Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
4.1. Những giải pháp chung đối với di sản văn hóa vật thể và di sản phi vật thể
4.1.1. Nhóm giải pháp về chính sách
Đây là nhóm giải pháp có tính tiền đề cho tất cả các giải pháp khác. Như đã phân tích ở chương 3, khi áp dụng hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật, Hà Tĩnh gặp một số khó khăn và bất cập vì thế cần phải có những giải pháp cụ thể để khắc phục hiện trạng đó. Các giải pháp này là:
- Giải pháp khắc phục khó khăn liên quan đến chứng chỉ hành nghề tu bổ, phục hồi di tích: Hà Tĩnh cần chủ động, tích cực phối hợp với Cục di sản để mở các lớp đào tạo chứng chỉ hành nghề cho đội ngũ nghệ nhân và đội ngũ kỹ thuật để giải quyết vấn đề liên quan đến chứng chỉ hành nghề tu bổ, phục hồi di tích. Có chính sách thu hút, khuyến khích các nghệ nhân có chứng chỉ hành nghề tới làm việc tại tỉnh để công tác bảo tồn, phát huy di sản được làm tốt hơn và đúng quy định của luật pháp hơn.
- Giải pháp khắc phục mâu thuẫn giữa các văn bản pháp quy: Các ngôi chùa vừa là nơi thờ tự của Phật giáo, vừa là di sản văn hóa, nên việc sửa chữa, bảo tồn, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này đều liên quan đến Luật Di sản văn hóa, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về xây dựng. Như đã phân tích tại mục 3.1.3, có mâu thuẫn giữa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Luật Đất đai. Trong khoản 4, điều 56 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ghi nhận quyền quản lý và sử dụng đất của cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo (đồng thời là Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo) qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, khoản 2, điều 181 Luật Đất đai, lại quy định cơ sở tôn giáo không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng, cho quyền sử dụng đất. Sự mâu thuẫn này chắc chắn sẽ làm nảy sinh những khó khăn trong việc áp dụng luật vào xử lý, giải quyết những vấn đề cụ thể liên quan đến đất đai xây dựng của các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo. Vì Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới ban hành, hiện chưa có hiệu lực, nhưng đã xây dựng dựa trên việc khắc phục các bất cập của pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là về vấn đề pháp nhân của tổ chức tôn giáo. Vì vậy, chúng tôi khuyến nghị, nên sửa đổi lại khoản 2, điều 181 Luật Đất đai cho đồng bộ và phù hợp với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
- Giải pháp về thủ tục hành chính: Để khắc phục hiện trạng thủ tục xin cấp phép tu sửa, phục hồi di sản còn rườm rà, chúng tôi khuyến nghị: 1.Nên thực hiện đúng quy định của quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 10/7/2013 về “Quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”. Văn bản này đã quy định rõ trình tự, thủ tục của việc xin phép sửa chữa, tu bổ, phục hồi di tích chỉ giao việc thẩm định hồ sơ cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thời hạn 20 ngày (đối với di tích cấp tỉnh) và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi hồ sơ lên Cục di sản văn hóa để thẩm định các di tích cấp quốc gia cũng trong thời hạn 20 ngày phải có ý kiến phản hồi. Vì thế cần bãi bỏ việc phải trình hồ sơ, xin ý kiến của Ban tôn giáo tỉnh, vì không đúng luật định. 2.Để đảm bảo thời gian thẩm định hồ sơ theo đúng luật định, Hà Tĩnh nên áp dụng mô hình quản lý hành chính một cửa, mà một số địa phương đang áp dụng thành công trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay.
- Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền văn bản pháp luật: Để khắc phục hiện trạng một số sư trụ trì không muốn chùa của mình được xếp hạng di tích, hoặc việc tu bổ, xây dựng sửa chữa chùa tùy tiện làm mất đi giá trị quan trọng của di sản (chúng tôi đã phân tích tại mục 3.1.1 và 3.3.2), Hà Tĩnh cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về di sản văn hóa. Hiện nay, tỉnh mới chỉ quan tâm việc tập huấn về Luật Di sản văn hóa cho đội ngũ cán bộ quản lý của mình (dù việc tập huấn này, về cơ bản cũng chưa đạt yêu cầu). Do đó, chúng tôi cho rằng, Hà Tĩnh nên mở đều đặn các lớp tập huấn, về di sản văn hóa cho các cán bộ quản lý di sản, đồng thời mở rộng đối tượng tập huấn bao gồm các sư trụ trì (đại diện cho chủ thể là giáo hội Phật giáo), các thành viên ban hộ tự, ban quản lý chùa (đại diện cho cộng đồng)
Giải pháp tăng cường các văn bản hướng dẫn thực thi, luật, pháp lệnh tôn giáo tín ngưỡng, cụ thể:
- Bổ sung văn bản quy định cơ chế, chính sách xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo, để giải quyết công tác xã hội hóa này có hiệu quả hơn và thống nhất ở mọi nơi hơn. Xuất phát từ đặc thù của Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, ngân sách hạn hẹp, nhưng người dân Hà Tĩnh lại rất gắn bó với quê hương.
- Từ góc độ quản lý Nhà nước, cần có chính sách cụ thể, chi tiết, khuyến khích người dân và các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp (trong và ngoài nước) tham gia các hoạt động tôn tạo, trùng tu, xây mới các di tích lịch sử -văn hóa Phật giáo. Nên nhân rộng mô hình vận động tài trợ linh hoạt của chùa Giai Lam và chùa Phổ Độ bằng việc thể chế hóa nguyên tắc vận động này bằng văn bản.
- Bổ sung văn bản quy định về việc sử dụng, quản lý tiền công đức để khắc phục tình trạng thiếu thống nhất, và đôi khi gây bức xúc cho sư trụ trì chùa hiện nay (vì có khi chỉ cần chi một khoản tiền nhỏ để sửa chữa, tu bổ chùa cũng phải chờ ý kiến phê duyệt của ban quản lý di tích, có khi khá lâu, đối với chùa giao tiền công đức cho ban quản lý di tích xã quản lý). Văn bản này nên quy định rõ, ban quản lý chùa, hoặc sư trụ trì sẽ có quyền quản lý, sử dụng một khoản tiền nhất định chi cho các hoạt động nghi lễ, cho việc hỗ trợ đời sống của sư (nếu có), tiếp khách. Chủ thể Nhà nước (ban quản lý di tích) chỉ quản lý số tiền sửa chữa, tu bổ chùa.
- Bổ sung văn bản quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị tham gia quản lý chùa Hương Tích để tránh tình trạng chồng chéo, giải quyết công việc mất thời gian. Văn bản này nên quy định rõ chức năng của ban quản lý khu du lịch chùa Hương Tích chỉ thực hiện công tác quản lý Nhà nước về di sản, còn việc quản lý kinh doanh, dịch vụ du lịch, nên giao cho các đơn vị khác. Cần quy hoạch rõ đất đai thuộc về khu du lịch chùa Hương, để ban quản lý khi tiến hành việc nâng cấp, tu sửa đường xá, không phải chờ ý kiến của ban quản lý rừng, hoặc công ty thủy nông.
- Ban hành các quy định cụ thể, chi tiết về việc lập hồ sơ, thiết kế mẫu đối với các di tích xây mới. Tránh tình trạng vi phạm Thông tư 18 của Bộ VHTTDL, xây lại chùa không nghiên cứu chút nào về ngôi chùa cũ, làm lại chùa như một quán ăn như đã phân tích thực trạng tại chương 3 trên đây.
- Bổ sung các văn bản quy định cụ thể, chi tiết hơn về việc tổ chức lễ hội tại di tích, trong đó quy định rõ việc thắp hương, dâng lễ vật, đặt tiền công đức khi thực hiện nghi lễ trong chùa. Quy định việc hướng dẫn tín đồ và khách thập phương hành lễ, quy định về việc viết tấu sớ, quy định về người được thực hành nghi lễ, về tổ chức các hàng quán, giữ vệ sinh chung, nghiêm cấm các hành vi có tính mê tín, buôn thần bán thánh như xin xăm, xem bói… tại di tích.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
4.1.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Theo kết quả phân tích tại chương 3, hoạt động của bộ máy quản lý theo mô hình ba chủ thể chung với ba mô hình cụ thể hiện nay còn chưa hiệu quả. Nguyên nhân chính nằm ở chất lượng nhân sự và cơ chế phối hợp. Để nâng cao hiệu lực của bộ máy này cần thiết phải thực hiện những giải pháp cụ thể sau đây:
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bộ máy quản lý
Hiện nay, ở Hà Tĩnh, mỗi phòng văn hóa thông tin cấp huyện và tương đương chỉ có biên chế 4-5 người, họ lại phải đảm nhiệm nhiều mảng công tác khác nhau nên không có người chuyên trách đảm nhiệm mảng quản lý di sản văn hóa. Mặt khác các cán bộ phòng văn hóa thông tin cũng chủ yếu học các chuyên ngành khoa học cơ bản thuộc khoa học xã hội và nhân văn, không có kiến thức nền về quản lý di sản văn hóa nói chung, quản lý di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Do đó, vai trò của họ cũng không thực sự được phát huy. Những hoạt động cần kíp như thông tin, tuyên truyền, kiểm tra giám sát phong trào xây dựng nông thôn mới, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, văn hóa văn nghệ … đã chiếm hầu hết thời gian của họ, nên mảng di sản văn hóa chưa thực sự được quan tâm. Vì vậy, cần phải thực hiện các giải pháp sau đây để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bộ máy quản lý.
