Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kiến nghi ̣hoàn thiện các quy định pháp luật về biện pháp bảo lãnh bằng tài sản để đảm bảo thực hiện hợp đồng tín dụng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Hoàn thiện quy định về chủ thể là bên bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh hợp đồng tín dụng

Điều kiện của chủ thể bảo lãnh đóng vai trò rất quan trọng trong quan hệ bảo lãnh để bảo vệ các quyền và lợi ích của các ngân hàng và TCTD. Đặc biệt, với một biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân như bảo lãnh, khi mà các bên vì đặc điểm nhân thân của người bảo lãnh để xác lập quan hệ. Theo đó, ngoài các điều kiện của một chủ thể thông thường tham gia giao dịch dân sự nói chung thì người bảo lãnh cần có những điều kiện đặc biệt khác để bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Trong phân loại hợp đồng, cùng với hợp đồng ủy quyền thì HĐBL là một trong những hợp đồng điển hình về việc hợp đồng gắn liền với nhân thân của người giao kết.

BLDS năm 2015 và các quy phạm pháp luật khác có liên quan chưa có quy định cụ thể nào đối với chủ thể bảo lãnh, đặc biệt đối với BBL. Theo đó, về mặt quy định, bất kỳ chủ thể thường nào có đủ năng lực hành vi dân sự đều có thể ký kết HĐBL với tư cách BBL. Rõ ràng với một chủ thể thông thường như vậy dường như chưa đạt được mục đích của việc bảo lãnh, thậm chí đây là kẽ hở cho sự gian dối trong hoạt động tín dụng. Việc bảo lãnh là nghĩa vụ của người được bảo lãnh sẽ được bù đắp hoặc thay thế bởi nghĩa vụ của người bảo lãnh. Điều này có nghĩa là khi thỏa thuận được ký kết, BNBL đã đánh giá khả năng của BBL trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Nếu BBL chỉ đáp ứng được yêu cầu hợp đồng mà thực tế không có đủ khả năng tài chính hoặc khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, rủi ro hoàn toàn thuộc về BNBL.

  • Thứ nhất, cần có các quy định chi tiết về điều kiện của BBL.

Để tham gia vào quan hệ bảo lãnh với tư cách là BBL thì chủ thể này phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS năm 2015 nói chung và nghĩa vụ được bảo lãnh nói riêng.

Trong hoạt động tín dụng, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình thì BNBL nên hướng đến các giá trị vật chất. Cụ thể, TCTD đã cho vay giá trị vật chất là một khoản tiền nhất định thì họ cần thu hồi lại là số tiền vay cùng với lãi tương ứng cũng là lợi ích vật chất, phù hợp với mục đích kinh doanh là vì lợi nhuận. Do đó, khi đứng ra bảo lãnh cho BĐBL trong HĐTD thì BBL phải là người có đủ điều kiện về tài sản, năng lực tài chính và giá trị này phải lớn hơn hoặc ít nhất ngang bằng nghĩa vụ được bảo đảm vì ngoài việc phòng ngừa giá trị bảo đảm biến động theo chiều hướng giảm thì ngoài khoản nợ gốc của hợp đồng tín dụng còn có lãi và các phát sinh khác nếu như BĐBL không thanh toán đúng hạn.

Ngoài việc xác định uy tín thì cần phải xác định rõ điều kiện về tài sản của BBL. Như trong pháp luật của Cộng hòa Pháp và Nhật Bản có quy định khả năng thanh toán nợ là một trong các điều kiện bắt buộc của BBL. Có thể quy định một số điều kiện đối với chủ thể là BBL bao gồm: ngoài những điều kiện chung để tham gia giao dịch dân sự thì người nhận bảo lãnh còn phải có uy tín, có năng lực tài chính để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được thuận lợi.

