Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát chung về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Để đánh giá các thành tựu và hạn chế trong việc quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa Phật Giáo kể từ năm 2001 đến nay, chúng ta cần đánh giá khái quát toàn bộ di sản văn hóa Phật giáo, tiêu biểu là hệ thống các chùa, tháp và thiền viện của Hà Tĩnh còn lại cho đến ngày nay sau các biến thiên của lịch sử. Trong bản thảo Chùa cổ Hà Tĩnh của tác giả Thái Kim Đỉnh, trước Cách mạng tháng Tám, Hà Tĩnh có đến trên 417 ngôi chùa cổ (Danh mục chùa ông mô tả trong bản thảo đó, chúng tôi trình bày ở phụ lục số 1). 70% các ngôi chùa này đều xây dựng vào thời Lê. Những ngôi chùa ở Hà Tĩnh, cũng như hầu hết các ngôi chùa khác ở Việt Nam, đều là loại chùa có phối thờ với Mẫu, Thần. Tính theo diện tích 6000 km vuông thì khoảng 1,4 km2 đã có một ngôi chùa. Đây là một mật độ chùa khá dày đặc, cho thấy vai trò của Phật giáo trong đời sống tâm linh của người Hà Tĩnh.
Xét từ lý thuyết vùng văn hóa, các ngôi chùa ở đây mang đậm dấu ấn của văn hóa vùng Nghệ Tĩnh, khác biệt với các ngôi chùa ở các địa phương khác. Các ngôi chùa này cùng góp phần làm nên những đặc trưng riêng của Hà Tĩnh. Các đặc trưng của vùng văn hóa, biểu hiện trong hệ thống các chùa ở đây là:
Thứ nhất, Hà Tĩnh vốn là vùng đất phên dậu của đất nước, gắn liền với lịch sử giữ gìn bờ cõi, biên thùy của cả nước. Vì thế, trong các chùa, bên cạnh việc thờ Phật, còn thờ các nhân vật lịch sử khai phá, trấn giữ biên ải (chùa Diên Quang gắn với Hoàng Hậu Bạch Ngọc là một ví dụ cụ thể). Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Thứ hai, Hà Tĩnh là vùng đất xa trung tâm, xét theo lý thuyết vùng văn hóa, thì đây là một vùng có tính chất ngoại vi so với các vùng văn hóa như Đồng bằng Bắc bộ, Thăng Long..Vì thế, chùa ở đây còn lưu giữ được những dấu vết cổ xưa, giống như hiện tượng hóa thạch văn hóa. Đó là hiện tượng các ngôi chùa không tồn tại riêng lẻ, mà thường tồn tại trong một quần thể chùa – đền – miếu, thể hiện rõ sự hòa quyện của Tam giáo đồng nguyên. Hiện tượng này, ở các vùng văn hóa khác, đã bị mai một do tác động của lịch sử, nhưng ở Hà Tĩnh, vẫn còn khá đậm nét (chùa Phúc Linh, chùa Khang Quý…).
Thứ ba, Hà Tĩnh là vùng biên ải, nơi tiếp giáp với nền văn hóa láng giềng. Chính vì vậy mà trong hệ thống chùa, thấy rõ ảnh hưởng của văn hóa Chăm pa (tượng ở chùa Xuân Đài), và cả ảnh hưởng lối kiến trúc chùa của người Khơ me là chùa mở cửa ở đầu hồi nhà (chùa Bảo Lâm, chùa Am).
Thứ tư, do điều kiện địa lý (thiên nhiên của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh là sơn thủy hữu tình) nên các ngôi chùa ở Hà Tĩnh có cảnh quan rất đẹp (Hương Tích, Tượng Sơn, Chân Tiên, Diên Quang..).
Thứ năm, do điều kiện kinh tế đặc trưng của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh là nhiều thiên tai, đất khô cằn, nên kinh tế nhìn chung còn nghèo. Vì thế, về cơ bản, chùa Hà Tĩnh chủ yếu là các chùa nhỏ, quy mô làng, chùa liên làng rất hiếm.
Hơn nửa thế kỷ, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, như thiên tai, lũ lụt, bão tố, hỏa hoạn, chiến tranh, đặc biệt là quan điểm sai lầm về vai trò của các tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng, dẫn đến cách ứng xử không đúng với di sản văn hóa tâm linh nói chung, các di sản văn hóa Phật giáo nói riêng, gây tổn hại nặng nề. Phong trào hợp tự ở Hà Tĩnh vào những năm 1960, làm xáo trộn các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian vào nhau, đồ thờ ở chùa, đền, đình và miếu lẫn lộn với nhau, dẫn đến mai một, thất thoát nhiều cổ vật quý. Tiếp đó, quan điểm vô thần máy móc coi tất cả các tôn giáo, tín ngưỡng đều là mê tín dị đoan, nên đã chuyển mục đích sử dụng của di tích văn hóa, như làm trường học, nhà kho, hoặc bỏ hoang phế. Đội ngũ các nhà sư trụ trì “thất tán, tha phương”. Hà Tĩnh gần như trở thành mảnh đất trắng về Phật giáo. Hệ thống các chùa sử dụng sai mục đích, dẫn đến thay đổi nghiêm trọng theo hướng tiêu cực. Rất ít chùa còn hoạt động theo đúng mục đích của nó – đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của cư dân. Phần lớn chùa bị xuống cấp, xuống cấp nghiêm trọng, hoặc bị phá hủy hoàn toàn. Trong cuộc phỏng vấn kéo dài gần 3 tiếng đồng hồ với tác giả Thái Kim Đỉnh (trước khi ông qua đời 3 tháng; vào ngày 26 tháng 11 năm 2016 thật may mắn, chúng tôi còn kịp gặp ông), ông đã đau xót chia sẻ về hơn 10 năm khảo sát những ngôi chùa trên đất Hà Tĩnh.
Theo ông, trong số trên 417 ngôi chùa mà ông xác định được và mô tả trong cuốn sách Chùa cổ Hà Tĩnh, xuất bản 2017, Đại học Vinh xuất bản, Nghệ An, nhiều ngôi chùa tuy còn lại công trình kiến trúc, nhưng trống rỗng, vì đồ thờ tự đã bị thất thoát; nhiều ngôi chùa xuống cấp nghiêm trọng, đổ nát; nhiều ngôi chùa chỉ còn nền móng cũ, khuôn viên hoang tàn. Bên cạnh đó, còn có 26 ngôi chùa thậm chí không còn khuôn viên, không còn nền móng cũ. Đất đai đã bị lấn chiếm sử dụng cho các mục đích khác. Việc ông xác định lại được chúng, là nhờ vào một số rất ít ỏi tư liệu cũ từ thời Pháp thuộc, còn chủ yếu dựa vào ký ức và tư liệu dân gian, thông qua lời kể của cư dân địa phương, một số ảnh cũ họ chụp, còn lưu lại.
Theo kết qua điều tra của Hồ Đức Tiến, khi tiến hành nghiên cứu luận văn Thạc sỹ của mình về Phật giáo ở Hà Tĩnh thì
Từ 1975-1985, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, Phật giáo ở Hà Tĩnh tiếp tục bước trên con đường khủng hoảng, suy vi. Biểu hiện là 85% số ngôi chùa cổ trên đất Hà Tĩnh bị xuống cấp, xiêu vẹo, hay chỉ còn là phế tích. Bia đá, tượng Phật, chuông chùa, sách vở ghi kinh Phật, v.v..tiếp tục bị thất thoát, hư hỏng… Ruộng chùa không còn, nhà sư cũng vắng bóng [125, tr.33].
Do quá trình hợp tự, nhiều ngôi đền ở Hà Tĩnh đều có vài pho tượng Phật và trong chùa lại có thờ thần, thánh. Thời kỳ đổi mới (từ năm 1986), khi người dân tham gia các lễ hội ở đền, họ dâng hương cúng Phật. Việc thờ cúng hỗn hợp một cách vô thức tồn tại khá phổ biến.
Chỉ còn một số chùa vẫn giữ được sinh hoạt Phật giáo một cách bài bản, như chùa Yên Lạc (Cẩm Xuyên), Chùa Hương Tích (Can Lộc), chùa Am (Đức Thọ), chùa Chân Tiên (Lộc Hà), chùa Thiên Tượng (Hồng Lĩnh).
Dưới đây là hiện trạng của những di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo còn sót lại (sau những biến cố lịch sử) và những giá trị cơ bản hàm chứa và liên quan đến các di tích này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.2. Những ngôi chùa được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Giá trị nhất trong các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh là 7 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia (xem bảng 1).
Bảng 1. Danh mục chùa Hà Tĩnh được xếp hạng di tích cấp Quốc gia
Đây là 7 ngôi chùa có giá trị tiêu biểu nhất trong số các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Sau đây chúng tôi xin mô tả khái lược hiện trạng và những giá trị của các ngôi chùa đó.
2.2.1. Hiện trạng của các Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo cấp quốc gia trước năm 2001
Như mục 2.1 trên đây đã giới thiệu, những biến cố lịch sử, những nguyên nhân chủ quan, như quan điểm, chính sách, lẫn nguyên nhân khách quan, như thời gian, chiến tranh…mà hệ thống chùa, tháp, thiền viện ở Hà Tĩnh phần lớn bị hư hại, bỏ hoang. Hà Tĩnh như phân tích ở trên, đã có thời kỳ trở thành miền đất trắng về Phật giáo. Những di tích cấp quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của những tác động tiêu cực ấy. Các công trình kiến trúc, một thời gian dài không được trùng tu, tôn tạo, đất chùa bị lấn chiếm. Tuy nhiên, đây là những ngôi chùa còn giữ lại được nhiều nhất giá trị về nghệ thuật, thẩm mĩ và lịch sử. Nguyên nhân những ngôi chùa lưu giữ được khá nguyên vẹn những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể là do: chùa được xây dựng khá kiên cố, quy mô lớn so với các ngôi chùa khác ở Hà Tĩnh, có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng. Chính cộng đồng gìn giữ, chăm sóc những ngôi chùa này trong suốt hơn nửa thế kỷ. Tuy nhiên, chúng cũng bị xuống cấp nghiêm trọng. Sự quan tâm của chính quyền đến các di sản này, thực sự mới chỉ bắt đầu từ năm 1990, khi đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng đổi mới, đã có những thành tựu đáng ghi nhận, và khi Hà Tĩnh đã được tách ra khỏi Nghệ Tĩnh (thành Nghệ An và Hà Tĩnh). Với những giá trị mà các ngôi chùa này còn gìn giữ được, đặc biệt là các công trình kiến trúc và các cổ vật, nên ngay trong thập niên 1990, năm ngôi chùa, Hương Tích, Chân Tiên, Yên Lạc, Tượng Sơn, Diên Quang đã lần lượt được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia và được đầu tư để chống xuống cấp. Sau nhiều năm cộng đồng dân cư chăm lo, tôn tạo, vào năm 2004, hồ sơ của chùa Thiên Tượng và năm 2008, đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá cũng được công nhận là di tích cấp quốc gia.
Nhìn chung, cả bảy ngôi chùa đều giữ được khá nguyên vẹn các công trình kiến trúc đã được xây dựng hoặc trùng tu thời Lê và thời Nguyễn.
Chùa Hương Tích
Hương Tích là ngôi chùa nổi tiếng nhất của Hà Tĩnh, được coi là biểu tượng tiêu biểu cho Hà Tĩnh khi được khắc lên một trong Cửu Đỉnh tại kinh đô Huế. Nhiều cứ liệu cho biết, ngôi chùa này được xây dựng vào thời nhà Trần, nhưng qua nhiều biến cố lịch sử, khiến kiến trúc đời Trần không còn nữa. Năm 1885, chùa bị đốt cháy nên Phật phả, văn bia đều không còn. Vì vậy, không thể xác định được chính xác chùa xây dựng năm nào, những ai đã từng trụ trì nơi đây. Các dấu tích còn lại, như gạch lát hoa văn đời Trần, chuông thời Lê Mạc và nhiều bài văn thơ của du khách, giúp ta biết đây là ngôi chùa có niên đại từ đời Trần. Kiến trúc hiện nay của chùa, là kiến trúc được tôn tạo vào thời nhà Nguyễn, dưới thời vua Thành Thái, đầu thế kỷ 20. Đó là một quần thể các công trình kiến trúc, bao gồm: Đường lên di tích, chợ trời, vườn chùa, sân và nhà bái đường, thượng điện, khu hành lang và sân nhà Thánh Mẫu, nhà Hàn lâm sỹ, nhà Bình Thiên, nền Trang vương. Tuy nhiên, một số công trình đã bị xuống cấp. Lối lên chùa nhiều bậc đá đã long lở, hư hỏng. Tòa thượng điện hầu như đã đổ nát. Nhà bái đường cũng hư hỏng nhiều, mái dột, chỉ có Am Thánh Mẫu còn giữ được nguyên vẹn. Năm 1988, bảo tàng Hà Tĩnh, cùng với cộng đồng dân cư, đã cùng nhau sơn lại toàn bộ các pho tượng của chùa.
Sau khi được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia, năm 1998, chùa đã được đầu tư chống xuống cấp, một số nhà hảo tâm đóng góp để tôn tạo, sửa chữa lại hư hỏng tại nhà bái đường và tòa thượng điện.
Chùa Hương Tích là chùa còn giữ lại được nhiều tượng Phật cổ nhất trong số các ngôi chùa của Hà Tĩnh. Một số tượng cổ quý ở các chùa khác, qua một vài biến cố cũng được mua về và cung tiến vào chùa Hương. Chùa còn giữ được một chuông lớn có niên đại vào thời Lê mạt. Vào năm 2000, chùa được đánh giá là phát huy tốt.
Chùa Chân Tiên
Chùa Chân Tiên cũng xây dựng vào thời nhà Trần (thế kỷ 13), ban đầu chùa chỉ có kiến trúc đơn giản. Trải qua thời gian, chùa bị hư hỏng nặng và đã phải tu sửa nhiều lần. Quy mô của chùa có mở rộng (sau những lần tu sửa) và tạo ra một kiến trúc hài hòa, tọa lạc giữa rừng thông, phong cảnh đẹp. Hiện nay, chùa gồm hai tòa, một thờ Phật và một thờ Thánh Mẫu. Tòa thờ Phật là một kiến trúc gồm ba gian, lợp ngói âm dương, bốn cột xây, ba bên có tường bao quanh, phía trước mặt để thoáng. Tòa thờ Mẫu, gồm có thượng điện, kiệu long đình và bái đường. Chùa bị hư hỏng khá nặng, đặc biệt là tòa Thánh Mẫu, vì vậy, nhân dân đã đóng góp công của để tu sửa, đến năm 1990, tòa Thánh Mẫu mới được trùng tu hoàn chỉnh. Năm 1992, chùa được công nhận di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, tỉnh cũng cấp kinh phí để tiếp tục trùng tu, chống xuống cấp di tích. Hiện trạng của chùa vào năm 2000, được đánh giá là xuống cấp một phần.
