Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh là những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng cư dân Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình lịch sử phát triển của vùng đất này. Nghiên cứu di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh từ góc độ quản lý văn hóa là một việc làm có ý nghĩa. Nó càng có ý nghĩa cấp thiết hơn trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, khi mà lối sống hối hả của cuộc sống hiện đại, cùng với nó là các tác động tiêu cực của thời kỳ hội nhập (toàn cầu hóa) đang biểu lộ ngày càng rõ nét trong các giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội. Trước bối cảnh đó, một hiện tượng rất đáng quan tâm là: con người tìm đến ngày một nhiều với niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Phật giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ anh hùng dân tộc và các tín ngưỡng dân gian khác.

Hà Tĩnh là một vùng đất có bề dày lịch sử và có những hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt. Đây là một vùng “phên dậu” của đất nước, vùng biên cương xa xôi, nơi tiếp giáp với các nền văn hóa láng giềng. Cư dân nơi đây đã từng trải qua những cuộc chiến để giữ gìn từng tấc đất của Tổ Quốc. Vì vậy, kho tàng di sản văn hóa Hà Tĩnh luôn gắn với quá trình khai hoang lập ấp và giữ biên thùy. Trong đó, Phật giáo là một trong những thành phần quan trọng của di sản văn hóa ấy. Tuy nhiên, nhiều di sản văn hóa tâm linh, trong đó có di sản văn hóa Phật giáo đã bị phá hủy. Những năm gần đây, người dân có những thay đổi nhận thức về giá trị văn hoá của tôn giáo, đạo Phật đã trở thành một nhân tố quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá lại các giá trị của di sản văn hóa Phật giáo, tiêu biểu nhất là những di tích lịch sử – văn hóa (chùa, tháp, thiền viện…) là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh thực hiện Nghị Quyết của Hội nghị Trung Ương 5 (khóa VIII) về việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, một trong những nội dung đó là bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, trong đó có di sản văn hóa Phật giáo. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác này vẫn còn những hạn chế nhất định. Để có thể sử dụng một cách tốt nhất những giá trị của di sản văn hóa Phật giáo vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, ngoài việc nghiên cứu, đánh giá các giá trị của di sản văn hóa, cần thiết phải nhìn nhận những khiếm khuyết trong việc quản lý, bảo vệ, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo để rút ra những bài học kinh nghiệm.

Đã có nhiều công trình viết về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Nhưng những công trình này, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu các giá trị vật thể và phi vật thể của một số ngôi chùa cụ thể, đó là sưu tầm, mô tả một số chùa cổ xưa trên đất Hà Tĩnh. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hiện trạng của những di sản văn hóa Phật giáo, cũng chưa có công trình nào đánh giá toàn diện những khó khăn, bất cập và thành tựu của công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh kể từ khi luật về di sản văn hóa ban hành năm 2001.

Đó là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Quản lý Di sản văn hóa Phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh cho luận án tiến sĩ, chuyên ngành Quản lý văn hóa. Tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định: Di sản văn hóa Phật giáo, tiêu biểu là di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo, được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra động lực cho sự phát triển (xét dưới góc độ tác động tới việc hình thành nhân cách con người) và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ trực tiếp cho phát triển. Không những thế, chúng tôi muốn chứng minh rằng, di sản văn hóa Phật giáo chính là một nguồn lực trực tiếp tham gia vào sự phát triển kinh tế-xã hội nếu như các giá trị ấy được đưa vào quỹ đạo của ngành du lịch. Hiện trạng những di sản văn hóa này đã được cải thiện đáng kể, nhất là từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời. Tuy nhiên, còn không ít bất cập, tồn tại cần phải khắc phục, để không ngừng nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung trong đó có di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh nói riêng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Mục đích của luận án là đánh giá thực trạng và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá Phật giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó, luận án đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Nghiên cứu lý luận về di sản và quản lý di sản
  • Mô tả, đánh giá hiện trạng di sản văn hoá Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh và vai trò của di sản này trong đời sống và sự phát triển của nó đối với văn hóa xã hội của Hà Tĩnh.
  • Phân tích thực trạng công tác quản lý di sản văn hoá Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh từ năm 2001 đến năm 2016.
  • Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn, phát huy, giá trị di sản văn hóa Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu: Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (đương nhiên khi nghiên cứu công tác quản lý di sản cũng cần đề cập đến các sinh hoạt văn hoá Phật giáo của người dân địa phương, đặc điểm và hiện trạng của các di sản văn hóa Phật giáo tiêu biểu nhất là các chùa, tháp, thiền viện – mà chúng tôi gọi chung là Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo).

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước về di sản văn hóa từ các khía cạnh cụ thể: Hệ thống văn bản quản lý, mô hình quản lý, đội ngũ nhân sự và các hoạt động thực thi pháp luật trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh.

Phạm vi không gian: Các di tích lịch sử văn hóa Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh, tập trung vào các di tích đã được xếp hạng.

Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu công tác quản lý di sản văn hoá Phật giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ sau khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (2001) đến năm 2016.

4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

4.1. Câu hỏi nghiên cứu

Hiện trạng các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh như thế nào? Các di sản này đã chịu những hậu quả gì dưới tác động của thực tiễn lịch sử?

Việc thực thi quy phạm Pháp luật trong quản lý di sản văn hóa phật giáo ở Hà Tĩnh có thuận lợi, khó khăn gì? Thực trạng công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh từ năm 2001 đến năm 2016, thành tựu và hạn chế?

Cần phải có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả, khắc phục những bất cập trong quản lý các di sản văn hóa Phật giáo?

4.2. Giả thuyết nghiên cứu

Công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (kể từ năm 2001) đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số bất cập, cần đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo.

5. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, phương pháp mô hình hóa, khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu, nghiên cứu tài liệu… để đánh giá thực trạng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa Phật giáo trên địa bàn Hà Tĩnh.

Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích kết hợp với phương pháp tiếp cận văn hóa – lịch sử đánh giá toàn bộ di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Về mặt khoa học

Luận án sau khi hoàn thành sẽ góp phần hệ thống hoá lý luận về quản lý di sản văn hoá nói chung và quản lý di sản văn hoá Phật giáo ở Hà Tĩnh nói riêng. Trên cơ sở nhận diện giá trị và phân tích hiện trạng quản lý, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh.

Về mặt thực tiễn

  • Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện các giá trị di sản văn hoá Phật giáo.
  • Các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di sản văn hoá Phật giáo.
  • Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về văn hóa nói chung và quản lý di sản văn hóa Phật giáo nói riêng.

7. Đóng góp mới của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao lý luận và tính ứng dụng trong công tác quản lý di sản văn hóa thông qua các điểm mới sau đây.

  • Luận án cung cấp một bản mô tả thực trạng những di sản văn hóa Phật giáo tiêu biểu ở Hà Tĩnh.
  • Là công trình nghiên cứu toàn diện về các chủ thể quản lý, mô hình quản lý, thành tựu và tồn tại trong quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh. Và giải pháp được đề xuất về hoàn thiện mô hình quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh có tính khả thi.

8. Nội dung của Luận án

Ngoài Mở đầu (5 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang),

Phụ lục (101 trang), luận án chia làm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý Di sản văn hóa Phật giáo (27 trang)

Chương 2: Di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (43 trang)

Chương 3: Thực trạng quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh (48 trang)

Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh hiện nay (23 trang).

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Cho đến nay, còn thiếu vắng những công trình chuyên khảo hoặc chuyên luận nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này có nhiều công trình có thể tham khảo ở những khía cạnh và mức độ nhất định:

1.1.1. Nhóm công trình mang tính lý luận

Trong số các công trình thuộc vấn đề lý luận cơ sở cho luận án, phải kể đến nhóm các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa nói chung, các công trình nghiên cứu công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Tĩnh nói riêng. Tiêu biểu cho hướng tiếp cận này, có thể kể đến các công trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá của tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức [50], Giáo trình Quản lý di sản văn hoá, Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) và Nguyễn Trường Tân biên soạn [78], công trình Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội, do GS.TS. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) [28]. Giáo trình Quản lý di sản văn hoá với phát triển du lịch do tác giả Lê Hồng Lý (chủ biên), Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu biên soạn [84], Đề tài cấp Nhà nước Bảo tồn và phát huy các giá trị Di sản văn hoá Phật giáo Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế do tác giả Đặng Văn Bài làm chủ nhiệm năm 2012 [6].