Việc đưa các quy định về điều kiện chủ thể bảo lãnh sẽ góp phần làm minh bạch thông tin chủ thể tham gia vào quan hệ bảo lãnh, giúp xác định rõ trách nhiệm chủ thể và đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của các bên tham gia giao kết. Qua đó, nâng cao giá trị của BPBL đối với HĐTD, giúp cho biện pháp này trở thành một biện pháp hữu hiệu được sử dụng phổ biến trong hoạt động tín dụng. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ hai, khi đã nhận bảo đảm bằng bảo lãnh thì BNBL nên định kỳ đánh giá lại năng lực của BBL và khả năng BBL thực hiện nghĩa vụ. Thông thường các TCTD sẽ tái thẩm định tình trạng tài sản đảm bảo theo định kỳ là sáu tháng hoặc một năm. Nếu nhận thấy BBL có dấu hiệu suy giảm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ thì BNBL nên xem xét việc đề nghị BĐBL bổ sung hoặc thay thế biện pháp bảo đảm nhằm hạn chế rủi ro.

Thứ ba, nhằm tránh những vướng mắc có thể phát sinh do không có sự thống nhất trong quy định và áp dụng pháp luật, Bộ Tư pháp cùng với Bộ Kế hoạch đầu tư, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, các Bộ, ngành và Tòa án nhân dân tối cao cần phải có sự thống nhất hướng giải quyết vướng mắc về chủ thể được phép giao dịch dân sự hoặc cần phải ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh sự thống nhất các quy định về chủ thể tham gia giao dịch dân sự, cụ thể ở đây là quy định về chủ thể tham gia giao dịch bảo đảm.

3.2. Hoàn thiện quy định về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với hợp đồng tín dụng

Thứ nhất, quy định pháp luật theo hướng là BNBL phải yêu cầu bên có nghĩa vụ (BĐBL) phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước.

Trước khi yêu cầu BBL thực hiện nghĩa vụ, BNBL phải yêu cầu BĐBL thực hiện nghĩa vụ. Việc yêu cầu BĐBL thực hiện nghĩa vụ trước có thể được thực hiện qua các biện pháp như: (1) Xác định các điều kiện trước khi BNBL có thể sử dụng các quyền lợi từ BBL. Ví dụ, BĐBL chỉ có quyền sử dụng số tiền bảo lãnh khi đã hoàn thành đúng nghĩa vụ hoặc đáp ứng các yêu cầu cụ thể được quy định trong hợp đồng. (2) Thiết lập các quy định về xử lý khi BĐBL vi phạm nghĩa vụ. Ví dụ, hợp đồng có thể quy định về việc chấm dứt bảo lãnh hoặc yêu cầu bồi thường khi BĐBL không thực hiện nghĩa vụ của mình. (3) Thỏa thuận về cơ chế giám sát và kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ. Các bên có thể đồng ý về việc theo dõi và đánh giá sự tuân thủ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh và xác định các biện pháp xử lý nếu cần thiết. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ hai, đối với trường hợp có thỏa thuận về việc BBL sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì các TCTD có thể thỏa thuận nội dung trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho BĐBL mà BBL không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì BBL sẽ giao tài sản cho TCTD trực tiếp xử lý; sau đó tiếp tục giao tài sản của mình cho TCTD để xử lý nếu số tiền thu được sau khi xử lý tài sản không đủ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Đồng thời, quy định chế tài đối với hành vi cố tình không giao tài sản bảo đảm để xử lý. Việc cho phép các bên được tự do thỏa thuận và BNBL được chủ động xử lý các tài sản của BBL để thực hiện bảo đảm là hoàn toàn cần thiết, đồng thời sẽ phần nào giúp giảm bớt các thủ tục pháp lý, rút ngắn được thời gian xử lý các khoản vay xấu mà không phải tiến hành khởi kiện.

  • Thứ ba, về quyền của BNBL là các TCTD.