Cần có chiến lược bổ sung và sách lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chủ thể quản lý Nhà nước. Chiến lược này cần tập trung vào một số điểm sau đây: Cần nhanh chóng bố trí đủ chỉ tiêu biên chế cho cấp tỉnh là 5-6 người theo quy hoạch (hiện đang chờ điều chuyển từ nơi khác về trong xu hướng tinh giản biên chế của tỉnh). Những cán bộ điều chuyển về cần cân nhắc cho đúng hoặc gần chuyên môn quản lý di sản văn hóa. Cấp huyện nên có cán bộ chuyên trách theo dõi mảng di sản nói chung, nên tuyển chọn những nhân lực được đào tạo đúng chuyên ngành về quản lý văn hóa hoặc quản lý di sản văn hóa, sao cho dần dần phổ cập 100% cán bộ có chuyên môn về quản lý di sản ở cấp huyện.
Xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng, để có đủ nhân lực nghiên cứu sâu sắc các giá trị văn hóa hàm chứa trong các di tích lịch sử này, nhằm tuyên truyền, giới thiệu với cộng đồng dân cư và tập huấn kiến thức về lịch sử văn hóa, giá trị di sản cho đội ngũ quản lý di sản địa phương. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Thường xuyên mở các lớp tập huấn ngắn hạn về quản lý, bảo tồn phát huy các giá trị của di sản văn hoá để cung cấp các kỹ năng nghiệp vụ quản lý Nhà nước và kỹ năng tác nghiệp, như: Lập kế hoạch, nghiên cứu Luật Di sản văn hóa, thống kê di sản địa phương, lập hồ sơ khoa học cho các di sản, các hình thức khai thác. Phát huy giá trị di sản, xây dựng các dự án, đưa di sản địa phương vào quỹ đạo của ngành du lịch v.v. Nội dung các lớp học này cần phải bám sát với tình hình thực tế, học phải kết hợp với hành để mang lại những hiệu quả thiết thực
Chủ động đề xuất với Giáo hội Phật giáo cử sư trụ trì về các chùa, đặc biệt là những ngôi chùa đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý: Cần giảm tải trách nhiệm quản lý di sản văn hóa Phật giáo cho cấp xã. Vì cấp xã đảm nhiệm phần lớn công tác quản lý các từ di tích cấp quốc gia cho đến di tích chưa xếp hạng là chưa hợp lý. Điều này hạn chế rất lớn đến việc bảo tồn, khai thác và phát huy các di tích đã được xếp hạng. Chúng tôi cho rằng:
Cần chuyển các chùa thuộc diện di tích cấp quốc gia, như chùa Chân Tiên, chùa Diên Quang, chùa Yên Lạc lên cho cấp huyện trực tiếp quản lý. Vẫn nên duy trì mô hình quản lý Nhà nước giám sát cộng đồng chịu trách nhiệm chính, khuyến khích doanh nghiệp quản lý khai thác theo hướng xã hội hóa nhưng để cấp huyện trực tiếp giám sát sẽ có nhiều khả năng tập trung nguồn lực hơn.
Tăng cường tuyên truyền, tập huấn các kiến thức về pháp luật di sản văn hóa, quản lý Nhà nước cho cán bộ văn hóa xã và Ban quản lý di tích xã có các ngôi chùa đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, để đảm bảo việc bảo tồn các di sản này không bị làm tùy tiện như hiện nay.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn của chủ thể quản lý Nhà nước cho các chủ thể khác từ Giáo hội và cộng đồng để vừa phát huy được vai trò và thế mạnh của các chủ thể đó, vừa đảm bảo việc quản lý, bảo tồn di sản theo đúng quy định của pháp luật.
4.1.3. Nhóm giải nâng cao hiệu quả của công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Về thực chất xã hội hóa là một quá trình chia sẻ trách nhiệm quản lý của Nhà nước với toàn xã hội. Xã hội hoá là hoạt động có tính hai mặt, gắn bó hữu cơ với nhau. Thứ nhất, xã hội hóa chính là sự huy động mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động quản lý, bảo vệ, tu bổ, phục dựng các giá trị của di sản văn hoá. Thứ hai, là cần khuyến khích, tạo điều kiện cao nhất cho mọi thành viên cộng đồng xã hội trực tiếp tham gia vào quá trình hưởng thụ, thưởng thức các giá trị đó. Chính vì vậy mà muốn nâng cao hiệu quả của xã hội hoá cần phải được thực hiện công tác này một cách toàn diện và hệ thống, bao gồm các mặt hoạt động sau đây:
Giải pháp xã hội hoá công tác quản lý di sản liên quan đến Phật giáo. Để việc quản lý chùa có hiệu quả, bao gồm cả quản lý bảo vệ công trình di tích lẫn tổ chức các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội, cần phải có cơ chế huy động, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, như hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên tại cơ sở, với sự phân chia trách nhiệm rõ ràng. Việc huy động này cần phải kết hợp với việc giáo dục, bồi dưỡng kiến thức về bảo tồn và phát huy di sản. Tỉnh cần xây dựng quy chế phối hợp, phân nhiệm cụ thể của các tổ chức tham gia vào việc bảo vệ tôn tạo di tích và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, văn hóa tại di tích, để tránh trường hợp “cha chung không ai khóc” vẫn còn khá phổ biến hiện nay.
Nên thành lập các hội di sản ở địa phương để có thể quy tụ được phong trào quần chúng nhân dân tham gia tu bổ di tích. Hội là một tập hợp nhiều quần chúng giàu lòng yêu mến di tích, có khả năng tham gia đóng góp tu bổ di tích. Hoạt động của các hội này sẽ tham gia vào việc chống vi phạm di tích, đấu tranh với các đối tượng vi phạm đất đai, làm hậu thuẫn giúp cơ quan bảo tồn bảo tàng giải quyết các vi phạm này. Hội sẽ quy tụ quần chúng nhân dân phối hợp với chính quyền và ngành văn hoá giải quyết những vấn đề lớn hơn ở các di tích sẽ mang lại hiệu quả đáng kể. Vì thế, việc thành lập Hội bảo vệ di tích cần được xem xét như là một biện pháp cơ bản để tập hợp quần chúng, quy tụ các nguồn lực cho bảo vệ, tu bổ di tích.
Giải pháp tăng cường xã hội hoá nguồn lực bảo tồn di sản: Bảo tồn, tôn tạo và phục hồi di sản là một việc làm vô cùng tốn kém, hơn nữa với thực trạng phần lớn di tích đã và đang xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí đã thành phế tích như phân tích hương 2, ngân sách của Hà Tĩnh không thể đáp ứng nổi nhu cầu này. Chính vì vậy, để chống hoang phế các chùa cổ cần phải có giải pháp xã hội hóa các nguồn lực cho hoạt động bảo tồn di sản, để hoạt động ấy không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước mà đó phải là sự nghiệp của toàn dân. Để việc huy động các nguồn lực bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực cho hoạt động này, tỉnh cần phải có một cơ chế rành mạch và thông thoáng hơn nữa. Cơ chế này thể hiện rõ trong các quy chế hoạt động và quản lý của các ngôi chùa cụ thể. Trong đó thể hiện rõ với mức đóng góp như thế nào sẽ được ghi nhận bằng hình thức nào (ghi vào văn bia, ghi bảng vàng, ghi trên hiện vật). Đồng thời quy định rõ những vật như thế nào được phép cung tiến vào chùa, tránh hiện trạng như đã phân tích ở chương 3, mang cung tiến vào chùa những bức tượng không phải là tượng Phật và không rõ là tượng gì.
Cần nhân rộng mô hình vận động tài chính linh hoạt tại chùa Phổ Độ và Giai Lam để có thể tranh thủ được nguồn vốn xã hội hóa.