Tùy theo mục đích nghiên cứu cụ thể mà các tác giả này đã tiếp cận với di sản văn hóa theo các hướng khác nhau. Giáo trình Quản lý di sản văn hóa của các tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (ch,b), Nguyễn Trường Tân [78], đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến di sản, như: Khái niệm, đặc trưng, phân loại di sản văn hóa, phân tích vai trò của di sản văn hóa trong sự phát triển kinh tế-xã hội. Nghiên cứu này đã khái quát, hệ thống hóa di sản văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập đến di sản văn hóa Phật giáo, nhưng chỉ là các di sản văn hóa vật thể, cụ thể là những ngôi chùa. Ngoài ra, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích những vấn đề về quản lý Nhà nước, và nghiệp vụ quản lý di sản văn hóa nói chung. Những biện pháp nhằm khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa là cơ sở quan trọng để tác giả luận án vận dụng vào nghiên cứu cách quản lý và khai thác các giá trị di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh.

Công trình nghiên cứu Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội [28], đã trình bày, phân tích những vấn đề về lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể Thăng Long – Hà Nội, những quan điểm mới về quản lý di sản của nhiều nước trên thế giới có thể áp dụng vào thực tiễn ở nước ta, đề xuất các nhóm khuyến nghị để bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa vật thể của thủ đô. Công trình cung cấp kiến thức lý luận, để tác giả luận án tham khảo, áp dụng nghiên cứu vào đề tài Quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh.

Với nghiên cứu Quản lý di sản văn hoá với phát triển du lịch [83], nhóm tác giả lại nêu lên cơ sở để sử dụng các giá trị của di sản văn hóa vào hoạt động du lịch một trong những hoạt động hữu hiệu nhất để vừa quảng bá, tôn vinh, vừa sử dụng các giá trị di sản văn hóa như một nguồn lực phát triển kinh tế xã hội.

Cuốn Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá của nhóm tác giả Trịnh Minh Đức và Nguyễn Đăng Duy, đặt ra những vấn đề lý luận và công tác nghiệp vụ bảo tồn từ khía cạnh nghiên cứu bảo tàng học [50], cung cấp cơ sở lý luận chung mà không đề cập vào loại hình di tích cụ thể. Tuy nhiên, đây cũng là những gợi ý tốt để tác giả luận án tham khảo và vận dụng.

Văn bản Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới [133], UNESCO đặt ra vấn đề xây dựng kế hoạch quản lý các khu di sản thế giới, với các mục tiêu: 1/Muốn quản lý di sản phải nhận diện chính xác giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản. 2/Phải xác định rõ những áp lực từ tự nhiên và các hoạt động kinh tế – xã hội tới khả năng bảo tồn và phát huy di sản. 3/Cơ chế, chính sách phù hợp để thực thi việc quản lý di sản. 4/Chương trình hành động cụ thể nhằm hạn chế, ngăn ngừa những yếu tố ảnh hưởng tới di sản. 5/Thu hút các nguồn lực xã hội cho hoạt động bảo tồn DSVH. Và quan trọng là cơ chế kiểm soát việc triển khai kế hoạch quản lý DSVH của các quốc gia thành viên. Tài liệu này là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận án áp dụng nhận diện đối tượng nghiên cứu.

Bên cạnh những công trình mang tính lý luận chung về quản lý di sản, còn có các công trình nghiên cứu trực tiếp đến di sản văn hóa Phật giáo. Tác giả Trần Lâm Biền với nghiên cứu Chùa Việt [14], đã giới thiệu khái quát về Lịch sử hình thành chùa Việt và quá trình lịch sử hình thành Phật giáo ở Việt Nam. Tác giả đã trình bày rõ đặc điểm văn hoá, nghệ thuật, kiểu kiến trúc và phong cách tượng phật giáo tại các chùa Việt, từ thế kỷ XI, XII đến thế kỷ XIX. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Chùa Việt Nam [109] của Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long giới thiệu, là bộ sách ảnh các chùa Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và trong đời sống văn hoá cộng đồng. Tác giả đã khảo sát những ngôi chùa, nói lên đặc điểm của Phật giáo Việt Nam. Nhóm tác giả đã cung cấp các bức ảnh đẹp về ngôi chùa, về tượng Phật, về đồ thờ tự, khái quát về lịch sử chùa, bản sắc chùa Việt so với các chùa nước khác. Đây là cẩm nang cho tác giả luận án khi tiến hành nghiên cứu, khảo sát, nhận diện những giá trị của các ngôi chùa ở Hà Tĩnh. Còn cuốn Giá trị nghệ thuật tượng thờ thế kỷ XVII trong chùa Việt ở Bắc Bộ của tác giả Triệu Thế Việt, đã xác định các khái niệm mỹ thuật liên quan đến nhận dạng tượng, đặc điểm người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nghiên cứu này đã nêu rõ giá trị của ngôi chùa Việt trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt, những điều kiện xã hội tác động đến điêu khắc và trang trí của tượng thờ thế kỷ XVII. Khái quát sự ra đời của các tượng thờ qua các thời kỳ, các quy chuẩn tạo hình của tượng thờ và các phong cách mỹ thuật, sự bài trí tượng thờ qua các thời kỳ lịch sử và trong mối tương quan với tượng thờ Ấn Độ, Trung Quốc, Champa. Khảo tả, đánh giá về nghệ thuật điêu khắc và trang trí của tượng thờ trong chùa Việt thế kỷ XVII. Đây là những gợi ý quý giá cho tác giả luận án để có cơ sở xem xét các vấn đề tương tự trong bối cảnh của văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh.

Ngoài những cuốn chuyên khảo nêu trên, liên quan đến những giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung còn có các bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, như: “Nét độc đáo của chùa Việt Nam” của tác giả Lê Xuân Phương, đăng trên tạp chí Đông Nam Á, số 8, 2005, tr.27-28. Bài “Kiến trúc chùa Việt cổ ở miền Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan, đăng trên tạp chí Xây dựng, tháng 5, 2009, tr.50-53. Bài “Tam quan trong kiến trúc chùa Việt Nam” của tác giả Phạm Tuấn, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, 2006, số 257, tr.23-27. Bài “Vài ý kiến về quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng, đăng trên Tạp chí Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, số 49-2017, tr.36, đây là bài viết đã có nhiều gợi ý bổ ích cho tác giả luận án [65].

Bên cạnh các công trình nghiên cứu chung về di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam, còn có một số công trình giới thiệu về thắng cảnh, giá trị lịch sử, văn hoá, nghệ thuật của một số ngôi chùa tiêu biểu của Hà Tĩnh, như Hoa Tạng (sách Nghi Xuân huyện nhất thống chí (Quyển hạ) [47, tr.142], chùa Nghèn (Nghệ An cổ tích lục), chùa Hương Tích (Thơ của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp), sách Thiên Lộc huyện phong thổ chí của Lưu Công Đạo viết năm 1811, chùa Thiên Tượng, chùa Long Đàm, chùa Sư Tử Yên Hà, chùa Am, chùa Bạch Đế (“Hoan Châu phong thổ ký”, của Trần Danh Lâm, bản dịch Ngô Đức Thọ) [47, tr.167].

Một trong những công trình cổ, có giá trị nghiên cứu chùa của Hà Tĩnh, phải kể đến An Tĩnh cổ lục, nguyên văn chữ Pháp là Le Vieux An Tinh, là tác phẩm địa chí của học giả người Pháp Hipolyte Le Breton, ghi chép lại những chuyện xưa ở vùng Nghệ An – Hà Tĩnh. Cuốn sách được Tập san “Đô thành hiếu cổ”, xuất bản năm 1936, bằng tiếng Pháp. Năm 2005, tác phẩm này được nhóm dịch giả Nguyễn Đình Khang và Nguyễn Văn Phú dịch ra tiếng Việt, nhà xuất bản Nghệ An kết hợp với Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản (Hà Nội, 2005).

Với sự gắn bó và yêu mến vùng đất Nghệ Tĩnh, mà thời đó, gọi là An Tĩnh, Le Breton khi đó là giáo viên Trường Quốc học Vinh, đã luôn tìm hiểu về vùng đất này qua học trò, qua các bậc phụ huynh là những nhà nho giàu kiến thức trong vùng. Không chỉ nghiên cứu, tìm hiểu qua sách vở, qua lời kể của cư dân địa phương, ông còn tổ chức cho học viên đến tham quan từng di tích. Đặc biệt đến nghiên cứu di tích, danh thắng nào, Breton đều có chụp ảnh. Ông đã để lại một bộ ảnh di tích, danh thắng xứ Nghệ, chụp từ những năm 1920- 1930 rất quý giá (khoảng 120 tấm ảnh). Trong số di tích ông đưa sinh viên đến nghiên cứu và chụp ảnh có nhiều ngôi chùa cổ và các bức tượng. Theo Breton, chùa Hương Tích có từ thời Cao Biền cai trị (vào thế kỷ 9) và chính Cao Biền là người có công xây dựng chùa này [30].

