Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ (KH & CN) cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước. Mặc dù nước ta còn nghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH & CN trong cả nước, tiềm lực KH & CN đã được tăng cường, KH & CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, trình độ KH & CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực; năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. KH & CN nước ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của KH & CN và kinh tế tri thức trên thế giới.
Thách thức lớn nhất trong phát triển kinh tế- xã hội của nước ta hiện nay là sự yếu kém về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp của nền kinh tế, dẫn đến nguy cơ kéo dài tình trạng tụt hậu của nước ta so với các nước trong khu vực và khó có thể thực hiện được mục tiêu CNH, HĐH. Điều này đòi hỏi KH & CN phải góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Để thực hiện mục tiêu trên, một trong những biện pháp mà Đảng và nhà nước ta đang thực hiện là khuyến khích hoạt động sáng tạo thông qua hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế.
Ý nghĩa căn bản của việc bảo hộ độc quyền sáng chế là nó tạo ra động lực kích thích phát triển kinh tế, công nghệ và thúc đẩy cạnh tranh thông qua việc tác động đến động lực tài chính của hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, độc quyền sáng chế không được trao trên cơ sở tích cực lao động hay chi phí sáng tạo lớn mà được cấp trên cơ sở những điều kiện hết sức nghiêm ngặt về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Do vậy, việc xây dựng một hệ thống điều kiện bảo hộ sáng chế hợp lý trong pháp luật của quốc gia có thể coi là chìa khóa để khởi động quy trình sáng tạo và thông qua đó kích thích sự phát triển kinh tế.
So với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, lịch sử hình thành và xây dựng pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ độc quyền sáng chế nói riêng ở nước ta còn tương đối non trẻ. Khởi đầu từ Nghị định số 31/CP ngày 23-01-1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và sáng chế đến Luật sở hữu trí tuệ năm 2006, các quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế ở nước ta đã và đang từng bước hoàn thiện.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền kinh tế đang có bước chuyển mình mạnh mẽ sang thời kỳ hậu công nghiệp, nền kinh tế trí thức đang dần được hình thành thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ sáng chế nói riêng càng quan trọng. Có thể nói số lượng đơn đăng ký bảo hộ sáng chế và số bằng sáng chế đã được cấp đã trở thành một tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển khoa học công nghệ cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế của một quốc gia.
Với ý nghĩa thực tiễn và lý luận quan trọng đó, tác giả chọn đề tài Điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định pháp luật Việt Nam là đề tài luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của điều kiện bảo hộ sáng chế, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu như vậy, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Làm rõ bản chất pháp lý của điều kiện bảo hộ sáng chế, vai trò của nó trong hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế cũng như ý nghĩa của nó đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật ở nước ta.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế và sử dụng sáng chế của Việt Nam, đồng thời có sự so sánh tương quan thực tiễn bảo hộ sáng chế với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác.
- Dựa trên sự phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả tìm ra nguyên nhân và đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về điều kiện bảo hộ sáng chế, từ đó góp phần vào việc gia tăng các đơn đăng ký bảo hộ độc quyền sáng chế ở Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý luận về nhận thức của triết học Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật. Đồng thời, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn khi nghiên cứu đề tài này.
5. Kết cấu của Đề tài
- Chương 1. Lý luận chung về sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế
- Chương 2. Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
- Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế và một số giải pháp hoàn thiện
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ
1.1. Khát quát chung về sáng chế
1.1.1. Khái niệm Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Sáng chế là một khái niệm dùng để chỉ những giải pháp kỹ thuật mới do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong hoạt động lao động sản xuất của con người. Trong đó, giải pháp kỹ thuật được hiểu là một phương thức để giải quyết một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực kỹ thuật hoặc có thể hiểu giải pháp kỹ thuật là cơ cấu, phương pháp hay chất mới hay sử dụng cơ cấu, phương pháp cũ theo chức năng mới [30, tr. 116], nó được thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình giải quyết một vấn đề được xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [3, Điều 4]. Nói một cách khác, giải pháp kỹ thuật hướng đến mục tiêu làm chủ thiên nhiên của con người. Một đối tượng sẽ được coi là giải pháp kỹ thuật nếu nó tạo điều kiện cho con người khai thác thế giới tự nhiên và thông qua đó thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Quá trình này có thể được diễn ra bằng cách tận dụng các nguồn lực hoặc các quy luật của tự nhiên như bằng cách tác động trực tiếp vào thiên nhiên.
Cùng với những tiến bộ và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thế giới, khái niệm sáng chế cũng đang được liên tục mở rộng. Sáng chế không đơn giản chỉ bao hàm các công cụ, máy móc hữu hình mà còn là cả các quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật của tự nhiên. Thậm chí, ở một số quốc gia, khái niệm sáng chế đã được mở rộng ra đến mức vượt ra khỏi quan điểm truyền thống về “bản chất kỹ thuật” của sáng chế vốn đã được biết đến rộng rãi ở các nước. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, phương pháp kinh doanh được coi là sáng chế và được bảo hộ độc quyền. Theo kết quả tổng kết của cơ quan sáng chế Hoa Kỳ (USPTO), số các giải pháp kinh doanh được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ năm 1996 là 700. Đến năm 2000, con số này đã lên đến 2600. Kể từ ngày 1/8/2000, Hàn Quốc cũng đã chính thức thừa nhận phương pháp kinh doanh như là một đối tượng có khả năng được bảo hộ sáng chế…
Dưới góc độ pháp luật quốc tế, sáng chế với tên tiếng Anh là Invention, theo tài liệu do WIPO phát hành được định nghĩa: “Sáng chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật” [25].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển Luật học có định nghĩa: “Sáng chế được hiểu là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có tính sáng tạo và có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội” [32, tr. 665]. Ngoài ra, theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, sáng tạo và áp dụng được” [34].
- Dưới góc độ pháp luật thực định Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 định nghĩa: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” [32, Điều 4, Khoản 12]. Quy định này giống như các văn bản pháp luật trước đó quy định về khái niệm sáng chế thì sáng chế phải là một giải pháp kỹ thuật, tức là phải góp phần giải quyết một số vấn đề kỹ thuật cụ thể. Tuy nhiên, khái niệm trong Luật SHTT năm 2005 đã bổ sung thêm dạng thức thể hiện của sáng chế đó là sản phẩm hoặc quy trình và phải nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Ví dụ: Việc tìm ra chất kháng sinh chưa phải là một sáng chế vì chất này có sẵn trong tự nhiên và không là giải pháp cho một vấn đề cụ thể.
Nhưng nếu dùng chất đó để tạo ra thuốc kháng sinh Penicilin thì việc làm này nhằm mục đích chữa bệnh, và loại thuốc này được coi là sáng chế.