Ngoài việc huy động vốn trong cộng đồng dân cư, cũng nên có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức đóng trên địa bàn địa phương, các tổ chức nước ngoài, bà con Việt kiều tham gia vào việc bảo tồn di sản văn hóa. Hoạt động này là một hình thức hoạt động mang tính chất “mở”, nó huy động và khuyến khích tất cả mọi nguồn lực tham gia. Bên cạnh đó, cũng cần có sự quản lý, giám sát một cách hợp lý những nguồn lực này sao cho chúng được sử dụng đúng mục đích trong việc bảo tồn, tu bổ di sản..
Giải pháp thúc đẩy nhu cầu hưởng thụ các giá trị di sản văn hóa Phật giáo: Những hoạt động văn hóa, tâm linh, lễ hội, vui chơi giải trí tại các ngôi chùa, về thực chất là một dạng dịch vụ công ích không mang tính lợi nhuận mà mang tính phục vụ cộng đồng. Cần phải có giải pháp khuyến khích cộng đồng tham gia hưởng thụ các giá trị văn hóa đó, cụ thể: 1. Không thu vé tham quan của hầu hết các ngôi chùa trong địa bàn của tỉnh. 2.Giảm giá vé thăm quan chùa Hương Tích cho cư dân Hà Tĩnh. 3. Xây dựng được một quy chế tổ chức lễ hội chặt chẽ và phù hợp với địa phương, bao gồm việc xây dựng chương trình lễ hội, phân công việc chuẩn bị cho lễ hội, đảm bảo an toàn và an ninh cho lễ hội. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Giải pháp xã hội hóa việc tuyên truyền, giới thiệu về di sản: Bên cạnh việc sử dụng các kênh thông tin đại chúng chính thống của Nhà nước như đài phát thanh truyền hình, báo chí, sách, thì việc huy động nhân dân và các tổ chức xã hội tham gia vào hoạt động này cũng mang lại hiệu quả quan trọng. Các biện pháp cụ thể là:
Lồng ghép vào chương trình dạy học lịch sử địa phương trong các trường phổ thông của tỉnh, những giá trị các di tích lịch sử- văn hoá trên từng địa bàn cụ thể, sự tích các nhân vật được thờ, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, các lễ hội, các nghề thủ công truyền thống tiêu biểu, các loại hình nghệ thuật biểu diễn, các phong tục đặc sắc của từng địa phương để giáo dục thế hệ trẻ ý thức tham gia bảo vệ và hưởng thụ giá trị của những di sản đó với tinh thần chủ động sáng tạo. 2. Huy động các tổ chức, cá nhân có khả năng kinh tế, có lòng yêu mến di tích tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu, biên soạn và in ấn các tài liệu giới thiệu về di tích và các giá trị tiêu biểu hàm chứa trong đó. 3. Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm trao đổi về các giá trị của di tích, lễ hội, về các danh nhân văn hóa ở địa phương và các di sản khác cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ. Phối hợp việc tổ chức hội chợ, triển lãm để quảng bá các sản phẩm thủ công, đặc sản địa phương với những hoạt động tuyên truyền, quảng bá các giá trị của di tích.
4.1.4. Xây dựng quy hoạch tổng thể toàn bộ các di tích lịch sử văn hoá Phật giáo
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị các di tích văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh mới chỉ được làm một cách riêng rẽ, tự phát chứ không theo một quy hoạch tổng thể. Hiện nay, Hà Tĩnh chưa có quy hoạch tổng thể hệ thống di sản văn hóa nói chung và hệ thống di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Để bảo tồn và phát huy giá trị của những di sản -văn hóa này, nhất thiết phải dựa vào kế hoạch tổng điều tra, để tiến hành nghiên cứu sâu sắc, toàn vẹn và hệ thống hơn nữa các di sản văn hóa Phật giáo trong bối cảnh hệ thống di sản văn hóa toàn tỉnh, có cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc quy hoạch tổng thể này. Chỉ có quy hoạch tổng thể mới có thể thực hiện việc bảo tồn và phát huy giá trị tại các di tích tiêu biểu mới được tiến hành có hiệu quả, tránh sự chồng chéo, lãng phí. Đặc biệt việc khai thác, phát huy giá trị của hệ thống di sản đó mới bền vững, sâu sắc và khoa học.
Quy hoạch tổng thể hệ thống di sản văn hóa nói chung, hệ thống di sản văn hóa Phật giáo nói riêng sẽ cho phép Hà Tĩnh có được:
- Cái nhìn tổng quát toàn diện, hệ thống về toàn bộ di sản này trong hệ thống di sản trên địa bàn tỉnh.
- Nắm vững đặc điểm, tính chất, giá trị, hiện trạng về tình trạng kỹ thuật, quản lý sử dụng và phát huy giá trị từng ngôi chùa thuộc phạm vi quy hoạch.
- Đề xuất định hướng và kế hoạch lập quy hoạch tổng thể từng ngôi chùa trong hệ thống di tích, kế hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi, cắm mốc giới bảo vệ, giải tỏa vi phạm, tổ chức phát huy giá trị của từng ngôi chùa theo các giai đoạn 5 năm, 10 năm. Đề xuất kế hoạch lập hồ sơ xếp hạng di tích đối với các đối tượng trong danh mục kiểm kê di tích.
- Đánh giá môi trường chiến lược, dự báo tác động môi trường và đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong khu vực.
- Xây dựng các kế hoạch phối hợp, kết nối cơ sở hạ tầng kỹ thuật để khai thác, phát huy giá trị của những ngôi chùa cùng với các di tích và các dự án kinh tế xã hội khác.
Bên cạnh việc quy hoạch toàn bộ hệ thống di sản văn hóa Phật giáo trên địa bàn tỉnh, cũng cần đẩy mạnh hơn nữa quy hoạch tổng thể từng di tích, xếp theo thứ tự ưu tiên những di tích có giá trị cao để đảm bảo sự bảo tồn, phục hồi, xây dựng không phá vỡ hệ thống chung.
4.1.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh cần khắc phục những yếu kém trong công tác thanh tra, kiểm tra. Hàng năm cần tổ chức ít nhất hai đợt thanh tra định kỳ về công tác quản lý di sản, nhằm kiểm tra trên thực tế toàn bộ hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, trong đó có di sản văn hóa Phật giáo. Nên xây dựng mạng lưới cung cấp thông tin tại các cơ sở để kịp thời nắm bắt thông tin về hoạt động quản lý tại các di tích cụ thể. Nhanh chóng tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra khi có thông tin tiêu cực về hoạt động này.
Bên cạnh đó cũng cần đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng liên quan đến hoạt động quản lý di sản để khuyến khích, động viên kịp thời các hành vi tích cực, trong đó bao gồm: Tài trợ cho việc bảo tồn, phát huy giá trị của di sản. Tích cực tham gia quản lý, bảo vệ di sản, có hành vi dũng cảm để bảo vệ di sản.
Cần xử lý nghiêm túc các vi phạm về việc tu bổ, sửa chữa, quy hoạch… di sản để có tác dụng răn đe, ngăn chặn các vi phạm tương tự.
4.1.6. Phát triển các tour du lịch, đưa di sản văn hóa Phật giáo vào phát triển kinh tế xã hội địa phương
Đưa các di sản văn hóa Phật giáo vào quỹ đạo của du lịch địa phương là giải pháp có tính kinh tế vô cùng quan trọng. Nó quan trọng vì thứ nhất, thể hiện sức sống, giá trị tài sản và nguồn lực phát triển của di sản. Thứ hai, chính việc nó có thể mang đến các giá trị kinh tế mới sẽ góp phần tạo điều kiện để bảo tồn, giữ gìn và làm giàu các giá trị quý giá của di sản. Đây là một quá trình biện chứng và chặt chẽ.