Chùa Yên Lạc
Hiện chưa xác định chính xác chùa Yên lạc ra đời vào năm nào, theo sách ”Hà Tĩnh di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt” thì chùa đã có mấy trăm năm, cùng với lịch sử hình thành vùng đất Cẩm Nhượng. Chùa bao gồm các công trình kiến trúc nghi môn, hạ điện, trung điện và thượng điện, bố trí theo một trục thẳng, nền của các công trình sau, cao hơn các công trình trước. Đối xứng qua trục công trình chính, là nhà cô hồn phía Tây, và nhà bia phía Đông, tạo cho chùa có một sự đăng đối, hài hòa và trang nghiêm. Chùa đã được cộng đồng dân cư gìn giữ qua nhiều biến cố. Năm 1947, chính quyền đã bỏ công quỹ ra tu sửa lại chùa, năm 1990, chính quyền địa phương cũng huy động đóng góp của dân tu bổ chùa. Hiện chùa còn giữ khá nguyên vẹn những công trình kiến trúc cổ. Tuy có một vài hư hỏng nhẹ, nhưng chùa được giữ ở hiện trạng khá tốt. Năm 1994, chùa được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Chùa Diên Quang (Chùa Am)
Đây là ngôi chùa do Hoàng hậu Bạch Ngọc khởi dựng vào thế kỷ 15. Tuy nhiều chi tiết gốc, có sự thay đổi, do những lần trùng tu, tôn tạo, nhưng chùa vẫn giữ được đậm nét phong cách kiến trúc thời Lê Sơ. Chùa bố trí theo hình chữ công, gồm bảy gian chính, hai gian hồi, mái kiểu chồng diêm (trùng thiềm) trông rất uy nghi (chúng tôi sẽ mô tả kỹ ở phần giá trị nghệ thuật của các ngôi chùa dưới đây). Chùa đã từng được trùng tu nhiều lần dưới triều nhà Nguyễn, cho đến năm 2000, chùa được đánh giá là xuống cấp một phần. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Chùa Thiên Tượng
Căn cứ vào những dấu tích của các hiện vật còn lại trong chùa, ta có thể khẳng định, chùa Thiên tượng được xây dựng vào khoảng thế kỷ 14, đời nhà Trần. Chùa tọa lạc trên núi cùng tên, trong một khuôn viên rộng rãi, được giới hạn bởi hai con suối hai phía bắc nam. Năm 1885, chùa bị giặc Pháp đốt và bị hoang phế trong nhiều năm. Dưới thời tổng đốc Đào Tấn, ông đã cho xây dựng lại chùa. Thời xô viết Nghệ Tĩnh, do chùa là căn cứ hoạt động cách mạng, nên lại bị tàn phá lần nữa, tăng ni bị tàn sát, chùa bị phá hoại, đồ thờ bị tản mát. Sau đó, phong trào hợp tự những năm 1960, chiến tranh ác liệt, thiên nhiên khắc nghiệt đã làm ngôi chùa bề thế bị hủy hoại, chỉ còn lại một mảng kiến trúc nổi, thuộc về kiến trúc của lần trùng tu thời Nguyễn (thời Thành Thái-1901). Quần thể kiến trúc, bao gồm: Hạ điện đã bị hủy hoại, nhưng dấu tích còn lại cho thấy, đó là một công trình gồm bốn gian, hai chái, có sáu mái hình chữ nhật dài 13m, rộng 10,5m. Thượng điện kiến trúc còn khá nguyên vẹn, gồm ba gian, mỗi gian chia hai gian hình vòm, diện tích 8mx 5m. Phía Tây chùa còn giữ được hai tháp lớn là Lưu Đức tháp (thế kỷ 18), và Thạch Sơn tháp (đầu thế kỷ 20). Trước nhà thượng điện, có tượng đài Phật bà Quan Âm bồ tát, tượng cao 1,5m, đài cao 3,5m. Trong thập kỷ 1990, chùa đã được nhân dân đóng góp tu bổ, cảnh quan khuôn viên dần được phục hồi, nhà thượng tịnh, nhà tăng, nhà khách, cũng được tôn tạo lại, đường lên chùa, hệ thống tháp, tượng đài cũng được sửa sang, đồ tế tự được bổ sung. Tuy nhiên, vào năm 2000, chùa vẫn được đánh giá là dạng xuống cấp nghiêm trọng.
Chùa Tượng Sơn
Tượng Sơn được xây dựng vào thế kỷ 17, do mẹ của danh y Lê Hữu Trác là bà Bùi Thị Thường khởi dựng. Ban đầu là một ngôi cổ tự đơn giản, sau các nhà sư trụ trì tại đây đã tu bổ, tôn tạo ngày một khang trang. Trải qua thời gian, ngôi chùa cổ này gắn liền với danh y Lê Hữu Trác. Chùa gồm ba tòa: Thượng điện thờ Phật Thích Ca Mầu Ni ở chính điện, hai bên thờ họ nội và họ ngoại của danh y Lê Hữu Trác. Hạ điện là một lầu chuông tám mái, chạm trổ tinh xảo. Bên cạnh thượng điện là nhà Tổ, trước sân nhà Tổ là cổng vào, hình vòm, cạnh đó là nhà khách, ba gian rộng rãi. Những công trình kiến trúc này, trải qua thời gian cũng bị hư hại ít nhiều. Năm 2000, chùa được đánh giá là xuống cấp một phần.
Chùa Thịnh Xá và đền Bạch Vân
Đền Bạch Vân là ngôi đền cổ được tiến sỹ Đinh Nho Công xây năm 1670 để thờ người bạn đèn sách của mình. Sau khi Đinh Nho Công mất, ông cũng được dân làng đưa vào thờ tại đền như một vị thành hoàng làng. Đền ban đầu được xây dựng tranh tre đơn sơ giản dị, nhưng vào cuối thời Lê, đầu Nguyễn đền được tôn tạo lại khang trang lộng lẫy với ba tòa thượng điện, trung điện, hạ điện và nhà nghĩa thương ở trước đền. Sau đó, để thỏa mãn nhu cầu tu Phật, dân làng Thịnh Xá đã tiếp tục xây dựng gác chuông và chùa làng vào phía sau đền Bạch Vân, gọi là chùa Thịnh Xá.
Trải qua thăng trầm của thời gian, quần thể di tích này đã bị xuống cấp một phần nhưng vẫn còn nguyên vẹn là một quần thể kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn ở tỉnh Hà Tĩnh. Nhiều tác phẩm điêu khắc giá trị còn lưu giữ trong chùa nhưng đều đang ở hiện trạng hư hỏng cần phải được tu bổ, bảo tồn. Năm 2008 quần thể di tích này được công nhận là di tích cấp quốc gia.
Như vậy, cả bảy ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia đều ở hiện trạng xuống cấp, cần phải tu bổ, sửa sang và bảo trì. Tuy nhiên, các ngôi chùa này đều chứa đựng những giá trị vật thể và phi vật thể đáng ghi nhận. Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích các giá trị văn hóa của các ngôi chùa này còn lưu giữ.
2.2.2. Giá trị của những ngôi chùa di tích cấp quốc gia Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
2.2.2.1. Giá trị di sản văn hoá vật thể
Giá trị vật thể quan trọng nhất của những ngôi chùa này chính là giá trị thẩm mỹ nằm trong cảnh quan, giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và cổ vật.
Giá trị thẩm mỹ
Hà Tĩnh là một vùng đất có núi, có biển, hệ thống sông ngòi chằng chịt, cảnh quan hùng vĩ, tươi đẹp, sơn thủy hữu tình. Những ngôi chùa của Hà Tĩnh, cả vùng ven biển, lẫn vùng núi đồi, đều có vị thế đắc địa, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, tạo thành những danh thắng hấp dẫn.
Trước hết, phải kể đến cảnh quan tuyệt đẹp của chùa Hương Tích, một ngôi chùa gắn với địa danh núi Hồng, Sông Lam, thuộc địa bàn xã Thiên Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Chùa Hương Tích đã từng được mệnh danh là “Hoan Châu đệ nhất danh lam”. Chùa tọa lạc trên ngọn Hương Tích cao hơn 800m của dãy núi Hồng Lĩnh huyền thoại, hiện nay là một trong những điểm du lịch ưa thích của nhiều du khách khi đặt chân tới Hà Tĩnh. Dãy Hồng Lĩnh, tương truyền có tới 99 ngọn bao quanh bởi hai con sông Lam và sông Hà, quy tụ nhiều di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, như Chùa Chân tiên, Hồ Thiên Tượng, Chùa Long Đàm, có các di chỉ như: Động Tiên Nữ “36 cửa ra vào”, Am Phun Mây, Khe Tiên Tắm, Sông cổ thụ, Suối Ướp Hương, ngọn Sư Tử, Ngọn Đôn…
Theo Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch:
Ngọn Hương Tích, trên đỉnh có thành đá, tục gọi là đài Trang Vương, ở cửa thành có hai cây thông cổ thụ. Dưới thành có am đá dựa vào sườn núi gọi là am Thánh Mẫu, xây dựng vào đời Trần. Bên am có một ngôi chùa gọi là chùa Hương Tích (Chùa có những tên gọi khác nhau như chùa Nhang hay còn gọi là chùa Nhang Tích, chùa Hang, chùa Cao…).
Trước chùa có suối chảy, thông trúc xanh tươi, thật là một cảnh chùa bậc nhất Châu Hoan [13].
Đi theo đường bộ thì đường lên chùa giống như đường lên tiên cảnh, đường núi quanh co theo dòng suối trong vắt, lối đá mấp mô, với tiếng gió giữa đại ngàn, vút tán thông reo, phóng tầm mắt lên chùa Hương Tích, ta cảm tưởng như chùa đang ở tận chân trời, mây khói bao phủ đầy huyền ảo. Nếu chúng ta đi lên chùa bằng đường thủy, sử dụng thuyền khoảng hơn hai km, chúng ta lại được tận hưởng một không gian khác, đi trên dòng nước trong xanh, gợn sóng, gió lồng lộng thổi, phóng tầm mắt là đại ngàn bao phủ, cây cối xanh tươi, đúng là cảnh sơn thủy hữu tình, làm tâm ta tĩnh lại, hướng tới cõi Phật. Hết đường thủy, tính từ dòng nước lên ta gặp một ngôi miếu để tín đồ thắp hương (trước khi vào chùa lễ). Miếu được xây trên một tảng đá lớn theo hướng Đông Nam, trước mặt miếu là suối Hương tuyền chảy qua, cạnh miếu là cây cổ thụ xum xuê tỏa bóng mát. Qua miếu, suối Hương tuyền khoảng 600m, bên tả có một tảng đá đứng chơ vơ, trên đó có một tảng đá nhỏ hơn, giống hình một con voi đang nằm, đầu ngoảnh về hướng chùa, đuôi lưng quay về hướng Nam. Từ đây, lên chùa Hương khoảng 400m, là những bậc đá bằng phẳng được ghép lại với nhau. Đi hết bậc đá chúng ta được thưởng thức vẻ đẹp của chùa Hương, đúng như Lưu Công Đạo đã nhận xét: “Theo bậc đá, đi lên hang đá khá bằng phẳng có thể vịn tay mà đi được, mỗi bước đi là một cảnh sắc khác nhau, lên cao trông khắp bốn phương, biển khơi xanh thăm thẳm, từ ngoài xa núi non muôn lớp đều hiện lên rõ mồn một, như kéo cảnh đẹp sát tận tầm mắt mà nhìn. Đúng là nơi danh thắng đệ nhất đất Châu Hoan”.
Vườn chùa có diện tích rộng, được chia thành các ô vườn với nhiều diện tích khác nhau, mỗi ô vườn có chiều rộng từ 10m đến 30m, chiều dài từ 20m đến 50m, có độ lệch cao, bao quanh cây cối xanh tươi, tỏa bóng mát quanh năm, trong mỗi vườn chùa, có các ngôi mộ của các sư, có kiến trúc đơn giản. Toàn bộ tổng thể các công trình trong chùa, cùng với địa thể núi và rừng mờ sương, tạo thành một không gian tâm linh huyền bí và cảnh quan vô cùng huyền ảo.
Sau chùa Hương Tích, chùa Thiên Tượng cũng được mệnh danh là Hoan Châu đệ nhị phong cảnh. Di tích nằm ngay lưng chừng núi Thiên Tượng, phía tây dãy Ngàn Hống, thuộc thị xã Hồng Lĩnh, nơi hợp lưu bởi sông Lam và sông La. Đi trên đường quốc lộ 1A, có thể ngắm toàn bộ danh thắng nổi tiếng này giữa những tán cây mù sương. Chùa Thiên Tượng cũng là di tích được xây dựng từ thời nhà Trần. Ngôi chùa đẹp nổi tiếng này, đã thu hút bao thi nhân, mặc khách tới tham quan và cảm tác nhiều áng văn thơ ấn tượng. Hai dòng suối phía Tây và phía Nam, cùng bắt nguồn từ núi Thiên Tượng, ngày đêm chảy róc rách về dưới hạ lưu đã tạo ra một khuôn viên đẹp như tranh vẽ, rộng khoảng 150.000 m2 ở lưng chừng núi. Đó là khuôn viên của chùa Thiên tượng. Ngày đêm tiếng chuông, tiếng đọc kinh hòa vào tiếng suối chảy, tiếng chim kêu ríu rít làm cho Thiên Tượng có một không gian khoáng đãng – trong lành, thanh tịnh như thoát tục. Đường lên chùa xếp bằng những phiến đá, trông như một cái thang khổng lồ, màu xám, vắt vẻo trong không gian xanh ngút ngàn của cây lá. Từ chùa nhìn xuống thị xã Hồng Lĩnh, nơi hợp lưu của con sông La và sông Lam, đẹp như một bức tranh thủy mặc, như chứa cả hồn thiêng sông núi xứ xở. Năm 2004, chùa đã được công nhận là di tích danh thắng quốc gia [12].