Cần cho phép BNBL được quyền tự thu giữ tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm là sự cụ thể hoá quyền tự bảo vệ trong trường hợp đặc thù. Với quyền thu giữ, chủ nợ có bảo đảm có thể có được trong tay tài sản mình cần mà không phải tiến hành các thủ tục tố tụng phức tạp, mất thời gian và tốn kém. Trong chừng mực nào đó, có thể coi quyền thu giữ tài sản bảo đảm là sự cụ thể hoá quyền tự bảo vệ trong trường hợp đặc thù. Trường hợp các bên có thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì quyền thu giữ tài sản được cho là “một công cụ cho phép chủ nợ có bảo đảm vượt lên trước so với các chủ nợ thường trong cuộc chạy đua đòi nợ trong giới hạn luật pháp cho phép”. Quyền tự thu giữ tài sản cho phép bên nhận tài sản bảo đảm có thể xử lý tài sản bảo đảm một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí khi thu hồi nợ, hạn chế việc kiện tụng tại Tòa án, đồng thời tránh kéo dài công tác xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

Có thể xem xét đến việc mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế tự thu giữ tài sản bảo đảm đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm tại TCTD, chứ không chỉ đối với các khoản nợ xấu như trong Nghị quyết 42/2017/QH14. Tuy nhiên, lưu ý rằng quyền thu giữ chứa đựng nhiều rủi ro, hiểm hoạ tiềm tàng: sử dụng không hợp lý, nhất là không đúng mực, quyền này có thể trở thành một thứ bạo lực tư nhân đẩy xã hội vào tình trạng hỗn loạn, mất an toàn. Cần đặt quyền thu giữ trong một khung pháp lý chặt chẽ để quyền này phát huy được tác dụng mong muốn, nhất là không bị lạm dụng gây nguy hiểm cho xã hội.

Quy định về quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi BBL có chủ ý không chuyển giao tài sản để xử lý, nhằm đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của họ đối với BNBL; quyền yêu cầu các cơ quan chức năng địa phương hỗ trợ khi BNBL tiến hành thu hồi tài sản bảo đảm, không để xảy ra xung đột, mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng và tài sản. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

  • Thứ tư, bổ sung các quy định về nghĩa vụ của BNBL như:

Cần có những quy định về việc BNBL phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải thích cho BBL về giá trị của nghĩa vụ được bảo lãnh, phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh, khả năng tài chính của BĐBL, cũng các thuật ngữ pháp lý chuyên ngành được quy định trong hợp đồng bảo lãnh. Vì cơ bản trong một quan hệ bảo lãnh HĐTD thì các TCTD tức BNBL được xem là bên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đồng thời am hiểu về pháp luật về tín dụng. Pháp luật của Pháp còn có quy định chủ nợ (BNBL) phải có nghĩa vụ thông tin, tư vấn và cảnh báo cho người bảo lãnh, đặc biệt là về tình hình nghĩa vụ được bảo đảm. Như thế, BBL có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trước khi giao kết hợp đồng, chỉ khi BBL hiểu rõ được hậu quả mà họ phải gánh chịu khi ký kết hợp đồng thì việc ký kết hợp đồng mới thật sự tự nguyện (một trong số đó và việc họ phải giao tài sản bảo đảm của mình cho Ngân hàng xử lý khi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh). Mặt khác, góp phần hạn chế những tranh chấp không cần thiết giữa các bên khi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh.

BNBL phải có nghĩa vụ thông báo cho BBL về việc thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh, tránh tình trạng khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ chính mà BNBL không yêu cầu BĐBL phải thực hiện nghĩa vụ mà cũng không thông báo cho BBL biết khiến nghĩa vụ chính phải thực hiện lớn dần lên. Cụ thể là phải chịu thêm cả lãi trong hạn và lãi quá hạn của một khoản vay, dẫn đến việc BBL không đồng ý trả thêm phần lãi phát sinh khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ chính.

Trường hợp phát sinh vấn đề phải xử lý tài sản bảo đảm, pháp luật dân sự hiện hành có quy định “Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác”, cho phép BBL được biết, đồng thời có thời gian để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình liên quan tới tài sản bảo đảm. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ năm, bổ sung quy định theo hướng bảo vệ tốt hơn cho BBL, đặc biệt khi BBL là cá nhân. Cụ thể là khi BBL đã hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh thì đương nhiên có quyền yêu cầu BĐBL thực hiện nghĩa vụ hoàn trả trong phạm vi bảo lãnh mà không phụ thuộc vào ý chí, thỏa thuận của BĐBL. Đồng thời quy định rõ thời điểm BBL có thể yêu cầu BĐBL thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đối với mình.