Như vậy, dưới các góc độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau, nhưng suy cho cùng sáng chế được tồn tại chủ yếu thông qua 02 dạng của giải pháp kỹ thuật là sản phẩm và quy trình, thông qua đó, chúng đã tạo điều kiện cho xã hội loài người trải qua những bước phát triển tột bậc, ngày càng văn minh và hiện đại. Có thể nói, sáng chế là đó sự thỏa thuận của xã hội đối với các nhà phát minh [35, tr. 131]. Theo đó, trong một thời hạn nhất định, “nhà phát minh” được độc quyền ngăn cấm người khác không được sao chép, sử dụng hoặc bán một sáng chế đã được cấp văn bằng bảo hộ. Đổi lại, “nhà phát minh” sẽ công bố các chi tiết của sáng chế cho công chúng biết. Hệ thống cấp bằng sáng chế là phần thưởng của xã hội dành cho những nỗ lực sáng tạo của nhà phát minh, đồng thời cũng là kênh quan trọng để cập nhật tri thức nhân loại từ những phát minh đó.
1.1.2. Đặc điểm sáng chế
Thứ nhất, sáng chế là giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được một vấn đề cụ thể bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên.
Sáng chế là sản phẩm, quy trình công nghệ, do con người tạo ra, không phải là những gì (đã tồn tại trong thiên nhiên) được con người phát hiện ra và thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật, bởi vì sáng chế là giải pháp kỹ thuật, tức là biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết một vấn đề và việc giải quyết vấn đề này được thể hiện bằng việc áp dụng quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên là những quy luật khoa học của tự nhiên được khám phá thông qua thực nghiệm. Như vậy, những ý tưởng hoặc ý đồ chỉ nêu vấn đề mà không đưa ra cách giải quyết vấn đề không được bảo hộ là sáng chế; hoặc vấn đề được giải quyết không phải là vấn đề kỹ thuật hoặc không giải quyết được bằng cách thức kỹ thuật thì cũng không được coi là sáng chế.
Sáng chế không tồn tại trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Tuy nhiên các nhà khoa học xã hội phải bàn tới sáng chế khi phân tích ý nghĩa kinh tế – xã hội, pháp lý của nó. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
- Thứ hai, sáng chế có thể tồn tại dưới dạng: sản phẩm hoặc quy trình.
Giải pháp kỹ thuật được hiểu là biện pháp để giải quyết một vấn đề mang đặc tính kỹ thuật, giải pháp kỹ thuật có thể là sản phẩm hoặc quy trình, trong đó:
Sáng chế là sản phẩm bao gồm: (i) Sản phẩm dưới dạng vật thể: Được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu, chi tiết về kết cấu. Các dấu hiệu, chi tiết này liên kết với nhau để thực hiện một chức năng, công dụng nhất định nhằm đáp ứng một nhu cầu con người. Ví dụ: Dụng cụ, máy móc, thiết bị… (ii) Sản phẩm dạng chất thể: Được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu, đặc điểm về sự hiện diện, tỷ lệ và trạng thái các phân tử tạo thành và có một chức năng nhất định. Ví dụ: Vật liệu, chất liệu, thực phẩm… (iii) Sản phẩm dạng vật liệu sinh học: Được thể hiện bằng tổng hợp các thông tin về một sản phẩm có chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người; có khả năng tự tái tạo lại. Ví dụ: Gen thực vật, gen động vật…
Sáng chế là quy trình được thể hiện bằng tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, công việc được xác định bằng các đặc điểm về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định như: Quy trình công nghệ, phương pháp chuẩn đoán, dự đoán, kiểm tra…
Theo bảng phân loại sáng chế Quốc tế (IPC) sáng chế còn có thể chia thành 8 lĩnh vực: (i) Dụng cụ thiết yếu cho con người; (ii) Quy trình công nghệ, giao thông vận tải; (iii) Hóa học, luyện kim; (iv) Dệt may, giấy; (v) Xây dựng; (vi) Máy cơ khí, chiếu sáng, nhiệt, vũ khí, chất nổ; (vii) Cơ học; (viii) Đồ điện.
Thứ ba, sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có giá trị thương mại và mang lại lợi ích kinh tế cho chính chủ sở hữu của sáng chế.
Trên cơ sở sự sáng tạo, sức lao động bỏ ra, sáng chế với những giải pháp kỹ thuật được hình thành và bảo hộ được áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời nó cũng đem lại giá trị kinh tế cho chính chủ sở hữu sáng chế, bởi họ chính là “nhà phát minh” ra sáng chế.
1.2. Phân biệt sáng chế với một số đối tượng khác Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
1.2.1. Phân biệt sáng chế với phát minh
Xét dưới góc độ ngôn ngữ, phát minh được hiểu một cách đơn thuần là việc tìm ra cái có cống hiến lớn cho khoa học và loài người [33, tr.768]. Ở cấp độ cao hơn, theo từ điển Bách khoa Việt Nam, phát minh được hiểu là sự phát hiện một vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phát minh thường gắn với những nghiên cứu khoa học cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo tác giả Vũ Cao Đàm, phát minh được hiểu là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người.
Như vậy, trên thực tế, khái niệm sáng chế và phát minh có một số điểm tương đồng nên thường bị nhầm lẫn. Tuy nhiên, trong tài liệu chính thức của tổ chức WIPO phát hành có khẳng định: sáng chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật. Điều này khác với phát minh, đó là những cái tồn tại mà chưa tìm ra được. Có thể phân biệt sáng chế với phát minh thông qua một số nội dung sau cụ thể sau:
Thứ nhất, về yếu tố tính mới: phát minh chỉ có trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã tồn tại khách quan (bởi vậy không có tính mới), trong khi đó thuộc tính quan trọng nhất bắt buộc phải có của sáng chế là tính mới.
Thứ hai, về giá trị giải thích sự vật, hiện tượng: phát minh đó là sự phát hiện một vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới, do đó nó có khả năng giải thích thế giới, giải thích sự phát triển của sự vật, hiện tượng, trong khi đó sáng chế không có khả năng này.
Thứ ba, về khả năng áp dụng trực tiếp: phát minh mới chỉ dừng lại ở sự “phát hiện” mang tính chất sơ khai nhất, nên chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất đời sống, nhưng sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên có khả năng áp dụng trực tiếp vào đời sống xã hội, đem lại những giá trị thương mại – kinh tế. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, về giá trị thương mại, phát minh không có giá trị thương mại, bởi đơn thuần nó chưa được áp dụng trực tiếp vào sản xuất đời sống, trong khi đó sáng chế lại có đặc tính này, người ta có thể mua, bán sáng chế. Ví dụ: Năm 1982, kỹ sư người Đức Rudolf Diesel phát minh ra động cơ diesel. Do tính ưu việt của động cơ này mà người ta có thể ứng dụng nó vào sáng chế tạo ra các loại máy móc được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành giao thông vận tải. Như vậy, động cơ Diesel là phát minh, còn máy móc chạy bằng động cơ diesel là sáng chế.
