao gồm không chỉ việc sử dụng máy móc, vận hành sản xuất mà còn bao gồm cả các quy trình khác như quy trình làm phân tán sương mù hoặc quy trình chuyển hoá năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Điểm 4.1, Chương IV trong tài liệu hướng dẫn về xét nghiệm sơ bộ quốc tế các đơn PCT cũng đã chỉ dẫn rất rõ: Thuật ngữ công nghiệp được hiểu với ý nghĩa bao hàm tất cả các hoạt động thực tiễn của xã hội, trừ những hoạt động mang tính nghệ thuật. Theo đó, khả năng áp dụng của sáng chế sẽ không được xem xét trong các lĩnh vực thuộc về hoạt động tinh thần của con người.

Một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu nó có thể được sử dụng, sản xuất với một quy mô kỹ thuật nhất định. Các giải pháp kỹ thuật mang tính chất tự biện thuần tuý hoặc đi ngược lại với các quy luật của tự nhiên như động cơ vĩnh cửu hoặc giải pháp chống lại hiện tượng thủng tầng ôzôn bằng cách chế tạo một lớp màng ngăn bằng chất dẻo bao trùm toàn bộ trên bầu khi quyển trái đất… sẽ không được bảo hộ sáng chế vì không có khả năng thực hiện trong thực tế… Ngoại lệ, có một số giải pháp kỹ thuật mặc dù hoàn toàn có khả năng thực hiện được trên thực tế nhưng vẫn bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp. Pháp luật về bảo hộ sáng chế của không ít quốc gia trên thế giới không đánh giá khả năng áp dụng công nghiệp của các sáng chế chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân của một người nào đó hoặc chỉ có khả năng thực hiện được đối với một cá nhân cụ thể nào đó. Ví dụ như các sáng chế liên quan đến phương pháp sử dụng chế phẩm làm thụ thai (Cơ quan sáng chế châu Âu), phương pháp hút thuốc (Nhật Bản), phương pháp đặt khớp giày trượt tuyết vào ván trượt (Thuỵ Sỹ)… Quy định loại trừ này có ý nghĩa nhằm đảm bảo khả năng áp dụng rộng rãi và/hoặc tái sản xuất hàng loạt của các giải pháp kỹ thuật của sáng chế. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Khả năng áp dụng công nghiệp hay việc áp dụng sáng chế với các phương tiện kỹ thuật trong một phạm vi nhất định được hiểu là sáng chế không thể đơn thuần là lý thuyết, mà phải có khả năng thực hiện được trong thực tế. Nếu như một sáng chế nhằm vào một sản phẩm hoặc một chi tiết của sản phẩm, thì sản phẩm đó phải có khả năng làm được. Nếu như một sáng chế nhằm vào một quy trình hoặc một phần của quy trình, thì sáng chế đó phải có khả năng thực hiện được trong thực tế.

Xét dưới góc độ pháp luật thực định, sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả định [3, Điều 62]. Như vậy, để được cấp bằng độc quyền sáng chế, một giải pháp kỹ thuật phải có khả năng áp dụng cho các mục đích thực tế chứ không phải thuần túy lý thuyết. Nếu sáng chế là sản phẩm hay một phần sản phẩm thì sản phẩm đó phải có khả năng sản xuất. Nếu sáng chế đó là một quy trình hay một phần quy trình thì quy trình đó phải có khả năng thực hiện hay sử dụng quy trình đó trong thực tiễn.

Để xác định khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế, có thể dựa vào những tiêu chí:

  • Lĩnh vực sử dụng giải pháp, tức là một ngành cụ thể như công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa… thường là giải pháp kỹ thuật nảy sinh do một nhu cầu nào đó của một ngành cụ thể và nó sử dụng, giải pháp được coi là vô ích và do đó có tính thực tiễn;
  • Các điều kiện kỹ thuật hoặc phương tiện vật chất cần và đủ để thực hiện giải pháp. Đối với sáng chế, các điều kiện này không chỉ tồn tại trong hiện tại mà cả trong tương lai, ở Việt Nam và ở cả nước ngoài;
  • Các điều kiện kỹ thuật hoặc các phương tiện vật chất cần và đủ để thực hiện giải phải pháp được hiểu là tập hợp các chỉ dẫn và phương tiện vật chất cần phải sử dụng để thể hiện chỉ dẫn đó.