Thứ sáu, đối với quy định về quyền yêu cầu lại của người cùng bảo lãnh tại Điều 338 BLDS năm 2015 nên điều chỉnh theo hướng chỉ quy định việc một BBL liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ yêu cầu những người bảo lãnh còn lại phải thực hiện phần nghĩa vụ của họ đối với mình là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của bên này. Tức là pháp luật không cấm BBL liên đới này yêu cầu BĐBL (bên có nghĩa vụ) thanh toán cho mình toàn bộ số tiền đã trả cho BNBL mà không cần phải yêu cầu các BBL liên đới khác thực hiện nghĩa vụ của họ.

Thứ bảy, tại Khoản 1 Điều 341 BLDS 2015 cần điều chỉnh lại vị trí của BBL và BĐBL được nêu trong quy định như sau: “Trường hợp BBL phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà BNBL miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho BĐBL thì BBL không phải thực hiện nghĩa vụ đối với BNBL, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”. Quy định như thế sẽ logic hơn, khi BNBL đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho BĐBL thì cũng có nghĩa BBL sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ với BNBL.

3.3. Hoàn thiện quy định về phạm vi bảo lãnh đối với hợp đồng tín dụng Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ nhất, để thống nhất cách hiểu và áp dụng quy định tại Khoản 3 Điều 336 BLDS năm 2015 về việc “các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”, cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất để phân tách rõ ràng bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân; phân biệt giữa trường hợp cầm cố hoặc thế chấp tài sản của người thứ ba với trường hợp sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Cụ thể, cần có quy định chi tiết về các vấn đề như: Hình thức của hợp đồng như thế nào?; Giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này với quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp, cầm cố để bảo đảm nghĩa vụ của người khác có điểm gì khác nhau?; Khi phát sinh vấn đề xử lý tài sản bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì cách thức xử lý như thế nào?; Trách nhiệm của BBL trong trường hợp này ra sao?; …

Đồng thời, cần bổ sung thêm quy định về hậu quả của việc cầm cố, thế chấp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh, theo hướng BBL dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp cho BNBL để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Việc cầm cố, thế chấp tài sản ở đây là để bảo đảm cho nghĩa vụ của BBL, chứ không phải trực tiếp bảo đảm cho nghĩa vụ của BĐBL. BNBL có quyền yêu cầu xử lý tài sản để thu hồi nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp BBL không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Nếu tài sản cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh không đủ để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì BNBL có quyền yêu cầu BBL tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ được bảo lãnh còn lại. Ngoài ra cũng cần quy định rõ về trường hợp BBL không có đủ tài sản để bù trừ nghĩa vụ bảo lãnh thì hậu quả pháp lý sẽ được giải quyết như thế nào. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ hai, về phía các ngân hàng, cần có những quy định chặt chẽ trong quá trình thẩm định tài sản thế chấp. Tránh những trường hợp vì mục đích lợi nhuận, chạy theo chỉ tiêu mà lỏng lẻo trong quy trình kiểm tra tài sản thế chấp, chỉ dựa vào giấy tờ chứng minh sở hữu tài sản có công chứng chứng thực mà bỏ qua khâu kiểm tra thẩm định tài sản. Cần xác định nguồn vốn vay có được sử dụng đúng mục đích hay tài sản đảm bảo có thực sự thuộc sở hữu của người có tài sản đảm bảo hay không, có đang bị tranh chấp gì không? Mặt khác, cần nâng cao năng lực, chuyên môn, kiến thức pháp lý và kinh nghiệm thực tế cho đội ngũ nhân viên làm công tác kiểm soát thẩm định cho vay và cấp tín dụng nhằm hạn chế rủi ro có thể phát sinh.