1.2.2. Phân biệt sáng chế với mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích
Xét dưới góc độ pháp luật quốc tế, mẫu hữu ích/giải phát hữu ích tên tiếng Anh là Utility Model, nó được pháp luật một số quốc gia quy định cụ thể, trong đó, sáng chế có thể được bảo hộ dưới dạng “mẫu hữu ích”. Tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà “mẫu hữu ích” có thể được gọi là “giải pháp hữu ích” hoặc “sáng chế nhỏ”… Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, “mẫu hữu ích” đề cập đến hình dạng của sản phẩm, cơ cấu, hoặc sự kết hợp của họ về các giải pháp kỹ thuật thực tế, còn được gọi là Gizmo hoặc bằng sáng chế nhỏ. Đó là mức độ sáng tạo và kỹ thuật thấp hơn so với các bằng sáng chế, nhưng giá trị thực tế tuyệt vời để có bằng sáng chế về việc phê duyệt đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian bảo vệ, giảm phí cách để bảo vệ chúng. Trên mẫu hữu ích, một số quốc gia không phản đối bảo hộ sáng chế của nó như là một riêng biệt, nhưng sẽ được đặt để bảo vệ bằng sáng chế phát minh của họ. Hơn nữa, một số quốc gia được phân loại như các đối tượng độc lập bảo vệ bằng sáng chế mẫu hữu ích, mô hình tiện ích này chủ yếu đề cập Gizmo. Còn “giải pháp hữu ích” được hiểu là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giải pháp được coi là mới nếu nó chưa được bộc lộ công khai trên thế giới dưới bất kỳ hình thức nào đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện được ngay [32, tr. 286]. Như vậy, xét dưới góc độ hình thức bên ngoài, sáng chế và mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích có nhiều điểm tương đồng, như: (i) đều có tính mới; (ii) đều có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội; có giá trị thương mại; (iii) đều được pháp luật bảo hộ… Tuy nhiên, trên thực tế, sáng chế và mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích vẫn tồn tại những điểm khác biệt nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, về mức độ bảo hộ, các yêu cầu để mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích được bảo hộ với mức độ ít nghiêm ngặt hơn so với sáng chế. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, về thời hạn bảo hộ, thời hạn bảo hộ đối với mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích ngắn hơn so với thời gian bảo hộ sáng chế (thường là 7 đến 10 năm, tùy thuộc vào quy định của pháp luật của mỗi quốc gia).
Thứ ba, về phạm vi bảo hộ, điều này được thể hiện mỗi quốc gia mẫu hữu ích/giải pháp hữu ích chỉ được bảo hộ đối với một số lĩnh vực công nghệ và chỉ bảo hộ sản phẩm mà không bảo hộ quy trình, điều này hoàn toàn khác với sáng chế, sáng chế được pháp luật bảo hộ đối với tất cả lĩnh vực công nghệ và bảo hộ cả quy trình. Thậm chí, không phải pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới đều bảo hộ mẫu hữu ích, mà chỉ có một số quốc gia có loại hình bảo hộ này. Luật SHTT Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “mẫu hữu ích” mà sử dụng thuật ngữ “giải pháp hữu ích”, theo đó, sáng chế được bảo hộ dưới mọi hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau: (i) Có tính mới và (ii) Có khả năng áp dụng công nghiệp [3, Điều 58]. Sở dĩ pháp luật Việt Nam có quy định chính thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho sáng chế vì so với trình độ khoa học kỹ thuật của nước ta hiện nay thì tiêu chuẩn của một giải pháp kỹ thuật mới được cấp bằng độc quyền sáng chế là tương đối cao. Do đó, không phải giải pháp kỹ thuật nào khi nộp đơn yêu cầu bảo hộ cũng đáp ứng được các tiêu chuẩn để được cấp bằng độc quyền sáng chế nên việc quy định hình thức bằng độc quyền giải pháp hữu ích là biện pháp mở rộng đối tượng được bảo hộ, tạo điều kiện để các chủ thể sáng tạo có thể thu lại những thành quả lao động của mình, phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật của nước ta hiện nay.
1.2.3. Phân biệt sáng chế với bí mật kinh doanh Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Bí mật kinh doanh được hiểu theo nghĩa chung nhất là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó.
Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Trong đó, sử dụng bí mật kinh doanh là việc thực hiện các hành vi: (i) áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá và (ii) bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.
Các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh bao gồm: (i) Bí mật về nhân thân; (ii) Bí mật về quản lý nhà nước; (iii) Bí mật về quốc phòng, an ninh và (iv) Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh.
- Như vậy, có thể phân biệt sáng chế và bí mật kinh doanh qua một số tiêu chí sau:
Thứ nhất về phạm vi khái niệm: Đây có thể được xác định là điểm khác biệt đầu tiên và lớn nhất giữa sáng chế và bí mật kinh doanh, khái niệm bí mật kinh doanh có phạm vi bao quát rộng hơn rất nhiều so với nội dung của khái niệm sáng chế. Đó có thể là thông tin về danh sách khách hàng, thông tin về cơ hội đầu tư và cũng có thể là một giải pháp kỹ thuật, một đề án, giải phát kinh doanh trong tương lại…
Thứ hai, về điều kiện bảo hộ: nếu như đối với sáng chế, điều kiện được bảo hộ đối với sáng chế khi mà giải pháp kỹ thuật của sáng chế đáp ứng được tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp, còn với bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; (iii) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
1.3. Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
1.3.1. Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được hiểu theo nghĩa chung nhất là bảo hộ sản phẩm trí tuệ, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu công nghiệp [32, tr.42]. Đối tượng của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Người nào sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của người khác đang trong thời gian bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu các đối tượng này thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (trừ các trường hợp có quy định riêng) và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm ba nội dung: Thứ nhất là ban hành các quy định của pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp; Thứ hai là cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp cho các chủ thể khác nhau khi đáp ứng các yêu cầu theo quy định (xác lập quyền); Thứ ba là bằng các phương thức, biện pháp khác nhau bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng (bảo vệ quyền).