Như vậy, giải pháp kỹ thuật được công nhận là có khả năng áp dụng nếu nó được tạo ra và mô tả một cách chi tiết đến mức mà nếu muốn bất kỳ chuyên gia thuộc lĩnh vực của giải pháp đó, theo các chỉ dẫn và nhờ các phương tiện vật chất được đề xuất đều phải thực hiện được giải pháp và bất kỳ đâu, trong các điều kiện như nhau đều đạt được mục đích và kết quả đúng như mô tả trong đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế. Vì vậy có thể gọi đây là điều kiện về tính hữu ích của sáng chế.

Từ nhận thức trên, có thể hiểu khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế là giải pháp kỹ thuật được mô tả trong sáng chế, giải pháp hữu ích, có thể thực hiện được giải pháp đó trong việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm, khả năng thực hiện hay sử dụng trong thực tiễn của sáng chế hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và đạt được kết quả ổn định.

2.4.2. Cách xác định

Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam yêu cầu giải pháp kỹ thuật đăng ký bảo hộ sáng chế buộc phải có khả năng áp dụng công nghiệp. Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được một kết quả ổn định. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Thuật ngữ “công nghiệp” được sử dụng ở đây không có ý nghĩa giới hạn khả năng áp dụng của sáng chế trong một ngành công nghiệp nhất định, mà có thể được hiểu một cách rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực kỹ thuật của cuộc sống. Theo đó, nếu đối tượng của giải pháp kỹ thuật là một thiết bị, một hợp chất hóa học hay một bộ phận, chi tiết máy như thiết bị phát sóng điện có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các tế bào xương ở động vật có vú hoặc chế phẩm diệt nấm có tác dụng hiệp đồng, thì phải đảm bảo được khả năng có thể sản xuất được một cách hàng loạt với các tính năng và đặc điểm như đã được mô tả trong yêu cầu bảo hộ của sáng chế. Trong trường hợp đối tượng được đề cập của sáng chế là phương pháp hay quy trình như phương pháp nhập các ký tự tượng hình thông qua bàn phím số hoặc quy trình chế biến thức ăn gia súc, gia cầm có khả năng được bảo quản trong thời gian dài thì phải đảm bảo các phương pháp, hay quy trình đó có thể được áp dụng lặp đi lặp lại với các kết quả ổn định.

Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế phải là khả năng thực hiện giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ trong điều kiện thực tế với trình độ khoa học công nghệ hiện tại hoặc tương lai. Điều kiện thực tế bao gồm tất cả các điểm lý-hóa-sinh của môi trường sống cùng với tất cả các quy luật vận động khách quan của tự nhiên và xã hội. Do đó, nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây, giải pháp kỹ thuật của sáng chế sẽ bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp:

Thứ nhất, những giải pháp kỹ thuật có nội dung rõ ràng đi ngược lại với các quy luật khách quan của tự nhiên, hoặc dựa trên những đặc tính không thể có trên tự nhiên đều được coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp. Chẳng hạn, giải pháp kỹ thuật của sáng chế đề cập đến một loại dược phẩm có khả năng ngăn chặn được sự tự phân chia của các tế bào trong cơ thể của động vật có vú, qua đó có thể chữa trị được các căn bệnh ung thư. Sáng chế này không có khả năng áp dụng công nghiệp, bởi khoa học đã chứng minh được rằng, sự tự phân chia của các tế bào chính là kết quả tất yếu của quá trình trao đổi chất trong cơ thể sống. Do vậy, con người chỉ có thể đạt đến mức ức chế hoặc làm chậm lại sự phát triển của các tế bào ung thư mà không thể đạt được việc ngăn chặn hoàn toàn sự phát triển của chúng.