Một ngôi chùa khác thuộc huyện miền núi của Hà Tĩnh cũng đã kết hợp được sự hài hòa của thiên nhiên để tạo nên những cảnh quan thanh tú, mang lại cho các tín đồ và du khách viếng thăm những cảm giác thư thái, nhẹ nhàng và củng cố cho họ thêm tình yêu và lòng tự hào về quê hương, xứ sở. Đó là chùa Chân Tiên hay Chân Tiên tự, thuộc xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà. Ngôi chùa này tọa lạc trên núi Tiên Am, giữa một rừng thông trùng điệp, xanh ngút ngàn. Cạnh chùa có một tảng đá hoa cương to, in một dấu chân người, tương truyền là dấu chân các tiên trên trời đến thưởng ngoạn cảnh đẹp nơi đây, vì thế mới thành tên của chùa – Chân Tiên tự. Tiếng thông reo vi vút, hòa tiếng róc rách của suối ngàn, tiếng sóng biển vỗ bờ tạo nên một giàn âm thanh đặc biệt, mang âm hưởng vừa trầm hùng vừa vui tươi. Dòng suối trong vắt cạnh chùa và cái giếng mệnh danh là giếng thần, nước trong vắt nhìn thấu đáy, chưa bao giờ cạn. Dưới chân núi, trước mặt chùa, có Bàu Tiên, nước luôn trong xanh, như một mảnh gương lớn thu cả cảnh sắc mây trời và núi non, thật là sơn thủy hữu tình đã tạo thêm một nét nhấn phong thủy tuyệt đẹp cho ngôi chùa. Bên cạnh Bàu Tiên là bàn cờ tiên, một phiến đá hình chữ nhật, phẳng và nhẵn trên có các đường kẻ ngang dọc như bàn cờ. Đến thăm chùa này, du khách và tín đồ có thể kết hợp tham quan những thắng cảnh khác trên núi Tiên Am, như động Trúc, động Mai, động Thạch Thất, động đá Người, nhiều hang đá cổ như hang Bàn cờ, đá Cối xay, đá Người, đá Cô, đá Cậu… Tên gọi và truyền thuyết của các địa danh này cho thấy sự hòa quyện của Phật giáo với tín ngưỡng dân gian cổ xưa là tục thờ đá, và đạo giáo thần tiên có từ xa xưa. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Chùa Tượng Sơn, gắn liền với danh tiếng của một danh nhân xứ Nghệ là Hải Thượng Lãn Ông, cũng là một trong những ngôi chùa có giá trị cảnh quan. Đây chính là nơi vị Lương y tìm đến mỗi khi mỏi mệt sự đời. Cảnh sắc tươi đẹp của vùng rừng núi, cộng với suối chảy từ dãy Đại Huệ đến đầu ngọn Seo Voi, ngọn núi ngay sau lưng chùa, gặp phải ghềnh đá thì chảy sang phía Tây của chùa, đổ xuống sông Ngàn Phố, tạo nên cảnh quan độc đáo. Chùa nằm trước dãy Seo Voi, nên tên gọi Tượng Sơn tự. Con suối uấn khúc chuyển dòng chảy qua các ghềnh đá, luôn tung bọt trắng xóa, nước đổ ầm ầm nên còn được gọi nôm na là chùa Hầm Hầm. Chùa thuộc địa phận xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn ngày nay.
Bên cạnh giá trị cảnh quan của các ngôi chùa với địa thế núi non-sông/suối còn có cả những ngôi chùa địa thế núi non – biển cũng đẹp không kém. Tiêu biểu cho những chùa này là chùa Yên Lạc. Chùa nằm ở địa phận xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, sát tỉnh lộ 14. Phía Đông Bắc là biển cả mênh mông, phía đông nam là cửa sông Gia Hội. Ngọn núi Tượng sát cửa sông Gia Hội, tạo nên nét chấm phá hùng vĩ cho phong cảnh ngôi chùa. Khu du lịch biển Thiên Cầm, tạo cho ngôi chùa một cảnh sắc vừa kỳ vĩ của biển cả, vừa huyền bí của hang Hồ Qúy Ly, non xanh nước biếc, vừa vui nhộn tấp nập của cuộc sống trần tục cả một khu du lịch. Chùa Yên Lạc đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
Nhìn chung, giá trị thẩm mỹ cảnh quan của bảy di tích lịch sử -văn hóa cấp quốc gia chủ yếu nằm trong các vị trí đắc địa của tỉnh Hà Tĩnh. Những kiến trúc, với quy mô khác nhau, nhưng đều thể hiện rõ sự hài hòa với thiên nhiên, tận dụng được vẻ đẹp của tự nhiên và đến lượt chính những ngôi chùa này lại điểm tô thêm cho cảnh sắc tự nhiên đó. Không phải ngẫu nhiên, phần lớn các ngôi chùa đều có phong cảnh sơn thủy hữu tình, chính có được sự kết hợp hài hòa giữa núi với sông, suối, ao, hồ, hoặc núi với biển. Địa thế đó đã tạo cho những ngôi chùa vừa có sự hùng vĩ, sự mênh mông, sự thanh thoát, sự trong trẻo, sự thâm nghiêm… Đây là thế mạnh lôi cuốn các tín đồ đến với Phật giáo, đồng thời cũng lôi cuốn du khách đến vãng cảnh chùa, tạo tiềm năng lớn cho du lịch.
Giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc.
Giá trị kiến trúc
Về cơ bản, bảy ngôi chùa cổ di tích cấp quốc gia của Hà Tĩnh thường có quy mô không quá lớn về mặt kiến trúc. Kiến trúc của những ngôi chùa cổ mà chúng ta đang xem xét có giá trị nhất chủ yếu là kiến trúc đặc trưng của thời hậu Lê. Có thể nói đây cũng là những giá trị mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc.
Ngoài ra một số chùa lớn đã được tôn tạo, trùng tu, nhiều lần còn giữ lại được dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn.
Dưới đây, xin được mô tả một cách khái quát nhất một số ngôi chùa cụ thể nêu trên để thấy rõ hơn những giá trị kiến trúc đặc trưng đó.
Chùa Diên Quang (chùa Am)
Chùa Diên Quang là một trong số những ngôi chùa hiếm hoi còn giữ lại được công trình kiến trúc của thời Lê trên đất Hà Tĩnh. Mặc dù, cũng như những ngôi chùa khác, qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, nhiều chi tiết kiến trúc đã bị thay đổi, nhưng Diên Quang tự vẫn giữ lại được những nét tổng thể của phong cách chùa thời Lê. Chùa có lối kiến trúc hình chữ công, gồm bảy gian chính, và hai gian đầu hồi. Toàn bộ ngôi chùa có tới sáu mươi cây cột, tám vì kèo. Mỗi vì kèo gồm hai cột cái, hai cột con và hai cột hiên. Các vì kèo này được kết nối với nhau bằng các xà ngang, xà dọc, hoành tải, cầu phong, cái nọ giằng kéo cái kia, liên hoàn rất vững chắc. Mọi đầu nối đều không cần dùng đinh, gắn kết với nhau rất khít, cho thấy tài hoa của các thợ mộc xưa kia. Toàn bộ cột và xà đều làm bằng gỗ mít.
Mái chùa được tạo bởi mười hai mái chồng diêm, lớp lớp trùng trùng, nhìn từ phía nào cũng như nhìn chính diện. Hai tầng gồm tám mái chồng lên nhau tại đỉnh các cột con. Đường tàu mái tầng trên đặt trên cuối những xà nách, nối từ cột cái ra, giữ cho mái vững chãi, không bị cong, võng. Bốn mái phụ, ghép nối vào các mái chính rất khéo léo. Hệ thống các sườn mái, tạo độ mềm mại, thẩm mỹ, của mái chùa và chống nước tốt.
Kết cấu khung gỗ và mái chồng, về tổng thể đã làm cho công trình có vẻ đồ sộ, uy nghi, kiên cố, vững chai, nhưng vẫn mềm mại, uyển chuyển, hài hòa vào với cảnh quan thiên nhiên. Tính bố cục chặt chẽ, hệ thống, tổng thể được gia tăng thêm giá trị, khi công trình được bổ sung thêm một số các công trình phụ trợ khác. Trước hết, phải kể đến hai dãy hành lang thoáng đãng, rộng rãi, làm gia tăng không gian rộng, đồ sộ của công trình, đồng thời cũng tạo cho công trình một sự phóng khoáng, mà vẫn uy nghi. Sân chùa rộng, được bao kín bằng lan can thấp, đắp hình hoa thị, thống nhất với các họa tiết trang trí trên các trên ô thoáng của chùa. Lối lên chùa được xây thành hai hàng bậc hai bên trái và phải, đều có lan can, tạo ra một sự chỉn chu, tỷ mỷ cho cả công trình lưng chừng núi. Giữa hai lối đi, có bố trí “Bàn mát” để Hoàng Hậu Bạch Ngọc, người có công khởi dựng ngôi chùa này ngồi nghỉ, ngắm sen nở trong hồ dưới chân núi, ngay trước cửa chùa.
Trong chùa, việc bài trí cũng khá độc đáo. Bốn trong bảy gian đã được dùng làm nơi cầu kinh, niệm Phật, hành lễ. Ba gian sau cao hơn một bậc, là nơi đặt hệ thống các bàn thờ Phật. Điểm đặc biệt của ngôi chùa này là phối thờ luôn Hoàng hậu Bạch Ngọc trong chính điện, tượng của bà được đặt ngay bên phải của bàn thờ, trên có đặt các tượng Phật.
Chính vì vẻ đẹp và độc đáo về kiến trúc này, mà ngày 13/2/1995, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là BVHTTDL), đã ra quyết định công nhận chùa Diên Quang là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia, loại hình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo.
Chùa Hương Tích
Hương Tích gồm một số kiến trúc tạo thành một tổng thể nằm lưng chừng núi. Các kiến trúc độc đáo nhất, bao gồm:
Nhà bái đường: Cổng nhà bái đường có diện tích mặt bằng dài 5m, rộng 2m, giữa cổng ra vào là một tắc môn, chia cổng lớn thành hai cổng nhỏ, được xây dựng bằng đá, gạch, vôi vữa đặt trên bệ đá, hai bên tắc môn là hai tháp bút.
Sân nhà bái đường hình chữ nhật, lát gạch chỉ, xung quanh có tường xây dựng bằng gạch đá bao quanh.
Nhà bái đường có kiến trúc theo kiểu chữ J gồm năm gian với sáu vì, mỗi gian rộng 2,3m, gồm mười hai xà, mười hai con ngang gác tường, mười một hàng xà gồ, sâu đôi quá giang, kèo bằng gỗ lim, mười hai cột cao mỗi cột 2,6m, đường kính 0,22, sáu khẩu đầu, kiến trúc không có chạm trổ.
Kết cấu: Các gian nhà bái đường được kết cấu giống nhau, mỗi gian hai cột, được kê trên bệ đá, xà được xuyên qua đầu cột tạo thế vững chắc, hai đầu khẩu đầu, đâm xuyên qua gáy cột, nằm dưới vì kèo, hiên chạy suốt từ đỉnh qua đầu cột, rồi nằm trên gáy đòn ngang và gác lên tường. Nằm giữa khẩu đầu là một cột cái, cột cái nằm trên một cái đấu, đứng thẳng, đỡ lên vì kèo tới đỉnh thượng ốc, trên cùng là đường thượng ốc. Đường thượng ốc chạy suốt hồi này đến hồi kia, qua mỗi vì kèo thường đệm bằng các con đôi.
Bài trí nội thất: Gian thứ nhất đóng kín, chỉ trổ một cửa ra vào, là nơi ở của các nhà sư. Gian thứ hai là nơi đặt và dâng lễ thỉnh kinh, gian này treo một chiếc trống, và một cái chuông. Chuông đúc bằng hợp kim đồng, màu vàng nhạt, được phân bố cân đối bốn mặt bằng nhau qua các đường kẻ nội, chuông nặng khoảng 200kg, cao 1,3m, đường kính 0,73, chia thành 3 phần: Chân, Thân, Đỉnh. Về chân chuông, ở mép chân chuông là đường gờ, tiếp đến là đường kẻ nội. Thân chuông phân bố bốn mặt bằng nhau, qua đường kẻ ở bốn mặt chuông, khắc bốn chữ Hán, mỗi chữ nằm trong búp sen, ở dưới 4 chữ là ba đường kẻ nổi, theo hình trên chuông. Đỉnh chuông hình chóp nón được tạo dáng bằng hai đầu rồng. Gian thứ ba treo một bức hoành phi bằng chữ Hán (Cổ Nguyệt Linh Quang), được sơn son, thiếp vàng, hai bên là hai câu đối. Gian thứ tư đặt một chiếc bàn để sinh hoạt, trên xà nhà có treo một bức biển sơn son thiếp vàng, xung quanh được trang trí họa tiết hoa lá, đặc biệt là rồng chầu mặt nguyệt. Gian thứ năm được đặt một chiếc phản để du khách nghỉ ngơi.
Nhà thượng điện (Nhà tam bảo): Nằm sau nhà bái đường, bốn phía được xây bằng đá núi, lợp ngói nam, được kết cấu theo kiểu nhà kẻ, hai gian một hồi, 3 vì, cột lim không chạm trổ, sáu cột lớn, sáu cột con. Về cấu trúc, nhà thượng điện và nhà Thánh Mẫu gần như giống nhau (hai gian một hồi). Nhà thượng điện được trổ một cửa ra vào, ngay giữa bức tường phía trước, có kích thước rộng 1m, cao 1,5m, hai cánh cửa bằng gỗ dổi.
Bài trí: Đặt chính giữa gian thứ nhất là một hương án, đắp bằng xi măng, trang trí bằng họa tiết rồng bay, phượng múa, hoa lá cỏ cây, hai bên là hai lá cờ vọng bằng vải đỏ, viền xanh. Phía trên hương án là hai con rồng chầu, mặt nguyệt bằng gỗ, sơn màu trắng đục, sau hai con rồng là hai con chim hạc đối nhau, đang vươn lên. Hàng cột thứ hai giáp với gian thứ hai, là hai câu đối, được sơn son thiếp vàng, treo hai bên. Gian này gắn với hai bức tường là hai ban thờ, được xây bằng đá. Ban thờ bên hữu, có đặt ba tượng bằng gỗ sơn son thiếp vàng. Tượng Thập bát Long Thần, đặt trên bệ gỗ, đầu đội mũ, chân đi giày, mặc áo giáp, hai tay chắp trước ngực. Tượng Hộ Pháp ngự trên một cái giá bằng gỗ, đầu đội mũ, tay cầm thẻ đang tụng niệm. Tượng Đức Thánh Quan được đặt trong một bức khảm bằng gỗ. Ban thờ bên tả, cũng có ba pho tượng bằng gỗ: Tượng Đường Tăng, được sơn son thiếp vàng, đầu đội mũ cánh sen, áo cà sa, một tay đặt ở đầu gối, một tay cầm sen đặt trước ngực. Tượng Nam Tào Bắc Đẩu, đặt trên gỗ đầu đội mũ, chân đi giày, hai tay chắp trước ngực, mắt hướng về phía trước. Gian thứ hai, đặt bốn pho tượng Quan Thế Âm bằng gỗ sơn son thiếp vàng.
Nhà Thánh Mẫu: nằm phía hữu nhà bái đường, theo hướng Tây Nam, cách nhà thượng điện 9m theo hướng Tây Bắc, cách am Thánh Mẫu 7m về hướng Đông, có diện tích 30m2, được bài trí tổ hợp gồm: Sân nhà Thánh Mẫu, nhà Bình Thiên, nhà Hàn Lâm Sở. Nhà Thánh Mẫu gồm hai gian bốn hồi, được xây dựng bằng đá, bốn mặt lợp ngói mũi hài, đỉnh nhà hai đầu được đắp hai đầu rồng, ở giữa là hai mặt nguyệt, bốn góc đuôi có bốn con rồng đầu quay ngược nhìn mặt nguyệt. Mặt tiền trổ một cửa vòm, phía trên cửa có đắp bốn chữ Hán “Mẫu nghi thiên hạ”. Hai bên đắp hai con vật, bên tả là con ngựa, bên hữu là con voi chầu vào cửa.