Cuốn sách Chùa cổ Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh [46], đã giới thiệu khái quát tình hình Phật giáo ở Hà Tĩnh, chủ yếu ở vùng trung tâm núi Hồng, giới thiệu đặc điểm về chùa ở vùng này (vùng Nam sông Lam). Tác giả cũng đã khảo tả được 417 ngôi chùa, có các phụ lục, một số hình ảnh, thơ ca về các chùa ở Hà Tĩnh, đồng thời liệt kê 26 ngôi chùa hiện chỉ còn những tên gọi. Cuốn sách là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả luận án thấy được sự ra đời và phát triển văn hoá Phật giáo ở một thời kỳ của xứ Nghệ nói chung, của Hà Tĩnh nói riêng. Sách cũng khiến cho tác giả luận án trăn trở, cần nghiên cứu về sự mất đi, về vấn đề trùng tu, tôn tạo, khôi phục lại những gì có thể đối với các di tích, để kho tàng di sản văn hoá của xứ này thêm phong phú, đa dạng, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Bài viết “Chùa Đá” của tác giả Nguyễn Tuyết Mây, in trên Tạp chí Văn hoá Hà Tĩnh, tr.23-25, số 189, tháng 4 năm 2014, đã khảo tả, giới thiệu về giá trị lịch sử, văn hoá, tâm linh, kiến trúc nghệ thuật (dấu tích còn lại) với những giá trị tinh thần phục vụ đời sống, sinh hoạt người dân địa phương của ngôi chùa. Ngoài ra, tác giả còn giới thiệu, đề cập đến về vấn đề bảo tồn, như “Dự án trùng tu, phục dựng chùa Đá”, đã và đang được triển khai thực hiện [85].

Qua một số công trình nghiên cứu nói trên, chúng ta có thể khẳng định, Phật giáo ở Hà Tĩnh, đã có một quá trình lịch sử ra đời và phát triển mạnh ở thời Lý, Trần, Lê Sơ. Nó có những đặc điểm riêng, mang nét đặc trưng của văn hoá vùng, miền, có những giá trị văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật, tâm linh nhất định trong đời sống văn hoá xã hội, đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng di sản văn hoá phong phú của Hà Tĩnh. Thế nhưng hiện nay, không ít các ngôi chùa – di sản văn hoá Phật giáo đã trở thành phế tích, chỉ còn lại một số hiện vật, chứng tích, nhưng cũng đang bị xuống cấp trầm trọng. Vấn đề đặt ra là cần lý giải nguyên nhân biến mất của các di tích, tìm hiểu công tác trùng tu, tôn tạo, bảo tồn, xây dựng lại các di tích đã mất và bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản còn lại đúng như tinh thần của Luật Di Sản văn hoá ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di Sản văn hoá ngày 18/6/2009 và Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm 2012, của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định (chi tiết một số Quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích) [81]. Đây là một trong những vấn đề luận án quan tâm thực hiện.

1.1.2. Nhóm tài liệu nghiên cứu về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Thực tế, Phật giáo ở Hà Tĩnh có một quá trình phát triển, có nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật lưu danh, nhiều hiện vật cổ có giá trị đặc biệt, hàng trăm ngôi chùa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân địa phương. Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo, từ lâu đã được chính quyền quan tâm. Nghiên cứu bản Hương ước Hà Tĩnh [70], cho thấy cha ông ta xưa rất coi trọng việc bảo vệ chùa, giữ gìn cổ vật, quan tâm các sư trụ trì.

Chẳng hạn hương ước xã Phù Lưu Thượng, tổng Phù Lưu huyện Can Lộc (bản hương ước viết năm Tự Đức thứ 7 (1854), điều 17 về quản lý văn hóa chùa thờ Phật), ghi rõ: “Các thôn trong xã đều có chùa đều giao cho người trong thôn biết Phật giáo cày cấy ruộng chùa, để các ngày sóc, vọng đèn nhang kính lễ và quét dọn sạch sẽ, không được giao cho các sư phải chi phí, làm việc mệt nhọc”.

Hương ước thôn Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Thọ “Các đền chùa giao cho nhà sư ở chùa quét dọn sạch sẽ, nếu có gió mưa dột nát thì trình rõ với bản thôn để tu sửa, nếu có gì sai sót thì nhà đền và nhà sư đều phải chịu trách phạt”.

Hương ước thôn Thượng Thạch, tổng Chu Lễ, huyện Hương Khê ghi Bảo Đại 6 (1931), Điều 14: Việc tế lễ, ngày lễ Phật hằng năm, chỉ dùng đèn nhang hoa quả, oản, trà nước mà thôi không được mượn cớ sách nhiễu lễ vật.

Làng nào cũng có ruộng tự (ruộng chùa) giao cho các sư các chùa trông nom, để nuôi sư và chi phí việc dầu đèn thờ Phật…

Đơn cử một vài ví dụ như trên cũng có thể thấy rằng, từ xa xưa, ông cha ta đã rất quan tâm bảo tồn, giữ gìn các giá trị văn hóa Phật giáo.

Ngoài ra, có 05 công trình nghiên cứu tiêu biểu: Báo cáo tổng kết khoa học Nghiên cứu định hướng bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh [8]; đề tài Nghiên cứu các giá trị di sản văn hoá chùa Hương Tích vào khai thác phát triển du lịch [34]; Hà Tĩnh di tích Quốc gia và di tích Quốc gia đặc biệt [12]; công trình Hà Tĩnh đất văn vật Hồng Lam [47]; bài viết Chùa Diên Quang và những chứng tích về Hoàng Hậu Bạch Ngọc ở Vùng La Giang Đức Thọ; 44 hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật các chùa Hà Tĩnh. Các tác giả và nhóm tác giả nêu trên đều nhất trí cho rằng, Hà Tĩnh có một kho tàng di sản văn hoá, trong đó có di sản văn hoá Phật giáo có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học nghệ thuật, góp phần không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Hà Tĩnh “Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập” [8, tr.13].

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo cũng đã được các tác giả đặt ra ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Với công trình Hà Tĩnh đất văn vật Hồng Lam, Thái Kim Đỉnh giới thiệu, khảo tả khá chi tiết về cảnh quan, lịch sử văn hoá, kiến trúc cũng như các lần trùng tu, tôn tạo chín ngôi chùa trên vùng đất này, bao gồm: Hoa Tạng, Chùa Nghèn và Ngọn Tháp Cổ, Hương Tích, Chùa Ân Quang, Quả chuông chùa Rối, chùa Thiên Tượng, Chùa Diên Quang, Chùa Tịnh Sơn, Chùa Yên Lạc. Song ở công trình này, tác giả mới dừng lại ở việc khảo tả để giới thiệu vẻ đẹp của những ngôi chùa, khẳng định di tích tồn tại có lịch sử văn hoá của nó. Tác giả đánh giá những ngôi chùa này là những di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị lịch sử văn hoá.

Qua nghiên cứu 44 hồ sơ di tích về các chùa thuộc các xã, huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, trong đó có 7 ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia, 37 ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Hồ sơ cung cấp khá đầy đủ thông tin về các ngôi chùa như: Tên gọi, địa điểm phân bố, đường đi đến, sự kiện, nhân vật lịch sử liên quan, loại hình di tích, các hiện vật trong chùa, giá trị lịch sử văn hoá nghệ thuật, tình trạng bảo quản, các phương án bảo vệ, sử dụng di tích, cơ sở pháp lý sử dụng di tích, những tư liệu bổ sung. Đây là nguồn tư liệu quý để người viết sử dụng làm cơ sở phân tích, đánh giá trong luận án. Tuy vậy, hồ sơ di tích mới dừng lại ở việc nêu hiện trạng bảo quản di tích. Việc đề xuất các phương án bảo vệ di tích còn chung chung, không có tính phân loại, hơn nữa, hồ sơ chưa quy hoạch được các phương án bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích, đặc biệt là chưa đặt ra vấn đề bảo tồn gắn với phát triển.

Đề tài Nghiên cứu các giá trị di sản văn hoá chùa Hương Tích vào khai thác phát triển du lịch [9], đã có một cái nhìn tổng thể về di sản văn hoá chùa Hương Tích. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đề tài cũng đã đề ra được tám giải pháp cơ bản, cụ thể, khoa học, để bảo tồn, phát huy các giá trị di sản vào khai thác phát triển du lịch. Các quan điểm về di sản và quan điểm bảo tồn được nhóm tác giả thể hiện trong công trình là cơ sở lý thuyết và thực tiễn để tác giả luận án kế thừa và phát triển. Từ đó đề ra các biện pháp bảo tồn, phát huy di sản, cụ thể khai thác, phát triển du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân, phục vụ cho mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Tĩnh trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Nội dung này sẽ được thực hiện trong luận án.