Thứ hai, giải pháp kỹ thuật của sáng chế cũng được coi là không có khả năng thực hiện được nếu đối tượng được đề cập bao gồm các thành phần không có mối liên hệ kỹ thuật với nhau hoặc không thể liên hệ ghép nối, ràng buộc, phụ thuộc vào nhau hoặc đối tượng của giải pháp kỹ thuật theo sáng chế chứa đựng những mâu thuẫn nội tại, khiến cho kết quả được mô tả trong đơn không thể đạt được. Đây là những trường hợp giải pháp kỹ thuật của sáng chế đề cập đến những thiết bị hoặc các hợp chất mà bộ phận cấu thành hoặc các chất tham gia phản ứng mang những tính trái ngược có khả năng làm triệt tiêu hoàn toàn chức năng kỹ thuật của nhau. Ví dụ, đối tượng của sáng chế là một phích cắm điện bao gồm hai lá cắm được bọc một lớp nhựa polyme mỏng có tác dụng cách điện. Hai bộ phận này có các chức năng kỹ thuật triệt tiêu lẫn nhau do đó hoàn toàn không có khả năng liên hệ được với nhau trong cùng một chỉnh thể để thực hiện được một chức năng thống nhất.

Thứ ba, giải pháp kỹ thuật chỉ có thể được thực hiện với giới hạn số lần nhất định. Điều này có nghĩa là không thể thu được đặc tính kỹ thuật của đối tượng theo sáng chế một cách phổ biến và hàng loạt. Bởi vậy, những giải pháp kỹ thuật đề cập đến những đối tượng có khả năng áp dụng cho một cá nhân nhất định hoặc những đối tượng được tạo ra theo một trình tự mang tính ngẫu nhiên đều không được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp. Chẳng hạn, các sáng chế đề cập đến đối tượng là trình tự gen người hoặc động vật, các đối tượng mang những yếu tố đặc định bởi thông tin di truyền của mỗi cá thể thì không có khả năng áp dụng hàng loạt, và do đó, không có khả năng áp dụng công nghiệp.

Thứ tư, những giải pháp kỹ thuật chỉ có thể thực hiện được với điều kiện người thực hiện phải có những kỹ năng đặc biệt và các kỹ năng đó không có khả năng truyền thụ lại được hoặc giải pháp kỹ thuật thiếu những thông tin chỉ dẫn cần thiết để có thể thực hiện được. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

Như vậy, điều kiện về khả năng áp dụng công nghiệp theo pháp luật Việt Nam chỉ tập trung vào khía cạnh khả năng áp dụng thực tế của giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ. Các yếu tố liên quan đến tính hữu ích, khả năng khai thác thương mại, kinh tế, xã hội hay khoa học không được xem xét đến. Chẳng hạn, đối tượng của giải pháp kỹ thuật theo sáng chế là một hợp chất không ổn định, có tính chất hóa học thay đổi liên tục theo sự lên xuống của nhiệt độ, độ ẩm, từ trường của môi trường xung quanh hoặc là thiết bị dùng để đọc và phân loại tem phiếu phân phối thực phẩm… Mặc dù các đối tượng này có khả năng đáp ứng tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng theo đúng các điều kiện bảo hộ sáng chế, nhưng giá trị về mặt kinh tế, xã hội của chúng thì không được đảm bảo. Bởi tính năng của các đối tượng này không ứng dụng được vào một mục đích nào cụ thể hoặc mục đích sử dụng của chúng không còn ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội.

Kết luận chương 2

Với những nhận thức về một số vấn đề lý luận về sáng chế, điều kiện bảo hộ sáng chế tại chương 1, tại chương 2, luận văn đã làm rõ các vấn đề cơ bản nhất của pháp luật thực định sở hữu trí tuệ về điều kiện bảo hộ sáng chế bao gồm phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế, điều kiện bảo hộ sáng chế: điều kiện về tính mới, điều kiện về trình độ sáng tạo và điều kiện về khả năng áp dụng công nghiệp. Trong các điều kiện bảo hộ sáng chế, bên cạnh việc phân tích, đưa ra khái niệm về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế, luận văn còn tập trung phân tích, làm rõ nét việc xác định tính mới, xác định trình độ sáng tạo và xác định khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế, góp phần nhận diện sâu sắc về điều kiện bảo hộ sáng chế hiện nay, từ đó sẽ góp phần nhận diện những khó khăn, bất cập trong các quy định về sáng chế, điều kiện bảo hộ sáng chế tại chương 3. Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế

One thought on “Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

  1. Pingback: Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464