Bài trí: Gian giữa được bố trí một hương án, sơn màu vàng đỏ, tiếp đó là bức khảm bằng gỗ mít, ở giữa chạm mặt nguyệt, hai bên có rồng chầu. Phía trong cùng có đặt một ban ngự, trong ban ngự đặt cái khung ba pho tượng (ba vị tam bảo) bằng gỗ, ba pho này ngồi ở khoảng cách bằng nhau, cùng nhìn về phía trước. Ở gian thứ hai và gian thứ ba, có treo bức hoành phi với ba chữ “Điện Mẫu cung”, “Quỳnh Liễu cung”. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Am Thánh Mẫu: Vị trí tựa lưng vào vách núi, mặt ngoảnh về hướng Tây Nam, trước mặt là nhà Thánh Mẫu, bái đường, sau lưng là nền Trang Vương, bên tả và bên hữu, là suối Hương Tuyền, Khe Dong. Trước am đắp một con chim Hạc đang xòe cánh vươn lên trong một khung tròn, bên cạnh là chữ Hán đại tự, trên chim Hạc là mặt nguyệt, xung quanh được đắp các họa tiết cây lá, bông sen, trước các cột am có hai câu đối. Vị trí am Thánh Mẫu có độ cao tương đối so với nhà bái đường, thượng điện, hành lang nối từ cổng lớn sân nhà bái đường tới am, dài 30m, trong đó có đoạn gấp khúc; sau hồi nhà thượng điện lên am được ghép ba mươi bậc đá, tới bậc hai bốn, đặt con Kỳ lân, hai chân trước đang ôm và ngậm một lư hương đang hướng về am. Am là một cái hang sâu chạy xuyên trong lòng núi. Một trong những giá trị kiến trúc, điêu khắc quý của di tích là am còn lưu giữ được các viên gạch ốp mặt ngoài được xác định có niên đại ít nhất từ thời Trần.
Nội thất: Am Thánh Mẫu gồm ba cửa: cửa tả, cửa tiền, cửa hữu. Cửa tả nơi vào ra để tiện lễ, cửa tiền nơi đặt lễ, của hữu nay đã bịt kín. Trong am đặt bàn thờ xây bằng đá hình chữ nhật, trên bàn thờ đặt lư hương với hai con chim hạc đứng trên thân rùa, đầu đội búp sen, tiếp đến là tòa khảm, hai bên là hai câu đối:
Trần cảnh hậu từ giai tịnh cảnh (Cảnh trần đền sau đều cảnh tĩnh)
Tháp sơn an trạch ngưỡng Quỳnh sơn (Núi tháp, nhà yên ngắm núi Quỳnh) Bài trí: Trong tòa khảm, được bài trí hai mươi pho tượng bằng gỗ, được sơn son thiếp vàng, gồm: Tượng Quan Âm, Diệu Thanh, Diệu Thiện, Văn Thù, Phổ Hiền, hai vị tả hữu Kim đồng Ngọc nữ, mười hai vị tiên (thập nhị tiên cung), tất cả trong tư thế đứng.
Tuy chỉ còn lưu giữ được dáng dấp kiến trúc thời nhà Nguyễn, nhưng bố cục tổng hòa của các công trình kiến trúc trong quần thể di tích chùa Hương Tích vẫn còn giữ lại nét xưa của kiểu chùa tiền Phật hậu Mẫu, đặc trưng thời nhà Trần.
Giá trị điêu khắc
Bên cạnh những giá trị đáng ghi nhận về kết cấu, bố cục của các kiểu dáng kiến trúc cổ xưa, các ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia ở Hà Tĩnh còn hàm chứa những giá trị về nghệ thuật điêu khắc khá độc đáo.
Đáng kể nhất là các hình hoa văn họa tiết trang trí trong các chùa, như Hương Tích, đôi rồng ẩn trong mây, uyển chuyển, mềm mại; tại hạ điện của chùa Yên Lạc, những con phượng giang cánh bay, hình rồng, và hoa lá rất sinh động; trong tòa Thánh Mẫu của chùa Chân Tiên, Thiên Tượng… đều rất nhiều đặc sắc, thể hiện một trình độ nghệ thuật điêu khắc cao, tinh xảo và sáng tạo của nghệ nhân.
Giá trị nghệ thuật điêu khắc, hội họa, ta có thể tìm thấy trong các bức tranh khắc và vẽ tại chùa Yên Lạc. Các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao hai bức tranh sơn thiếp được đặt tên là bức “Quan Trạng” và “Thập điện”. Cả hai bức tranh này đều thể hiện rõ nét những nét chạm khắc rất điêu luyện, tinh xảo, tạo cho nhân vật có thần thái, có cốt cách một cách rất sinh động. Trong Địa chí Văn hóa dân gian Hà Tĩnh, các tác giả đã mô tả lại hai bức này với những lời nhận xét, đánh giá rất cao về nghệ thuật tạo hình và về việc thể hiện nhân vật độc đáo.
Nghệ thuật điêu khắc dân gian Hà Tĩnh cũng thể hiện rõ nét trong các họa tiết trang trí trên các đồ thờ, như lư hương, mâm bồng, chuông, đặc biệt là tượng thờ.
Tượng thờ cổ trong bảy ngôi chùa di tích cấp quốc gia của Hà Tĩnh, hiện còn lưu giữ được không nhiều lắm. Trong một số ít ỏi những tượng cổ còn giữ lại được, thì niên đại cổ nhất là thời nhà Lê, còn lại chủ yếu là tượng thời nhà Nguyễn. Chất liệu chủ yếu là gỗ, đất nung, chỉ có một số ít là tượng đồng. Về kích cỡ các tượng đều thuộc loại nhỏ và trung bình, hiếm tượng có cỡ lớn. Một số tượng cổ lưu giữ được những giá trị lịch sử, văn hóa và điêu khắc quý giá. Một số tượng Phật còn mang những dấu vết của mối giao lưu văn hóa với các nền văn hóa láng giềng. Ví dụ, bốn pho tượng phỗng về người Chăm ở tư thế quỳ, hướng về pho tượng A di đà đặt tại chùa Yên Lạc. Xin điểm qua một số tượng tiêu biểu:
Trước hết, phải kể đến hai bức tượng Thích Ca Mầu Ni sơ sinh nặng 24kg và Thích Ca Mầu Ni nặng 48kg, đúc bằng đồng. Đây là hai bức tượng có một số phận rất long đong, nhưng cuối cùng vẫn được lưu giữ lại cho đến ngày nay, làm củng cố thêm niềm tin của tín đồ vào sự linh thiêng của tượng Phật. Theo kết quả khảo sát, nghiên cứu của tác giả Hồ sơ di tích chùa Long Hội, xã Hồng Lộc, huyện Lộc Hà, thì hai pho tượng này là do các tín đồ chùa Long Hội đóng góp công đức, thuê thợ Thanh Hóa về đúc hai pho tượng quý, trên cùng với chiếc mâm đồng, có trang trí long, ly, quy, phượng rất đẹp. Tuy không có tài liệu cụ thể xác định thời gian đúc hai pho tượng này, nhưng xét theo thực tế phát triển của xã hội và lịch sử nghệ thuật tôn giáo thì loại tượng Thích Ca sơ sinh chỉ xuất hiện sớm nhất vào thời nhà Mạc. Vì vậy, hai pho tượng trên sớm nhất cũng chỉ ra đời vào thế kỷ 17. Trong phong trào hợp tự khoảng năm 1960-1961, chùa Long Hội không còn, tượng và đồ thờ chuyển hết sang chùa Đại Bi. Sau đó chính quyền xã thanh lý một số đồ thờ, trong đó có hai bức tượng nêu trên. Cụ Phan Trọng Kiệm, đã cùng một số anh em đạo hữu, xuất tiền mua hai pho tượng này và rước lên thờ ở chùa Hương Tích. Từ bấy đến nay, hai pho tượng đồng quý này vẫn được lưu giữ tại chùa Hương Tích. Trong cuốn Hà Tĩnh di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt, các nhà nghiên cứu cho rằng, đó là hai pho tượng mang phong cách đặc trưng của Thời nhà Mạc, có niên đại vào khoảng nửa đầu thế kỷ 17 [12, tr.52]. Cũng theo sách đã dẫn tại chùa Hương Tích, ngoài hai pho tượng nêu trên, còn có sáu mươi hai pho tượng khác, bao gồm tượng Phật, Bồ Tát, tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu “có niên đại muộn hơn, từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, với những nét chạm mẫu mực, trong đó nhiều pho tượng mang vẻ đẹp của dòng nghệ thuật dân gian” [12, tr.52].
Chùa Tượng Sơn còn giữ được một số pho tượng đẹp. Độc đáo nhất là pho tượng Bồ Tát, được tạc với một nghệ thuật độc đáo. Bồ Tát Chuẩn Đề được tạo tác với nét mặt đẹp một cách hồn hậu, gần gũi, biểu hiện ánh nhìn từ bi, vạt áo mềm mại, đặc biệt là sự bố trí của 18 đôi bàn tay tạo cho bức tượng một vẻ uy nghi, nhưng không xa cách, mà thân thiện.
Chùa Yên Lạc cũng còn giữ lại được nhiều pho tượng có giá trị, như Tam Thế, Bắc Đẩu, Nam Tào, Hộ Pháp, nhưng độc đáo hơn cả là bức tượng Quan Thế Âm. Đây là một pho tương thể hiện nghệ thuật điêu khắc tinh xảo của người thợ xưa. Việc tạo tác những đường nét trên khuôn mặt, phong thái của nhân vật rất sinh động và tinh tế, bố cục của tượng hài hòa cân đối. Các tác giả trong cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh đã bình luận về bức tượng này như sau: “Tượng Quan Âm ngồi trên tòa sen, chân xếp bằng, dáng điệu mềm mại, cân xứng, tư thế thoải mái, khuôn mặt xinh xắn, từ bi. Đằng sau có con chim vẹt như nhắc người xem một cuộc đời chịu đựng gian khổ của nhân vật” [32]. Các bức A Di Đà bằng đồng, tượng Cửu Long cũng là các bức tượng đáng chú ý. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Chùa Thịnh Xá và đền Bạch Vân còn lưu giữ được những tác phẩm chạm khắc, công phu và đầy tính nghệ thuật. Các tác phẩm này đều được làm trên chất liệu gỗ mít, với cách bài trí đăng đối hài hòa. Trên các kiến trúc gỗ của đền Bạch Vân, các nghệ nhân xưa đã tái tạo lại những bức tranh sinh hoạt truyền thống. Chủ đề của các bức điêu khắc trang trí này đều là các hình thượng quen thuộc trong đời sống dân gian như rồng, phượng, cá chép hóa rồng, voi, ngựa, công, con quốc, rùa, hươu, trúc, mai, sen v.v. Chùa Thịnh Xá cũng được trang trí bởi những bức chạm trổ công phu hình lá sen, hoa sen, rùa. Bức chạm lộng hình đầu rồng ở các đầu dư của 2 gian giữa của chùa, được các nghệ nhân xưa tạo tác tinh tế đã mang đến cho ngôi chùa một vẻ đẹp độc đáo. Trên các kết cấu gỗ khác như thượng lương, kẻ ngồi, kẻ bẩy, xà dọc cũng ẩn hiện các bức chạm trổ đẹp hình đầu dơi, chim phượng, ngựa đầu rồng.
Giá trị cổ vật
Mục 6 điều 4 Luật Di sản văn hóa quy định: “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên” [81]. Hệ thống chùa Hà Tĩnh đã phải trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, bị tàn phá do thiên tai, do chiến tranh và do cả những quan niệm sai lầm trong quản lý, nên những cổ vật quý giá trong các ngôi chùa cổ xưa bị tản mát trong dân gian, bị hủy hoại, bị đem bỏ xuống sông, ao hồ. Chính vì vậy, số cổ vật trong các di tích cấp quốc gia này cũng còn lại không nhiều, một tỷ lệ rất nhỏ. Căn cứ vào hồ sơ di tích của Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh, những số liệu điều tra của Ban trị sự Phật giáo Hà Tĩnh và của Phòng quản lý di sản văn hóa của Sở VHTT&DL tỉnh thì cổ vật còn giữ lại trong các ngôi chùa, chủ yếu là đồ thờ, tượng thờ, sắc phong.
Trước hết, bàn đến tượng cổ, tượng cổ hiện được lưu giữ nhiều nhất ở chùa Hương Tích, có khoảng 20 pho tượng, chủ yếu là có niên đại từ thời Lê. Các pho tượng này đều có kích cỡ nhỏ và trung bình, không có tượng lớn. Chất liệu chủ yếu bằng gỗ, chỉ có một vài pho tượng đồng. Hiện chúng cũng không được trưng bày trên ban tam bảo, mà được cất kỹ trong kho vì sợ mất trộm. Các chùa còn lại, chỉ còn giữ lại mỗi chùa vài pho tượng cổ, cụ thể chùa Yên Lạc: sáu pho, Chùa Chân Tiên: sáu pho, chùa Thiên Tượng: năm pho, chùa Tượng Sơn: năm pho. Các pho tượng này đều được điêu khắc rất tinh xảo, thể hiện rõ tài nghệ của nghệ nhân xứ Nghệ xưa kia.
Đồ thờ là cổ vật cũng còn lại không đáng kể. Riêng chùa Diên Quang (chùa Am), còn giữ được một lượng sắc phong rất lớn, chứa trong mười bảy hòm, với hơn một trăm sắc phong khác nhau. Sắc phong được gìn giữ trong các chùa chủ yếu là sắc phong thần, có niên hiệu thời Lê Cảnh Hưng đến thời Thành Thái nhà Nguyễn. Đây là những cổ vật có giá trị sử liệu rất cao. Qua nghiên cứu của những nhà khảo cổ học Hà Tĩnh, giá trị sử liệu của những sắc phong được lưu giữ trong các chùa được biểu hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, cho các thông tin về sự thay đổi tên địa lý tại các vùng có sắc phong, bởi trên sắc phong có ghi rõ ràng về địa chỉ nơi có vị thần được phong sắc ở thời điểm ban sắc, nên ta có căn cứ xác thực để so sánh với những tên gọi khác nếu có ở các thời điểm khác. Thậm chí ngay cả khi so sánh những sắc phong khác nhau của các triều đại khác nhau ban cho một vị thần ta cũng thấy rõ được những thay đổi ấy. Thứ hai, sắc phong giúp chúng ta những nguồn sử liệu xác thực để nghiên cứu về các sự kiện xảy ra trong quá khứ, tương ứng với thời kỳ ban sắc. Bởi vì nội dung sắc phong thường ghi rõ công lao trợ giúp triều đình đánh giặc hoặc giúp dân thoát khỏi thiên tai, dạy nghề cho dân hay xây dựng các công trình công cộng như đền, chùa, miếu, đường xá… của những thần linh bao gồm cả nhân thần và thiên thần. Khi bóc tách, giải mã những yếu tố huyền thoại trong những câu chuyện kể về công lao của các vị thần ấy, ta luôn thấy được những sự kiện lịch sử chân thực, sinh động. Cấp độ phong cho các thần như hạ đẳng thần, trung đẳng thần và thượng đẳng thần, cho thấy quy mô, tầm quan trọng của sự kiện liên quan đến công lao của nhân thần hay thiên thần được triều đình phong sắc. Thứ ba, sắc phong ghi rõ mỹ tự, tên hiệu của vị được phong sắc, thể hiện quyền uy của nhà vua và sự ghi nhận của chính quyền công lao đóng góp vào các sự kiện lịch sử của địa phương thông qua một nhân vật đại diện là vị thần.