Công trình Hà Tĩnh di tích Quốc Gia và di tích Quốc Gia đặc biệt [12], nhóm tác giả đã tập trung giới thiệu những nét cơ bản nhất về địa điểm phân bố, giá trị kiến trúc nghệ thuật, giá trị lịch sử văn hoá của 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt và 70 di tích cấp quốc gia, trong đó có 07 ngôi chùa – di sản văn hoá Phật giáo được xếp hạng di tích quốc gia, nhằm giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá rộng rãi, giúp cho mọi người (trong và ngoài nước, bạn bè quốc tế) có thêm những hiểu biết về miền đất và con người Hà Tĩnh… Tuyên truyền, quảng bá những giá trị của di sản là một trong những biện pháp bảo tồn mà tác giả luận án sẽ kế thừa, nghiên cứu, đề cập trong luận án của mình. Nhóm các nhà nghiên cứu Phạm Đức Ban, Hồ Bách Khoa, Nguyễn Thị Vân, Trần Hồng Dần đã khảo tả chi tiết một số di tích Phật giáo trên địa bàn tỉnh, vấn đề bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, xây dựng và phát huy giá trị của di tích đã được nhóm tác giả đặt ra, nhưng chưa có giải pháp cụ thể. “Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích không thể tách rời với phát triển bền vững là công việc của toàn xã hội” [8, tr.198]. Các nhà nghiên cứu văn hoá đều thống nhất: để làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của di tích nói chung, di tích văn hoá Phật giáo nói riêng, cần đi sâu mô tả cấu trúc, cũng như phân tích cụ thể giá trị lịch sử và văn hoá, khoa học của di tích, phân tích nguyên nhân một số di tích trở thành phế tích. Phân tích được mối quan hệ giữa những giá trị truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Luận văn thạc sỹ lịch sử của tác giả Hồ Đức Tiến [125], cũng có một phần giới thiệu về việc trùng tu và phục dựng một số ngôi chùa tiêu biểu ở Hà Tĩnh trong công cuộc phục hưng Phật giáo. Tuy nhiên, với mục đích nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, tác giả không quan tâm khảo sát các vấn đề liên quan đến nguồn ngân sách, việc phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể và các vấn đề khác liên quan đến quản lý di sản. Nhưng, luận văn cung cấp nhiều cứ liệu quan trọng, hỗ trợ cho việc phân tích thành tựu của quản lý di sản văn hóa Phật giáo những năm gần đây.

Các công trình nêu trên tuy có đề cập tới việc bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh, nhưng chỉ tập trung vào loại hình di sản văn hóa vật thể, chủ yếu là các ngôi chùa. Số công trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể rất hiếm.

Như vậy, cho đến nay, dù có một số tài liệu ít nhiều liên quan đến việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa phật giáo Hà Tĩnh. Nhưng các tác giả, với mục đích nghiên cứu riêng, họ mới đề cập đến một vài khía cạnh, hoặc một bộ phận trong tổng thể các vấn đề về quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh. Chưa có một công trình nào đánh giá một cách toàn diện về giá trị của các di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh, thực trạng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản này, để thấy được những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý di sản trong những năm qua, từ đó, đề xuất những giải pháp, nâng cao công tác quản lý và phát huy giá trị của toàn bộ di sản này. Đây chính là nhiệm vụ của tác giả luận án.

1.2. Cơ sở lý luận của luận án

Với tính chất là những di tích lịch sử -văn hóa của một địa phương, việc nghiên cứu quản lý di sản văn hoá Phật giáo ở Hà Tĩnh cần phải vận dụng một số lý thuyết đặc trưng cho việc nghiên cứu này, đó là lý thuyết vùng văn hóa. Các di tích được hình thành và phát triển trong một không gian nhất định, không gian của Hà Tĩnh. Vì vậy, dưới lý thuyết của vùng văn hóa, sẽ cho ta thấy vai trò nhất định của các di tích Phật giáo trong việc đóng góp vào quá trình tạo ra những nét tương đồng và khác biệt về văn hóa của vùng lãnh thổ này, làm cơ sở để xác định những nét đặc thù cần thiết phải có trong chính sách quản lý cho phù hợp và khoa học.

Mặt khác, Phật giáo là một tôn giáo có mặt lâu đời trong văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu các di sản văn hóa Phật giáo từ khía cạnh quản lý, nhất thiết phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các yếu tố, các hiện tượng văn hóa khác. Đồng thời, phải đặt trong mối tương tác với môi trường sinh thái nhân văn là điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hà Tĩnh. Nói cách khác, phải tiếp cận chúng dưới ánh sáng của lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa.

Để phục vụ cho mục đích chính là đánh giá thực trạng quản lý, và đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Phật giáo, ngoài việc vận dụng các lý thuyết vùng văn hó, lý thuyết về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa, luận án cũng cần nghiên cứu nền tảng lý luận về quản lý di sản văn hóa, bao gồm các khái niệm, quan điểm và nội dung quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa theo các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa nói chung, về di sản văn hóa Phật giáo nói riêng.

1.2.1. Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

1.2.1.1. Khái lược về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa

Văn hóa và tôn giáo là khái niệm khá phức tạp, làm tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu. Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về hai khái niệm này. Các định nghĩa khác nhau, chủ yếu xuất phát từ các góc độ tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu cho rằng, giữa văn hóa và tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác biện chứng lẫn nhau, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa. Hiện nay, có hai quan điểm về vai trò của Tôn giáo đối với văn hóa.

Thứ nhất, theo quan điểm thần học thì tôn giáo là cái tối cao, nó quyết định đặc trưng của văn hóa. Đại diện cho khuynh hướng này, có thể kể đến nhà Thần học theo đạo Tin Lành là P. Tilich (1886-1965). Trong tác phẩm Thần học văn hóa, ông đã khẳng định rằng: “Tôn giáo là sự quan tâm tối cao…Tôn giáo là thực thể, là cơ sở và là chiều sâu của đời sống tinh thần của con người” [153]. Tôn giáo nuôi dưỡng văn hóa và đem lại ý nghĩa cho văn hóa. Chính vì vậy mà ông chia văn hóa thành ba loại hình, tùy thuộc vào sự tác động nhiều hay ít của tôn giáo đối với văn hóa. Đó là văn hoá thần trị (theonomos), văn hoá dị trị (hetoros), văn hoá tự trị (autos). Theo ông, trong văn hóa thần trị, tôn giáo là cơ sở tinh thần tự nhiên, loại hình này không thực hiện được và không đạt tới được trong lịch sử. Loại hình văn hoá dị trị là biểu hiện tha hóa, cực đoan của văn hóa Thần trị, trong đó, tôn giáo là hệ thống cực quyền, văn hóa phục tùng tôn giáo. Loại hình văn hóa tự trị lại là một dạng tha hóa cực đoan khác đối lập với dị trị, coi con người làm trung tâm, vì thế đặc trưng cho loại hình này là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn.

Khuynh hướng thứ hai, xuất phát từ quan niệm tôn giáo cũng là một hiện tượng xã hội, hiện tượng của văn hóa, nên nó chịu tác động của các bộ phận khác của văn hóa và đến lượt mình, nó cũng tác động sâu sắc lên các thành tố khác của văn hóa. Chính vì vậy, mà văn hoá khác nhau, làm cho tôn giáo có sắc thái khác nhau và ngược lại tôn giáo khác nhau làm cho văn hoá khác nhau. Do đó, bỏ qua các di sản văn hóa gắn liền với các tôn giáo, sẽ làm nghèo đi đáng kể một nền văn hóa của dân tộc, hay địa phương nhất định. Đại diện cho khuynh hướng này, là các nhà nghiên cứu văn hóa Macxit. Trong luận án, chúng tôi cũng tán đồng quan điểm thứ hai về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Tôn giáo có thể là một tiêu chí quan trọng để xác định một vùng, một khu vực văn hóa khác nhau: văn hoá Thiên Chúa giáo, văn hoá Phật giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá Nho giáo… Ở một quốc gia, có thể chia thành các tiểu vùng văn hoá chịu ảnh hưởng của các tôn giáo. Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, tôn giáo có ít nhiều ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ văn hoá xã hội, cũng như các lĩnh vực riêng biệt của văn hoá. Tôn giáo là một thành tố của văn hoá, được sinh ra từ văn hoá và sau đó nó góp phần thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển văn hoá.

Chúng tôi tán thành quan điểm của tác giả Hoàng Minh Thiện khi ông kết luận rằng:

Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hoá là mối quan hệ bộ phận và tổng thể không thể tách rời. Tôn giáo là một hiện tượng của văn hoá hay là một bộ phận của văn hoá nên có mối quan hệ phổ biến, cơ bản và quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử. Văn hóa là toàn bộ những hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Nền văn hoá bao trùm cả lĩnh vực tôn giáo [153].