Thứ ba, đối với quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, có thể quy định việc các bên tự thỏa thuận với nhau về việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với giao dịch bảo lãnh hoặc theo yêu cầu của BNBL. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm góp phần xác định thứ tự hình thành các giao dịch đảm bảo, qua đó xác định được thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp các chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản. Ngoài ra, đăng ký giao dịch bảo đảm cũng góp phần làm minh bạch hệ thống thông tin tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trước các rủi ro pháp lý trong quá trình thiết lập các giao dịch bảo đảm. Riêng đối với các TCTD, ngân hàng là BNBL, bên cho vay thì việc tiếp cận nắm bắt các thông tin về tình trạng tài sản giúp họ hiểu rõ tình trạng pháp lý của tài sản trước khi quyết định có xác lập giao dịch bảo đảm hay không, đồng thời linh hoạt, chủ động hơn trong trường hợp phát sinh vấn đề xử lý nợ.

Thứ tư, cần thiết phải xây dựng một Luật đăng ký giao dịch bảo đảm nhất quán quy định các loại tài sản bắt buộc phải đăng ký; Hoàn thiện các quy định về đăng ký và giao dịch tài sản; Thêm vào những quy định cần thiết và phù hợp với thực tế của cuộc sống kinh tế và xã hội; Quy định chi tiết về hình thức và đơn giản hóa các thủ tục đăng ký, nhằm tạo điều kiện cho các TCTD và người dân dễ dàng tiếp cận, nắm bắt được thông tin của những giao dịch bảo đảm đã được đăng ký, tránh phiền hà và mất thời gian. Luật đăng ký giao dịch bảo đảm ra đời sẽ phản ánh đúng tầm quan trọng của quan hệ bảo đảm trong xã hội, liên quan đến nhiều thành phần quan trọng cũng như các tài sản có giá trị lớn như trong các HĐTD.

Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020 cũng đã giao Bộ Tư pháp trong quý IV năm 2020 hoàn thành nhiệm vụ “Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định hướng dẫn các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về giao dịch bảo đảm, trong đó hoàn thiện các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán … theo hướng đơn giản hóa quy định về hồ sơ và thực hiện triển khai đăng ký, sửa đổi, bổ sung, xóa đăng ký biện pháp bảo đảm theo phương thức trực tuyến”. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ năm, cần hoàn thiện và hệ thống lại các văn bản pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất. Thống nhất các quy định về phương thức xử lý tài sản bảo đảm giữa BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013. Đồng thời, cho phép TCTD được bán đấu giá tài sản một cách công khai để tiết kiệm thời gian và chi phí, trong trường hợp tranh chấp xảy ra thì có thể khởi kiện ra Tòa án. Mặt khác, ngay từ khi xác lập HĐBL, bên bảo lãnh cũng cần cân nhắc rõ phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, nhất là khi HĐBL được xác lập để bảo lãnh cho các khoản vay đã giải ngân trước thời điểm ký HĐBL hay cho các khoản vay trong tương lai giữa bên vay và TCTD nhận bảo lãnh. Trong trường hợp này, TCTD cũng nên xác định rõ tài sản bảo lãnh được dùng để bảo lãnh cho khoản vay cụ thể nào phát sinh trước thời điểm xác lập HĐBL để tránh nguy cơ vô hiệu do không quy định rõ nghĩa vụ được bảo lãnh.

Thứ sáu, Tòa án nhân dân tối cao trên cơ sở thực tiễn xét xử, cần phải công bố các án lệ hoặc ban hành những văn bản hướng dẫn công tác xét xử về những vụ việc liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và bảo đảm bằng BPBL đối với HĐTD nói riêng. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình cần có văn bản hướng dẫn kịp thời về bảo lãnh có sử dụng biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất và hướng xử lý khi có tranh chấp liên quan đến vấn đề này. Việc áp dụng án lệ sẽ thống nhất được quan điểm, đường lối xét xử chung cho các cấp Tòa án, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong nhận thức quy định, áp dụng quy định của pháp luật. Qua đó hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, tránh việc hủy sửa nhiều lần để trả hồ sơ về xét xử lại theo thủ tục chung.