Tuy nhiên trong số sắc phong có ở chùa Diên Quang, số sắc phong cho Bạch Ngọc Hoàng Hậu và các nhân vật liên quan đến chùa Diên Quang như tướng Bùi Ban, tướng Bùi Bị chỉ có chừng vài bản còn đều là sắc phong các thần linh khác tại địa bàn huyện. Có lẽ phong trào hợp tự đã dồn các sắc phong của các đình, đền và chùa khác vào đây.
2.2.2.2. Giá trị văn hóa phi vật thể Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Bên cạnh những giá trị lịch sử văn hóa, nghệ thuật biểu hiện trong các di sản văn hóa vật thể nêu trên, các di tích lịch sử này còn hàm chứa nhiều giá trị về lịch sử và văn hóa, nghệ thuật trong các loại hình văn hóa phi vật thể. Tiêu biểu nhất phải kể đến các giá trị được lưu giữ trong các truyền thuyết, thần tích, lễ hội và văn chương.
Lễ hội
Các ngôi chùa ở Hà Tĩnh, nhìn chung, đều là những ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh/Mẫu/Thần, nghĩa là những ngôi chùa đó, không chỉ đơn thuần thờ Phật, mà còn thờ tổ hợp các Thánh, Thần, Mẫu trong tín ngưỡng dân gian nữa. Điều này làm cho niềm tin tín ngưỡng và các hoạt động nơi đây rất đa dạng và phong phú. Hệ thống Thánh/Thần/Mẫu của Hà Tĩnh cũng rất đa dạng, bao gồm cả thiên thần và nhân thần. Bên cạnh những thần núi, thần sông, còn có cả những nhân vật lịch sử, những người con ưu tú xuất sắc của vùng đất Hồng Lam, đại diện cho sự cần cù, tinh thần dũng cảm, khả năng sáng tạo của cư dân vùng đất này. Suốt mấy ngàn năm lịch sử Hà Tĩnh đã từng là miền đất biên cương hay còn gọi là “phên dậu” đất nước nên cư dân Hà Tĩnh vừa khai hoang lập ấp, lập làng, phát triển chăn nuôi, trồng trọt, vừa đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ quê hương. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn đó, sự hài hòa và tôn kính tự nhiên, tôn vinh sự sinh sôi nảy nở và tính cộng đồng là những biểu hiện có tính bản sắc trong sự hỗn dung giữa Phật giáo và tín ngưỡng đa thần của cư dân bản địa tại mảnh đất này. Ví dụ, Chùa Hương Tích không chỉ là nơi thờ Phật mà ở đó còn có đền Thiên Vương, am Thánh Mẫu. Chứng tỏ ở đây là sự hỗn dung giữa tín ngưỡng thờ Phật, thờ Thánh và thờ thần linh. Chùa Diên Quang không chỉ thờ Phật mà còn thờ cả Hoàng Hậu Bạch Ngọc, một người có công khai phá cả một vùng đất, hỗ trợ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi và lập nên ngôi chùa này v.v.
Chính vì thế, liên quan đến các di tích lịch sử – văn hóa này là cả một hệ thống các truyền thuyết, thần tích kể về những sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ dưới nhiều hình thức huyền bí, siêu phàm và thiêng liêng khác nhau. Tuy nhiên, bóc tách, giải mã những huyền thoại, những biểu trưng thiêng hóa đó, chúng ta có thể tìm được những sự kiện, nhân vật lịch sử chân thực, có thể phục dựng lại bức tranh sinh hoạt, lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ bờ cõi của các thế hệ cha ông cư dân Hà Tĩnh.
Để diễn lại, phản ánh lại các thần tích, truyền thuyết liên quan đến các nhân vật được phối thờ trong chùa, cư dân Hà Tĩnh còn có một loại hình văn hóa phi vật thể vô cùng đặc sắc, đó là lễ hội chùa. Với tính chất là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, lễ hội đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương và dân tộc sâu sắc. Trong những ngôi chùa xếp hạng di tích cấp quốc gia, ngoài hai lễ hội chính mang đậm tính Phật giáo được tổ chức hàng năm là lễ Phật đản ngày 8/4 và lễ Vu lan ngày rằm tháng 7, còn có những lễ hội dân gian được tổ chức hàng năm để tôn vinh vị Thánh/Thần/Mẫu được phối thờ trong chùa. Những lễ hội này, về bản chất vẫn là các lễ hội nông nghiệp, được biến hóa trên nền lịch sử của địa phương và dân tộc. Từ những lễ hội nông nghiệp cổ xưa nhất, cầu mong vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng tươi tốt, vật thịnh, dân khang, giấc mơ ngàn đời của cư dân nông nghiệp, nay đã biến dị thành các lễ hội tôn vinh những thần linh bảo trợ cho cuộc sống ấm no hạnh phúc của con người. Lễ hội là nơi giao hòa, thông linh giữa người và thần linh, là nơi tính dân chủ, khả năng tái cấu trúc lại xã hội theo hướng dân chủ và bình quyền thể hiện rõ nét nhất. Những lễ hội chùa tiêu biểu hơn cả có thể kể đến lễ hội chùa Hương Tích (Thiên Lộc, Can Lộc), lễ hội chùa Chân Tiên (Thịnh Lộc, Lộc Hà), lễ hội chùa Tượng Sơn (Sơn Giang, Hương Sơn), lễ hội chùa Thiên Tượng (thị xã Hồng Lĩnh). Mỗi lễ hội, có những đặc thù riêng, nhưng đều được tổ chức theo một mô hình thống nhất. Thời gian đều được tổ chức vào các dịp theo truyền thuyết hoặc thần tích là ngày kỵ của các vị Thánh/Thần được phối thờ trong chùa. Các nghi lễ chính theo một quy trình chuẩn mực, do ảnh hưởng chính sách, thể chế hóa lễ hội dân gian từ thời Lê Sơ. Dưới đây xin phân tích một lễ hội tiêu biểu nhất.
Lễ hội chùa Hương Tích được tổ chức vào ngày mười tám, tháng hai, theo truyền thống, đó là ngày công chúa Diệu Thiện hóa Phật, nhưng ba năm mới có hội một lần, kéo dài mười ngày.
Nhà thơ Thanh Minh mô tả lễ hội như sau: Có hàng nghìn thiện nam, thiện nữ, du khách không chỉ ở Châu Hoan, Xứ Nghệ mà từ xứ Bắc, xứ Thanh kéo vào, từ xứ Quảng đổ ra dự hội. Sơn động náo nhiệt khác thường. Dọc đường từ chân núi đến cửa chùa lều quán san sát, ban đêm đèn đuốc sáng rực một vùng…
Lễ mộc dục (Tắm tượng phật) hay là lễ Khai quang: Lễ tổ chức trước ngày mười tám tháng hai. Nhà sư và những người giúp việc dùng nước đun sôi pha ngũ vị hương dùng cành dương nhỏ rảy nước lên tượng Phật. Những người tham gia lễ này phải thực hiện quy trình nghiêm ngặt (chay tịnh, sạch sẽ, tâm hướng thiện).
Lễ chính: Vào ngày 18/2 giờ Tý, tổ chức chính lễ. Các tăng ni, thiện nam, tín nữ cùng các chức sắc tập trung làm lễ Phật, dâng hương và tụng kinh đến sáng. Từ đấy đến cuối hội, du khách thập phương vào chùa dâng hương, kính lễ các nhà sư tụng kinh hằng ngày theo giờ quy định.
Những người tham gia lễ hội dâng hương, thỉnh nguyện tại đền Thiên Vương, am Thánh Mẫu, tại am diễn ra lễ cầu tự của những cặp vợ chồng hiếm muộn, ngày nay tục này còn được lưu truyền.
Trò chơi: Lễ hội thường có các trò chơi dân gian truyền thống do địa phương tổ chức: Đánh đu, đánh cờ, hát giao duyên, hát ví, kéo co… trong đó có hội vật là tiêu biểu nhất.
Hiện nay, để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo ở chùa Hương Tích, Phòng quản lý văn hóa tỉnh Hà Tĩnh và của huyện Can Lộc đã có những thay đổi trong phương thức tổ chức quản lý. Một trong những phương thức đó là đưa lễ hội chùa Hương Tích vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Định hướng này đã làm mới phương thức tổ chức lễ hội. Thời gian lễ hội được diễn ra dài hơn: Mỗi năm một lần, từ ngày 10 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, lễ chính vẫn là ngày 18 tháng 2 âm lịch. Quy mô đã lan tỏa ra ngoài cấp tỉnh, hình thức tổ chức đa dạng. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Lễ hội chùa Yên Lạc: Đây là lễ hội dân gian có tên là đám chay, rước tướng, diễn ra tại chùa Yên Lạc và đình Chợ Mai, ba năm một lần (vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu), từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Vào những năm diễn ra lễ hội, công việc được các cụ cao niên trong làng họp bàn bạc, phân công công việc trước khi lễ hội diễn ra một tháng (bắt đầu từ lễ Thượng nguyên), đầu tiên là tạo ra năm ông tướng và một bà La Sát bằng giấy, việc chọn thợ làm năm vị tướng này rất kỳ công, phải là thợ giỏi ở các nơi. Trong vòng một tháng, khoảng chục người thợ phải hoàn thành sáu pho tượng, kể từ ngày bắt tay vào làm tượng, các vị chức sắc trong làng đều tập trung ở đình chợ Mai suốt ngày đêm để chuẩn bị công việc. Vào những ngày này, dưới gốc đa sân đình, người ta đặt một chiếc bàn và thắp hương, nhân dân qua lại để vào đó nắm gạo, củ khoai, cái bánh, quả chuối… Đến chiều, những thứ này được đưa vào nấu nướng để cúng thập loại chúng sinh, sau đó người ta lấy muối rắc ra xung quanh, bởi trong nhân dân quan niệm rằng, sắp tới ngày làm chay, các linh hồn lang thang thường về kiếm ăn…
Vào ngày lễ hội (từ 12 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch) diễn ra nhiều nghi lễ tại chùa Yên Lạc như: Ngày 12 làm Lễ Phóng sinh (thả chim sống, cá sống, cua sống, … xuống cửa bể). Ngày 13 làm lễ “Thỉnh kinh” rước kinh từ chùa Yên Lạc về đình. Ngày 14 làm lễ “Đàn oan” mở cửa ngục và làm lễ “tiếp linh” đưa linh hồn “siêu sinh tịnh độ”. Ngày 15 làm lễ rước tướng. Sau các nghi lễ, kinh sách và các vị “tướng” đã được rước và tập trung về đình Chợ Mai bài trí đúng theo quy định của nghi thức truyền thống, đến tối 15 các nhà sư bắt đầu làm lễ cúng Chay… Lễ Hội đám chay, rước tướng là lễ hội đông nhất và vui nhất ở làng Nhượng Bạn xưa, với ý nghĩa nhân văn: Cầu siêu, cứu vớt những vong linh lang thang trôi dạt trên biển do bị đắm thuyền (ngày xưa ngư dân làng biển Nhượng Bạn đi đánh cá, thường gặp bão to, sóng lớn, gây ra biết bao vụ đắm thuyền, chết người, nên họ phải làm chay để cứu rỗi vong linh những người gặp nạn). Các nghi lễ diễn ra trang nghiêm linh thiêng, không chỉ thu hút nhân dân trong xã, mà cả nhân dân ở nhiều địa phương khác về dự. Lễ hội đã toát lên ý nghĩa tích cực, nhân đạo, gắn với cuộc sống lao động của cư dân vùng biển nơi đây, với ước vọng lớn lao là mong cho trời yên biển lặng, cuộc sống bình yên, làm ăn thuận chèo, mát mái. Đã từ lâu, lễ hội Đám Chay, rước tướng không còn được tổ chức ở Cẩm Nhượng, nhưng đây là lễ hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, cần có kế hoạch phục hồi trong xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Giá trị lịch sử-văn hoá
Bên cạnh những hình thức biểu hiện giá trị độc đáo là lễ hội giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật liên quan đến các di tích lịch sử -văn hóa Phật giáo được xếp hạng cấp quốc gia, còn được biểu hiện ở một loại hình văn hóa nghệ thuật khác, trong đó đặc biệt nhất là truyền thuyết và thơ ca. Hầu như ngôi chùa nào cũng gắn liền với một hoặc nhiều truyền thuyết, giải thích sự ra đời, giải thích tên gọi của chùa và mảnh đất nơi chùa tọa lạc, kể về thân thế, sự nghiệp, công lao của nhân vật được phối thờ. Những truyền thuyết này, được ra đời ở một thời điểm lịch sử nhất định, rồi nhập vào dòng chảy truyền thống của văn hóa địa phương và văn hóa dân tộc. Vì thế, có thể tích hợp trên mình nó những dấu ấn của các thời đại mà chúng đã vượt qua. Như mục 2.2.1 trên đây đã phân tích, chúng là nguồn sử liệu quý giá. Bên cạnh đó, chúng cũng chứa đựng những giá trị văn hóa quan trọng, bao gồm tính hấp dẫn, tính giáo dục và tính nghệ thuật riêng biệt. Tính giáo dục của các truyền thuyết nằm trong chính nội dung của chúng, nhằm nuôi dưỡng tinh thần tự hào về quê hương xứ xở, tự hào về truyền thống anh dũng, kiên cường, cần cù chăm chỉ, bản lĩnh vượt khó, vượt khổ của cha ông mà những nhân vật trong truyền thuyết là những biểu tượng sáng chói. Tính nghệ thuật của truyền thuyết nằm trong chính thủ pháp xây dựng cốt truyện và kể chuyện của chúng. Trong truyền thuyết, có những sự kiện, tên tuổi của những con người có thật, những miền đất có thật, nhưng lại được mô tả dưới một thủ pháp đặc biệt, thiêng liêng hóa, thần thánh hóa để có một truyền thuyết hấp dẫn và lôi cuốn. Ta thử phân tích những truyền thuyết liên quan đến chùa Hương Tích để thấy rõ những điều này. Sự ra đời của chùa Hương tích gắn với không chỉ một mà tới ba truyền thuyết khác nhau, đó là:
- Chuyện về Vua Sở Trang Vương sinh được ba người con gái Diệu Ân, Diệu Duyên, Diệu Thiện. Khi trưởng thành, hai chị em lớn theo ý vua cha lấy chồng còn nàng Ba Diệu Thiện, vua gả cho một viên quan võ để làm chỗ dựa lúc về già. Viên quan này là một kẻ độc ác, nên nàng không tuân lệnh cha, nàng bỏ đi tu ở chùa. Viên quan kia được vua sai đi trừng trị nàng. Hắn phóng hỏa đốt chùa. Nàng Diệu Thiện và các tăng ni đều được Phật che chở, cứu thoát. Phật lại sai Bạch Hổ đưa nàng trốn sang đất Việt Thường Thị. Đến trước hang động ngọn Thứu Lĩnh (Hồng Lĩnh), nàng Diệu Thiện ở lại dựng am tu hành. Nàng nổi tiếng là vị ni cô từ bi bác ái. Lúc bấy giờ, Trang Vương bị bệnh nặng. Thầy thuốc bảo, phải có mắt và bàn tay người con gái tự nguyện hiến dâng, mới cứu được tính mệnh. Không có ai chịu hi sinh, nghe tiếng ni cô ở Việt Thường, vua liền sai người sang cầu xin. Biết cha mình, Diệu Thiện sẵn lòng từ bi, nàng bèn móc mắt cắt tay mình dâng cho cha. Trang Vương được thuốc khỏi bệnh, sai người sang chùa để tạ ơn mới biết người cứu mình chính là nàng Ba công chúa Diệu Thiện. Đức Phật cảm về tấm lòng của Diệu Thiện, bèn ban phép cho mắt nàng sáng lại, bàn tay mọc lại… Sau khi mất, nàng trở thành Phật Bà Quan Âm.