Như tại chương 2 đã phân tích, những giá trị quý giá mà hệ thống các chùa ở Hà Tĩnh hàm chứa như: giá trị cảnh quan, kiến trúc, nghệ thuật, tâm linh… là nguồn tài nguyên đặc biệt cho phát triển du lịch. Khác với nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài nguyên nhân văn này càng khai thác nhiều, càng khai thác tốt càng thêm giàu có và tỏa sáng, không bao giờ cạn kiệt. Lấy chùa Hương Tích làm ví dụ. Hàng năm, tại di tích này thu hút đông đảo mọi tầng lớp cư dân trên nhiều miền của đất nước và nước ngoài tới tham quan, vãng cảnh và lễ Phật/Mẫu. Thông thường, du khách tới Hương Tích vào mùa lễ hội (kéo dài suốt ba tháng đầu năm dương lịch) để vừa đi lễ, vừa thưởng ngoạn không gian cảnh quan đẹp tuyệt và hưởng thụ, chiêm ngưỡng những sinh hoạt văn hóa cộng đồng như các nghi lễ, trò chơi, trò diễn dân gian đặc sắc, tiêu biểu cho vùng đất Hà Tĩnh. Tuy nhiên một vài năm gần đây, người dân và du khách cũng còn đến với di tích tại nhiều thời điểm trong năm, bởi họ muốn tránh bớt sự đông đúc, nhộn nhịp của mùa lễ hội. Đây chắc chắn là thành công của việc quảng bá về các giá trị của di sản văn hóa tới cộng đồng, đồng thời là kết quả của việc lập các tour du lịch để cộng đồng dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ về giá trị di sản. Có thể nhận thấy, chính cộng đồng là người trực tiếp sáng tạo, hưởng thụ giá trị của di sản, đồng thời cũng là người tuyên truyền quảng bá tích cực nhất để giá trị của di sản tiếp tục lan truyền và phát huy giá trị.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã thiết kế những tuyến du lịch dựa trên việc nghiên cứu khá kỹ lưỡng tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái, nhân văn của tỉnh. Trong quy hoạch này, chỉ có ba chùa là chùa Hương Tích, chùa Yên Lạc và chùa Diên Quang (chùa Am) là được đưa vào trong các điểm tham quan của năm tuyến du lịch nội tỉnh, mỗi chùa chỉ có tên trong một tuyến duy nhất. Như vậy ta thấy rõ giá trị của những ngôi chùa này chưa thực sự được quan tâm khai thác như một nguồn lực phát triển kinh tế xã hội địa phương. Với tư cách là nhà nghiên cứu việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống di sản văn hóa Phật giáo, chúng tôi xin đề xuất thêm một số bổ sung để khi thực hiện chi tiết quy hoạch có thể tham khảo. Đề xuất của chúng tôi sẽ trình bày tại phụ lục số 5 [PL 4, tr.249].
4.1.7. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học về các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan đến hệ thống các chùa trên địa bàn Hà Tĩnh là việc làm cần thiết và cấp bách để có thể có được những đánh giá tổng thể, đầy đủ về giá trị của hệ thống các di tích lịch sử Phật giáo này. Theo cuốn Chùa cổ Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh thì Hà Tĩnh có trên 417 ngôi chùa cổ còn mô tả được và 26 ngôi chùa hiện không còn dữ liệu để mô tả nhưng vẫn xác định được tên nhờ các tư liệu cổ và ký ức dân gian. Kết quả tổng điều tra năm 2015, có hơn 200 ngôi chùa trong đó có 44 ngôi chùa đã xếp hạng, 159 ngôi chùa chưa xếp hạng, tức chưa lập hồ sơ di tích; Ban Tôn giáo của tỉnh và Ban Trị sự Hội Phật Giáo Hà Tĩnh cung cấp danh sách 105 chùa đang hoạt động. Vì vậy để đánh giá được đầy đủ, toàn diện, hệ thống di sản văn hóa Phật giáo thì việc nghiên cứu, sưu tầm, khảo sát điền dã còn rất bừa bộn đòi hỏi phải tập trung cao độ các nguồn lực trong thời gian tới. Việc làm này nhằm hai mục tiêu: Một là sưu tầm, phát hiện và nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về các công trình kiến trúc cụ thể còn chưa được biết đến trên địa bàn tỉnh, để lập hồ sơ khoa học cho từng di tích. Kiểm kê, thống kê các di vật, cổ vật, bảo vật còn được lưu giữ trong các chùa đó và cần được đăng ký đầy đủ theo tiêu chuẩn đã được qui định để bảo quản, bảo vệ lâu dài. Trên cơ sở đó lập bản đồ các di tích trên từng địa bàn trong vùng. Để nhận diện đầy đủ giá trị của các ngôi chùa cũng cần sưu tầm, nghiên cứu, ghi chép các truyền thuyết, thần tích, huyền tích, thơ văn, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng liên quan đến từng ngôi chùa. Trong quá trình vận động, biến đổi các di sản phi vật thể này có thể bị mai một, nhưng chắc chắn vẫn còn trong tiềm thức của người dân. Tiến hành nghiên cứu đồng bộ và hệ thống như vậy mới thấy rõ được tính hệ thống của các di sản liên quan đến Phật giáo trên địa bàn tỉnh, nhằm phục vụ cho việc lên kế hoạch khai thác và phát huy giá trị của các di sản này một cách đồng bộ, hiệu quả.
Cần thiết phải nghiên cứu những sắc phong hiện lưu giữ trong các ngôi chùa.
Sắc phong là một nguồn sử liệu rất có giá trị. Nhưng do đặc trưng có tính lịch sử của văn hóa Hà Tĩnh, do hậu quả của phong trào hợp tự và các quan niệm cực đoan về tôn giáo tín ngưỡng nên việc dồn cục các bảo vật, di vật từ nhiều di tích tôn giáo tín ngưỡng khác nhau vào chùa, đã tạo nên sự lẫn lộn nguồn gốc của các sắc phong này. Vì thế việc nghiên cứu, phân loại sắc phong là rất cần thiết, để có thể sử dụng chúng một cách hữu ích cho việc nghiên cứu lịch sử Hà Tĩnh.
Cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho việc nghiên cứu và lưu trữ, tìm kiếm tra cứu thông tin về hệ thống các di sản văn hóa Phật giáo. Cụ thể cần phải xây dựng một cơ sở dữ liệu dữ kiện chung mang tính chuyên đề về di sản văn hoá liên quan đến Phật giáo trong phạm vi toàn tỉnh Hà Tĩnh, và nếu có thể, nên kết hợp với các di tích khác như đền, miếu, nhà thờ họ…, những di sản đều có liên quan đến văn hóa tâm linh để có một cơ sở dữ liệu hệ thống và đầy đủ. Cơ sở dữ liệu này có thể giúp cơ quan quản lý về hoạt động tôn giáo, cơ quan quản lý về di sản văn hóa liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng theo dõi một cách dễ dàng và luôn cập nhật những thông tin mới mẻ về đối tượng mà họ quản lý. Đây sẽ là một công cụ tra cứu hữu hiệu phục vụ cho việc nghiên cứu tiếp tục và bảo tồn, phát huy hệ thống di sản văn hoá quý giá này.
Kết quả nghiên cứu về các loại hình di sản liên quan Phật giáo cần được biên tập, xuất bản và phát hành rộng rãi để người dân hiểu biết một cách sâu sắc giá trị của hệ thống di tích này trong quá trình phát triển của cộng đồng cư dân Hà Tĩnh. Đó cũng chính là quá trình tư liệu hóa nguồn di sản, góp phần thiết thực cho tiến trình bảo tồn các giá trị văn hóa nói chung.
4.1.8. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Một trong những nguyên tắc bảo tồn phát huy giá trị di sản là bảo tồn phát huy trong cộng đồng, vì lợi ích cộng đồng. Những giá trị văn hóa liên quan đến các di sản văn hóa Phật giáo do cộng đồng dân cư sáng tạo nên, chúng tồn tại trong tâm thức cộng đồng và bản thân cộng đồng vừa là người sáng tạo, vừa là người lưu truyền và hưởng thụ các giá trị văn hóa đó. Vì thế việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản này chỉ có thể đạt được kết quả một cách toàn diện khi không chỉ có sự tham gia của các cơ quan quản lý, mà còn cần có cả sự tham gia của tất các ngành, các cấp và cộng đồng cư dân. Cho nên nâng cao ý thức của cộng đồng về việc giữ gìn phát huy các giá trị của di sản văn hóa phải là một giải pháp cần được quan tâm và thực hiện thường xuyên, đồng bộ, dưới nhiều hình thức khác nhau. Chỉ có sự tự nguyện gìn giữ với nhận thức đúng đắn về những giá trị đó, mới luôn làm các giá trị tỏa sảng, lan truyền và thấm sâu vào đời sống hiện đại. Để thực hiện điều này, Hà Tĩnh nên:
- Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, thông tin tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tập huấn, tọa đàm, trao đổi, tổ chức các chuyến đi về nguồn cội, tổ chức các hoạt động văn hóa tại di tích, tổ chức thi sưu tầm và viết về di tích về nhân vật được phối thờ trong chùa, viết về quê hương… cùng với sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần đưa Luật Di sản văn hóa đi vào cuộc sống.