3.4. Hoàn thiện quy định về hình thức của hợp đồng bảo lãnh Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Thứ nhất, cần quy định thống nhất hình thức giao kết HĐBL là văn bản. Việc giao kết HĐBL bằng văn bản giúp cho các bên tham gia giao kết cẩn thận hơn khi đưa ra các nội dung, điều khoản vào hợp đồng. BNBL có thể chủ động đưa vào các nội dung nhằm kiểm soát, hạn chế rủi ro trong việc thu hồi vốn hay xử lý nợ xấu. Giao kết HĐBL bằng văn bản sẽ khiến cho các bên tham gia giao kết cẩn thận hơn khi đưa ra các nội dung điều khoản hợp đồng. BNBL sẽ chủ động đưa vào các nội dung để kiểm soát rủi ro.

Căn cứ vào văn bản bảo lãnh mà cụ thể là HĐBL, BNBL có thể dễ dàng thực hiện quyền của mình và thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên có nghĩa vụ. Hợp đồng sẽ là căn cứ để thực thi các quyền, nghĩa vụ của các bên, qua đó các bên biết và phải tuân thủ thực hiện các hành vi cụ thể trong từng trường hợp phát sinh của hợp đồng như đã thỏa thuận, thậm chí là cả trong xử lý nợ xấu. Đồng thời văn bản bảo lãnh là căn cứ để giải quyết tranh chấp vi phạm hợp đồng. Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý vững chắc hơn so với hình thức miệng.

Trên thực tế, những giao dịch quan trọng, có giá trị lớn thì bảo lãnh thường thực hiện bằng hình thức văn bản và tốt nhất là nên có công chứng, chứng thực nếu có điều kiện. Thông qua việc công chứng, chứng thực, hợp đồng bảo lãnh sẽ có giá trị được xem như là chứng cứ chứng minh khi xảy ra tranh chấp. Với các nội dung được các bên xác nhận rõ ràng trong văn bản bảo lãnh sẽ là căn cứ để Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên trong giao dịch có thỏa thuận khác.

Thứ hai, các TCTD cần chủ động quy định và thực hiện việc lập văn bản với các thỏa thuận giao kết bảo lãnh. Bằng việc xây dựng các quy trình, quy định nội bộ, bên cạnh xây dựng các điều khoản cơ bản, trọng yếu thì ngân hàng chủ động soạn thảo các nội dung bảo lãnh có tính bảo vệ quyền lợi của mình cao, kiểm soát được các rủi ro trong hoạt động và quá trình cho vay. Khi khách hàng tham gia vào quan hệ tín dụng có sử dụng BPBL thì đều phải tuân thủ thực hiện việc ký kết thông qua hình thức văn bản. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

3.5. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của bên bảo lãnh hợp đồng tín dụng

Thứ nhất, cần hướng dẫn cụ thể hơn quy định về trách nhiệm dân sự của BBL theo Điều 342 BLDS năm 2015, để đảm bảo nâng cao trách nhiệm, tinh thần thực hiện nghĩa vụ của BĐBL với BNBL, tránh tình trạng thoái thác trách nhiệm của BĐBL khi họ hoàn toàn có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng lại cố tình đẩy trách nhiệm cho BBL thì trước khi đứng ra nhận bảo lãnh, BBL phải nghiên cứu đầy đủ và quy định cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ của mình để đưa vào HĐBL.

Thứ hai, cần có quy định pháp luật về việc BNBL phải yêu cầu BĐBL thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của mình trước, nhằm xác định rõ rằng trách nhiệm đối với hợp đồng chủ yếu thuộc về bên được bảo lãnh. Trong thực tế, BBL đóng vai trò như một người có nghĩa vụ thứ hai và chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ thứ nhất không thực hiện. Chỉ khi BĐBL không có tài sản, BNBL mới có quyền yêu cầu BBL thực hiện nghĩa vụ.

Bên cạnh đó, BNBL là các TCTD còn phải có trách nhiệm trong những vấn đề như cung cấp thông tin, giải thích những thuật ngữ pháp lý chuyên ngành trong HĐBL cho BBL để họ hiểu rõ trước khi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp không có sự đồng thuận về việc sử dụng tài sản như biện pháp bảo đảm để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, cần tồn tại một khung pháp lý để đảm bảo BNBL có thể hiệu quả yêu cầu BBL thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp BBL không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh.