- Một truyền thuyết nữa: Xưa kia người ta thường đến am Thánh Mẫu ở chùa Hương để cầu tự. Ông Hiệp trấn họ Trần (Tiến sĩ Trần Công Ninh), cầu tự ở đây sinh ba con trai đặt tên là: Hồng, Hương, Tích, nên ông Trần Công Ninh xuất tiền tu sửa chùa.
- Truyền thuyết tiếp: Kể về chúa Trịnh (Không rõ chúa nào), cũng vào cầu tự, sinh được thế tử. Hằng năm, chúa sai người về tạ ơn Phật. Về sau thấy vùng Hương Sơn Hà Đông phong cảnh đẹp hơn, lại ở gần kinh thành, chúa cho xây dựng chùa ở đây thật lớn để thờ vọng, tiện đi lại lễ Phật.
Ba truyền thuyết này ra đời vào ba thời điểm khác nhau, chủ yếu nhằm mục đích giải thích về nguồn gốc những địa danh của vùng đất này, cũng như quá trình thâm nhập của Phật giáo vào văn hóa dân gian bản địa, giải thích về nguồn gốc của ngôi chùa và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội. Cả ba đều có những yếu tố thiêng hóa ở truyền thuyết là sự hy sinh đặc biệt của Diệu Thiện rồi nhờ đó mà nàng hóa Phật; hai truyền thuyết sau là sự cầu tự thành công của hai nhân vật, vì vậy mà đã góp công trùng tu lại chùa.
Các truyền thuyết về chùa Thiên Cầm, Chùa Thiên Tượng, chùa Diên Quang, chùa Tượng Sơn, chùa Thịnh Xá và đền Bạch Vân cũng tương tự như vậy. Đặc biệt truyền thuyết về chùa Diên Quang có chứa nhiều sử liệu quý giá về nhiều nhân vật thời Lê Sơ như Hoàng hậu Bạch Ngọc, Công chúa Huy Chân, Lê Lợi, công chúa chúa Trang Từ, tướng Bùi Ban, tướng Bùi Bị, và tên gọi nhiều vùng đất ở địa phương này.
Bên cạnh truyền thuyết dân gian, chùa Hương Tích đã từng là nguồn cảm hứng của nhiều tao nhân mặc khách khi đến vãng cảnh nơi đây, họ đã để lại những áng thơ đẹp. Trần Danh Lâm triều Lê, có thơ ca ngợi chùa Hương Tích, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp – làm quan thời Nguyễn, sau đó từ quan, là một ẩn sĩ tài cao, đức trọng, cũng có bài ngợi ca Hương Tích trong tập Hạnh Am di cảo; Nguyễn Nghiễm, thân sinh của đại thi hào Nguyễn Du, một lần đến viếng thăm ngôi chùa đã cảm tác nên bài Du Hương Tích tự khá nổi tiếng. Lê Hữu Trác, trong cuốn Hải thượng y tông tâm lĩnh, trang 25, có bài thơ cảm hứng khi đi chữa bệnh qua chân núi Hồng Lĩnh nhìn lên thấy Hương Tích tự đẹp như trong tranh. Trong bài ca phổ khuyến của Nguyễn Văn Tình – Tiến sĩ thời Nguyễn, cũng viết những dòng rất tuyệt về chùa Hương Tích.
Những năm gần đây, cũng có nhiều nhà thơ, người yêu thơ cảm tác thơ về ngôi cổ tự này. Qua những áng thơ văn này, các thi nhân đều ca ngợi cảnh sắc chùa Hương và thể hiện những tình cảm, cảm xúc trước cảnh sắc, kiến trúc, tín ngưỡng văn hóa Phật giáo của ngôi cổ tự.
Ngoài ra, căn cứ vào những câu chuyện, truyền thuyết, tác giả Hoàng Vinh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh), đã viết kịch bản Huyền thoại đức chúa Ba được biểu diễn trong những dịp lễ hội chùa Hương Tích.
Không chỉ chùa Hương Tích, một danh lam đệ nhất phong cảnh của Hồng Lam, nhiều ngôi chùa khác như Tượng Sơn, Thiên Tượng, Chân Tiên, Thiên Cầm… cũng có nhiều cảm tác ghi lại dưới dạng các câu đối hay các bài thơ tràn đầy cảm xúc.
Giá trị tinh thần của Phật giáo Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Các giá trị tinh thần của Phật giáo có thể coi là giá trị quan trọng nhất, của các di sản văn hóa Phật giáo. Mục đích chính để hệ thống này được hình thành và tồn tại lâu đời trong suốt tiến trình lịch sử của cư dân địa phương và dân tộc chính là vai trò thoả mãn nhu cầu tâm linh của cộng đồng. Quá trình khai khẩn đất hoang, khai sơn lấn biển của cư dân Hà Tĩnh là một hành trình dài đầy gian khó. Bên cạnh đó, như đã phân tích, Hà Tĩnh là vùng đất phên dậu của tổ quốc một thời gian dài, rồi với tư cách là căn cứ địa của những cuộc khởi nghĩa yêu nước, vị thế huyết mạch của những cuộc chiến tranh khốc liệt thời cận và hiện đại cũng khiến con người luôn gặp phải những trở ngại khó khăn. Một mặt, người dân Hà Tĩnh đã ngoan cường, cố gắng vượt bậc để ổn định và duy trì cuộc sống. Mặt khác, họ tìm kiếm một chỗ dựa về tinh thần, một sự bảo trợ, một niềm tin vững chắc về một thế lực siêu nhiên luôn độ trì cho cuộc sống mưu sinh và đấu tranh sinh tồn của họ. Niềm tin tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu vô cùng mãnh liệt đó của họ. Cũng như cư dân toàn đất Việt, cư dân Hà Tĩnh từ thuở hồng hoang, đã có những niềm tin đa dạng, phong phú vào các thế lực siêu nhiên. Ban đầu là việc thiêng liêng hóa các hiện tượng tự nhiên, như mây mưa, sấm chớp, các loài cây, cỏ, con vật, đất đá trong tự nhiên quanh ta, rồi đến những con người bằng xương, bằng thịt, nhưng có phẩm chất phi thường – những thần tượng – người. Cùng với việc du nhập của Phật giáo vào văn hoá Việt Nam nói chung và văn hóa Hà Tĩnh nói riêng, hệ thống thần linh bản địa đa dạng này đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn với Phật giáo để tạo ra một loạt các di tích lịch sử – văn hóa quan trọng, các loại chùa tiền Phật hậu Thánh/Thần/Mẫu. Chùa là nơi cư dân thể hiện những nghi lễ biểu trưng cho lòng tín ngưỡng của mình với Phật và thần linh. Và kể từ thời Lý Trần, chùa còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của mỗi làng quê. Vào những ngày rằm, mồng một hàng tháng Âm lịch, vào những dịp lễ hội như Lễ Phật Đản, Lễ Vu lan, vốn là lễ hội đặc trưng của Phật giáo, ngày húy kỵ của thần linh được phối thờ – lễ hội đặc trưng cho văn hóa dân gian truyền thống, dân làng đều tụ hội về chùa dâng hương, niệm Phật, dâng lễ cầu mong thần linh phù hộ, tham gia vào các đám rước, các trò chơi dân gian trong ngày hội để gạt bỏ những lo âu, phiền muộn của cuộc sống mưu sinh, để thanh lọc tâm hồn khỏi những lỗi lầm mình đã phạm phải, thành tâm hướng thiện và tin vào một tương lai tốt đẹp hơn. Phật và Thần linh đã thành chỗ dựa tâm linh vững chắc, ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân như vậy. Trong tâm thức của cư dân Hà Tĩnh. Phật cũng như một vị thần linh, cùng với các vị thần linh bản địa, luôn có những khả năng siêu phàm để phù giúp cho cộng đồng. Từ những ngôi chùa giản dị thân quen, gắn bó với mỗi người dân làng như máu thịt này, ánh sáng của Phật pháp đã soi rọi, lan tỏa vào đời sống cộng đồng, giúp cộng đồng có lối sống văn minh hơn, từ bi, hỉ xả hơn và hướng thiện hơn. Niềm tin vào luật nhân quả, vào thuyết luân hồi đã góp phần quan trọng trợ giúp cộng đồng kiểm soát tội lỗi, giữ gìn trật tự và an ninh xóm làng. Đồng thời cũng giúp dân làng sống bao dung hơn, vì cộng đồng hơn, giúp chính quyền dân chủ hơn và gần gũi với dân chúng hơn. Đây là giá trị vô cùng quan trọng được lan tỏa ra từ những ngôi chùa làng bình dị trong suốt lịch sử của Hà Tĩnh. Những giá trị này được gìn giữ tốt nhất,liên tục nhất trong bảy ngôi chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia này. Tại cả 7 ngôi chùa nêu trên đều diễn ra thường xuyên các nghi lễ sau đây:
- Dâng chay cúng Phật: nghi lễ Dâng chay cúng Phật được thực hiện hàng ngày. Đây là một nghi lễ vô cùng nhân văn, biểu lộ tình thương, tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật, thương xót, yêu quý tới mọi sinh linh.
- Nghi lễ sám hối: Lễ sám hối được thực hiện ở các chùa vào ngày 14, 15 hàng tháng (âm lịch). Đây là nghi lễ biểu lộ sự sám hối vì những sai lầm, tội lỗi mà Phật tử phạm phải. Trong hương trầm nghi ngút, trang nghiêm, nhà sư và tín đồ tụng kinh sám hối, mỗi tín đồ ngồi tự kiểm điểm lại những việc mình đã làm sai trái để xin Đức Phật độ trì cho mình không tái phạm những tội lỗi ấy và sẵn sàng chịu trách nhiệm về các tội lỗi mình gây ra. Nghi lễ này được làm vào ngày rằm, khi trăng sáng tỏ, chắc không phải là do ngẫu nhiên. Đây là một biện pháp tu hành rất hiệu quả, hướng con người tới những điều thiện, tránh xa tội lỗi, góp phần quan trọng việc hoàn thiện nhân cách con người. Chính vì vậy, các nước Phật giáo phát triển như Ấn Độ, Campuchia, Lào, Sri Lanca, mặc dù còn rất nhiều người nghèo, họ phải đi xin ăn, hoặc vào các ngôi đền, chùa để xin cơm bố thí, nhưng họ không phạm tội ăn cắp, cướp giật. Niềm tin tôn giáo khiến con người biết kiềm chế sự tham lam tội lỗi của bản thân.
- Nghi lễ cầu an: Nghi lễ cầu an được các chùa tổ chức vào ngày 30, mồng 1 hằng tháng. Nghi lễ này nhằm mục đích cầu sự bình an cho cộng đồng dân cư, cầu mong cộng đồng thoát khỏi những thiên tai, địch họa, những tai nạn, bệnh tật… để con người an tâm lao động, nghỉ ngơi và hưởng thụ cuộc sống. Cầu an đầu năm là một nét đẹp văn hóa của người Việt, vì ai cũng mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mình trong một năm mới. Mỗi người khi tới chùa đều cầu nguyện những điều may mắn, an lành như cầu được sức khỏe, tài lộc, thăng quan tiến chức, thậm chí có những nam thanh nữ tú đến chùa để cầu “tình duyên”. Đây vốn là tâm lý chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng đa thần linh của văn hóa Việt Nam bản địa. Và để tồn tại, bám rễ vào mảnh đất này Phật giáo đã chấp nhận hài hòa với tín ngưỡng bản địa. Vì thế, bên cạnh việc cầu an theo đúng nghĩa của Phật giáo, tức là mọi người đến chùa nghe pháp, tụng kinh, chiêm ngưỡng và cúng dường Tam bảo để tăng trưởng thiện tâm và vơi đi ác nghiệp. Mỗi ngôi chùa cũng là nơi cư dân đến cầu an theo nghĩa dân gian. Bên cạnh việc đọc kinh, nghe giảng pháp, các tín đồ còn làm các nghi lễ phóng sinh, làm việc thiện và ăn chay.
- Đại lễ Phật Đản: Là đại lễ tổ chức thường niên ở các chùa với các quy mô khác nhau. Có chùa chỉ trong phạm vi quy mô làng, có chùa có quy mô liên làng, có chùa còn tổ chức rất lớn đón cả khách thập phương hành hương về dự lễ. Mặc dù quốc tế đã thống nhất chọn ngày rằm tháng 4 âm lịch làm ngày Phật Đản có tính quốc tế, nhưng ở Hà Tĩnh lễ này vẫn tổ chức vào ngày 8 tháng 4, theo truyền thống của phái Bắc Tông. Dù tổ chức ở quy mô nào thì ngày lễ Phật Đản cũng được làm rất trang trọng ở các chùa. Ngoài việc tổ chức buổi lễ chính vào ngày 8 tháng 4 một số chùa còn tổ chức diễu hành, làm lễ, thả hoa đăng trên sông, tổ chức thuyết giảng về Phật pháp xen kẽ các buổi văn nghệ, đèn lồng, làm lễ đài tổ chức… Số người tham gia đại lễ này ở các chùa thường lên đến cả vài ngàn người.
- Đại lễ Vu lan: Ngày lễ này ở tất cả các chùa của Hà Tĩnh đều tổ chức rất long trọng, Ngày lễ Vu Lan là dịp “nhắc nhở” các thế hệ con cháu chúng ta nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ. Ðồng thời giúp cộng đồng cư dân tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hoá Phật giáo đó là “Từ, bi, hỷ, xả”, “vô ngã, vị tha”. Theo giáo lý Phật giáo, con người luôn trong vòng luân hồi, dưới tác động của quy luật nhân quả, vì thế mà tất cả chúng sinh đều có mối quan hệ với nhau. Lễ Vu Lan mở ra cả một mùa báo ân, báo hiếu không chỉ đối với cha mẹ ta ở kiếp này mà còn ở vô lượng kiếp. Chính vì vậy lễ Vu lan còn mang cả ý nghĩa “Phổ độ chúng sinh”, “cứu nhân, độ thế”, “xá tội vong nhân”. Trong nghi lễ tại chùa, bên cạnh việc đọc Kinh Phật, người ta còn đọc cả bài văn tế cô hồn trong khi hành lễ. Điều này cho thấy ở Hà Tĩnh, cũng như ở nhiều nơi khác ở Việt Nam, phong tục cúng các cô hồn dân gian của người Việt đã hoà nhập với tinh thần cứu khổ cứu nạn, cứu nhân, độ thế của nhà Phật làm cho lễ Vu Lan thêm phần phong phú và sống động.