Là một bộ phận cấu thành của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đã được thiếp lập nhằm hướng tới việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo, sáng chế trong xã hội, đồng thời nhằm ngăn chặn những vi phạm tiềm tàng, xâm hại đến các lợi ích chính đáng của nhà sáng chế. Nó như là một cơ chế độc lập quyền có thời hạn cho sở hữu sáng chế trên cơ sở đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền [44, tr. 13]. Theo đó, chủ sở hữu sáng chế được độc quyền hưởng những lợi ích về mặt kinh tế và thương mại từ việc khai thác, sử dụng sáng chế trong một giới hạn nhất định về thời gian và không gian được bảo hộ. Hay nói cách khác, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế bị giới hạn theo lãnh thổ và theo thời gian. Giải pháp kỹ thuật được cấp bằng độc quyền sáng chế sẽ không thể bị người khác khai thác, sử dụng cho mục đích thương mại trong phạm vi quốc gia bảo hộ ngoài chủ sở hữu sáng chế đó. Chủ sở hữu sáng chế có quyền khởi kiện chống lại bất kỳ người nào có hành vi khai thác sáng chế được bảo hộ độc quyền trong phạm vi quốc gia đó mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế. Trên một phương diện nào đó, có thể thấy rằng, bản chất của cơ chế bảo hộ độc quyền sáng chế không khác gì một loại “hợp đồng xã hội”. Trong đó, mục đích cơ bản của “hợp đồng xã hội” này là “đổi lại việc bộc lộ những ý tưởng kỹ thuật có giá trị tiềm năng được mô tả trong bằng độc quyền sáng chế, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế bằng việc thực hiện quyền cấm người khác khai thác ý tưởng được mô tả, có thể đảm bảo cho mình độc quyền khai thác ý tưởng của mình” [46, tr. 2]. Quan hệ trao đổi này nhằm khuyến khích việc bộc lộ công nghệ giá trị, nhờ đó, thúc đẩy tiến bộ công nghệ và các tiến bộ xã hội.
Như vậy, từ nhận thức chung như trên, có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đó là việc Nhà nước với công cụ là hệ pháp luật pháp sở hữu trí tuệ xác lập quyền cho các chủ thể (có thể là cá nhân, tổ chức) đối với sáng chế và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự xâm hại nào của chủ thể khác (có thể là cá nhân, tổ chức).
Bảo hộ độc quyền sáng chế, xét dưới góc độ bản chất xã hội đó là một dạng hợp đồng xã hội. Trong đó, để đổi lấy việc được độc quyền khai thác và cho phép người khác khai thác sáng chế trong một thời gian nhất định, chủ sở hữu buộc phải công bố một cách công khai và đầy đủ những thông tin liên quan tới giải pháp kỹ thuật mới được yêu cầu bảo hộ. Bản chất đó luôn được thể hiện một cách nhất quán trong suốt quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế trên toàn thế giới. Sáng chế không được bảo hộ vì tổn hao vật chất và sức lao động đã được bỏ ra trong quá trình nghiên cứu, chế tạo của chủ sở hữu và tác giả sáng chế. Yêu cầu của xã hội đối với nhà sáng chế dựa trên những nghiên cứu và trí tưởng tượng của mình phải đưa ra một giải pháp kỹ thuật hữu hiệu, có khả năng tạo ra bước tiến mới trong quá trình thực hiện việc làm chủ thiên nhiên của con người. Các yêu cầu này đã được khái quát hóa và được pháp luật nâng lên trở thành những chuẩn mực nhất định. Đó chính là điều kiện bảo hộ sáng chế. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Trong các công trình nghiên cứu trước đây về các quy định pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, điều kiện bảo hộ sáng chế thường chỉ được xem xét dưới góc độ riêng biệt của nội dung của từng điều kiện. Trong đó, các công trình nghiên cứu đó rất ít đề cập đến khái niệm pháp lý về điều kiện bảo hộ sáng chế. Trên thực tế, có tác giả cho rằng điều kiện bảo hộ sáng chế là những chuẩn mực về mặt kỹ thuật do pháp luật quy định để xem xét khả năng xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế [44, tr. 20], theo đó, điều kiện bảo hộ sáng chế được coi như là một chuẩn mực về mặt kỹ thuật và chuẩn mực này do pháp luật quy định nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế.
Điều kiện, xét dưới góc độ ngôn ngữ học, được hiểu cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra [33, tr. 321] có nghĩa rằng điều kiện bảo hộ sáng chế được hiểu theo nghĩa sáng chế với tư cách là những giải pháp kỹ thuật để được pháp luật bảo hộ cần phải đáp ứng được những yêu cầu, tiêu chí nhất định. Về bản chất, được hiểu đó chính là những đòi hỏi, yêu cầu của Nhà nước đối với chất lượng của giải pháp kỹ thuật, hay nói một cách khác là giá trị mà những thông tin được bộc lộ của sáng chế có khả năng mang lại cho xã hôi.
Thông thường, các điều kiện bảo hộ sáng chế thường đặt ra các yêu cầu đối với giải pháp kỹ thuật dựa trên 02 phương diện:
Thứ nhất: Trình độ phát triển của giải pháp kỹ thuật. Theo đó, sáng chế phải đạt những bước tiến nhất định so với kiến thức nhất định so với chuyên môn đã biết trong cùng lĩnh vực kỹ thuật. Đó có thể là yêu cầu về tính mới hoặc tính sáng tạo xét trong phạm vi quốc gia bảo hộ hoặc trên phạm vi toàn thế giới, tính cho đến thời điểm sáng chế được yêu cầu bảo hộ.
Thứ hai: khả năng thực hiện của giải pháp kỹ thuật trong thực tiễn. Theo đó, nội dung các ý tưởng được đề cập trong sáng chế phải có khả năng áp dụng công nghiệp theo quy định pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới hoặc cao hơn là yêu cầu về hữu ích của sáng chế. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Mức độ yêu cầu được đặt ra trong các điều kiện bảo hộ sáng chế có thể là khác nhau tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của từng quốc gia trên thế giới. Xu hướng hiện nay của các quốc gia trên thế giới là yêu cầu được đặt ra trong các điều kiện bảo hộ sáng chế ngày càng được quy định một cách nghiêm ngặt hơn. Phạm vi giới hạn của các đối tượng được bảo hộ sáng chế cũng được mở rộng. Bên cạnh đó, một xu hướng khác cũng đang được định hình khá rõ nét, đó là việc thống nhất hóa các quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế ở các quốc gia khác nhau trên thế giới thông qua các công ước quốc tế mang tính chất khu vực hoặc toàn cầu về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế như công ước Paris, Hiệp ước về hợp tác bảo hộ sáng chế (PCT), Hiệp định TRIPS. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các xu hướng này đã khiến cho các quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế luôn luôn nằm trong trạng thái động một cách tương đối [44, tr. 21].
Từ nhận thức trên, có thể hiểu điều kiện bảo hộ sáng chế là những yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước được thể hiện trong các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ để xác lập quyền cho các chủ thể (có thể là cá nhân, tổ chức) đối với sáng chế và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự xâm hại nào của chủ thể khác.