- Việc quản lý, bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị tại di tích phải công minh, minh bạch, rõ ràng, phải có sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện, kiểm tra và giám sát. Đặc biệt phát huy vai trò của các cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, tổ chức Đoàn thanh niên.
- Đối với mỗi di sản có giá trị cần phải có các tờ rơi in đẹp, giới thiệu về những giá trị đặc sắc của di tích đó, bao gồm cả giá trị vật thể và phi vật thể. Các cơ quan quản lý Nhà nước Hà Tĩnh cần sử dụng các kết quả nghiên cứu về giá trị di sản văn hóa Phật giáo để xuất bản các ấn phẩm, giới thiệu sâu sắc và phổ biến giá trị đó cho mọi tầng lớp nhân dân.
Trên cơ sở được nâng cao về nhận thức, người dân sẽ có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ, bảo tồn các loại hình di sản văn hóa gắn với nhân vật mà cộng đồng luôn tri ân và ngưỡng mộ. Xét cho cùng, đó cũng chính là nguyện vọng của cộng đồng cư dân làng xã có Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo.
4.2. Giải pháp bảo tồn giá trị di sản văn hóa vật thể tại các di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại đã phân tích cụ thể tại mục 3.3.1.2, Hà
Tĩnh cần áp dụng một số giải pháp cụ thể sau đây:
4.2.1. Nhóm giải pháp về quy hoạch, lập hồ sơ di sản
Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể của các ngôi chùa, nhằm đảm bảo tính khoa học, tổng thể, tôn trọng các giá trị gốc. Để tránh những sai lầm đáng tiếc như trong quy hoạch chùa Long Đàm, chùa Hạ Phúc, chùa Đà Liễu…, việc thẩm định hồ sơ cần thực hiện nghiêm túc hơn nữa. Cần thiết phải kết hợp giữa việc nghiên cứu hồ sơ với khảo sát thực tế tại hiện trường để phát hiện kịp thời những khiếm khuyết, sai sót trong quy hoạch.
Tăng cường đội ngũ nghiên cứu để tiếp tục lập hồ sơ di tích cho 159 ngôi chùa chưa được xếp hạng di tích trong tỉnh.
Cùng với việc ban hành quy định cụ thể hơn nữa về việc lập hồ sơ di tích, Hà Tĩnh cần thiết phải thực hiện nghiêm túc việc nghiệm thu hồ sơ, để đảm bảo chất lượng của hồ sơ di sản. Yêu cầu mỗi hồ sơ di tích, bên cạnh các thông tin chọn lọc, tổng hợp từ các nguồn tin đã công bố, nhất thiết phải có những thông tin do tác giả tự khảo sát thực địa, sưu tầm trong dân gian
4.2.2. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng công tác tu bổ, phục hồi di tích Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Nghiêm túc thực hiện quy định về chứng chỉ hành nghề đối với chuyên gia thực hiện việc tu bổ, bảo quản di tích. Đảm bảo những người thực hiện công tác này đều có đủ hiểu biết đáp ứng yêu cầu của việc tu bổ, bảo quản di tích. Tránh những sai sót đáng tiếc như việc làm mất giá trị, sự tinh tế của tác phẩm điêu khắc cổ thế kỷ 17 (đó là 10 pho tượng ở chùa Bảo Lâm ở Hương Khê, việc tùy tiện thêm các mái tôn vào trước di tích, hoặc phục hồi di tích dưới dạng các kiến trúc bình dân hiện đại tràn lan hiện nay ở Hà Tĩnh). Cơ quan quản lý Nhà nước về di sản, cần giám sát chặt chẽ việc phục hồi di tích hoang phế. Cần quy định rõ ràng cụ thể quy trình phục hồi di tích và xây mới di tích trong khuôn viên di tích cũ. Đối với các di tích có thể phục hồi, cần cố gắng bảo tồn nguyên trạng và gia cố kiến trúc cổ. Có thể cho phép xây dựng các công trình mới, nhưng không được phép gây ảnh hưởng đến việc việc tham quan, nghiên cứu ngôi chùa cũ. Đối với các di tích đã hoang phế hoàn toàn, trước khi xây mới lại cần nghiên cứu kỹ về lịch sử, cấu trúc ngôi chùa cũ, lập bản vẽ mô phỏng để lưu trữ rồi mới xây mới. Trong kiến trúc mới, phải có một phòng dùng như bảo tàng để lưu giữ lại dấu tích của ngôi chùa cổ và các hiện vật cổ còn giữ lại được (nếu hiện vật được sử dụng trong công trình mới thì chụp ảnh để trưng bày tại phòng bảo tàng).
Nghiên cứu mô hình chùa mới: Hà Tĩnh nên nghiên cứu một mô hình chùa, dựa trên các chùa cổ còn sót lại để yêu cầu các ngôi chùa xây mới phải được thiết kế theo phong cách truyền thống. Không thể làm chùa theo một phong cách rất lạ, khung sắt, mái tôn giống như một quán ăn như hiện nay. Nhiều ngôi chùa ở Hà Tĩnh (Phục Linh, Khang Quý, Phổ Độ…), vi phạm nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, khiến cho ngôi chùa trở nên xa lạ với truyền thống văn hóa của địa phương.
Xây dựng quy hoạch tổng thể cho từng di tích: Hà Tĩnh cần phải xây dựng quy hoạch tổng thể cho từng di tích đã xếp hạng. Để tránh những sai sót như đã có trong quy hoạch tổng thể một số chùa như Long Đàm, Hạ Phúc mà chúng tôi đã bàn trên đây, cần nghiêm túc nghiên cứu kỹ Nghị định 70/NĐ-CP. Căn cứ điều 10 và 11 của Nghị định 70/NĐ-CP của Chính Phủ, để xây dựng được quy hoạch tổng thể cho mỗi di tích cần: Xác định yêu cầu nghiên cứu, khảo sát di tích và các yếu tố kinh tế – xã hội có liên quan. Nghiên cứu đánh giá các yếu tố kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến việc lập và triển khai quy hoạch. Xác định đặc trưng và giá trị tiêu biểu của di tích. Đề xuất định hướng, kế hoạch lập quy hoạch tổng thể di tích và kế hoạch chi tiết cho các việc cắm mốc giới, giải tỏa vi phạm, tổ chức phát huy giá trị di tích và lập hồ sơ xếp hạng di tích. Đề xuất định hướng tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan cho việc bảo tồn di tích và xây dựng mới. Xác định nội dung chi tiết của đồ án quy hoạch, thời hạn hoàn thành đồ án quy hoạch. Những ngôi chùa đã xếp hạng cần xây dựng quy hoạch tổng thể được thống kê tại phụ lục số 13 [PL 12, tr.265].
Lập dự án bảo quản, tu bổ, chống xuống cấp và tôn tạo di tích
Đối với các di tích đã có hồ sơ khoa học và đã được xếp hạng di tích, điều quan trọng là việc lập dự án bảo quản, tu bổ di tích. Những ngôi chùa cổ đều có tuổi thọ vài trăm năm. Thời gian và những tác động từ những nguyên nhân khách quan (thời tiết, khí hậu, chiến tranh…) và chủ quan ở chính con người, đã có những ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại của di tích. Một thời gian dài hơn nửa thế kỷ, như đã phân tích ở chương 3, Hà Tĩnh chưa có sự quan tâm đúng mức đến di tích kiến trúc, và các đồ thờ tự, trong đó như những cổ vật, đồ tạo tác nghệ thuật. Thậm chí còn đánh đồng các ngôi chùa, ngôi đền với việc mê tín dị đoan, thay đổi mục đích sử dụng cuả các ngôi chùa từ thiêng liêng sang các mục đích hoàn toàn thế tục. Những ứng xử không đúng đó trong quá khứ đã mang lại vô cùng nhiều tổn hại cho hệ thống di tích chùa nói riêng và di sản văn hóa nói chung.