2.3. Những ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
2.3.1. Hiện trạng
Tính đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh, có 37 ngôi chùa được xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa cấp tỉnh [PL 7, tr.257]
So với những ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp Quốc gia, những ngôi chùa này, đều có quy mô nhỏ hơn và hiện trạng cũng không được giữ gìn tốt bằng. Trong số 37 ngôi chùa này, theo kết quả khảo sát thực địa và phỏng vấn các chuyên gia quản lý văn hóa và tôn giáo, cũng như các ông bà tại Ban trị sự Phật giáo Hà Tĩnh, như: ông Nguyễn Trí S. (Bảo Tàng Hà Tĩnh, nguyên là Trưởng ban Quản ly di sản Hà Tĩnh), bà Trần Thị Kim H. (Hội Phật giáo Hà Tĩnh), Ông Nguyễn Tùng L. (Phòng quản lý di sản văn hóa tỉnh Hà Tĩnh), Ông Đào Văn H. (Ban tôn giáo Hà Tĩnh); phỏng vấn các ông bà trong Ban quản lý Di tích xã và Ban hộ tự tại các chùa như cụ Nguyễn Xuân L. sinh 1928, Ban quản lý di tích chùa Hạ Phúc, ông Bùi Đình Ch. sinh 1961, Ban hộ tự chùa Bảo Lâm,… thì hiện trạng những ngôi chùa này có thể chia làm hai nhóm: 1.Nhóm còn lưu giữ được khá ổn định kiến trúc của ngôi chùa cổ, tuy có xuống cấp như các chùa Kim Dung, Tịnh Lâm, Tiên Lữ, Thiên Cầm, Bảo Lâm, Dền, Xuân Đài, Hạ Phúc, Hữu Lạc, Đà Liễu. Những ngôi chùa này chủ yếu đã được cộng đồng cư dân giữ gìn bảo vệ và tu sửa trong suốt thời gian dài nên còn giữ lại được khá nguyên vẹn kiến trúc cổ và khuôn viên. Đặc biệt là chùa Xuân Đài, chùa Bảo Lâm, chùa Hạ Phúc và chùa Đà Liễu; 2.Nhóm các ngôi chùa còn giữ lại được một phần công trình kiến trúc cũ và đã tôn tạo sửa sang lại như các chùa: Long Đàm, Phúc Linh (Hương Khê), Pháp Hải, Nhiễu Long, Đại Hùng, Vên, Phượng Tường, Hoa Lâm, Long Hội, Bụt Sơn, Yên Phúc, Triệu Sơn, Hà Linh, Vĩnh Phúc, Đô hành, Gon, Phúc Linh, chùa Đá, Minh Thịnh, Lưu Ly, Thanh Quang, chùa Hang, Từ Nhan, Cảm Sơn.
Vào năm 2000, về cơ bản, các ngôi chùa này đều ở trạng thái xuống cấp (nhóm 1) và xuống cấp nghiêm trọng (nhóm 2). Đồ thờ tự cũng tản mát hầu hết. Những đồ thờ cổ và tượng cổ chỉ còn sót lại một số lượng hiếm, do được lưu giữ trong dân, khi có chủ trương khôi phục, tôn tạo chùa, dân mới mang cung tiến trả lại chùa. Nhiều chùa còn lưu giữ cả những pho tượng thần linh không liên quan đến Phật giáo, dấu vết rõ nét của phong trào hợp tự. Khuôn viên của nhiều chùa bị lấn chiếm. Việc tôn tạo, sang sửa chủ yếu được thực hiện vào thập kỷ 1990 đều do dân tự phát, tự nguyện làm.
2.3.2. Giá trị của các ngôi chùa xếp hạng di tích cấp tỉnh Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Tuy có quy mô nhỏ hơn và hiện trạng không giữ gìn tốt bằng các ngôi chùa được xếp hạng cấp Quốc gia, nhưng các di tích lịch – sử văn hóa Phật giáo được xếp hạng cấp tỉnh này cũng hàm chứa nhiều giá trị đáng ghi nhận.
2.3.2.1. Giá trị di sản văn hóa vật thể
Cũng như các ngôi chùa cấp Quốc gia, những di tích cấp tỉnh này phần lớn đều có vị trí đắc địa, vì thế hàm chứa giá trị thẩm mỹ trong cảnh quan. Những ngôi chùa thuộc các huyện miền núi đều nằm trong không gian bao la của đại ngàn, suối chảy róc rách, cảnh sắc muôn phần tươi đẹp, thanh khiết, như chùa Long Đàm, chùa Hang, chùa Đá, chùa Đại Hùng, Cảm Sơn, Nhiễu Long. Những ngôi chùa ven sông, ven biển và đồng bằng cũng có sự hài hòa riêng với thiên nhiên, đặc biệt là những khuôn viên với các loại cây truyền thống như đa, si (sanh) luôn tạo cho các ngôi chùa một vẻ thâm nghiêm, trang trọng. Các loài hoa như ngọc lan, tiểu mai… luôn tạo cho không gian chùa một mùi hương tinh khiết, dịu dàng khiến lòng người thanh thản như các ngôi chùa Đà Liễu, Gon, Tịnh Lâm, Hoa Lâm, Yên Phúc.
Phần lớn các ngôi chùa này đều là chùa cổ, được xây dựng vào thời Trần và Lê. Tuy nhiều kiến trúc gốc đã bị hủy hoại trong chiến tranh và do sử dụng sai mục đích một thời gian dài, nhưng một số ngôi chùa vẫn còn giữ lại được những giá trị nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đáng ghi nhận. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Một trong những ví dụ tiêu biểu cho những giá trị này, ta có thể thấy ở chùa Xuân Đài, xã Thạch Bằng, huyện Thạch Hà. Ngôi chùa theo các sử liệu và truyền thuyết dân gian được xây dựng vào thế kỷ 13, do một viên quan thời Trần đã về quê kêu gọi nhân dân đóng góp tiền của dựng chùa. Thời Lê Cảnh Hưng (thế kỷ18), chùa được một phú hộ trong làng bỏ tiền ra tôn tạo, tu sửa. Chùa còn được tu sửa nhiều lần, nhưng những hạng mục công trình của lần tu sửa đời vua Cảnh Hưng vẫn còn giữ được cho đến ngày nay. Bên cạnh việc các hạng mục công trình được bố trí đăng đối, hài hòa, chùa còn chứa những giá trị đặc sắc về nghệ thuật điêu khắc. Theo hồ sơ di tích của Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh thì “mặt trước của thượng điện chùa Xuân Đài được trang trí hết sức độc đáo. Mảng chạm trổ này thể hiện trình độ điêu khắc đạt đến mức độ tinh xảo của nghệ nhân trong vùng” [13]. Gian giữa của thượng điện được chia thành ba tầng kiến trúc, mỗi tầng lại được trang trí bằng các bức phù điêu chạm trổ các hoa văn khác nhau, thể hiện các chủ đề khác nhau. Tầng cao nhất được kiến tạo thành hình vọng lâu, hai gác tám mái, mỗi mái đều vuốt nhọn đầu đao, trên đắp nổi hình cá chép hóa rồng. Hai bên cửa vòm của lòng gác, trên cùng có đắp nổi hai con rồng chầu. Trước cửa có tạo một bức tượng Thích Ca Mầu Ni trong tư thế đứng, đấy là một điểm đặc biệt trong việc đặt tượng của Đức Phật. Phải chăng người nghệ nhân mong Ngài không chỉ an lạc trong cõi cao thâm, mà còn đứng ngay bên ngoài để lắng nghe những tiếng đời tục lụy. Tầng kiến trúc thứ hai có đắp một đôi cá gọi là song ngư chầu ngọc, hai bên có hai câu đối khắc nổi đại ý: Phượng chầu về làng Đông Độ/Quy (rùa) bước về chùa Xuân Đài. Nét chữ nổi với lối thư pháp sắc sảo. Nối liền tầng hai và ba, tầng thấp nhất có một mái hiên bằng xi măng được đắp theo hình răng cưa cách điệu khá thanh thoát. Dưới mái hiên đó là một bức phù điêu tuyệt đẹp, với hai màu chủ đạo là vàng đậm và vàng nhạt. Nội dung bức phù điêu này rất thú vị. Ta có thể nhìn ở đây nhiều môtip đặc trưng cho điêu khắc thời Trần, Lê và Nguyễn. Phù điêu khắc họa cảnh Bồng Lai, một cảnh giới thanh tịnh trong các cảnh giới theo thuyết luân hồi của Phật giáo. Đây là nơi dành cho những người tu hành đạt đến một trình độ nhất định và sẽ được tái sinh vào cảnh giới này. Các vị tiên ông, đều cưỡi các linh vật, tay cầm nhạc cụ, bình rượu hay sách: người thì cưỡi ngựa cầm đàn tỳ bà, người cưỡi lân cầm sáo… Cảnh tiệc rượu, cảnh dạy học, đề tài các nhạc sỹ thiên thần trong xiêm y người đương thời cưỡi các linh vật chim, lân… với các nhạc cụ hiện ra trong mây xuất hiện trong các bức phù điêu thời Trần. Cảnh chín con rồng phun nước cho Thích Ca Mầu Ni tắm và được các nhạc sỹ thiên thần chào đón xuất hiện vào thế kỷ 19, và người nghệ sỹ tài ba còn chạm khắc một cây đang vươn lên sau lưng tượng, đây là hình bóng của cây Sala (vô ưu), trong tích truyện về mẹ Phật vịn cây lúc sinh ra Người. Bức phù điêu này, một mặt thể hiện rõ nội dung về sự tích Phật, một mặt cho thấy rõ sự dung hòa của Phật và đạo giáo thần tiên, đồng thời là sự tích hợp giữa các motip điêu khắc của các thời đại. Cách thể hiện rất sinh động, đường nét chạm khắc rất tinh tế, mềm mại uyển chuyển. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Những hoa văn trang trí trong hai gian bên của thượng điện cũng rất đẹp và tinh tế. Gian thờ bên phải, phía ngoài cùng có một trụ vuông đắp nổi hình một đĩa đào tiên rất sống động, chính giữa là hình cây tre cách điệu thành rồng (đây là motip “trúc hóa long” khá độc đáo), trong cùng là một bức phù điêu trang trí hình biển và rừng, vừa có voi vừa có cá tung tăng bơi lội – phong cảnh đặc trưng cho thiên nhiên của Hà Tĩnh; Gian thờ bên trái phía ngoài cùng cũng có trụ vuông, trên đó đắp nổi một bàn tay úp hờ đón một búp sen đang hé nở, trong cùng là hình ảnh rùa đội cuốn thư, chim chóc bay nhảy-hình ảnh tượng trưng cho chí hiếu học của con người Hà Tĩnh. Sự đối xứng về ý tưởng thật sâu sắc, nét chạm khắc tinh tế, duyên dáng và sáng tạo.
Nghệ nhân xưa cũng đã biết dùng các mảnh gốm xanh vỡ để ghép thành các chữ, tạo hình cho đôi nghê chầu làm cả chữ và nghê đều sinh động và độc đáo. Các chữ được khảm gốm xanh là “Từ phong phiến” (quạt gió từ bi). Hai nghê chầu trong tư thế từ trên bậc tam cấp đi xuống, với các mảnh gốm xanh đắp trên mình và bộ vuốt sắc làm tôn thêm vẻ uy nghi của chúng.
Bên cạnh các hoa văn trang trí, giá trị điêu khắc tiêu biểu của những ngôi chùa thuộc di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh còn biểu hiện rõ nét ở số tượng cổ mà các ngôi chùa này còn may mắn lưu giữ được. Tiêu biểu là những pho tượng cổ ở chùa Đà Liễu. Những pho tượng gỗ này, theo tác giả Hồ sơ di tích chùa Đà Liễu thì đã có 300 năm tuổi, có giá trị cao về mặt mỹ thuật và kỹ thuật tạo tác. Những pho tượng này được tạo theo một phong cách độc đáo. Ba pho tượng Tam Thế được tạo trong tư thế tọa thiền, đầu tóc xoắn ốc, nhưng khác với các pho Tam Thế thường thấy là không có nhục khấu, khuôn mặt hiền từ mang đậm vẻ đẹp nữ tính. Đây là sự độc đáo của các pho tượng này. Lớp tượng thứ hai trong chùa là Di Đà Tam Tôn, gồm tượng Phật Adida và Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, có kích thước nhỏ hơn, khuôn mặt cũng được tạc với một vẻ đẹp thuần hậu, đầy đặn của phụ nữ nông thôn Việt Nam. Lớp tượng thứ ba ở chùa Đà Liễu rất đáng chú ý, gồm năm pho tượng, bốn pho đều đứng trên tòa sen, nhưng chỉ có một pho tượng Phật, tóc hình xoắn ốc, còn lại ba pho đầu đội mũ bình thiên, chính là tượng của các vị thần linh, pho thứ năm là Phật Tổ Như lai ngồi trong tư thế tọa thiền trên đài sen, mặt trước đầu có mắt thần. Những pho tượng này đều được tạo tác với thần thái rất sinh động, đường nét tinh xảo. Bảng 2 dưới đây cho thấy số lượng tượng cổ còn may mắn sót lại trong các ngôi chùa này. Những pho tượng này đều có giá trị đáng ghi nhận về nghệ thuật tạo tác tinh xảo và độc đáo, là nguồn sử liệu quý giá để nghiên cứu về nghệ thuật điêu khắc của Hà Tĩnh và là nguyên mẫu quan trọng cho các sáng tạo mới trong nghệ thuật tạo hình.
Bảng 2. Danh mục tượng cổ trong các Chùa được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh ở Hà Tĩnh
Về cổ vật, những ngôi chùa này cũng gìn giữ được một số cổ vật quý, chủ yếu là tượng cổ, đồ thờ và sắc phong. Tuy nhiên, kết quả điều tra điền dã và phỏng vấn các cán bộ quản lý cùng các thành viên các ban Hộ tự thì đây chỉ là một phần rất nhỏ các cổ vật còn giữ lại so với số cổ vật thực có trước kia trong các ngôi chùa. Bảng thống kê dưới đây cho thấy rõ những cổ vật còn sót lại tại các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo cấp tỉnh ở Hà Tĩnh.
Bảng 3. Danh mục cổ vật trong các ngôi chùa xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh ở Hà Tĩnh
Theo danh sách trên đây ta thấy, số cổ vật còn lưu giữ lại trong hệ thống các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo cấp tỉnh là khá khiêm tốn, vì nhiều lý do cả chủ quan lẫn khách quan.