1.2.1.2. Vận dụng lý thuyết về mối quan hệ giữa Tôn giáo và văn hóa trong nghiên cứu quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh

Xuất phát từ những lý luận trên đây về mối quan hệ giữa tôn giáo đối với văn hóa dân tộc và địa phương, chúng tôi nhận thấy rằng:

Thứ nhất, Phật giáo đã từng đóng vai trò là nền tảng tinh thần chủ đạo trong nền văn hóa Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Chính vì thế di sản văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa Hà Tĩnh, nó góp phần tạo nên đặc trưng riêng của Hà Tĩnh;

Thứ hai, Phật giáo đã từng có tác động mạnh mẽ, toàn diện lên đời sống xã hội thời Lý, Trần và còn tác động nhiều lên thành tố văn hóa khác vào các thời điểm lịch sử khác nhau. Ngược lại, Phật giáo cũng chịu sự tác động của các thành tố văn hóa khác. Vì thế, khi nghiên cứu công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo (giới hạn trong các di tích lịch sử chùa, tháp, thiền viện), không chỉ nghiên cứu việc quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị vật thể (các công trình kiến trúc, các hiện vật, cổ vật…), mà còn phải nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy cả các giá trị văn hóa phi vật thể liên quan đến các di tích này (như truyền thuyết, thần tích, lễ hội, nghi lễ, các giá trị văn hóa tinh thần của Phật giáo…).

Thứ ba, Khi nghiên cứu các chính sách quản lý di sản văn hóa nói chung, cần chú trọng đến các chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng. Vì những văn bản này đều là cơ sở để thực hiện việc quản lý các di sản văn hóa tôn giáo nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng.

Việc vận dụng lý thuyết này sẽ được biện giải ở chương 2 (khi phân tích, mô tả tổ hợp các giá trị vật thể và phi vật thể của di tích), và chương 3 (khi phân tích về chính sách quản lý di sản văn hóa Phật giáo).

1.2.2. Cơ sở lý thuyết về vùng văn hóa Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

1.2.2.1. Khái lược về lý thuyết vùng văn hóa

Di tích lịch sử -văn hóa là một trong những bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, cũng như văn hóa địa phương. Nó được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài và có khả năng phát huy vai trò của mình trong sự phát triển kinh tế xã hội vùng miền, quốc gia. Một trong những quy luật phát triển văn hóa chính là quy luật tương tác với môi trường tự nhiên của nó. Các nhà văn hóa học, ngay từ thế kỷ XIX đã nhìn ra những nét đặc trưng mang tính địa văn hóa, nghĩa là, mỗi vùng miền gắn với điều kiện tự nhiên riêng biệt, với cộng đồng chủ thể sáng tạo riêng biệt, từ đó, cũng tạo ra những giá trị đặc trưng riêng. Đầu thế kỷ XIX, lý thuyết vùng văn hóa, không gian văn hóa được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.

Trường phái xuất hiện sớm là thuyết “khuyếch tán văn hoá” ở Tây Âu. Tuy không nghiên cứu trực tiếp về vùng văn hoá, song một số quan điểm đã manh nha xuất hiện có liên quan đến vùng văn hoá. Thuyết này ra đời với mục đích giải thích hiện tượng tương đồng văn hoá không hoàn toàn đồng nhất. Sự xuất hiện của lý thuyết “vùng văn hóa” trong nhân chủng học Mỹ, như một bước đột phá ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở nghiên cứu khá tường tận về người da đỏ châu Mỹ, các nhà nhân chủng học Mỹ đã đưa ra lý thuyết “vùng văn hóa”, “loại hình văn hóa”“trung tâm văn hóa“, mà đại diện tiêu biểu là C.L.Wisler. Ông cho rằng, nghiên cứu các vùng văn hóa, nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các yếu tố văn hóa, rằng không thể nhìn nhận riêng lẻ từng yếu tố một, chúng hợp thành một thể thống nhất không thể chia cắt, và đó chính là kết quả của quá trình lâu dài nhóm dân cư ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái.

Trên cơ sở những quan điểm lý thuyết của các nhà nhân chủng học Mỹ, các nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết đã kế thừa trên bình diện rộng lớn hơn, đã bàn tới vấn đề nghiên cứu liên văn hoá. Từ những năm 30 của thế kỷ này, trong một số công trình của S.P.Tônxtop và A.M.Dôlôrarep, đã đề cập đến vấn đề không gian địa lý của các hiện tượng văn hoá. Vấn đề này là tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về “Loại hình kinh tế-văn hoᔓkhu vực văn hoá-lịch sử” (còn gọi là khu vực lịch sửdân tộc học hay vùng văn hóa – lịch sử).

Với việc đưa ra khái niệm loại hình kinh tế-văn hóa (loại hình kinh tế-xã hội) của các nhà dân tộc học Xô Viết là để giải thích hiện tượng tương đồng và khác biệt văn hóa kể trên: Đó là một tổng thể các đặc điểm kinh tế và văn hóa, hình thành trong quá trình lịch sử của các dân tộc khác nhau, cùng ở một trình độ phát triển kinh tế-xã hội và sinh sống trong môi trường địa lý tự nhiên như nhau [150, tr.28].

Để bao quát việc nhận thức các hiện tượng tương đồng và khác biệt văn hóa giữa các vùng và các dân tộc, các nhà dân tộc học Xô Viết, không chỉ sử dụng khái niệm loại hình kinh tế-văn hóa, mà còn dùng cả khái niệm vùng văn hóa-lịch sử (vùng lịch sử-văn hóa). Vùng văn hóa-lịch sử (vùng lịch sử-dân tộc học hay gọi tắt là vùng văn hóa) là một vùng mà ở đó sinh sống những tộc người. Trong quá trình lịch sử lâu dài, giữa họ có những giao lưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ đó hình thành nên những yếu tố văn hóa chung thể hiện trong văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần [150, tr.124]. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Việt Nam, từ những năm 70 của thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính thực nghiệm “lý thuyết vùng văn hóa” áp dụng vào Việt Nam của các học giả trong nước. Tuy quan điểm về lý thuyết “vùng văn hóa” có khác nhau về tiêu chí phân vùng, sự nhận diện vùng văn hóa theo cấu trúc, hệ thống, tổ hợp hay theo sắc thái văn hóa… Nhưng điểm thống nhất chung là “vùng văn hóa” với đặc trưng phản ánh của một “trường văn hóa” và biểu hiện như một “không gian văn hóa” với những giá trị đồng dạng.

Khái niệm “vùng văn hóa” còn được áp dụng ở phạm vi hẹp, chỉ những vùng, miền có những đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội có chung những nét tương đồng nhất định về địa lý, văn hóa, lịch sử và kinh tế. Vấn đề “trường văn hóa” là một đặc trưng phản ánh sự liên kết, lan tỏa của “vùng văn hóa”, được đánh giá theo các “cấp độ” để xác định “vùng văn hóa”, “vùng ảnh hưởng” hay “vùng thể loại”…

Khái niệm nêu trên, còn được sử dụng khá linh hoạt trong việc nhận định các sắc thái văn hóa của mỗi tộc người, mỗi địa phương. Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng văn hoá, không gian văn hóa Việt Nam như: Văn hóa vùng châu thổ sông Hồng, vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, vùng văn hóa Bình-Trị-Thiên, vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa Tây Nguyên, vùng văn hóa xứ Thanh…

1.2.2.2. Vận dụng lý thuyết vùng văn hóa trong nghiên cứu các di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh

Nghiên cứu tổ hợp các di sản văn hóa trong một địa phương cụ thể chắc chắn cần phải áp dụng lý thuyết về vùng văn hóa. Đây là lý thuyết cho phép ta nhìn nhận những nét tương đồng và riêng biệt trong văn hóa của một địa phương nhất định dưới sự tác động mạnh mẽ của hai trục thời gian và không gian. Nó không chỉ giúp ta nhận diện được những giá trị đích thực của di sản văn hóa nói chung của một địa phương và di sản văn hóa liên quan đến một tôn giáo, tín ngưỡng, hay nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử nói riêng. Mà đồng thời, nó cũng giúp ta nhìn rõ sự vận động của các giá trị đó trong lịch sử góp phần tạo nên bản sắc riêng của vùng, miền.