- Cơ sở xây dựng điều kiện bảo hộ sáng chế:
Thứ nhất, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia bảo hộ và trình độ khoa học kỹ thuật thế giới
Trình độ khoa học kỹ thuật là thước đo đánh giá sự phát triển, tiến bộ về nhận thức và khả năng chinh phục của xã hội loài người. Khi khoa học chưa phát triển thì những yêu cầu đối với việc bảo hộ cũng hạn chế hơn, bởi lẽ sự nhận thức của con người chưa vượt quá được những hiểu biết thông thường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của nhân loại, yêu cầu bảo hộ đối với các sáng chế ngày càng đòi hỏi chặt chẽ, cụ thể và ở mức độ cao hơn, được ghi nhận và thể chế hóa thành pháp luật.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mà tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và hoạt động chuyển giao công nghệ trên thế giới đang diễn ra hàng ngày với tốc độ nhanh và cường độ cao, yêu cầu đặt ra đối với sáng chế không chỉ đáp ứng được tính mới mà còn phải đạt được trình độ sáng tạo so với trình độ kỹ thuật chung của thế giới. Phạm vi các đối tượng được bảo hộ sáng chế cũng ngày càng đa dạng hơn và cập nhật xu thế chung của nhân loại, các lĩnh vực mới đòi hỏi công nghệ cao như công nghệ gen, công nghệ nano… Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và mức độ phát triển về khoa học công nghệ ở mỗi quốc gia nói riêng là không đồng đều. Sự chênh lệch về trình độ giữa các nước trong cùng một khu vực, giữa các Châu lục với nhau đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng của các nghiên cứu về sáng chế, phạm vi bảo hộ các sáng chế. Ở các nước phát triển: Mỹ, Anh, Nhật Bản… các sản phẩm sáng chế tập trung vào các ứng dụng hiện đại, tiên tiến từ internet: thương mại điện tử, giao dịch điện tử trong khi các nước kém phát triển hơn mới chỉ đang bắt đầu nghiên cứu những công nghệ cơ bản nhất của máy tính. Khoảng cách về năng lực “chất xám” giữa các quốc gia có thể là 5 năm, 10 năm hoặc hơn thế nữa. Điều đó lý giải tại sao một công nghệ tồn tại và phổ biến, phổ cập ở một quốc gia, một châu lục này nhưng phải mất rất nhiều năm sau đó người dân ở các quốc gia khác mới bắt đầu được tiếp cận. Tuy nhiên, trên thực tế, việc kết nối và chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia còn phụ thuộc rất nhiều vào chính sách pháp luật của từng nước vào từng thời điểm. Đường lối thông thoáng, cơ chế hoạt động của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước đồng bộ, thống nhất sẽ tạo thuận lợi cho việc học hỏi, mua bán, sáp nhập, chuyển giao các sáng chế với chi phí thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất.
Thứ hai, chính sách kinh tế xã hội của quốc gia là sự thể hiện ý chí, quan điểm của Nhà nước đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật nói chung, và với sáng chế nói riêng. Tùy từng thời kỳ mà chính sách có sự thay đổi cho phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và trình độ công nghệ trong nước. Do sự định hướng của các nhà nước khác nhau nên điều kiện bảo hộ sáng chế giữa các quốc gia cũng có sự khác biệt. Ở một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản… phần mềm máy tính là đối tượng được bảo hộ sáng chế nhưng tại Việt Nam thì nhà nước ta quy định phần mềm máy tính là giải pháp kỹ thuật bị loại trừ khỏi các đối tượng được bảo hộ sáng chế.
Sự khác biệt trong quy định của pháp luật mỗi nước bắt nguồn từ nhu cầu cuộc sống, thực tiễn kinh tế xã hội cũng như trình độ dân trí của quốc gia bảo hộ nhằm tạo điều kiện cho mọi người đều có thể được tiếp cận với khoa học kỹ thuật. Đặc biệt ở các quốc gia kém phát triển, các vấn đề về y tế, sức khỏe, phòng chống dịch bệnh luôn là những vấn đề cần được quan tâm, ưu tiên nên các loại dược phẩm, thuốc phòng bệnh không được coi là đối tượng được Nhà nước bảo hộ độc quyền sáng chế. Điều này giúp cho mọi người có cơ hội được tiếp cận với các phương pháp chữa bệnh, ngăn ngừa dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe chung cho cả xã hội, đây cũng chính là sự thể hiện vai trò của chức năng xã hội của Nhà nước, ngăn chặn sự độc quyền của một nhóm lợi ích. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Chính sách kinh tế xã hội của quốc gia bảo hộ trong mỗi thời kỳ có những ảnh hưởng hết sức to lớn đến việc thiết lập các điều kiện bảo hộ sáng chế. Yếu tố này ít nhiều đã và đang tạo ra sự khác biệt tương đối trong điều kiện bảo hộ sáng chế của các quốc gia trên thế giới.
Thực tế là, hiện nay các quốc gia trên thế giới đã và đang nỗ lực hết sức nhằm tìm kiếm sự cân bằng giữa những lợi ích của việc thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ và những giá trị đạo đức, tính nhân đạo cũng như lợi ích của cộng đồng xã hội trong việc xây dựng cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế. Phương hướng giả quyết vấn đề này như thế nào của các nhà hoạch định chính sách kinh tế, xã hội trực tiếp ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến điều kiện bảo hộ sáng chế của quốc gia đó. Việc bảo hộ sáng chế đối với các giải pháp kỹ thuật liên quan đến công nghệ sinh học là một ví dụ.
Ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nơi mà nạn đói và bệnh dịch đang là những vấn đề nóng bỏng nhất mà các Chính phủ đang phải đối mặt thì các giải pháp kỹ thuật liên quan tới công nghệ sinh học như giống cây trồng mới, dược phẩm… lại được coi là những đối tượng bị loại trừ khả năng được bảo hộ sáng chế.
Có thể khẳng định rằng, việc phản ánh những định hướng chính sách phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong điều kiện bảo hộ sáng chế là hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Bởi phạm vi ảnh hưởng của các điều kiện bảo hộ sáng chế trong nhiều trường hợp không chỉ dừng lại ở khoa học công nghệ mà còn có thể có những tác động xã hội không nhỏ tới các lĩnh vực xã hội khác như đạo đức truyền thống hoặc phúc lợi xã hội…
1.3.2. Vai trò của điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Thứ nhất, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế khuyến khích chủ sở hữu sáng chế sáng tạo và cải tiến khoa học kỹ thuật.