2.3.2.2. Giá trị di sản văn hóa phi vật thể Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Trước năm 1954, theo khảo sát thực địa hầu hết các chùa được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh này đều là các lễ hội dân gian. Đó là các lễ hội làng, mang đậm nét văn hóa địa phương, gắn với cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, tính đến năm 2000, chỉ còn lại một vài chùa vẫn giữ lại được lễ hội dân gian truyền thống, như chùa Kim Dung, Bụt Sơn, Long Đàm, chùa Đại Hùng. Trong các lễ hội này có sự kết hợp hài hòa giữa các nghi lễ, nghi thức Phật giáo và các nghi lễ, nghi thức mang đậm tính dân gian và các trò chơi, trò diễn dân gian mang đậm nét văn hóa của địa phương. Tiêu biểu cho các lễ hội này là lễ hội chùa Long Đàm, chùa Đại Hùng.
Lễ hội chùa Long Đàm tổ chức vào dịp tết nguyên tiêu (rằm tháng giêng) và thường kéo dài trong hai ngày. Các nghi lễ quan trọng, bao gồm cầu kinh, kéo phướn, gióng chuông rộn ràng. Nghi lễ cầu siêu, cúng tế ở khám thờ bà cô. Dâng lễ, dâng hương cúng Phật, cúng ở am Bà Chúa, Nhà tổ. Các trò chơi dân gian như đọc thơ, thi câu đối, thi kể chuyện nhà Phật, chơi các trò chơi như xóc địa, tổ tôm, tam cúc, cờ người, thi cỗ hoa quả và xôi oản.
Chùa Đại Hùng là nơi duy nhất trên đất Hà Tĩnh, tổ chức Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương (vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch). Hàng năm, cứ đến dịp Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 ÂL) bà con trong vùng và các vùng phụ cận của các huyện: Can Lộc, Đức Thọ, Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An cũng đến dâng hương để tưởng niệm các Vua Hùng. Ngay từ những ngày đầu tháng 3, các gia đình đã tập trung về dọn dẹp, sơn quét vôi ve, tu sửa các hạng mục thờ tự tại chùa để chuẩn bị cho ngày dâng tế. Vào các ngày 5,6, cho đến đúng ngày 10 tháng 3 mỗi ngày, chùa đều đón hàng trăm lượt người từ các huyện, tỉnh bạn đến dâng hương, đặc biệt là ngày giỗ chính thức lên đến hàng ngàn người. Với các lễ vật mà mọi người đưa đến để dâng lên ngày giỗ của các Vua Hùng, chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp làm ra như: Bánh chưng, bánh tét, hoa, quả, các loại bánh dâng tế ở đây đều chay tịnh. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Giá trị phi vật thể nổi trội của những di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo này, chính là giá trị lịch sử. Tuyệt đại đa số các ngôi chùa đều là những địa danh, ghi đậm dấu ấn lịch sử của quá trình dựng xây và bảo vệ quê hương Hà Tĩnh. Nhiều chùa đã từng bị triệt hạ, càn quét, đốt phá vì là địa điểm tụ quân, luyện quân hoặc là địa chỉ liên lạc của dân ta qua các thời kỳ. Đặc biệt là các phong trào yêu nước như phong trào Cần Vương (Đà Liễu, Kim Dung), phong trào chống sưu thuế (Đà Liễu, Kim Dung), phong trào xô viết Nghệ Tĩnh (chùa Hữu Lạc, Mộ Nghĩa, Hoa Lâm, Yên Phúc, Đô Hành, Long Hội, Xuân Đài, Bụt Sơn, Chùa Gon, Đà Liễu, Phượng Tường) và trong cuộc kháng chiến chống Pháp (Xuân Đài, chùa Gon, Tiên Lữ, Phượng Tường, Đại Hùng), và cả chống Mỹ (Chùa Cảm Sơn). Những ngôi chùa này không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của làng quê, mà còn là những địa danh lịch sử, nơi hội họp bí mật của các chiến sỹ yêu nước trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.
Giá trị lịch sử của các ngôi chùa di tích cấp tỉnh này còn nằm trong các truyền thuyết về những nhân vật lịch sử, những người con ưu tú của Hà Tĩnh đã có nhiều công lao đóng góp cho sự thịnh vượng và phát triển của kinh tế văn hóa, xã hội Hà Tĩnh. Đó là các nhân vật được phối thờ trong các ngôi chùa như những thần linh bản địa.
Cũng phải kể đến các giá trị văn học dân gian và văn học viết liên quan đến các ngôi chùa này. Với cảnh quan đẹp, nên thơ, với tư cách là nhân chứng của lịch sử địa phương, nhiều áng văn thơ có giá trị nghệ thuật đã được sáng tác ca ngợi các ngôi chùa này.
Giá trị phi vật thể quan trọng nhất của các ngôi chùa này chính là giá trị tâm linh. Đây là giá trị xuyên suốt quá trình hình thành, tồn tại của những ngôi chùa cổ. Trong suốt quá trình kiến tạo và xây dựng mảnh đất Hà Tĩnh, các ngôi chùa luôn đóng vai trò là trung tâm văn hóa tâm linh, nơi cộng đồng cư dân thể hiện niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất của cộng đồng. Cuộc sống trong xã hội hiện đại, những vấn đề khiến con người mỏi mệt, lo lắng, cô đơn, chán nản vẫn không hề giảm so với trước, dù cuộc sống về vật chất có nhiều cải thiện hơn xưa. Cuộc sống công nghiệp hối hả, bận rộn, áp lực công việc căng thẳng bởi công việc mưu sinh hàng ngày của mỗi cư dân, cộng đồng luôn phải giải quyết những vấn đề liên quan đến môi trường sống như lũ lụt, động đất, bão tố, sự nóng lên đột ngột của khí hậu, tệ nạn xã hội và tội phạm ngày một gia tăng và tinh vi, nguy hiểm hơn xưa… là những vấn đề mà con người hiện đại nói chung, cư dân Hà Tĩnh ngày nay nói riêng đang phải đương đầu. Điều này làm nhu cầu được giải tỏa, được thanh lọc tâm hồn, được tìm kiếm sự an nhiên mỗi ngày một cao. Và cũng điều này, nó giải thích sự bùng nổ trở lại vai trò là trung tâm tín ngưỡng tâm linh và trung tâm văn hóa cộng đồng của những ngôi chùa Hà Tĩnh, một thời gian đã bị quên lãng do nhiều nguyên nhân như đã phân tích… Với hiện thực này, nó cũng cho ta thấy rõ hơn sức sống mãnh liệt của những giá trị tâm linh mà hệ thống di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo đã tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử, nuôi dưỡng tâm thức hướng thiện, tâm thức nhớ nguồn và tâm thức cộng đồng của con người. Điều này cũng giải thích rõ tại sao, chỉ trong một thời thời gian ngắn, Hà Tĩnh dường như từ một vùng đất trắng của Phật giáo, đã nhanh chóng khôi phục lại vị trí của những ngôi chùa làng trong đời sống cộng đồng. Không chỉ những di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo còn giữ lại được, mà nhiều di tích hoang phế cũng đã nhanh chóng được phục hồi, tôn tạo, làm mới với mọi quy mô có thể, phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương; người dân đã khôi phục lại những sinh hoạt tín ngưỡng một cách thành kính, trả lại vị trí vừa là trung tâm tín ngưỡng, vừa là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các ngôi chùa xưa. Bức tranh cụ thể của việc khôi phục, hồi sinh đến thần kỳ của các giá trị này, chúng tôi sẽ mô tả kỹ hơn tại chương 3. Chính điều này đã giúp người dân Hà Tĩnh cân bằng đời sống tâm linh, góp phần tạo ra một niềm tin tưởng và tràn đầy hy vọng, có thể giúp cho họ giải tỏa áp lực cuộc sống hiện đại. Trong những dịp tham gia lễ hội tại chùa “cái tôi” cô đơn của mỗi người được thăng hoa, hòa vào “cái ta” cộng mệnh, cộng cảm dưới một niềm tin vững chắc về sự bảo trợ của Phật, Thần. Khi về lễ Phật/Thánh/Thần/Mẫu, con người có cảm nhận như đang trở về với cội nguồn gốc rễ của mình, đắm mình trong những khoảng thời gian và không gian riêng, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, được chiêm bái, ngưỡng vọng những biểu tượng cao cả hiện thân của giá trị chân-thiện-mỹ. Đó chính là “sự nhập cuộc và hóa thân một cách thành kính vào thế giới tâm linh” [129, tr.208]. Khôi phục, tôn tạo, bảo vệ hệ thống di tích lịch sử Phật giáo, chính là việc khôi phục, giữ gìn những giá trị tâm linh thiêng liêng và cao cả, góp phần quan trọng vào việc quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân dân, giúp cho người dân có một cuộc sống tinh thần lành mạnh, an nhiên, từ đó chủ động, tích cực với các hoạt động của cuộc sống kinh tế xã hội thường ngày.
2.4. Những ngôi chùa chưa xếp hạng di tích Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Như trên đã từng đề cập, trước năm 1990, Hà Tĩnh như một mảnh đất trắng về Phật giáo, cho dù trên mảnh đất này đã từng có tới 417 ngôi chùa cổ. Trong gần hai thập kỷ (từ 1986-2000), với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhu cầu về niềm tin tôn giáo, trong đó có Phật giáo bùng phát trở lại nhanh chóng. Theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh Hà Tĩnh và Giáo hội Phật giáo Hà Tĩnh, tính đến năm 2016 đã có 105 ngôi chùa hoạt động, trong số đó chỉ có 44 ngôi chùa được xếp hạng di tích (07 di tích cấp quốc gia và 37 di tích cấp tỉnh); theo con số thống kê của cuộc điều tra di sản do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh tổ chức vào năm 2015 cho thấy, hiện có 159 ngôi chùa chưa xếp hạng di tích. Như thế, ngoài con số các chùa đã hoạt động, còn lại 52 ngôi chùa (có trong danh mục thống kê di sản văn hóa 2015), thì chưa hoạt động.
Hiện trạng của các ngôi chùa này, có thể chia làm ba nhóm chính: 1.Nhóm các chùa đã được tôn tạo, làm mới với nhiều quy mô khác nhau, hoạt động mạnh mẽ; 2.Nhóm các chùa đang xuống cấp nghiêm trọng, cần phải trùng tu, tôn tạo và cũng đang hoạt động; 3.Nhóm các chùa xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ hoang phế vì chưa hoạt động trở lại.
Tuy chưa được quan tâm, nhưng theo khảo sát thực tế và theo một số nghiên cứu của Bảo tàng Hà Tĩnh, thì một số ngôi chùa này cũng chứa những giá trị đáng ghi nhận về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, một số ngôi chùa còn giữ được những cổ vật quý và tuyệt đại đa số đều có giá trị lịch sử, với tư cách là chứng nhân của quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương Hà Tĩnh, hoặc với tư cách là các địa danh lịch sử liên quan đến các hoạt động yêu nước nhiều thời kỳ. Vì vậy, nghiên cứu, khôi phục lại vị thế của chúng trong đời sống hiện đại là điều cần thiết. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
Nếu như mục 2.1 khẳng định tác động mạnh mẽ của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh lên hệ thống di sản văn hóa Phật giáo, thì từ những phân tích trên đây, ta cũng dễ dàng nhận thấy, Phật giáo, với tư cách là một tôn giáo, đã trở thành một bộ phận khăng khít không thể tách rời của văn hóa Hà Tĩnh. Các di sản văn hóa Phật giáo cũng tạo nên những nét đặc trưng riêng cho văn hóa Hà Tĩnh. Phật giáo cũng tác động sâu sắc lên các thành tố văn hóa khác của văn hóa Hà Tĩnh như kiến trúc, điêu khắc, văn học, lễ hội… tạo nên một nền văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh đa dạng và phong phú. Nền văn hóa Phật giáo này trải qua một thời gian dài, với bao thăng trầm của lịch sử, vẫn lắng đọng lại nhiều giá trị văn hóa quý giá, mà chúng ta cần phải bảo tồn và phát huy trong đời sống đương đại, tiếp nối truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương nói riêng và bản sắc văn hóa dân tộc nói chung.
Tiểu kết
Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh hiện chia làm ba nhóm là di tích cấp quốc gia, di tích cấp tỉnh, di tích chưa được xếp hạng và công việc quản lý chúng rất phức tạp.
Bảy ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia đã được khảo tả và nhận diện giá trị.Tuy nhiên, các ngôi chùa này đang ở tình trạng xuống cấp và xuống cấp một phần cần được tu sửa để phát huy những giá trị của chúng.
Ba mươi bảy ngôi chùa xếp hạng di tích cấp tỉnh cũng nằm trong tình trạng trên nhưng các ngôi chùa này xuống cấp nghiêm trọng việc tu bổ tôn tạo và phát huy giá trị là rất cấp thiết.
Ngoài ra còn một trăm năm mươi chín ngôi chùa chưa được xếp hạng di tích, cần được nghiên cứu và phát huy giá trị. Những ngôi chùa này ở trong tình trạng xuống cấp, xuống cấp nghiêm trọng hoặc gần như hoang phế. Vì vậy cần lập hồ sơ, có kế hoạch tu bổ, tôn tạo và khai thác, phát huy giá trị vốn có của chúng.
Với tư cách là đối tượng quản lý, những ngôi chùa của Hà Tĩnh mới bắt đầu được quan tâm bảo tồn và khôi phục từ khi tách tỉnh (1991). Tuy nhiên, những hoạt động quản lý này còn rất hạn chế. Việc đầu tư kinh phí chống xuống cấp hạn hẹp, khai thác phát huy giá trị của di còn rất hạn chế. Khi Luật di sản văn hóa ra đời (2001) công tác này mới có nhiều khởi sắc.
Các giá trị lịch sử văn hóa, nghệ thuật của hệ thống di sản này, cho ta thấy rõ việc cần thiết phải quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị đó, giữ gìn chúng không chỉ cho con cháu mai sau, mà ngay hiện tại, chúng phải nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong đời sống đương đại của mỗi chúng ta.
Với tư cách là đối tượng quản lý, những ngôi chùa của Hà Tĩnh, về thực chất mới bắt đầu được quan tâm bảo tồn và khôi phục kể từ khi tách tỉnh (1991). Tuy nhiên, những hoạt động quản lý này, còn rất hạn chế. Năm 1990 mới có xếp hạng di tích cho ngôi chùa đầu tiên. Việc đầu tư kinh phí chống xuống cấp cũng hạn hẹp. Khai thác sử dụng cũng còn rất hạn chế. Kể từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời năm 2001, công tác này mới có nhiều khởi sắc. Thực trạng của các giá trị này đang được quản lý, bảo tồn ra sao? vai trò của chúng trong đời sống hiện nay thế nào? Liệu đã có những giải pháp nào để chống việc biến các di sản đã từng vang bóng một thời này thành các phế tích? Đó là những vấn đề sẽ được bàn luận ở các chương tiếp theo. Luận văn: Khái quát về di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