Trước hiện trạng đó, những công trình kiến trúc thờ tự này cần phải được bảo quản và tiến hành lập dự án tu bổ để chống xuống cấp. Việc lập dự án bảo quản, tu bổ di tích cần phải đề xuất cả các chương trình vận động để cộng đồng địa phương và khách thập phương đóng góp tài chính cho các dự án, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, kéo dài sự tồn tại bền vững cho di tích. Theo số liệu thống kê tại bảng 3.4, chương 3, hiện nay đang có 12 chùa hiện trạng được bảo quản tốt và đang phát huy được giá trị của mình. Những ngôi chùa còn lại đều ở dạng xuống cấp một phần, xuống cấp và xuống cấp nghiêm trọng. Đây là một thách thức không nhỏ đối với việc quản lý hệ thống di sản văn hóa này. Do đó, việc cần nhanh chóng lập hồ sơ khoa học để lấy căn cứ lập các dự án, bảo quản tu bổ di tích trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Căn cứ vào hiện trạng được mô tả trong hồ sơ khoa học, để xác định thứ tự ưu tiên trong việc xây dựng các dự án bảo quản và tu bổ. Những di tích có giá trị đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ đổ nát cần phải được ưu tiên lập dự án bảo quản và tu bổ trước. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Để có cơ sở bảo quản, tu bổ tôn tạo di tích và các đồ thờ tự trong chùa theo đúng nguyên tắc bảo tồn mà chúng tôi đã đề cập đến ở mục 1.3 trên đây, đảm bảo tính chính xác, giữ gìn tối đa các giá trị lịch sử vốn có của di tích, thì trong khi lập dự án bảo quản, tu bổ di tích cần nghiên cứu kỹ các giá trị đó. Từ đó, có giải pháp bảo quản, tôn tạo phù hợp. Tránh những đáng tiếc đã xảy ra như với tượng thập điện Diêm Vương ở chùa Bảo Lâm (Hương Khê), các ngôi chùa mới phục dựng lại như chùa Phục Linh, chùa Khang Quý, Giai Lam, Phổ Độ… Ngôi chùa mới cất lên không có một chút gì liên quan đến phong cách, bố cục, hình dáng của ngôi chùa cũ. Vì vậy, đối với các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, ngoài việc lập dự án và cấp kinh phí cho việc tôn tạo, tu bổ di tích, các cơ quan chuyên môn phải có sự chỉ đạo sát sao, nhằm giữ gìn những giá trị lịch sử văn hóa vốn có. Tránh việc tu bổ không tôn tạo được giá trị di tích, mà lại làm mất đi những giá trị tiềm ẩn trong từng yếu tố cấu thành di tích. Những ngôi chùa cần lập dự án tu bổ, bảo quản được thống kê tại phụ lục 13 [PL 12, tr.265].
Di tích chỉ có thể phát huy được giá trị vốn có của mình nếu như những giá trị đó dễ dàng được tiếp cận và tỏa sáng. Vì thế, bên cạnh việc lập hồ sơ bảo quản, tu bổ, phục dựng công trình kiến trúc, cần phải có những dự án nhằm tôn tạo các giá trị của di tích. Đó là các dự án tôn tạo môi trường cảnh quan của di tích, cải tạo đường sá, cơ sở hạ tầng kỹ thuật để cư dân và khách thập phương có thể đến được với di tích một cách dễ dàng. Trong dự án tôn tạo di tích, ngoài môi trường cảnh quan, cần quan tâm đường tới tham quan di tích, bãi đỗ xe cho khách tham quan, quy hoạch nơi bán hàng và các dịch vụ công cộng: ăn uống, nghỉ ngơi, y tế và các loại hình dịch vụ khác. Hầu hết các di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia đã triển khai tốt giải pháp này. Tuy nhiên, một số di tích cấp tỉnh do nằm biệt lập, cách khu dân cư, đường đi tới di tích nhỏ nên gặp khó khăn trong việc phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc vốn có. Vì vậy, chính quyền điạ phương và các cơ quan chuyên môn cần có phương án tôn tạo di tích, góp phần để người dân được hưởng thụ thành quả sáng tạo của các thế hệ trước để lại. Trong việc lập dự án tôn tạo di tích cần tôn trọng nguyên tắc giữ gìn nguyên trạng di tích, tránh những khuyết điểm đã gặp phải, như đã phân tích ở chương 3, là làm đường cắt ngang khuôn viên của di tích, cắt di tích thành hai phần, phần công trình kiến trúc và khuôn viên của công trình với phần còn lại của khuôn viên chùa như ao, thủy đình hoặc giếng. Đây là một lỗi về cách ứng xử với di tích rất phổ biến ngay cả đối với các di tích cấp quốc gia đặc biệt ở Thủ đô Hà Nội cũng có. Ví dụ: Văn miếu Quốc tử giám, đền Sóc… Các di tích này đều bị làm đường cắt ngang khuôn viên của di sản. Ở Hà Tĩnh hiện trạng này cũng không ngoại lệ. Con đường bê tông vào làng đã cắt chia phần kiến trúc của chùa Hạ Phúc với ao sen phía trước, làm thu hẹp đáng kể khuôn viên chùa và làm giảm đi tính tổng thể của di sản, phá vỡ sự hài hòa, cân bằng âm dương vốn là một tiêu chí quan trọng trong phong thủy đối với các công trình kiến trúc, đảm bảo sự trường tồn của chúng cùng thời gian. Mái của đại điện của chùa Long Đàm mới xây dựng chắn ngang đường lên ngôi chùa cổ phía trên do khi quy hoạch không tính đến yếu tố địa hình dốc. Những ngôi chùa cần thiết phải ập dự án bảo quản,tu bổ và tôn tạo của Hà Tĩnh được thống kê ở bảng phụ lục số 13. Trong bảng thống kê này, với tổng số 41 ngôi chùa đã xếp hạng di tích, có 34 ngôi chùa cần phải vừa làm quy hoạch tổng thể, vừa cần phải lập dự án tu bổ, tôn tạo, chỉ có 07 ngôi chùa đã có quy hoạch tổng thể, cần phải lập dự án tu bổ, tôn tạo.
4.2.3. Giải pháp quản lý di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
4.2.3.1. Sưu tầm, ghi chép, ghi hình các di sản văn hóa phi vật thể
Trước hết là sưu tầm các câu chuyện trong dân gian liên quan đến chùa và nhân vật phối thờ trong từng ngôi chùa. Mỗi một ngôi chùa được dựng lên trong cộng đồng đều có nhiệm vụ riêng, phục vụ cho mục đích cụ thể của cộng đồng. Cộng đồng luôn luôn có cách lý giải cho sự ra đời và tồn tại của chúng theo cách dân gian độc đáo và mang đậm đặc trưng văn hóa vùng, miền, địa phương của họ. Những câu chuyện đó dược thể hiện dưới dạng các truyền thuyết, thần tích, được ghi vào sắc phong, hoặc cụ thể hóa bằng các phong tục tập quán địa phương, mã hóa dưới các đám rước, trò diễn, trò chơi dân gian. Các công trình kiến trúc có thể trở thành phế tích, nhưng những giá trị văn hóa phi vật thể của chúng luôn tồn tại trong tâm thức của cộng đồng. Vì chúng được truyền bá từ đời này qua đời khác bằng phương thức truyền miệng. Khối lượng lớn những giá trị văn hóa phi vật thể gắn với hệ thống các ngôi chùa ở Hà Tĩnh hiện còn chưa được sưu tầm, ghi chép phục vụ cho mục đích nghiên cứu và bảo tồn. Ký ức dân gian chủ yếu còn lại trong thế hệ những người cao tuổi. Vì vậy, nếu chúng ta không khẩn trương thực hiện việc sưu tầm những giá trị này, thì có thể sẽ mất đi vĩnh viễn những giá trị văn hóa phi vật thể quy giá. Giải pháp quan trọng ở đây là cần phải có các kế hoạch cụ thể, thiết thực cho sưu tầm, ghi chép các giá trị văn hóa ấy, tận dụng triệt để khả năng hỗ trợ của những người cao tuổi hiểu biết về di sản ở địa phương. Chính họ là những người nắm giữ giá trị văn hóa phi vật thể như văn học dân gian, thơ ca, truyển kể, giúp cho việc sưu tầm, ghi chép và xuất bản được hiệu quả, góp phần làm giàu cho kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Cần nghiên cứu khảo sát, ghi hình, chụp ảnh lễ hội dân gian tổ chức tại chùa. Những nhà quản lý lễ hội dân gian nên xác định, bên cạnh những nét tương đồng với các lễ hội tại vùng châu thổ Bắc Bộ, lễ hội ở mỗi vùng miền đều có những nét riêng biệt, đặc sắc như các trò chơi, trò diễn, phong tục chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương, các sản vật của mỗi vùng. Việc khảo sát, ghi hình, chụp ảnh quá trình diễn ra lễ hội là cơ sở để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đồng thời có thể sử dụng để quảng bá về lễ hội với các cộng đồng khác trong và ngoài nước. Hà Tĩnh có một số lượng lễ hội dân gian phong phú, theo điều tra năm 2015 có tới 180 lễ hội trong đó có các lễ hội chùa. Nhiều lễ hội đã được phục dựng, tổ chức lại, một số lễ hội đã mai một chỉ còn lại trong ý ức của những thế hệ cư dân cao tuổi địa phương. Vì thế khảo sát, ghi hình, chụp ảnh lễ hội là việc làm để lưu giữ lại, những thông tin quan trọng liên quan đến các diễn xướng dân gian được tổ chức trong các lễ hội chùa. Đồng thời phục vụ cho việc phục dựng lại các lễ hội đã bị mai một, sao cho gìn giữ được nhiều nhất các giá trị đích thực của chúng. Đây cũng là cách tốt nhất để lưu giữ những sinh hoạt văn hóa cộng đồng cho thế hệ sau.