Luận án sẽ vận dụng lý thuyết vùng văn hóa để xem xét khả năng tạo nên sự khác biệt và tương đồng cho tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh của các di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh, cụ thể ở các khía cạnh sau đây:

  • Xuất phát từ các đặc trưng vùng để đánh giá chính sách văn hóa và mô hình quản lý văn hóa hiện hành, đồng thời đề xuất những giải pháp quản lý có tính đặc thù địa phương liên quan đến việc quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Kết quả của việc vận dụng nội dung này của lý thuyết vùng văn hóa, chúng tôi sẽ trình bày tại chương 3 và chương 4.
  • Đặt các di tích lịch sử Phật giáo trong bối cảnh tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, nghĩa là, trên cơ sở các nét văn hóa đặc trưng của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, xem xét vai trò của các di tích này trong việc đóng góp những khác biệt, đặc trưng văn hóa của tiểu vùng.
  • Xem xét biến đổi của những di tích Phật giáo trong lịch sử trong bối cảnh chung của tiểu vùng văn hóa, để lý giải những nguyên nhân khách quan và chủ quan trong việc tạo ra sự biến đổi này. Đánh giá hậu quả/Kết quả của sự biến đổi này như những bài học kinh nghiệm cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các di sản văn hóa Phật giáo tại Hà Tĩnh.

Kết quả của việc vận dụng hai nội dung trên đây của lý thuyết vùng văn hóa, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể tại chương 2.

Tóm lại, trong khuôn khổ lý thuyết vùng văn hóa, cần xem xét vai trò của những di tích lịch sử Phật giáo trong việc tạo nên sắc thái quan trọng, đặc trưng của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh. Đồng thời cũng dựa trên các đặc thù này để phân tích, đánh giá mô hình quản lý hiện hành và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

1.2.3. Cơ sở lý thuyết về quản lý di sản văn hóa Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

1.2.3.1. Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau [78, tr.11].

Luật Di sản văn hóa (Điều 1) ghi rõ: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [21, tr.156].

1.2.3.2. Khái niệm di tích lịch sử – văn hóa

Di tích lịch sử – văn hóa là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa dân tộc nói chung và hệ thống di sản văn hóa địa phương nói riêng.

Theo Luật Di sản văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam, một công trình được coi là di tích lịch sử – văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [22, tr.21].

Như vậy, di tích lịch sử – văn hóa là một công trình, một quần thể công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước.

Trong hệ thống di sản văn hoá Việt Nam, hệ thống các di tích lịch sử chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, điều này cũng thật dễ hiểu, bởi vì dân tộc ta đã trải qua hàng mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Theo phân loại của Luật Di sản văn hóa, Di tích lịch sử – văn hóa của dân tộc Việt Nam chủ yếu tập trung vào các loại sau đây:

  • Di tích lịch sử liên quan đến các sự kiện lịch sử tiêu biểu: Di tích lịch sử đánh dấu các sự kiện lịch sử, chính trị quan trọng. Di tích lịch sử đánh dấu các chiến công oanh liệt trong lịch sử giữ nước. Các di tích khắc ghi tội ác chiến tranh
  • Di tích lịch sử liên quan đến danh nhân lịch sử: Các khu di tích lưu niệm các danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá.
  • Di tích văn hoá kiến trúc nghệ thuật: Đó là những công trình kiến trúc, quần thể kiến trúc, và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. Trong đó những công trình kiến trúc bao đời nay đã đóng vai trò là trung tâm sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật, tín ngưỡng của làng quê Việt Nam. Các di tích này bao gồm: Chùa tháp, đạo quán, đền, phủ, thành luỹ, cung điện, lăng tẩm…
  • Di tích khảo cổ: Là những địa điểm tiềm chứa những giá trị văn hóa thuộc về những thời kỳ lịch sử đã qua của xã hội loài người nói chung, của dân tộc nói riêng, đặc biệt là những thời kỳ chưa có chữ viết.

1.2.3.3. Vận dụng khái niệm về di tích lịch sử- văn hóa để xác định nội hàm thuật ngữ di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Theo những cơ sở lý thuyết đã phân tích tại mục 1.2.3.2 trên đây, ta thấy, các công trình Phật giáo có mặt lâu đời ở Việt Nam dưới dạng các ngôi chùa, tháp và thiền viện, chính là các Di tích lịch sử – văn hóa thuộc nhóm di tích lịch sử – văn hóa kiến trúc nghệ thuật. Vì vậy, chúng tôi gọi chung là Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo. Đặc tính chung của loại hình di tích này là bên cạnh những giá trị về nghệ thuật kiến trúc và cảnh quan, chúng còn hàm chứa các giá trị văn hoá tinh thần liên quan đến niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư. Mặt khác, những di tích thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án này nằm trong địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, nên chúng tôi gọi là Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh.

Nghiên cứu việc quản lý, bảo vệ và phát huy các giá trị của những di tích này, cần phải nghiên cứu các giá trị văn hóa vật thể như: Giá trị cảnh quan, giá trị của các công trình kiến trúc, giá trị cổ vật chứa trong công trình đó. Đồng thời cũng phải nghiên cứu các giá trị phi vật thể như niềm tin, phong tục, nghi lễ, nghi thức, lễ hội và các sáng tác dân gian liên quan đến các di tích Phật giáo.

1.2.3.4. Quản lý di sản văn hóa

Quản lý, hiểu theo nghĩa chung nhất, là một quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Quản lý DSVH nói chung và DTLSVH là quá trình Nhà nước, xã hội tác động lên nhận thức, hành vi của con người trong mối liên quan đến các di sản (DTLSVH) nhằm mục đích bảo tồn, gìn giữ, phát huy các giá trị của những di sản đó trong đời sống xã hội.

Nội dung của quản lý di sản văn hóa, hay DTLSVH bao gồm hai khía cạnh cơ bản. Thứ nhất, là quản lý Nhà nước về DSVH, khía cạnh này khẳng định vai trò lãnh đạo, quyết định của Nhà nước đối với hệ thống di sản văn hóa dân tộc. Nội dung chính của góc độ này là việc ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy, đào tạo nhân lực, cung cấp tài chính, giám sát, kiểm tra việc thực thi pháp luật liên quan đến các di sản văn hóa dân tộc. Thứ hai, là những nghiệp vụ, quy trình liên quan đến quản lý di sản, bao gồm: Điều tra, thống kê di sản văn hóa, lập hồ sơ khoa học để theo dõi, giám sát, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trong đời sống xã hội.

Luận án sẽ xem xét việc quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh ở cả hai khía cạnh nêu trên.

Bảo tồn

Trong Từ điển Tiếng Việt thì: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”[135,tr.37]. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái”.

Như vậy, bảo tồn di sản, về thực chất là một hoạt động nhằm gìn giữ, bảo vệ, những giá trị của di sản văn hoá đích thực để chúng có thể tồn tại lâu dài và lưu truyền cho thế hệ mai sau.

Phát huy giá trị DSVH

Từ phát huy được Từ điển Tiếng Việt giải thích như sau: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [135, tr.334].

Phát huy giá trị DSVH là tổ hợp các hoạt động nhằm đưa di sản văn hóa vào đời sống thực tiễn xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người. Như vậy, phát huy được hiểu là tổ hợp những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Nói một cách đơn giản, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng di sản văn hoá một cách có hiệu quả.

Bảo tồn và phát huy luôn gắn bó biện chứng với nhau như hai mặt của một vấn đề. Bảo tồn mới có thể giữ gìn được các di sản để lưu truyền lại cho mai sau, thế hệ sau mới có cái đển khai thác sử dụng, tức phát huy giá trị vốn có của di sản. Mặt khác, phát huy giá trị của di sản cũng chính là cách bảo tồn tốt nhất, làm cho di sản sống động và giàu có nhất. Không thể phát huy giá trị di sản nếu di sản đã mai một, hư hoại và biến mất và ngược lại bảo tồn cũng không có ý nghĩa, nếu những giá trị của di sản không được tỏa sáng và phát huy trong đời sống thực tiễn. Phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng, mới làm cho các giá trị văn hóa được lan tỏa và được lưu giữ trong tâm thức cộng đồng, tạo ra nhu cầu gìn giữ và bảo tồn chúng. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Như vậy, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá, thực chất là các hoạt động có tính liên ngành và khá phức tạp, đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, rõ ràng, hợp lý, khoa học, dựa trên những hiểu biết về chuyên môn và tuân thủ các nguyên tắc, quy trình chặt chẽ.