Thứ ba, khuyến khích các bên tham gia quan hệ bảo lãnh đồng thuận việc sử dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh bằng tài sản cụ thể. Bằng cách sử dụng tài sản cụ thể để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh, trách nhiệm của BBL sẽ được nâng cao. BBL cần phải căn cứ vào khả năng thực tế của mình khi nhận bảo lãnh, đồng thời phải nhận thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ thay cho BĐBL khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ. Nếu BBL muốn giới hạn trách nhiệm bảo lãnh của mình thì khi thỏa thuận phải xác định rõ ràng, cụ thể giới hạn của việc bảo lãnh.

Thứ tư, đối với quy định về lựa chọn giao dịch bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ dân sự, pháp luật hiện nay quy định theo hướng bên nhận bảo đảm có quyền lựa chọn giao dịch bảo đảm để xử lý51. Quy định này có thể dẫn đến trường hợp bên nhận đảm bảo yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trước mà không xử lý tài sản cầm cố, thế chấp của BĐBL là chưa hợp lý.

Người viết kiến nghị đối với quy định trên, cần có quy định nếu không có thỏa thuận giữa BBL và BNBL thì BNBL phải tiến hành xử lý tài sản cầm cố, thế chấp của BĐBL trước (nếu có). Trường hợp tài sản không đủ thực hiện nghĩa vụ thì mới có quyền yêu cầu BBL thực hiện nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên cam kết bảo lãnh liên đới. Quy định này cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của BĐBL.

Có thể tham khảo quy định của BLDS Đức trong việc chú trọng trước hết là trách nhiệm của BĐBL. Theo đó về nguyên tắc trước khi được yêu cầu người bảo lãnh thanh toán thì BNBL phải khởi kiện BĐBL và trên cơ sở bản án của Tòa án đã yêu cầu thi hành án đối với tài sản là động sản của con nợ chính nhưng không có kết quả. Điều này chỉ không cần thiết nếu người bảo lãnh từ bỏ quyền này dưới dạng bảo lãnh với tư cách là con nợ chính. Pháp luật Đức chú trọng hơn đến việc bảo vệ người bảo lãnh dân sự trước rủi ro của bảo lãnh, vì họ thường không phải là người có kinh nghiệm trong kinh doanh hay có quan hệ huyết thống, gia đình (như bảo lãnh của con cái cho bố mẹ, bảo lãnh của vợ chồng cho chồng/vợ).

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Trong chương 3, tác giả đã đề xuất một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về BPBL đối với HĐTD. Cụ thể, tác giả đề xuất một số giải pháp như: Quy định những điều kiện cụ thể đối với chủ thể là BBL để bảo đảm năng lực bảo lãnh của BBL; Quy định thống nhất hình thức giao kết HĐBL là bằng văn bản để làm căn cứ cho các bên trong quan hệ bảo lãnh thực thi các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời làm căn cứ để giải quyết khi phát sinh tranh chấp; Đối với đăng ký giao dịch bảo đảm, cần có hướng dẫn thêm cho trường hợp bảo lãnh có kèm theo biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh thì phải đăng ký hoặc theo thỏa thuận; Quy định cách thức xử lý trách nhiệm về tài sản đối với BBL và đặc biệt trong trường hợp có thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; Ban hành án lệ để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp của Tòa án các cấp trong vấn đề bên thứ ba thế chấp tài sản.

Dựa trên nghiên cứu thực trạng pháp luật và so sánh với thực tế hoạt động bảo lãnh, tác giả đưa ra các giải pháp để sửa đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật, góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung và chế định về bảo lãnh nói riêng. Luận văn: Hoàn thiện PL bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng.

Trong khuôn khổ giới hạn nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản nhất của đề tài và có thể chưa giải quyết thấu đáo ở một số nội dung nhưng hy vọng những kiến nghị đưa ra một phần nào đó sẽ góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm nói chung và BPBL nói riêng đối với các HĐTD hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật bảo lãnh bằng tài sản hợp đồng tín dụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464