Tiếp tục nghiên cứu sưu tầm, các phong tục tập quán tốt đẹp có liên quan đến những ngôi chùa và nhân vật được phối thờ trong chùa: Liên quan đến lễ hội chùa và tôn vinh các nhân vật lịch sử, thần linh là những phong tục, tập quán lưu giữ dấu ấn riêng của từng cộng đồng và từng địa phương. Tại hầu hết các làng đều có quy định cụ thể cho việc tổ chức lễ hội chùa, như không cờ bạc, hầu bóng, không hành nghề mê tín dị đoan, phải chay tịnh, tắm rửa sạch sẽ, không nói tục, nói bậy khi đến chùa… Tất cả những quy định này tạo cho không gian lễ hội thêm tôn nghiêm, con người và thần linh có sự giao cảm, thỏa mãn nhu cầu tâm linh của người dân. Bên cạnh đó là những phong tục riêng có ở các lễ hội chùa như tục rước tướng, cầu ngư, hát chèo cạn, chơi đánh cù…, về cơ bản mang những nét riêng của miền Hà Tĩnh.
4.2.3.2. Nghiên cứu phục hồi những nghi lễ, trò diễn, trò chơi trong lễ hội chùa xưa Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Như mục 3.3.2 đã phân tích rõ, nhiều nghi lễ, trò chơi, trò diễn còn chưa được khôi phục lại trong các lễ hội dân gian tại chùa. Những nghi lễ, trò diễn, trò chơi này, về cơ bản lại thể hiện rất rõ bản sắc của từng địa phương, vì thế cần phải nghiên cứu, sưu tầm để có cơ sở phục hồi lại các nghi lễ, trò diễn, trò chơi đó, trả lại cho lễ hội vẻ đẹp nguyên sơ trước đây. Phụ lục số 12 thống kê các nghi lễ cần được nghiên cứu và khôi phục lại. Đây là các nghi lễ, trò diễn mang đậm bản sắc văn hóa của từng địa phương. Phòng quản lý di sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cần phải kết hợp với Bảo tàng Hà Tĩnh, tổ chức các đợt khảo sát điền dã, ghi chép, sưu tầm và mô tả đầy đủ các nghi lễ, trò diễn này trong dân gian để có cơ sở phục dựng lại chúng. Đặc biệt nghi lễ rước nước là một trong những nghi lễ đặc trưng của cư dân nông nghiệp, vì vậy chúng tôi thiết nghĩ cần khôi phục lại. Một số nghi lễ, trò diễn mang đậm bản sắc văn hóa địa phương, như: lễ Mở hội, lễ rước Kinh từ chùa ra đền, lễ đàn oan, lễ phóng sinh, lễ cúng chay phá ngục cứu vớt vong linh những người tử nạn trên biển khi đi làm ăn… của một số ngôi chùa ven biển, như chùa Yên Lạc cần phải ưu tiên nghiên cứu để phục hồi, trả lại vẻ đẹp cổ xưa cho lễ hội chùa Hà Tĩnh.
Bảng 5: Danh mục các nghi lễ, trò diễn, trò chơi cần nghiên cứu để khôi phục tại các lễ hội chùa Hà Tĩnh
4.2.3.3. Tổ chức các hoạt động văn hóa hiện đại cùng với các trò chơi, trò diễn truyền thống
Đây là một giải pháp quan trọng để đưa các giá trị di sản đến gần với cộng đồng, vừa góp phần tuyên truyền quảng bá giá trị di sản, vừa góp phần thỏa mãn nhu cầu giải trí ngày càng cao của cộng đồng. Bên cạnh các hoạt động văn hóa lành mạnh như trò chơi trí tuệ, trò chơi nhóm, trò chơi tài khéo có thưởng, thi hát dân ca địa phương đó là việc phục hồi những trò chơi, trò diễn đã bị mai một (như đua thuyền, đấu vật truyền thống, hát chèo cạn, hát ví dặm, hò trong các đêm hội), đáp ứng nguyện vọng của người dân là cách giúp cho họ hiểu rõ bản sắc văn hóa của dân tộc. Các hoạt động này, sẽ đáp ứng được nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng.
4.2.3.4. Đảm bảo an ninh, loại trừ mê tín dị đoan, kiểm soát hiện tượng thương mại hóa trong hoạt động nghi lễ và lễ hội Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
Đây là việc làm cần thiết trong quá trình tổ chức lễ hội nói chung và lễ hội chùa nói riêng. Đảm bảo an ninh, không chỉ là bảo vệ di tích để tránh xảy ra mất cắp cổ vật, an ninh trong dịp lễ hội, còn để hạn chế hiện tượng trộm cắp, ăn xin, cờ bạc… và các hoạt động mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, làm mất đi sự tĩnh tâm trong mỗi người khi tham dự lễ hội và tính thiêng của lễ hội.
Để việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa liên quan đến những ngôi chùa được hữu hiệu, cần quan tâm sâu sắc tới nhận thức của cộng đồng về đức Phật và các Thánh/Thần/Mẫu được phối thờ trong chùa, và các loại hình di sản có liên quan. Trong thực tế, hầu hết các di tích này tồn tại trong cộng đồng và được cộng đồng chung tay gìn giữ, tôn tạo.
Cần có chế tài để xử lý những hiện tượng biến các nghi lễ trang trọng đậm tính nhân văn thành các dịch vụ thu lợi nhuận theo xu hướng thương mại hóa (như tình trạng chùa Hạ Phúc phải chi 100 triệu để tổ chức lễ Vu lan đã đề cập ở mục 3.3.2 trên đây).
Tiểu kết
Để nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh, luận án đề xuất ba nhóm giải pháp:
Nhóm giải pháp chung cho cả di sản vật thể và phi vật thể bao gồm: 1/Hoàn thiện đường lối chính sách. 2/Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý. 3/Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa. 4/Xây dựng quy hoạch tổng thể toàn bộ di tích lịch sử văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. 5/Tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm. 6/Phát triển các tour du lịch đưa di sản văn hóa vào đời sống kinh tế xã hội. 7/Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học. 8/Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa;
Nhóm thứ hai, giải pháp cho việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể gồm: 1/Lập hồ sơ khoa học cho các di sản chưa được xếp hạng. 2/Lập quy hoạch tổng thể, dự án bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích;
Nhóm thứ ba, giải pháp cho việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gồm: 1/ Sưu tầm, ghi chép các di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến các di tích. 2/ Nghiên cứu để khôi phục lại các nghi lễ, trò chơi, trò diễn trong lễ hội. 3/Tổ chức các hoạt động văn hóa hiện đại trong khuôn viên di tích. 4/Đảm bảo an ninh cho lễ hội.
Những giải pháp đã nêu trong luận án đây cần phải thực hiện một cách đồng bộ và tổng thể thì mới đạt được hiệu quả cần thiết. Đây chính là những phương cách quan trọng để những giá trị văn hoá Phật giáo ở Hà Tĩnh liên quan đến những ngôi chùa toả sáng trong đời sống của người dân.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung đã trình bày ở trên, tác giả luận án rút ra một số kết luận như sau:
- Di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh phản ánh đặc thù lịch sử, kinh tế xã hội địa phương (chùa thường nằm trong quần thể đền, chùa, miếu). Nhân vật phối thờ là những người có công giữ gìn vùng biên ải, khai hoang lập ấp, quy mô chùa không lớn nhưng hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Những giá trị văn hóa của các ngôi chùa ở Hà Tĩnh đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự xuống cấp (do thiên tai, chiến tranh và lối ứng xử vô thần máy móc…). Hiện nay, những ngôi chùa đang là không gian sinh hoạt văn hóa tâm linh không thể thiếu của cư dân Hà Tĩnh.