Lựa chọn quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa

Hiện nay, đối với lý thuyết bảo tồn, có ba quan niệm và cùng với chúng, là các phương pháp bảo tồn di sản. Đó là:

  • Bảo tồn nguyên trạng: Tinh thần chung của quan điểm này là những giá trị văn hóa thuộc về quá khứ, cần được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có, tránh tình trạng các thế hệ sau làm sai lệch và biến dạng di sản. Trên thực tế, bảo tồn nguyên trạng, thường được áp dụng trong bảo tồn di sản văn hoá vật thể. Đó là các công trình kiến trúc như chùa, đền và đình, tháp, cung điện, thành lũy… Những công trình kiến trúc có niên đại sớm, thường chứa những giá trị kiến trúc tiêu biểu cho từng thời đại trong lịch sử, những di vật, bảo vật, đồ thờ đặc sắc là đối tượng cần được bảo tồn nguyên trạng.
  • Bảo tồn trên cơ sở kế thừa: DSVH vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di sản, cố gắng phục chế lại nguyên trạng những nét cơ bản đó của DSVH bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Các chi tiết khác có thể thay đổi hoặc cắt bỏ. Đối với các DSVH phi vật thể, bảo tồn động trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể, mà cũng là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội theo thời gian.
  • Bảo tồn phát triển: Hiện nay trên thế giới, trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hoá, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã phát triển xa hơn, không quá chú trọng đến những tranh luận xung quanh quan điểm bảo tồn nguyên trạng, hay bảo tồn trên cơ sở kế thừa, mà cần phải xây dựng tư tưởng bảo tồn vì sự phát triển. Điều này có thể hiểu, bảo tồn văn hoá dân tộc, không phải là cất giữ cho khỏi mất mát tài sản, mà phải phát huy giá trị của nó vì mục đích phát triển của đất nước và dân tộc. Trách nhiệm của các nhà khoa học và quản lý, là phải làm cho giá trị của di sản văn hoá thấm vào từng con người và toàn xã hội. Di sản văn hoá phải được bảo tồn trong không gian văn hoá nơi nó được sáng tạo ra, đồng thời kết hợp hài hòa giữa bảo tồn yếu tố truyền thống và sự biến đổi cần thiết cho phù hợp với xã hội hiện tại.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng di sản văn hóa Phật giáo, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Hà Tĩnh, luận án đề xuất có chọn lọc các quan điểm bảo tồn nêu trên đối với từng di tích cụ thể cho phù hợp với thực tế.

Vận dụng các nguyên tắc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

Trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại” (ngày 16/1/2007 tại Hà Nội), tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra các nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá cần phải tuân thủ các điểm sau đây:

  • Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản phải luôn song hành với nhau. Phát huy giá trị của di sản trong di sản chính là phương cách bảo tồn di sản hiệu quả nhất và thiết thực nhất. Tức là phải đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
  • Tạo lập sự cân bằng giữa truyền thống và hiện đại. Hạn chế tối đa việc can thiệp tới di sản (để giữ gìn truyền thống), nhưng cần thực hiện thường xuyên việc duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho di sản được ổn định lâu dài (để tham gia vào đời sống hiện đại).
  • Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phải lấy mục đích chính là phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, vì vậy cần phải dựa vào cộng đồng, mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Trong luận án, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với các nguyên tắc nêu trên, và sẽ vận dụng chúng trong việc phân tích hiện trạng bảo tồn và phát huy các giá trị tại các di tích Phật giáo ở Hà Tĩnh, cũng như coi đó là các nguyên tắc để đề xuất các giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo tồn và phát huy các giá trị đó.

1.2.4. Những văn bản pháp lý liên quan đến quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Việt Nam Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Với mục đích nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện việc quản lý và khai thác, phát huy giá trị của di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh, không thể không quan tâm đến hành lang pháp lý, những quy định của Nhà nước về vấn đề này. Nhóm tài liệu pháp luật liên quan đến di sản văn hóa, là cơ sở pháp lý quan trọng, để xem xét, đánh giá các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa Phật giáo của Hà Tĩnh. Trong nhóm tài liệu này, phải kể đến các văn bản quan trọng sau đây:

Chỉ thị số 88-TTg ngày 26 tháng 4 năm 1973 về việc chấp hành chính sách đối với việc bảo vệ các chùa thờ Phật và tăng ni, đã đặt ra tám vấn đề yêu cầu các cấp chính quyền, đoàn thể, và các cấp có liên quan nghiêm chỉnh chấp hành. Nội dung Chỉ thị còn đề cao vai trò của đạo Phật trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18/12/1992 là văn bản Pháp lý cao nhất. Hiến pháp đã xác định quan điểm và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc. Trách nhiệm này quy định rõ ở điều 37, chương 3. Hiến pháp 2013 ban hành, thay thế cho Hiến pháp 1992. Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 không có điều khoản cụ thể nào về quản lý bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa. Bởi vì năm 2001 đã ban hành Luật Di sản văn hóa và năm 2010 đã ban hành Nghị định 98 (ngày 21/9/2010) của Chính Phủ, quy định thực hiện chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa.

Tài liệu pháp luật quan trọng nhất, phải kể đến là Luật Di sản văn hoá và các văn bản liên quan. Luật Di Sản văn hoá, ban hành ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di Sản văn hoá ngày 18/6/2009 và Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số Quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và toàn diện về những vấn đề liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc cả di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Với 7 chương và 74 điều. Luật Di sản văn hoá bao gồm những nội dung như sau: Công nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau về di sản văn hoá; Xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân đối với di sản văn hoá; Quy định những biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể; Quy định các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể.

Luật Di sản văn hóa cũng quy định rõ các khu vực bảo vệ di tích, phân cấp quản lý, xác định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền trong công việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, về chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư, tu bổ tôn tạo di tích.

Một số văn bản dưới luật như Nghị định số 98/2010/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hoá và luật sửa đổi bổ sung Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 11/2006/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng. Các Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT, phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử – Văn hóa, và danh lam thắng cảnh đến năm 2020, số 05/2003/QĐ-BVHTT Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh.

Pháp lệnh Tôn giáo, tín ngưỡng số 21/2004-PL-UBTVQH11 cũng quy định rõ về việc bảo hộ của Nhà nước đối vơi các cơ sở thờ tự và việc sửa chữa, tôn tạo, phục dựng và xây mới các cơ sở thờ tự đó. Luật Tôn giáo tín ngưỡng 2016 (có hiệu lực vào năm 2018), cũng quy định rõ những điều liên quan đến việc bảo vệ, tôn tạo, phục dựng, xây mới các cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng.

Đấy là những căn cứ quan trọng giúp tác giả luận án đối chiếu với việc vận dụng chúng trong thực tiễn quản lý, để có những nhận xét, đánh giá phù hợp, và xác định quan điểm, định hướng, mục tiêu bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nói chung và Di sản văn hoá Phật giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

1.2.5. Cơ sở thực tiễn – Khái quát về lịch sử Phật giáo ở Hà Tĩnh Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Phật giáo truyền vào Việt Nam từ Ấn Độ và Trung Quốc. Khoảng thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, Phật giáo đã theo chân các thương gia Ấn Độ đến Việt Nam. Họ đến Việt Nam bằng thuyền buồm vào mùa gió Tây Nam và phải chờ tới khi có gió mùa Đông Bắc mới quay về Ấn Độ. Thời gian lưu lại này, họ đã truyền bá văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam, trong đó có Phật giáo. Đầu Công nguyên, Luy Lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) đã trở thành một trung tâm Phật giáo phát triển. Theo truyền thuyết Chử Đồng Tử, Tiên Dung thì Phật giáo đã có mặt tại mảnh đất Châu Hoan, Châu Ái trước công nguyên. Truyền thuyết kể rằng, chính Chử Đồng Tử đã theo Phật học với Đại sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên (nay thuộc xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà của Hà Tĩnh).

Vào thế kỷ thứ 7, thứ 8 sau công nguyên, có nhiều cứ liệu cho thấy, Phật giáo đã hưng thịnh ở Hà Tĩnh. Theo những nghiên cứu của Ban trị sự Phật giáo thì tại vùng xứ Nghệ, vào thế kỷ 7-8, đã có nhiều nhà sư xuất dương, tầm đạo nhằm mục đích hoằng dương đạo Phật ở quê hương. Đó là các sư có tên tuổi như: Khùy Xung, Trí Hoàng, Trí Hành, Đại Thừa Đăng, Tuệ Diêm, Vận Kỳ. Cũng thời gian này (tương ứng với thời Tùy Đường ở Trung Quốc), thông qua sử sách ghi chép, có một vị cư sĩ Trung Quốc, tên Thẩm Thuyên Kỳ, khi bị lưu đày đến vùng Châu Hoan, đã tìm đến một thiền sư tại địa phương là Thượng Nhân Vô Ngại, để học đạo. Vì vậy, có giả thiết cho rằng, vùng này đã từng là một trung tâm Phật giáo phát triển mạnh.