Sự tồn tại của hệ thống pháp luật bảo hộ độc quyền sáng chế hay bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, với khả năng nhận được độc quyền khai thác sáng chế trong một thời gian có hạn, đã tạo ra sự khích lệ quan trọng trong hoạt động sáng chế và cải tiến, sáng tạo ra công nghệ mới, đồng thời giúp chủ sở hữu sáng chế bảo vệ có hiệu quả thành quả sáng tạo của mình, tiếp tục đầu tư phát triển tạo ra sáng chế mới. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Trong thời hạn mà chủ sáng chế được độc quyền khai thác sáng chế đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc phát triển và khai thác một cách có hiệu quả giải pháp kỹ thuật đã được cấp bằng độc quyền sáng chế. Bằng cách hạn chế một cách tối đa sự cạnh tranh không được kiểm soát từ những người không chịu rủi ro tài chính ban đầu, hệ thống độc quyền sáng chế mang lại cho chủ sở hữu sáng chế cơ hội để có thu nhập nhằm bù đắp những chi phí phải gánh chịu trong quá trình phát triển sáng chế như vốn, thời gian, trang thiết bị, lao động. Đồng thời, độc quyền khai thác sáng chế cũng tạo cho chủ sở hữu sáng chế khả năng thu được lợi nhuận từ việc bán sản phẩm mang sáng chế và từ việc lixăng, chuyển nhượng bằng độc quyền sáng chế cho người khác. Phần thưởng của chủ sở hữu sáng chế là lợi ích về tài chính và nhà sáng chế được thúc đẩy để lặp lại quy trình sáng tạo và sáng chế, đầu tư một phần của mình cho hoạt động nghiên cứu và phát triển để tạo ra sáng chế mới [44, tr. 14].
Thứ hai, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế góp phần tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội
Với các quy định chặt chẽ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, đã buộc các đối thủ cạnh tranh buộc phải đầu tư sáng tạo để có thể cạnh tranh với chủ sở hữu sáng chế, mà không thể bắt chước, sao chép các sáng chế của chủ sở hữu sáng chế với chi phí thấp, bởi đó là những hành vi vi phạm pháp luật, họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó. Trên thực tế, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế nói riêng, cũng như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác nói chung nếu bị coi nhẹ sẽ dẫn đến hệ lụy tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, là rào cản đối với thị trường tự do và mở cửa. Ngược lại, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế có hiệu quả chính là nhằm giữ gìn một môi trường kinh doanh trong sạch, sáng tạo, từ đó, đảm bảo khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ ba, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tạo ra một hệ thống lưu trữ thông tin công nghệ phong phú, đa dạng, làm giàu trí thức công nghệ.
Xét dưới góc độ lợi ích chung của xã hội, ngay cả khi cơ chế bảo hộ độc quyền sáng chế tạo ra khả năng thúc đẩy sự chia sẻ và phân phối những lợi ích có được từ sáng chế thông qua hoạt động li-xăng cho người khác sử dụng trên các phạm vi khu vực địa lý khác nhau của thế giới. Quan trọng hơn, hệ thống bảo hộ độc quyền sáng chế tạo ra một hệ thống lưu trữ thông tin công nghệ dồi dào nhất tồn tại trên thế giới hiện đại. Theo quy định, để được cấp bằng độc quyền sáng chế, tác giả sáng chế phải tiết lộ thông tin sáng chế cụ thể đến mức người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể hiểu biết và thực hiện được giải pháp kỹ thuật được đề cập đến trong sáng chế và phải được công bố công khai. Các thông tin này có thể được phục vụ rất hữu hiệu không chỉ cho hoạt động nghiên cứu và thực nghiệm khoa học mà còn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong suốt thời gian sáng chế được bảo hộ. Dựa vào nguồn thông tin sáng chế, có thể xác định xu hướng phát triển công nghệ, biết được thai nghén hoặc suy tàn của một kỹ thuật nhất định, có thể cho phép xác định được đối thủ cạnh tranh có tiềm lực hay không?…
Ngoài ra, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển giao và đầu tư công nghệ. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đã có những tác động hết sức mạnh mẽ đến sự phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới trong những thập kỷ qua. Ngày càng có nhiều quốc gia nhận thức được rằng, xây dựng các quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để thúc đẩy và tận dụng những tiềm năng sáng tạo trong xã hội cũng như thu hút những hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Để đạt được mục tiêu đó, điều kiện bảo hộ sáng chế đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Thứ nhất, điều kiện bảo hộ sáng chế có ý nghĩa như là “cột xương sống” của chế định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (hay sở hữu công nghiệp) đối với sáng chế.
Thông qua điều kiện bảo hộ sáng chế, Nhà nước có thể thực hiện được những mục tiêu thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ của quốc gia phù hợp với mỗi một thời kỳ nhất định. Hoạt động với vai trò là một “bộ lọc” cần thiết nhằm hạn chế việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với những giải pháp kỹ thuật không có tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp, điều kiện bảo hộ sáng chế một cách gián tiếp đã tạo nên động lực thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của các nhà sáng chế cũng như tạo điều kiện để phổ biến và phát triển những tri thức có giá trị trong xã hội. Ví dụ điển hình về việc sử dụng hiệu quả các quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế là Nhật Bản trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ II. Có thể nói, việc mở rộng đến mức có thể các đối tượng bảo hộ sáng chế cùng với những yêu cầu chặt chẽ về điều kiện tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp đối với giải pháp kỹ thuật yêu cầu bảo hộ đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản, từ một nước đang phát triển trở thành một trong những quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển hàng đầu thế giới như hiện nay. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, điều kiện bảo hộ sáng chế đóng vai trò như một công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết giữa nguồn lợi ích trong xã hội, mà trực tiếp và chủ yếu là lợi ích giữa các nhà sáng chế với phần còn lại của xã hội.
Để có thể cùng lúc thực hiện được cả hai mục tiêu, vừa kích thích hoạt động sáng tạo của các nhà sáng chế, vừa tạo điều kiện cho công chúng được hưởng lợi từ những hoạt động sáng tạo đó, nhà nước đã quy định về các điều kiện bảo hộ sáng chế, mà biểu hiện rõ nhất của vấn đề này là việc bảo hộ sáng chế đối với các loại thuốc có khả năng chữa trị các căn bệnh nan y như AIDS hoặc các loại bệnh ung thư. Do vậy, xây dựng điều kiện bảo hộ sáng chế theo quan điểm loại trừ khả năng bảo hộ sáng chế đối với các đối tượng này hoặc đề ra các điều kiện bảo hộ khắt khe thường được các quốc gia tính toán rất kỹ lưỡng, nhằm phù hợp với điều kiện hoàn cảnh riêng của mình.
Điều này hoàn toàn có thể lý giải được, bởi xét cho cùng, điều kiện bảo hộ sáng chế là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng. Khi điều kiện bảo hộ sáng chế được quy định phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia bảo hộ, nó sẽ là động lực thúc đẩy. Tuy nhiên, một khi điều kiện bảo hộ sáng chế được quy định ở mức thấp hơn hoặc quá cao so với hiện trạng thực tế, thì nó hoàn toàn có thể làm tê liệt toàn bộ khả năng phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
1.3.3. Điều kiện bảo hộ sáng chế theo Điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới
- Điều kiện bảo hộ sáng chế theo điều ước quốc tế
Đối với lĩnh vực sáng chế, bảo hộ sáng chế, Việt Nam đã tham gia 02 Hiệp ước rất quan trọng đó là: Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT) và Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).