- Luận án đã tổng quan vấn đề nghiên cứu, trình bày, phân tích tính khả thi trong việc áp dụng lý thuyết vùng văn hóa, lý thuyết về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa. Ngoài ra, luận án còn luận giải, lựa chọn các khái niệm công cụ làm cơ sở để nhận diện, phân tích,đánh giá đối tượng quản lý và thực trạng công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh. Bên cạnh đó, những văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng để tác giả luận án đánh giá hiệu quả việc triển khai, tính khả thi cũng như sự bất cập trong thực tiễn quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
- Di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh hàm chứa những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nhưng đang bị xuống cấp, xuống cấp một phần, xuống cấp nghiêm trọng hoặc gần như hoang phế. Đó là các di tích cấp quốc gia (gồm 7 ngôi chùa), di tích cấp tỉnh (37 ngôi chùa) và các di tích chưa được xếp hạng (159 ngôi chùa). Mặc dù trong tình trạng như vậy nhưng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh vẫn diễn ra các hoạt động văn hóa tôn giáo tín ngưỡng tại hơn một trăm ngôi chùa. Điều đó cho thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ của nhu cầu văn hóa tâm linh. Như vậy, Hà Tĩnh sẽ phải làm gì để dựng lại không gian văn hóa Phật giáo. Thực tế này đòi hỏi phải có sự đầu tư, nghiên cứu, có kế hoạch tu bổ, tôn tạo và khai thác các giá trị văn hóa Phật giáo.
- Các văn bản pháp luật quan trọng về quản lý di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng (Luật di sản văn hóa, Luật Tín ngưỡng tôn giáo, Luật Xây dựng…) khi áp dụng vào thực tiễn quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh đã nảy sinh một số vấn đề bất cập. Đó là các nghệ nhân không có chứng chỉ hành nghề. Ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa các quy định của một số luật liên quan (Luật Tín ngưỡng tôn giáo đã công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo ghi nhận việc quản lý và sử dụng đất của cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo, Điều 181 Luật Đất đai lại quy định cơ sở tôn giáo không được quyền sử dụng đất). Mặt khác quy định trong thủ tục xin cấp phép sửa chữa di tích lịch sử văn hóa Phật giáo chưa phù hợp (để tôn tạo một di tích thì đề án được gửi đến khá nhiều ban ngành như: Ban tôn giáo, Phòng quản lý di sản, Sở văn hóa, Sở xây dựng… của tỉnh. Sau đó mới trình UBND tỉnh ra quyết định đối với di tích cấp tỉnh, đối với di tích cấp quốc gia thì hồ sơ sẽ được tỉnh gửi lên xin ý kiến của Bộ VHTTDL để xin cấp phép) . Hiện tại các văn bản quy định chưa thống nhất, phân định chưa rõ trách nhiệm trong việc sử dụng tiền công đức, quản lý lễ hội, công tác xã hội hóa…
- Mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh có ba chủ thể tham gia gồm: Nhà nước, Giáo hội phật giáo và cộng đồng. Mỗi chủ thể quản lý có cơ chế, chức năng, nhiệm vụ riêng. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn là chủ thể quản lý chung. Cả ba mô hình quản lý nêu trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Mô hình Nhà nước trực tiếp quản lý đã thực hiện tương đối có hiệu quả trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Mô hình sư trụ trì chịu trách nhiệm chính có thế mạnh về khả năng kêu gọi nguồn lực cộng đồng trong việc sửa chữa, tu bổ, phục dựng lại chùa. Hạn chế của mô hình này là thiếu hiểu biết về Luật Di sản văn hóa. Mô hình cộng đồng chịu trách nhiệm có thế mạnh là am hiểu về di tích và tham gia công tác quản lý di tích một cách tự nguyện, tích cực. Hạn chế của mô hình này là thiếu kiến thức về quản lý di sản và ít có khả năng huy động vốn để sửa chữa, tu bổ di tích.
- Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong ba mô hình quản lý trên là đối tượng quản lý phức tạp, nội dung quản lý đa dạng, lực lượng chủ thể quản lý ở cả ba nhóm số lượng ít, chất lượng hạn chế. Ngoài ra chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa nhà quản lý và nhà nghiên cứu. Cộng đồng cư dân đang là chủ thể trực tiếp gánh trọng trách chính trong mô hình quản lý hiện tại nên hiệu quả quản lý chưa cao.
- Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Hà tĩnh cũng được luận án khảo sát, đánh giá trên hai mặt ưu điểm và hạn chế tồn tại.
Về ưu điểm: Sau khi Luật Di sản văn hóa ra đời, công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng đã có nhiều khởi sắc. Hiện đã lưu giữ trùng tu và phục dựng lại được 105 di tích. Lập hồ sơ khoa học và xếp hạng cho 44 di tích. Các di vật, cổ vật trong các di tích này tuy đã mai một khá nhiều những cũng còn bảo tồn được một số có giá trị. Nhiều di tích đã được phục dựng lại với quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Hà Tĩnh đã có chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa linh hoạt và hiệu quả, 87,81% chi phí dùng cho việc phục dựng di tích là từ nguồn xã hội hóa
Về hạn chế: Chưa có quy hoạch tổng thể cho hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Một số ngôi chùa đã được quy hoạch nhưng chưa hợp lý, số lượng chùa chưa được xếp hạng di tích còn rất lớn. Việc lập hồ sơ khoa học cho một số ngôi chùa đã được xếp hạng, và đang đề nghị xếp hạng chưa đáp ứng quy định. Việc tôn tạo, sửa chữa còn tùy tiện nên làm giảm đi nhiều giá trị của di sản.
Hiện đã có 12 lễ hội dân gian tiêu biểu được bảo tồn cùng với việc khôi phục các trò chơi, trò diễn dân gian. Hồ sơ di tích trong các ngôi chùa đã có ghi chép ngắn gọn truyền thuyết, sự tích, sự kiện lịch sử liên quan đến dí tích. Một số chùa còn giữ và dịch nghĩa hàng trăm đạo sắc phong của các triều đại. Tuy nhiên, công tác bảo tồn lễ hội dân gian, sưu tầm thần tích, truyền thuyết, nghiên cứu sắc phong… chưa hiệu quả. Việc quản lý dịch vụ, môi trường, an ninh trật tự còn tiêu cực, tổ chức cúng lễ lộn xộn, chú trọng phần lễ coi nhẹ phần hội. Ngoài ra cơ chế quản lý lễ hội cho toàn tỉnh chưa thống nhất, các hoạt động mê tín dị đoan còn tồn tại.
Trên cơ sở đánh giá lại công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh nêu trên, luận án đã nêu lên các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo trong thời gian tới.
Thứ nhất là nhóm giải pháp áp dụng cho cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Đó là các giải pháp về chính sách, giải pháp nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý, xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, giải pháp xây dựng quy hoạch tổng thể cho di tích, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, phát triển các tour du lịch, khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên di tích phục vụ phát triển du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản.
Thứ hai: Nhóm giải pháp riêng cho giá trị di sản văn hóa vật thể chú trọng giải pháp Lập hồ sơ khoa học cho các di sản chưa được xếp hạng và lập quy hoạch tổng thể, dự án bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích, để việc bảo tồn, sửa chữa và khai thác các di sản văn hóa đảm bảo đúng quy định của Luật Di sản văn hóa.
Thứ ba: Nhóm giải pháp cho việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể là các giải pháp về sưu tầm lưu giữ lại các giá trị văn hóa phi vật thể liên quan đến các ngôi chùa bảo tồn phát huy các giá trị của chúng trong đời sống hiện đại. Điều đó góp phần làm đa dạng, phong phú dời sống tinh thần của người dân, giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa của vùng miền, địa phương.
Các giải pháp có tính khoa học và thực tiễn giúp các nhà quản lý trong việc đưa ra cơ chế, chính sách phù hợp để hạn chế bất cập trong công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo nói riêng và các di sản văn hóa khác ở địa phương nói chung. Điều đó góp phần làm cho di sản văn hóa Phật giáo có vai trò tích cực trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân và việc phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh.
Ngoài những kết quả đã trình bày ở trên, tác giả luận án nhận thấy còn một số vấn đề có thể tiếp tục triển khai, phục vụ cho việc quản lý và nhận diện sâu sắc hơn các giá trị văn hóa tiềm ẩn trong hệ thống di sản văn hóa Phật giáo. Đó là nghiên cứu các sắc phong hiện đang lưu giữ tại các ngôi chùa; nghiên cứu sự biến đổi trong nhận thức của cộng đồng dân cư trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; nghiên cứu việc quản lý các di sản văn hóa tâm linh khác (như đền, đình chùa, miếu). Nghiên cứu những chính sách mới để quản lý di sản cho thích ứng với xu hướng phát triển hiện tại, khi Phật giáo đang trở thành một thị trường cung ứng dịch vụ tâm linh lớn trên toàn quốc nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Những nghiên cứu này sẽ tạo ra một bức tranh tổng thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa nghệ thuật, tâm linh của Hà Tĩnh. Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