Tác giả Thái Kim Đỉnh, khi nghiên cứu về các làng cổ tại Hà Tĩnh, đã đưa ra nhiều căn cứ để khẳng định, vào thế kỷ 7-8, Phật giáo đã hưng thịnh tại đây (hầu như làng nào cũng có chùa). Ông đã công bố các tư liệu dạng văn bia, minh chuông do ông dày công sưu tầm, nghiên cứu mấy chục năm liền để khẳng định vào thời Đinh, Tiền Lê và Lý – Trần, Phật giáo ở Hà Tĩnh đã phát triển. Bằng chứng là nhiều ngôi chùa lớn đã được xây dựng dọc theo chân núi Hồng Lĩnh. Các nghiên cứu của ông, đã cho thấy một số sự kiện liên quan đến nhiều thiền sư nổi tiếng ở vùng này. Trong thời gian từ năm 1372-1377, vua Trần Duệ Tông đã đích thân dẫn quân đánh Chiêm Thành. Ông bị Chế Bồng Nga (vua Chiêm Thành) phục kích, bắn bị thương nặng, nên đã rút về chùa Diệc (Nghệ An ngày nay) và băng hà. Thánh thể của vua được khâm liệm tại chùa và sau đó chuyển về kinh thành [47, tr.114-115]. Nhìn chung, vào thời kỳ này, chùa chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của cư dân Đại Việt nói chung, cư dân Hà Tĩnh nói riêng. Nó đóng vai trò là trung tâm văn hóa, chính trị của làng quê và kiêm hành cung của nhà Vua mỗi khi vi hành. Chùa Am gắn với truyền thuyết về hoàng hậu Bạch Ngọc (tên thật là Trần Thị Ngọc Hào). Thế kỷ 14, khi nhà Trần bị khủng hoảng, hoàng hậu Bạch Ngọc đã rời kinh thành Thăng Long về Đức Thọ – Hương Sơn (ngày nay), khai phá đất hoang, chiêu dân, lập làng hai bên bờ sông La, khởi dựng một ngôi chùa làm nơi tu hành cho mình và dân chúng. Ngôi chùa này gọi là chùa Am, từng là nơi tu hành của Hoàng Hậu Bạch Ngọc cùng công chúa Huy Chân (con gái bà) và công chúa Trang Từ (cháu ngoại bà). Chùa Am cũng là trung tâm văn hóa, chính trị của vùng đất rộng tới 3.965 mẫu với 3000 dân.

Thời Hồ Quý Ly, ông coi xứ Nghệ là vùng đất phên dậu phía Nam, cho xây rất nhiều chùa (đặc biệt là chùa Đại Huệ), cử công chúa Thái Dương ngày đêm cúng dường, cầu cho quốc thái dân an. Có lẽ, đây là một chiến lược khẳng định chủ quyền đất nước bằng văn hóa. (vì người Chiêm Thành theo đạo Bà La Môn – Hin du). Sự khác biệt về văn hóa là một khẳng định quan trọng về chủ quyền lãnh thổ. Tài liệu ghi chép, trong thời kỳ cuối Trần đầu Hồ (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam Nhất thống chí, Nghi Xuân phong thổ ký, Nghệ An ký, Lịch sử Hà Tĩnh, Làng cổ Hà Tĩnh, Địa chí các huyện của Hà Tĩnh) cho thấy, có nhiều quan lại và nhân dân đã bỏ tiền ra xây dựng, trùng tu, sửa chữa chùa trên địa bàn Hà Tĩnh. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Những nghiên cứu gần đây của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Hà Tĩnh, và trong cuốn Chùa cổ ở Hà Tĩnh [46] vào thời Lê Sơ, khi Nho giáo đã thịnh hành và trở thành quốc giáo, thì những ngôi chùa ở Hà Tĩnh vẫn không ngừng được mọc thêm hoặc trùng tu lại. Trong số 417 ngôi chùa mà nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh đã giới thiệu, mô tả trong cuốn sách đã dẫn trên đây, những ngôi chùa xây dựng ở thời kỳ này chiếm tỷ lệ cao, đến 70% số chùa hiện còn khảo sát được. Nghiên cứu của Ban trị sự Phật giáo Hà Tĩnh cũng khẳng định số liệu trên.

Luận văn Thạc sỹ của Hồ Đức Tiến khẳng định vào thời nhà Mạc, cũng có một số ngôi chùa được xây mới và nhiều ngôi chùa được trùng tu. Cũng trong tài liệu này, tác giả đã khẳng định sự ảnh hưởng khốc liệt lên các ngôi chùa của cuộc chiến tranh tương tàn Trịnh Nguyễn kéo dài trong suốt 50 năm. Cuộc chiến đó đã tiêu hủy nhiều làng mạc, đình, chùa, miếu… Nhiều ngôi chùa trở nên hoang phế. Tuy nhiên, sau cuộc chiến khốc liệt đó, các ngôi chùa lại được xây dựng, trùng tu lại, chủ yếu vào khoảng thế kỷ XVI-XVIII.

Thời Tây Sơn, Phật giáo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Những cứ liệu nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân Hà Tĩnh, như Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Du, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp và cứ liệu về các dòng họ thi hương ở vùng đất này, đã khẳng định vai trò của Phật giáo.

Thời nhà Nguyễn, để có đối trọng với Thiên Chúa giáo lúc này đã thâm nhập khá sâu vào văn hóa Việt Nam nói chung, và văn hóa Hà Tĩnh nói riêng, đặc biệt là thời Vua Tự Đức, đã có chủ trương chấn hưng Phật giáo. Chủ trương này đã được Triều đình thực hiện, bằng cách cấp kinh phí cho các làng xã để trùng tu lại các ngôi chùa đang bị xuống cấp. Bên cạnh đó, các dòng họ khoa bảng cung tiến ruộng đồng, của cải, vật chất để trùng tu và xây mới chùa làng.

Thời Pháp thuộc, Phật giáo cũng có nhiều bước thăng trầm. Những người hưởng ứng Phong trào Duy tân cực đoan, đã ném cả tượng Phật trong chùa xuống sông. Nhưng phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc được Thái Hư Đại Sư khởi xướng năm 1914, đã tác động đến Phật giáo Việt Nam. Năm 1936, tỉnh hội Phật giáo Hà Tĩnh được thành lập, thành phần chủ yếu là các cư sĩ. Kể từ đó, cho đến năm 1945, Phật giáo ở Hà Tĩnh được chấn hưng mạnh mẽ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, phần vì nạn đói, lũ lụt, phần phải dồn lực cho cuộc kháng chiến… nên nhiều đình chùa, miếu mạo bị xuống cấp nghiêm trọng, ruộng chùa chia ra cho dân cày cấy, chùa trở thành nơi hội họp, đóng quân, luyện quân, trường học…

Cuộc kháng chiến chống Mỹ gian nan và những năm trước thời kỳ đổi mới, phần do điều kiện khách quan của cuộc chiến và khó khăn kinh tế sau cuộc chiến, phần do quan điểm sai lầm về vai trò của tôn giáo, nên nhiều ngôi chùa được sử dụng vào các mục đích khác như tổ chức hội họp, làm nhà kho… Nhiều ngôi chùa bị đạn bom phá hỏng. Đồ thờ và tượng Phật tản mát trong dân hoặc hư hại đáng kể.

Thời kỳ đổi mới đất nước, Phật giáo mới dần dần nhanh chóng lấy lại được vị thế quan trọng của mình. Hiện nay, sinh hoạt Phật giáo ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp địa bàn Hà Tĩnh

Tiểu kết

Trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài, tác giả luận án đã xây dựng nền tảng lý luận để tiếp cận đối tượng nghiên cứu.

Phân tích tính khả thi của việc vận dụng lý thuyết vùng văn hóa để nghiên cứu tính đặc thù của di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh trong tương quan với đặc trưng văn hóa xứ Nghệ. Đây là cơ sở để nhận diện giá trị di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh, từ đó xác định cơ chế quản lý phù hợp. Ngoài ra tác giả luận án đã xem xét sự vận hành của các giá trị văn hóa Phật giáo với cộng đồng, lý giải vai trò của môi trường đối với sự hình thành di sản và công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo.

Lý thuyết về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa cũng đã được lý giải về sự phù hợp trong việc vận dụng nó để nghiên cứu các giá trị di sản văn hóa Phật giáo, công tác quản lý di sản này (đặc biệt đánh giá hiệu quả quản lý dựa vào pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo).

Ngoài ra nội hàm của khái niệm quản lý, khái niệm di tích lịch sử-văn hóa, quản lý di tích lịch sử -văn hóa, nội dung quản lý và vai trò của di tích lịch sử-văn hóa cũng đã được phân tích, luận giải để xác định nội hàm thuật ngữ di tích lịch sử-văn hóa phật giáo Hà Tĩnh, xác định nội dung quản lý.

Cuối cùng, nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo ở Hà Tĩnh để xác định vai trò của di sản văn hóa Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Hà Tĩnh.

Trong bối cảnh cụ thể nêu trên, Chương 2 chúng tôi sẽ khảo sát hiện trạng và nhận diện giá trị di sản văn hóa phật giáo ở Hà Tĩnh với tư cách là đối tượng quản lý làm tiền đề để đánh giá thực trạng quản lý và có cơ sở hoạch định những chính sách quản lý phù hợp. Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh

One thought on “Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464