Đối với Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), điều kiện bảo hộ sáng chế được quy định trực tiếp tại Điều 27 về Đối tượng có khả năng được cấp Patent, theo đó Patent phải được cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hay là quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó phải có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Tuỳ thuộc vào một số trường hợp cụ thể, các patent phải được cấp và các quyền patent phải được hưởng không phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hay được sản xuất trong nước. Còn đối với Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT), các điều kiện bảo hộ sáng chế được quy định gián tiếp qua các quy định về Xét nghiệm sơ bộ quốc tế, theo đó, sáng chế yêu cầu bảo hộ có tính mới, có trình độ sáng tạo (không hiển nhiên), và có khả năng áp dụng công nghiệp hay không.
Như vậy, điều kiện bảo hộ sáng chế của 02 Hiệp ước nói trên đều bao gồm 03 tiêu chí như pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã thể chế hóa đó là: tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp.
- Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật của một số quốc gia
- Liên minh Châu Âu (EU) Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định của Công ước sáng chế Châu Âu:
Điều kiện về tính mới: Khoản 1, khoản 2 Điều 54 quy định: (i) Một sáng chế được xem là có tính mới nếu sáng chế đó không phải là một phần của tình trạng kỹ thuật. (ii) Tình trạng kỹ thuật được xem là bao gồm tất cả mọi thứ mà công chúng có thể tiếp cận được, dưới dạng mô tả bằng văn bản hoặc lời nói, dưới hình thức sử dụng hoặc các hình thức khác, trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Nhìn chung, quy định liên quan tới tính mới của pháp luật Việt Nam với pháp luật EU là tương tự nhau. Những yêu cầu về tính mới dường như đã thành quy chuẩn chung trên phạm vi toàn thế giới. Các quốc gia có pháp luật thừa nhận tính mới là một điều kiện cần để bảo hộ sáng chế thì việc quy định một giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế (hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên) mới được coi là đáp ứng tiêu chuẩn.
Điều kiện trình độ sáng tạo: Điều 56 Công ước sáng chế Châu Âu quy định: một sáng chế sẽ được xem là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã biết, nó không là hiển nhiên đối với người có trình độ hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Như vậy, xét về nội dung của quy định về trình độ sáng tạo thì luật SHTT Việt Nam không có điểm khác biệt so với quy định của Công ước sáng chế Châu Âu.
Điều kiện về khả năng áp dụng công nghiệp: Điều 57 Công ước sáng chế Châu Âu quy định: một sáng chế được xem là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện hoặc sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp bất kỳ kể cả nông nghiệp.
Về mặt thuật ngữ thì có điểm khác cơ bản vì công ước sáng chế châu Âu đề cập trực tiếp tới khả năng áp dụng sáng chế vào lĩnh vực công nghiệp bất kỳ, kể cả nông nghiệp. Pháp luật Việt Nam ghi nhận khả năng áp dụng công nghiệp là sáng chế đó có thể “chế tạo, sản xuất hàng loạt” hoặc “áp dụng lặp đi lặp lại quy trình” cụ thể hóa hơn nữa cho thuật ngữ “khả năng áp dụng công nghiệp”.
- Hoa Kỳ Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Hoa Kỳ là quốc gia có số lượng bằng độc quyền sáng chế nhiều nhất trên thế giới. Có thể nói, đây là một trong những quốc gia có cơ chế bảo hộ sáng chế mở rộng và dễ dàng nhất, minh chứng bởi câu nói nổi tiếng “All things under the sun made by man are patentable” (tạm dịch: Tất cả mọi thứ dưới ánh mặt trời được tạo ra bởi con người đều có thể được bảo hộ). Pháp luật thành văn Hoa kỳ quy định điều kiện cơ bản để một sáng chế được bảo hộ, đó là:
Điều kiện về tính mới: Luật Sáng chế Hoa Kỳ (Điều 35 U.S.C 102) quy định: một người được cấp bằng sáng chế trừ phi – a, Sáng chế đã được người khác biết đến hoặc sử dụng ở nước này, hoặc đã được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc được mô tả trong ấn phẩm được công bố ở nước này hay nước khác, trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Tương tự, quy định về tính mới của sáng chế được xem là quy định mang tính chất chung nên giữa luật sáng chế của Hoa Kỳ và Luật SHTT của Việt Nam không có điểm khác biệt.
Điều kiện về trình độ sáng tạo: luật sáng chế Hoa Kỳ, Điều 35 (U.S.C 103) quy định: Bằng độc quyền sáng chế có thể không được cấp… nếu sự khác nhau giữa đối tượng yêu cầu bảo hộ và tình trạng kỹ thuật chỉ ở mức mà đối tượng này là hiển nhiên đối với những người có trình độ trung bình trong lĩnh vực liên Tuy nhiên, do Hoa Kỳ là quốc gia theo hệ thống luật common law nên án lệ được coi là một nguồn của pháp luật. Chính vì vậy, khi xem xét điều kiện bảo hộ sáng chế không chỉ dựa riêng vào luật thành văn. Ví dụ: trong lịch sử xét xử, tòa án Hoa Kỳ đã từng có những tranh cãi xung quanh việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho kỹ sư (Anadan Mohan Chakrabarty) nghiên cứu thành công loại vi khuẩn có khả năng phá vỡ dầu thô, nhằm xử lý sự cố tràn dầu. Do quy định vi khuẩn không phải là đối tượng được bảo hộ là sáng chế nên cơ quan giám định đã từ chối yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ. Nhưng sau đó, tòa án Hoa Kỳ đã đưa ra quyết định cấp bằng sáng chế này. Đây chính là vụ án Chakrabrty – án lệ nổi tiếng liên quan tới bảo hộ sáng chế.
- Nhật Bản Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Điều kiện tính mới: Tương tự như quy định về tính mới của sáng chế trong pháp luật một số quốc gia khác, luật Sáng chế Nhật Bản (Điều 29) quy định: Người bất kỳ tạo ra sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp có thể được cấp bằng sáng chế trừ các trường hợp sau: (i) Sáng chế đã được công chúng biết đến ở Nhật Bản hoặc bất kỳ nơi nào khác trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; Sáng chế đã được công chúng thực hiện tại Nhật Bản hoặc nơi bất kỳ khác trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; Sáng chế đã được mô tả trong bản công bố được phổ biến hoặc được bộc lộ công khai qua đường viễn thông ở Nhật Bản hoặc nơi bất kỳ khác trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế.
Điều kiện về trình độ sáng tạo: Cũng như quy định của Luật SHTT Việt Nam, luật Sáng chế Nhật Bản ghi nhận: khi sáng chế có thể được tạo ra một cách dễ dàng, trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, bởi người có trình độ trung bình trong lĩnh vực liên quan, bằng độc quyền sáng chế đó sẽ không được cấp.
Điều kiện về khả năng áp dụng công nghiệp: Luật sáng chế Nhật Bản cũng ghi nhận một sáng chế phải có khả năng áp dụng công nghiệp thông qua quy định rằng “người bất kỳ tạo ra sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp…” [27, Điều 21]. Như vậy, yếu tố khả năng áp dụng công nghiệp được Nhật Bản ưu tiên hàng đầu. Sở dĩ như vậy đối với Nhật Bản, ngành công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất. Tại quốc gia này, nguồn nhân lực và ngân sách của cơ quan sáng chế luôn duy trì ở mức cao (Năm 2001 tổng số nhân lực là 2500 người, số xét nghiệm viên là 1100, ngân sách hàng năm 844 triệu USD).
- Một số quốc gia khác
Xét về hệ thống pháp luật, Trung Quốc đã xây dựng cho mình Luật Sáng chế riêng để quy định về các vấn đề liên quan tới bảo hộ sáng chế. Luật này được Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua ngày 12 tháng 3 năm 1984, sửa đổi bổ sung ngày 4 tháng 9 năm 1992. Trong đó, điều 22 quy định: Bất kì sáng chế, mẫu hữu ích cho một bằng sáng chế có thể được cấp phải có các đặc tính của sáng tạo, mới lạ và hữu ích. Tính mới có nghĩa rằng, trước ngày nộp đơn của ứng dụng, không có mô hình giống hệt nhau sáng chế, tiện ích đã được bộc lộ công khai trong các ấn phẩm trong nước hoặc nước ngoài hoặc đã được công khai sử dụng hoặc được biết đến với công chúng bằng bất kì phương tiện nào khác trong cả nước. Sáng tạo có nghĩa là, so với công nghệ hiện có trước ngày nộp đơn của ứng dụng, phát minh có tính năng nổi bật và nội dung phân biệt và đại diện một cải tiến đáng kể, hoặc các mô hình tiện ích sở hữu các tính năng phân biệt nội dung và đại diện cho một sự cải tiến. Tính hữu ích có nghĩa là sáng chế, mô hình hữu ích có thể được thực hiện hoặc sử dụng và có thể tạo ra được kết quả tích cực.
Nhìn chung, trong quy định của luật sáng chế Trung Quốc, các điều kiên cơ bản để một giải pháp được cấp bằng độc quyền sáng chế cũng đều ghi nhận tính mới, trình độ sáng tạo và tính hữu ích. Tính hữu ích của sáng chế được coi là một trong những điều kiện để sáng chế đó được cấp bằng độc quyền. Đây là quy định có phần khác biệt so với điều kiện bảo hộ sáng chế chung của Việt Nam. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Hàn Quốc, quốc gia châu Á có nền công nghiệp phát triển, vì thế vấn đề bảo hộ tài sản SHTT từ lâu đã được chính phủ nước này hết sức quan tâm. Đây là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về số lượng đơn đăng ký sáng chế (Năm 2005 có 4747 đơn, đứng thứ 6 trên thế giới). Quốc gia này cũng đã ban hành luật sáng chế riêng biệt để điều chỉnh các vấn đề liên quan tới bảo hộ sáng chế. Luật sáng chế Hàn Quốc năm 2009 được sửa đổi từ luật sáng chế năm 1987 đã mở rộng đối tượng có thể được cấp bằng sáng chế để phù hợp với các nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển như Mỹ, Châu Âu… Điều 29 Luật này quy định các điều kiện để một sáng chế được cấp bằng độc quyền sáng chế, đó là:
(1) Sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp, trừ khi thuộc một trong hai trường hợp sau đây: (i) Sáng chế bị bộc lộ công khai ở Hàn Quốc hay ở bất kỳ quốc gia nào khác trước khi nộp đơn cấp bằng sáng chế; (ii) Sáng chế đó đã được mô tả trong ấn phẩm phân phối tại Hàn Quốc hoặc ngoài nước, hoặc được công bố công khai thông qua đường dây viễn thông là sáng chế theo quy định của nghị định Tổng thống trước khi nộp đơn xin cấp bằng sáng chế [16, Điều 29]…
Như vậy, luật sáng chế của Hàn Quốc được xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn pháp luật quốc tế nên những quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế cũng không có gì là khác biệt.
Như vậy, thông qua so sánh quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế với một số quốc gia khác, có thể thấy Việt Nam đã xây dựng cho mình một cơ sở pháp luật tương đối đầy đủ và tương thích với pháp luật quốc tế. Quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế bao gồm ba yếu tố cơ bản đó là: sáng chế đó có phải tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Đây cũng là quy định chung đối với sáng chế được cấp bằng độc quyền trong hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Quá trình xây dựng quy định này thể hiện những nỗ lực không ngừng trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhìn vào những quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế theo Luật SHTT Việt Nam, so sánh với pháp luật của các quốc gia khác có thể thấy trình độ lập pháp của nước ta những năm gần đây đã có những bước tiến rõ rệt. Để bắt kịp với kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ với các quốc gia trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là quan hệ hợp tác đầu tư thì pháp luật được xem như là một công cụ đắc lực, là bước tiền đề để tạo điều kiện cho mọi hoạt động được thuận lợi. Chính vì thế, những bước tiến trong trình độ lập pháp của Việt Nam thể hiện thay đổi trong chính sách kinh tế phù hợp với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Qua những nỗ lực đáng ghi nhận của toàn hệ thống SHTT trong quá trình thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ cho các chủ thể, có thể thấy quy định về điều kiện bảo hộ sáng chế trong luật SHTT Việt Nam có sự tương đồng ở mức cao với các nước trên thế giới. Đó chính là bước thay đổi để phù hợp với xu thế hội nhập toàn cầu.
Kết luận Chương 1
Với mục đích góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế, tại chương 1, học viên đã làm rõ một cách có hệ thống một số vấn đề lý luận về sáng chế và điều kiện bảo hộ sáng chế, cụ thể: Thứ nhất, luận văn đã làm rõ khái niệm và các đặc điểm của sáng chế, phân biệt sáng chế với một số đối tượng khác như: phát minh, giải pháp hữu ích và bí mật kinh doanh. Thứ hai, luận văn đã làm rõ khái niệm bảo hộ quyền công nghiệp đối với sáng chế, cũng như vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế trong đời sống kinh tế – xã hội. Thứ ba, luận văn đã làm rõ được khái niệm, cơ sở và vai trò của điều kiện bảo hộ sáng chế, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhận định các quy định của pháp luật thực định về điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam tại chương 2. Đặc biệt, tại chương 1 Luận văn tiếp cận một cách khái quát nhất điều kiện bảo hộ sáng chế theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, cũng như chỉ ra những điểm giống và khác nhau, cũng như kinh nghiệm cho việc hoàn thiện pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế của pháp luật Việt Nam. Luận văn: Điều kiện bảo hộ sáng chế theo pháp luật Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế