Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Luận văn: Quản lý di sản văn hóa phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa

3.1.1. Các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước

Năm 1998, với tinh thần đổi mới toàn diện về đường lối văn hóa của Đảng, Nghị quyết Trung ương 5, khóa 8 ra đời như một bước ngoặt về đường lối văn hóa của Đảng. Với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực là mục tiêu của sự phát triển của Nghị quyết TW5, khóa 8 thì quản lý văn hóa là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước trong thời đại CNH, HĐH và toàn cầu hóa hiện nay. Nghị quyết cũng khẳng định vai trò cuả di sản văn hóa và nhiệm vụ bảo tồn phát huy giá trị của di sản văn hóa. Nhiệm vụ số 4 trong 10 nhiệm vụ mà nghị quyết đưa ra chính là: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. Nghị quyết khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng các dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [151].

Quản lý di sản văn hóa, là một nội dung quan trọng của quản lý văn hóa, bởi vì di sản văn hóa chính là nền tảng của văn hóa, là những giá trị tinh túy nhất của dân tộc và địa phương đã vượt qua khỏi sự thẩm định khắc nghiệt của thời gian trong dòng chảy lịch sử. Tuy nhiên, di sản văn hóa cũng luôn chịu sự tàn phá của thời gian. Vì vậy, nếu không có chính sách và các hoạt động bảo tồn, phát huy hữu hiệu thì chúng sẽ mai một và bị hủy hoại một cách nhanh chóng. Nắm bắt được tình trạng chung đó của di sản văn hóa ở Việt Nam, Nhà nước, Bộ Văn hóa và các nhà hoạch định chính sách đã nhanh chóng đầu tư nghiên cứu, đề xuất các văn bản quản lý Nhà nước, trong đó nhiều văn bản đã không chỉ kịp thời góp phần bảo vệ kho tàng di sản văn hóa Việt Nam nói chung, mà còn tạo ra bước ngoặt về nhận thức trong khai thác, sử dụng và bảo tồn những di sản quý báu này. Có thể kể ra rất nhiều văn bản quản lý Nhà nước từ năm 1986 đến nay, nhưng tiêu biểu là Luật Di sản văn hóa. Kể từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời, quản lý di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng ở Hà Tĩnh có nhiều khởi sắc.

Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001, có bổ sung, sửa chữa năm 2009 là một văn bản quan trọng nhất, tạo điều kiện cho công tác quản lý di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Nội dung chủ yếu của Luật Di sản văn hóa bao gồm: Công nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau đối với di sản văn hóa; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa; quy định các biện pháp cụ thể để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa; đặc biệt so với pháp lệnh bảo vệ và sử dụng Di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh, ban hành năm 1984, thì Luật Di sản văn hóa đã tạo ra nhiều điểm mới phù hợp với tình hình thực tế hơn. Thứ nhất, quy định chỉ có hai vành đai bảo vệ di tích so với ba vành đai trong pháp lệnh; Thứ hai, quy định việc xếp hạng di tích gồm nhiều cấp: Tỉnh, cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt thay vì chỉ có một loại di tích cấp quốc gia như trong pháp lệnh. Điều này tạo điều kiện rất lớn cho việc bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử tại các địa phương, trong đó có Hà Tĩnh. Bởi vì các Di tích lịch sử – văn hóa tại địa phương, nhất là địa phương nghèo như Hà Tĩnh, thì việc có xếp hạng di tích cấp tỉnh sẽ giúp cho nhiều di tích đủ điều kiện để được quản lý và cấp kinh phí bảo tồn, phát huy. Thứ ba, tương ứng với các cấp di tích được xếp hạng, Luật Di sản văn hóa cũng quy định thẩm quyền ra quyết định công nhận di sản văn hóa được xếp hạng. Cụ thể, UBND tỉnh, có quyền ra quyết định đối với các di sản văn hóa cấp tỉnh, Bộ VHTT&DL, có thẩm quyền ra quyết định công nhận di sản văn hóa cấp quốc gia và Chính phủ ra quyết định công nhận di sản văn hóa cấp quốc gia đặc biệt. Điều này đã nâng cao vai trò của UBND tỉnh trong việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa địa phương.

Như vậy, theo Luật Di sản văn hóa, UBND tỉnh có thẩm quyền ra quyết định công nhận di tích cấp tỉnh và đệ đơn lên Bộ VHTT&DL đề nghị công nhận di tích cấp quốc gia tại địa phương mình. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Điều 54, mục 1, chương 5, Luật Di sản văn hóa đã quy định rõ nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa là:

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp và bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa.; 2.Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 3.Tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; 4.Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; 5.Huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa; 6.Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; 7.Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [81]

Luật cũng quy định rõ những nội dung này được quán triệt từ trung ương đến địa phương, với sự phân cấp quản lý cụ thể: Chủ tịch UBND tỉnh có quyền phê duyệt dự án bảo tồn và phát huy các di tích cấp tỉnh, và cấp quốc gia nhóm B,C; Bộ trưởng Bộ VHTT&DL có thẩm quyền phê duyệt các dự án đối với các di tích cấp quốc gia nhóm A và cấp quốc gia đặc biệt nhóm B,C. Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền phê duyệt các dự án bảo tồn và phát huy các di tích cấp quốc gia đặc biệt nhóm A với sự hỗ trợ của Hội đồng di sản quốc gia.

Luật Di sản văn hóa đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động quản lý di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng ở Hà Tĩnh. Tuân thủ theo luật này, kể từ 2001 đến nay, phong trào bảo tồn, tôn tạo, trùng tu và phục dựng di tích phát triển rất mạnh. Bên cạnh một số di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia như chùa Hương Tích, Chùa Thiên Tượng, còn có năm ngôi chùa khác được xếp hạng cấp quốc gia và 37 ngôi chùa được xếp hạng cấp tỉnh. Việc được xếp hạng di tích sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư tôn tạo, tu bổ, phục dựng và phát huy các giá trị của di tích tốt hơn.

Bên cạnh Luật Di sản văn hóa, công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo còn liên quan đến pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo và pháp luật Xây dựng.

Văn bản có hiệu lực cao nhất hiện này về tín ngưỡng, tôn giáo là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, mặc dù Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã ban hành năm 2016, nhưng đến tháng 1 năm 2018 mới có hiệu lực.

Cả hai văn bản này quy định rõ việc sửa chữa, tu bổ các cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo là di tích lịch sử – văn hóa phải tuân theo Luật Di sản văn hóa Luật Xây dựng. Sự khác biệt quan trọng của hai văn bản pháp luật này liên quan đến Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo là: Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo chưa công nhận chính thức tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và kéo theo đó là quyền đối với các tài sản, cơ sở thờ tự của các tổ chức này. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khi công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo (trong đó có Phật giáo) đã ghi nhận quyền được quản lý và sử dụng đất của cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo (trong đó các cơ sở thờ tự, đồng thời là di tích lịch sử -văn hóa Phật giáo) qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền sử dụng đất, thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan [Khoản 4, điều 56]. Điều này xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức tôn giáo, trong đó có Giáo hội Phật giáo đối với các cơ sở thờ tự là Di tích lịch sử – văn hóa (trong đó có Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo).

Luật Xây dựng ban hành năm 2003, đã quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục, trình tự quy hoạch, lập dự án, thiết kế, thi công các dự án, công trình xây dựng, trong đó có các dự án, công trình trùng tu, tôn tạo, phục dựng các di tích lịch sử – văn hóa. Nghị định 70/2012/ NĐ-CP, quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh. Nghị định này đã quy định rõ các cấp quản lý có thẩm quyền lập, phê duyệt quy hoạch và dự án bảo tồn, tu bổ, phục hồi các di tích đã được xếp hạng. Và để chi tiết hóa, cụ thể hóa các điều luật liên quan đến điều kiện và năng lực của tổ chức cá nhân hoạt dộng xây dựng trong Luật Xây dựng 2003. BVHTTDL hành Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL “Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, phục hồi di tích”. Thông tư này đã quy định cụ thể nguyên tắc thiết kế và thi công tu bổ di tích; điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch di tích; dự án tu bổ di tích; báo cáo kinh tế – kỹ thuật tu bổ di tích, thiết kế tu bổ di tích và thi công tu bổ di tích; hồ sơ, nội dung hồ sơ thiết kế và thẩm quyền phê duyệt hồ sơ thiết kế dự án tu bổ di tích; thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Thông tư này đã quy định chặt chẽ hơn về năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia quy hoạch, thiết kế, thi công dự án tu bổ di tích so với Luật Xây dựng năm 2003. Vì vậy, khi Luật Xây dựng năm 2014 ban hành có những quy định chặt chẽ hơn về nội dung này, thì thông tư vẫn còn phù hợp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

3.1.2. Tuyên truyền, phổ biến, áp dụng quy phạm pháp luật của trung ương và ban hành các văn bản chỉ dẫn của tỉnh Hà Tĩnh Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Kể từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời, năm 2001 đến nay, liên tục trong các nghị quyết Đảng ủy các khóa của đảng bộ Hà Tĩnh đều đề cập đến tầm quan trọng của di sản văn hóa và việc quan tâm đến quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa địa phương nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng.

Hàng năm, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tổ chức hội nghị tập huấn quán triệt các văn bản liên quan đến quản lý di sản văn hóa: Luật Di sản văn hóa, Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định cụ thể một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa; Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ, quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản tu bổ di tích và Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tập huấn nghiệp vụ quản lý Nhà nước về VHTTDL&GĐ và nghiệp vụ quản lý du lịch… cho đối tượng là cán bộ, công chức trong ngành, chuyên trách văn hoá xã phường, thị trấn, trưởng ban quản lý các khu di tích trong tỉnh; các lớp tập huấn này thường kéo dài từ 2 ngày đến 1 tuần.

Đài phát thanh – truyền hình tỉnh, báo Hà Tĩnh, tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, trang truyền hình văn hóa, thể thao, du lịch đã xây dựng nhiều phóng sự, tin, bài tuyên truyền về thực hiện Luật Di sản văn hóa và các văn bản liên quan khác; về công tác quản lý, quảng bá di sản văn hóa…

Năm 2012, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 31/2012/QĐ-UBND ngày 6/7/2012 của UBND tỉnh ban hành “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống, đón nhận các danh hiệu thi đua trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, trong đó có quy định rõ về việc tổ chức, phục hồi các lễ hội dân gian truyền thống nói chung, trong đó có các lễ hội chùa.

Năm 2013, UBND tỉnh ban hành quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 10/7/2013 về “Quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”. Đây là một văn bản quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cụ thể, chi tiết cho việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh. Trong quyết định này, UBND tỉnh đã quy định rõ các cấp quản lý đối với các di sản tuỳ theo kết quả xếp hạng di sản và tầm quan trọng của di sản, quy định nội dung quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Ban hành kèm quyết định này còn có văn bản “Quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn- hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà TĩnhLuận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Về tổ chức bộ máy quản lý di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng, năm 2009. UBND tỉnh đã ban hành “Quy chế hoạt động của hội đồng xét duyệt, xếp hạng di tích và quy trình lựa chọn, xét duyệt hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa”. Theo quy chế này, hội đồng có nhiệm vụ xét duyệt các danh sách đăng ký đề nghị xếp hạng của Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã; đôn đốc, nhắc UBND các huyện, thành phố, thị xã tiến hành các thủ tục cần thiết để Hội đồng xét duyệt đối với một số di tích bảo đảm tiêu chí xếp hạng, nhưng chưa có kiến đề nghị của địa phương; Thẩm định các hồ sơ di tích trong danh sách được xếp hạng để trình UBND tỉnh ra quyết định công nhận di tích cấp tỉnh, hoặc đề xuất lên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định đối với di sản cấp quốc gia.

Quy chế cũng quy định rõ quy trình thẩm định hồ sơ bao gồm:

  • Tác giả báo cáo tóm tắt nội dung di tích (tập trung vào phần nhân vật sự kiện lịch sử, giá trị ý nghĩa và phương án bảo tồn, phát huy giá trị của di tích).
  • Nhận xét của uỷ viên hội đồng được phân công phản biện
  • Ý kiến của các thành viên hội đồng và của các đại biểu.
  • Tác giả bảo vệ nội dung hồ sơ .
  • Hội đồng trao đổi, đánh giá chất lượng của từng hồ sơ và quyết định bằng biểu quyết. Những hồ sơ được hội đồng công nhận phải đạt 2/3 biểu quyết nhất trí.

Trong lĩnh vực phát huy các giá trị của di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng, UBND tỉnh đã ra quyết định số 1477/QĐ-UBND, ngày 23 tháng 5 năm 2013 về việc phê duyệt đề án “Đề án một số chính sách khuyến khích phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2020”. Trong đề án này, có đưa ra chính sách khuyến khích khai thác các tài nguyên nhân văn, đó là các di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa Phật giáo. Năm 2013, UBND tỉnh cũng phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Bản quy hoạch này cũng coi các di sản văn hóa Phật giáo là một tài nguyên du lịch cần phải quan tâm khai thác, phục vụ cho du lịch.

Nhìn chung, Hà Tĩnh đã cố gắng trong việc sử dụng các biện pháp khác nhau tuyên truyền, phổ biến những văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến việc quản lý di sản. Đồng thời cũng kịp thời ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết phục vụ cho công tác quản lý di sản văn hóa nói chung.

3.1.3. Một số vấn đề liên quan đến áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Trong quá trình thực hiện các quy định của hệ thống văn bản pháp luật trong việc quản lý các di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh, có nảy sinh một số vấn đề, cụ thể là:

Vấn đề liên quan đến chứng chỉ hành nghề: Theo quy định của Luật Xây dựngThông tư 18/2012/ TT-BVHTTDL cá nhân, tổ chức khi tham gia vào hoạt động tu bổ tôn tạo Di tích lịch sử – văn hóa, như thiết kế, thi công, giám sát, phải có chứng chỉ hành nghề liên quan đến việc tu bổ, phục hồi di tích. Đây là điều khó khăn cho Hà Tĩnh, vì đội ngũ có chứng chỉ hành nghề liên quan đến các hoạt động tu bổ, phục hồi di tích hầu như không có. Mặc dù vậy, Hà Tĩnh lại rất dồi dào đội ngũ các nghệ nhân địa phương. Họ có tay nghề giỏi về việc tạo ra các kiến trúc dân gian, điêu khắc dân gian, nhưng họ không có chứng chỉ hành nghề, thiết kế và thi công dự án tu bổ tôn tạo và phục hồi di tích. Điều này dẫn đến hai tình trạng:

Một là, những dự án do trung ương cấp vốn, trung ương sử dụng toàn bộ đội ngũ từ nơi khác đến, gây lãng phí ngân sách, vì chi phí cho một nghệ nhân từ nơi khác tới làm việc sẽ tốn kém hơn nhiều so với sử dụng lực lượng tại địa phương. Đối với các dự án cấp tỉnh quyết định, có những dự án tìm kiếm nhân sự quá lâu và khó khăn, nên tỉnh buộc phải sử dụng các nghệ nhân có tay nghề cao nhưng chưa có chứng chỉ dưới sự giám sát của một thành viên đã có chứng chỉ hành nghề. Việc sử dụng đội ngũ nghệ nhân chưa có chứng chỉ hành nghề, cũng dẫn đến những sai sót đáng tiếc khi tiến hành tu bổ, sửa chữa chùa. Do chưa thực sự hiểu rõ về Luật Di sản, nên có trường hợp đã làm mất giá trị của di sản sau khi tu bổ sửa chữa (Trường hợp chùa Bảo Lâm mà chúng tôi sẽ phân tích tại mục 3.3 dưới đây)

Để khắc phục tình trạng này, năm 2012, tỉnh đã chủ động yêu cầu BVHTTDL kết hợp với Hà Tĩnh mở lớp tập huấn cho các nghệ nhân để cấp chứng chỉ hành nghề. Nhưng lớp học kéo dài tới ba tháng nên những người tham gia học tập không theo hết được chương trình một cách nghiêm túc. Vì vậy việc cấp chứng chỉ cũng chỉ là một giải pháp có tính tình thế.

Vấn đề mâu thuẫn giữa một số luật liên quan: Chùa là nơi thờ tự của Phật giáo, nên việc quản lý các ngôi chùa cũng liên quan đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo khoản 3 điều 58 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2016, có hiệu lực vào tháng 1 năm 2018 thì việc tu bổ, phục hồi cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xếp hạng. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về xây dựng. Đây có sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật liên quan đến di sản văn hóa. Tuy nhiên, có một điểm mà chúng tôi nhận thấy có sự mâu thuẫn trong các luật liên quan đến các ngôi chùa, đồng thời là Di tích lịch sử – văn hóa đó là mâu thuẫn giữa

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và Luật Đất đai: Trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo, trong đó có Phật giáo. Khoản 4, Điều 56 đạo luật này ghi nhận việc quản lý và sử dụng đất của cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo (trong đó các cơ sở thờ tự, đồng thời là Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo) qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, Khoản 2, Điều 181 Luật Đất đai lại quy định cơ sở tôn giáo không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng, cho quyền sử dụng đất. Sự mâu thuẫn này chắc chắn sẽ làm nảy sinh những khó khăn trong việc áp dụng Luật vào xử lý, giải quyết những vấn đề cụ thể liên quan đến đất đai xây dựng của các Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề đất đai liên quan đến tôn giáo ở nhiều địa phương đang vấn đề bức xúc nhất, căng thẳng nhất và phức tạp nhất. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Thủ tục xin cấp phép sửa chữa di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo còn rườm rà: Theo quy định của Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 10/7/2013 về “Quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” đã quy định trình tự, thủ tục của việc xin phép sửa chữa, tu bổ, phục hồi di tích chỉ giao việc thẩm định hồ sơ cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thời hạn 20 ngày (đối với di tích cấp tỉnh) và Sở Văn hóa, Thể thao Du lịch gửi hồ sơ lên Cục Di sản văn hóa để thẩm định các di tích cấp quốc gia cũng trong thời hạn 20 ngày phải có ý kiến phản hồi. Nhưng qua việc phỏng vấn các chuyên gia làm việc tại Phòng quản lý di sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thì quy trình này khá rườm rà. Để có thể tiến hành khai thác, sửa chữa, chủ dự án, ngoài việc xây dựng đề án phải trực tiếp gửi đề án đến khá nhiều ban ngành như: Ban tôn giáo, Phòng quản lý di sản, Sở văn hóa, Sở xây dựng… của tỉnh. Sau đó mới trình UBND tỉnh ra quyết định đối với di tích cấp tỉnh, đối với di tích cấp quốc gia thì hồ sơ sẽ được tỉnh gửi lên xin ý kiến của Bộ VHTTDL để xin cấp phép sửa chữa, tu bổ, phục hồi.

Tuy nhiên, hiện không có văn bản nào của Sở Văn hóa Thể thao Du lịch quy định rõ việc này. Do đó, việc nghiên cứu hồ sơ tại các đơn vị liên quan thường chiếm khá nhiều thời gian. Trong khi kinh phí dùng cho việc tu tạo này là nguồn xã hội hóa. Các chủ dự án không thể chờ đợi lâu, chờ lâu quá, chủ đầu tư sẽ rút vốn. Đó là lý do vì sao một số nhà sư trụ trì cứ tiến hành sửa chữa khi chưa được cấp phép (trường hợp chùa Long Đàm là một ví dụ). Thêm vào đó, các cơ sở thờ tự là các công trình mang tính tâm linh, khi họ đã làm rồi sẽ bất tiện yêu cầu phá bỏ. Do đó, sẽ diễn ra tình trạng cơ quan quản lý phải chạy theo để giải quyết.

Một số nhà sư không muốn chùa của mình trụ trì được xếp hạng di tích: Việc tu bổ, tôn tạo di tích được quy định chặt chẽ, hướng đến việc bảo tồn tốt nhất các yếu tố gốc của di sản văn hóa Phật giáo. Trong khi đó, ngôi chùa nào được xây dựng khang trang, cảnh quan đẹp đều có nhiều tín đồ, du khách tới lễ chùa và vãn cảnh chùa, cung tiến, công đức. Vì vậy, một số nhà sư có tâm lý không muốn chùa của mình trụ trì được xếp hạng di tích. Họ có khả năng kêu gọi, xã hội hóa một nguồn tài trợ lớn để tôn tạo lại chùa, nhưng thay vì bảo tồn chùa cổ, họ lại phá chùa cổ đi (vì quy mô chùa nhỏ) để xây chùa mới, khang trang trong khuôn viên của chùa cũ. Vì thế, đã xảy ra tình trạng nhiều ngôi chùa cổ biến mất, thay vào đó là ngôi chùa mới được xây dựng hoành tráng. Những tư liệu liên quan đến giá trị văn hóa, lịch sử của ngôi chùa cổ cũng không được quan tâm sưu tầm và lưu trữ. Ví dụ như chùa Giai Lam, chùa Phổ Độ vốn là hai ngôi chùa cổ khá nổi tiếng, nay được xây lại nguy nga, nhưng không nằm trong danh sách di tích được xếp hạng.

Thiếu những văn bản quy định cụ thể, chi tiết: Mặc dù tỉnh Hà Tĩnh cũng đã ban hành một số văn bản nhằm chi tiết hóa, cụ thể hóa các văn bản của trung ương. Tuy nhiên, còn nhiều mảng hoạt động chưa có các văn bản cụ thể hướng dẫn thực hiện một cách thống nhất và đồng bộ. Cụ thể:

  • Thiếu văn bản quy định cơ chế, chính sách xã hội hóa công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo, nên khi giải quyết công việc thường tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể một cách linh hoạt, dẫn đến kết quả và yêu cầu công việc không hoàn toàn thống nhất.
  • Thiếu văn bản quy định về việc sử dụng, quản lý tiền công đức, nên hiện nay, công tác quản lý số tiền này vẫn còn nhiều bất cập: Chùa giao cho nhà sư trụ trì quản lý toàn bộ, chi tiêu lớn, báo cáo với ban quản lý di tích (chùa Diên Quang, chùa Thiên Tượng). Chùa giao cho ban quản lý di tích quản lý, khi nhà sư trụ trì chùa có yêu cầu thì làm văn bản đề nghị (chùa Bảo Lâm). Chùa quy định giao cho sư một khoản nhất định, còn lại, nhập vào ngân sách (chùa Hương Tích)… Chính vì vậy, mà không kiểm soát được việc thất thoát tiền công đức, tiền công đức không được sử dụng đúng mục đích, biến tiền công đức thành tài sản riêng của sư trụ trì… (đối với các ngôi chùa giao hoàn toàn tiền công đức cho sư trụ trì chùa quản lý). Mặt khác gây bức xúc cho một số sư trụ trì chùa khi chỉ cần chi một khoản tiền nhỏ để sửa chữa, tu bổ chùa, cũng phải chờ ý kiến phê duyệt của Ban quản lý di tích (đối với chùa giao tiền công đức cho ban quản lý di tích xã quản lý). Sư trụ trì chùa Hương Tích không bằng lòng với việc chỉ được tùy ý chi tiêu 20% tổng số tiền công đức của chùa.
  • Thiếu văn bản quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị tham gia quản lý một di sản văn hóa Phật giáo, dẫn đến tình trạng chồng chéo, giải quyết công việc mất thời gian như trường hợp chùa Hương Tích mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn tại mục 3.2. về mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh dưới đây.

Đây là những vấn đề về chính sách cần phải xem xét, giải quyết để nâng cao hiệu quả công tác quản lý di sản văn hóa Phật giáo ở Hà Tĩnh trong thời gian tới.

3.2. Phân tích mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh

Mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo chung, được biểu hiện trong sơ đồ dưới đây. Dựa trên mô hình chung này, đối với từng loại đối tượng chùa cụ thể lại có những mô hình riêng, trong đó vai trò chủ đạo của các chủ thể quản lý được xác định khác nhau. Để có thể thấy được mức độ hợp lý và hiệu quả của mô hình, chúng tôi sẽ phân tích từng bộ phận cấu thành của mô hình hệ thống đó.

3.2.1. Chủ thể quản lý

Trong mô hình quản lý hiện hành, chủ thể tham gia quản lý di sản văn hóa Phật giáo gồm: Nhà nước, Giáo hội Phật giáo và cộng đồng. Mỗi nhóm chủ thể có nhiệm vụ và vai trò riêng. Để đánh giá hiệu quả quản lý của mô hình này, sau đây chúng tôi sẽ phân tích nhiệm vụ của từng nhóm chủ thể, sự tương tác giữa các chủ thể trong quản lý.

3.2.1.1. Nhà nước Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Nhà nước trong mô hình quản lý di sản văn hóa là chủ thể quan trọng nhất.

Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định rõ

Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng chính sách quản lý di sản văn hóa bao gồm:

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tổ chức bộ máy quản lý, cung cấp nguồn lực, đào tạo nhân lực, nghiên cứu và sưu tầm các giá trị văn hóa phi vật thể, tổ chức hoạt động hợp tác quốc tế về di sản. Trong mô hình quản lý di sản chung, Nhà nước có phân cấp rõ ràng về trách nhiệm quản lý. Mục 4, điều 55 Luật Di sản văn hóa quy định rõ: Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý Nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

Như vậy đối với hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh nói chung và Di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh nói riêng, thuộc quyền hạn quản lý của UBND tỉnh Hà Tĩnh.

Trong phạm vi chức trách nhiệm vụ của mình, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã thiết lập một bộ máy quản lý di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo nói riêng gồm ba cấp:

Cấp tỉnh: Phòng Di sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan trực chuyên môn trực tiếp đảm nhận nhiệm việc quản lý, bảo tồn và phát huy di sản. Tham mưu cho Sở và UBND tỉnh về vấn đề quản lý, bảo tồn di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ, phụ trách các vấn đề quản lý Nhà nước các hoạt động tôn giáo, trong đó có các hoạt động Phật giáo ở các chùa.

Phòng quản lý di sản văn hóa của Hà Tĩnh có nhiệm vụ: Tham mưu giúp Ban Giám đốc Sở trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Hà Tĩnh; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di sản văn hóa; tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; tham mưu giúp Ban Giám đốc Sở tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa của tỉnh; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Tĩnh. Bên cạnh đó, còn đảm nhiệm thêm cả nhiều nhiệm vụ khác [PL 3, tr.211].

Tuy vậy, biên chế của phòng là năm đến sáu chỉ tiêu, hiện nay chỉ có ba người, một trưởng phòng, một phó phòng và một nhân viên. Cả ba người đều không được đào tạo đúng chuyên ngành quản lý văn hóa, hay quản lý di sản văn hóa. Một là cử nhân văn học, một là cử nhân Lịch sử, một là cử nhân Hán Nôm. Để đảm nhiệm, nhiệm vụ tham mưu và quản lý hệ thống di sản văn hóa Hà Tĩnh, một mặt, họ tích cực tham gia các lớp tập huấn của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về kỹ năng và nghiệp vụ quản lý, mặt khác, họ cũng phải tự nghiên cứu học hỏi. Qua phỏng vấn ông Nguyễn Tùng L.(Phòng quản lý Di sản văn hóa), khối lượng công việc của phòng quá nhiều, số nhân sự ít, nên cũng có một số nơi, số chỗ không thể bao quát hết được. Phòng mong muốn được bổ sung nhân lực, nhưng do hiện nay tỉnh đang chủ trương tinh giản biên chế, nên không cho phép tuyển mới, mà phải chờ điều chuyển những nhân sự từ bộ phận khác về. Việc bố trí nhân sự như vậy, chúng tôi thấy có những bất cập nhất định, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Ban Công tác Tôn giáo hiện có mười hai người, nhưng bộ phận phụ trách về Phật giáo và các tôn giáo khác (ngoài Công giáo) cũng chỉ có hai người, một trưởng và một nhân viên. Công việc của họ liên quan đến di sản văn hóa Phật giáo, bao gồm: Giám sát để đảm bảo các hoạt động tôn giáo tại các di tích đúng trong khuôn khổ của pháp luật, đảm bảo việc xây mới, trùng tu, tôn tạo, mở rộng các di tích đúng, phục vụ cho mục đích hoạt động tôn giáo.

Bên cạnh hai bộ phận trực tiếp liên quan đến di sản văn hóa Phật giáo nêu trên, các ban ngành khác, khi cần thiết cũng tham gia phối hợp, cụ thể:

  • Bảo Tàng tỉnh Hà Tĩnh: Thực hiện việc nghiên cứu để xây dựng hồ sơ di tích phục vụ cho mục đích xếp hạng di tích. Với hoàn cảnh của Hà Tĩnh thì việc giao cho Bảo tàng Hà Tĩnh tổ chức thực hiện việc nghiên cứu Hồ sơ di tích là hoàn toàn phù hợp, bởi vì, như trên đã phân tích, đội ngũ các nhà quản lý quá mỏng, không thể có đủ thời gian để nghiên cứu, sưu tầm di sản. Hơn nữa, về mặt nghiệp vụ, Bảo tàng đảm nhiệm trọng trách nghiên cứu lịch sử hình thành, mô tả, đánh giá hiên trạng di tích, sưu tầm các di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến di tích là rất phù hợp với chuyên môn của họ. Phỏng vấn hơn hai tiếng với ông Nguyễn Trí S, (bảo tàng Hà Tĩnh) ngày 15/6/2017 đã cho chúng tôi nhiều hiểu biết về di sản văn hóa Phật giáo nói riêng và di sản văn hóa ở Hà Tĩnh nói chung. Đặc biệt là những thông tin về phong trào hợp tự, về những thăng trầm mà hệ thống di sản văn hóa Hà Tĩnh đã trải qua trong lịch sử. Cách tổ chức này sẽ tận dụng được tốt nguồn nhân lực trong bộ máy quản lý di sản văn hóa của địa phương, nếu như có sự phối hợp chặt chẽ gắn bó giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Nhưng nó cũng dẫn đến tình trạng không mong muốn là các nhà quản lý, thực chất không hiểu biết nhiều về những báu vật mà họ đang có trách nhiệm quản lý và giữ gìn. Theo đánh giá của ông Nguyễn Trí S, thì sự phối hợp giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý còn lỏng lẻo. Hồ sơ di tích do bảo tàng được giao nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ cho công tác xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, hầu như cũng chỉ lưu giữ tại bảo tàng, hiếm khi các nhà quản lý có thời gian để đọc và nghiên cứu chúng.
  • Các sở ban ngành khác: Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính… đều phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến mảng hoạt động của họ trong công tác tôn tạo, trùng tu, phục hồi di tích

Cấp huyện: Tại cấp này, Phòng Văn hóa Thông tin chịu trách nhiệm quản lý chung các chùa trong địa bàn huyện; trực tiếp quản lý hai trong số bảy ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đó là chùa Hương Tích, có Ban Quản lý riêng, với biên chế bảy người. Chùa Thiên Tượng do Thị xã Hồng Lĩnh trực tiếp quản lý, nhưng không có biên chế riêng như chùa Hương Tích mà là các thành viên kiêm nhiệm.

Cấp xã: Trực tiếp quản lý số di tích còn lại, bao gồm năm di tích xếp hạng cấp quốc gia là Thiên Tượng, Chân Tiên, Yên Lạc, Tượng Sơn, Đền Bạch Vân và Chùa Thịnh Xá, 37 di tích cấp tỉnh và toàn bộ di tích chưa được xếp hạng. Mỗi xã đều có Ban quản lý di tích xã trực tiếp quản lý do Phó chủ tịch, hoặc Trưởng ban Văn hóa xã làm trưởng ban, thành viên là Trưởng thôn, Bí thư hoặc trưởng Ban hộ tự thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các di tích trên địa bàn xã. Mỗi chùa được xếp hạng đều có Ban bảo vệ. Bên cạnh đó, xã đã thành lập Ban hộ tự, hoặc Ban hộ trị để trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý di tích. Các Ban hộ tự, hoặc Ban hộ trị đều có trách nhiệm trông coi, chăm sóc chùa, tổ chức hoặc hỗ trợ tổ chức sư trụ trì (nếu có) việc thực hành các nghi lễ tại chùa. Thực hiện các sửa chữa nhỏ, báo cáo Ban quản lý di tích các hư hỏng lớn để làm thủ tục xin cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc cấp kinh phí sửa chữa. Quản lý tiền công đức và sử dụng tiền công đức theo quy chế hoạt động của chùa. Mỗi ngôi chùa đều có quy chế hoạt động rất rõ ràng [PL 3, tr.211]

3.2.1.2. Giáo hội Phật giáo Hà Tĩnh Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Với tư cách là một thành viên trong nhóm chủ thể quản lý các di sản văn hóa Phật giáo, Giáo hội Phật giáo Hà Tĩnh cũng đóng vai trò không nhỏ, trong đó chủ yếu thông qua các nhà sư trụ trì để trực tiếp trông coi, chăm sóc các ngôi chùa. Được các cấp chính quyền giao nhiệm vụ trực tiếp làm quy hoạch, đề án trong các dự án tôn tạo, xây dựng, phục dựng và xây mới các di tích lịch sử Phật giáo nếu họ là chủ đầu tư. Trực tiếp huy động các nguồn xã hội hóa để duy trì hoạt động của các chùa và tôn tạo, trung tu các chùa đó. Trực tiếp tổ chức và duy trì các hoạt động văn hóa tâm linh tại các không gian của di tích.

So với các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ, lực lượng các nhà sư trụ trì ở Hà Tĩnh còn rất mỏng. Theo con số thống kê của Ban Tôn giáo thuộc sở Nội Vụ, hiện mới có 42 nhà sư trụ trì tại các ngôi chùa trên địa bàn [PL 13, tr.265].

Bảng 4. Danh sách các nhà sư trụ trì tại các ngôi chùa đã được xếp hạng di tích 

Theo danh sách này thì chỉ có 24/44 ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh là có nhà sư trụ trì, trong đó có trường hợp ba chùa chung một nhà sư trụ trì. Số chùa còn lại, đã được xếp hạng cấp tỉnh đều không có sư trụ trì, nhưng mặt khác, có 19 ngôi chùa chưa được xếp hạng di tích cũng đã có sư trụ trì trong đó có chùa Thượng Đẳng xã Cẩm Duệ, huyện Cẩm Xuyên có tới 3 sư trụ trì vì ở Hà Tĩnh có Thiền Viện Trúc Lâm Hồng Lĩnh và chùa Thượng Đẳng có phái thiền [PL 8, tr.259]. Còn hai mươi di tích đã xếp hạng không có sư, trong đó, có một ngôi chùa thuộc di tích cấp quốc gia. Mười chín ngôi chùa đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh hiện nay cũng chưa có sư trụ trì [PL 5, tr.253].

Các nhà sư trụ trì đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, tôn tạo chùa và kêu gọi các nguồn đầu tư để xây dựng, mở rộng di tích. Khi đi khảo sát điền dã tại các huyện Hương Sơn, Can Lộc, Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh, chúng tôi nhận thấy rất nhiều chùa có nhà sư trụ trì đều khang trang và được tôn tạo, tu sửa nhiều hơn. Họ là những người có khả năng rất lớn trong việc vận động nguồn kinh phí xã hội hóa, phục vụ cho việc tôn tạo, trùng tu, sửa chữa, phục dựng và xây mới di tích.

Vai trò quan trọng của các nhà sư trụ trì là duy trì các giá trị văn hóa phi vật thể trong khối di sản văn hóa Phật giáo. Họ không chỉ làm sống lại các giá trị cơ bản nhất của những ngôi chùa là giá trị tâm linh, như những giáo lý Phật giáo, các giá trị đạo đức tốt đẹp, mà còn phối hợp cộng đồng làm sống lại các giá trị văn hóa dân gian liên quan đến chùa, như tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ nhiên thần, nhân thần, lễ hội dân gian.

3.2.1.3. Cộng đồng

Cộng đồng dân cư là nhóm chủ thể thứ ba trong mô hình quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh. Đại diện cho cộng đồng dân cư có các thành viên tham gia vào Ban quản lý di tích xã, Ban bảo vệ, Ban Hộ tự, Ban Hộ trị của những ngôi chùa làng. Đây là chủ thể trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, tu sửa các ngôi chùa chưa xếp hạng di tích và đã xếp hạng, nhưng không có nhà sư trụ trì, thực hiện các nhiệm vụ quản lý di sản cụ thể như trông coi, chăm sóc chùa, tổ chức hoặc hỗ trợ tổ chức sư trụ trì (nếu có) việc thực hành các nghi lễ tại chùa. Thực hiện các sửa chữa nhỏ, báo cáo Ban quản lý di tích xã các hư hỏng lớn để làm thủ tục xin cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc cấp kinh phí sửa chữa. Quản lý tiền công đức và sử dụng tiền công đức theo quy chế hoạt động của chùa.

3.2.2. Cơ chế phối hợp của các chủ thể trong mô hình quản lý Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Cơ chế hoạt động chung của mô hình quản lý này tuân theo quy định của Luật Di sản văn hóa, Pháp lệnh Tôn giáo tín ngưỡng, pháp luật liên quan và các văn bản của UBND tỉnh Hà Tĩnh. Cả ba nhóm chủ thể quản lý trong mô hình quản lý di sản Phật giáo Hà Tĩnh, đều chịu sự lãnh đạo, hướng dẫn của UBND tỉnh, và ủy quyền trực tiếp điều hành cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Sở Nội vụ. Trong đó cơ quan quản lý di sản cấp tỉnh chịu trách nhiệm về việc tham mưu soạn thảo các văn bản pháp quy, tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật và pháp quy về quản lý di sản. Tổ chức và giám sát các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích. Là chủ đầu tư các dự án tôn tạo, mở rộng, chống xuống cấp di tích nếu lấy nguồn từ ngân sách, hướng dẫn nghiệp vụ và giám sát hoạt động quản lý di sản cho cấp huyện. Cấp huyện quản lý chung các chùa trên địa bàn, hướng dẫn và giám sát hoạt động quản lý di tích cấp xã. Xem xét báo cáo của Giáo hội Phật giáo Hà Tĩnh về việc bổ nhiệm các sư trụ trì, tạo điều kiện để các hoạt động tôn giáo do giáo hội Phật giáo tổ chức được diễn ra an ninh, trật tự theo đúng quy định của Pháp luật.

Giáo hội Phật giáo chịu sự giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước, báo cáo với các cơ quan quản lý Nhà nước mọi hoạt động liên quan đến di tích. Đề xuất việc bổ nhiệm các sư trụ trì để cơ quan quản lý Nhà nước chuẩn y. Họ có quyền vận động kinh phí từ cộng đồng trong và ngoài nước cho việc trùng tu, bảo tồn, tôn tạo, phục dựng di tích, làm chủ đầu tư các công trình tôn tạo, mở rộng, phục dựng, xây mới các di tích nếu họ tự vận động kinh phí. Quản lý tiền công đức các chùa sư trụ trì. Tuy nhiên sư phải báo cáo các cơ quan quản lý Nhà nước khi sử dụng tiền công đức đó cho các mục đích tôn tạo, trùng tu, mở rộng lớn. Họ có quyền tự chi tiêu không dưới 20% số tiền công đức cho các hoạt động thường xuyên và tu sửa nhỏ trong di tích.

Cộng đồng dân cư đóng vai trò hỗ trợ các sư trụ trì, và Ban quản lý di tích cơ sở chịu trách nhiệm trông coi các ngôi chùa chưa có sư trụ trì, quản lý tiền công đức của các ngôi chùa này, nhưng mọi chi tiêu phải có kế hoạch trình Ban Quản lý di tích duyệt.

Xuất phát từ sự phối hợp linh hoạt này mà trên cơ sở mô hình quản lý chung hình thành ba loại mô hình quản lý cụ thể khác nhau. Đó là mô hình chủ thể Nhà nước trực tiếp quản lý. Mô hình chủ thể Nhà nước chỉ giám sát do giáo hội (sư trụ trì) chịu trách nhiệm chính. Mô hình chủ thể Nhà nước chỉ giám sát do cộng đồng tín đồ chịu trách nhiệm chính.

Mô hình chủ thể Nhà nước trực tiếp quản lý. Chùa Hương Tích (di tích cấp quốc gia) áp dụng mô hình giao cho cấp huyện quản lý. Chùa Hương Tích có một ban quản lý với biên chế riêng, đó là Ban quản lý khu du lịch chùa Hương Tích.

Tiêu biểu cho mô hình chủ thể Nhà nước giám sát, cộng đồng tín đồ chịu trách nhiệm chính có thể kể đến chùa Hang, chùa Bảo Lâm, Phúc Linh, Hạ Phúc… (di tích cấp tỉnh).

Tiêu biểu cho mô hình chủ thể quản lý Nhà nước chỉ giám sát, sư trụ trì chịu trách nhiệm chính là mô hình quản lý tại chùa Diên Quang, chùa Thiên Tượng, chùa Tượng Sơn, chùa Yên Lạc, chùa Chân Tiên…. Trong mô hình này các sư trụ trì có vai trò quan trọng, cộng đồng tín đồ chỉ đóng vai trò hỗ trợ.

3.2.3. Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý của mô hình quản lý di sản, chính là hệ thống các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo, mà chủ yếu là các chùa, tháp, thiền viện ở Hà Tĩnh. Đối tượng này có thể chia làm ba nhóm chính: Di tích xếp hạng cấp quốc gia, di tích xếp hạng cấp tỉnh và di tích chưa được xếp hạng. Các nhóm di tích này đều hàm chứa các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đáng ghi nhận, cần bảo tồn và phát huy. Hiện trạng của các đối tượng này, chúng tôi đã phân tích tại chương 2 “Di sản văn hóa Phật giáo với tư cách là đối tượng quản lý” trên đây.

3.2.4. Nhận xét, đánh giá về bộ máy quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

3.2.4.1. Thành tựu về bộ máy quản lý di sản văn hóa Phật giáo Hà Tĩnh

Đã hình thành một bộ máy đầy đủ, hoàn chỉnh từ tỉnh đến cơ sở, đảm nhiệm việc quản lý các di sản văn hóa Phật giáo trên địa bàn toàn tỉnh.

  • Về nhân sự: Đội ngũ cán bộ trong thành phần chủ thể quản lý là Nhà nước có tinh thần thái độ công tác cơ bản tốt, tích cực, nghiêm túc trong công việc, ý thức kỷ luật tốt. Các đại diện trong thành phần chủ thể là Giáo hội Phật giáo là nhà sư trụ trì có thế mạnh và có uy tín cao đối với cộng đồng dân cư, phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước và cộng đồng tốt, có năng lực quản lý, quy hoạch, kêu gọi tài trợ và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng tại di tích tốt. Chủ thể quản lý là cộng đồng, phần lớn là các bậc cao niên, am hiểu khá kỹ về lịch sử di tích (đây là chủ thể hiểu biết nhiều nhất về di tích). Khi khảo sát thực tế, chúng tôi thu thập thông tin về lịch sử ngôi chùa, các lần trùng tu, sửa chữa chỉ có các vị này là nắm vững hơn (hơn cả cán bộ quản lý Nhà nước và sư trụ trì). Họ làm với sự tự nguyện và trách nhiệm rất cao. Vì coi việc tham gia bảo vệ, quản lý, chăm sóc chùa là tích lũy công đức cho bản thân, gia đình và con cháu nên họ làm việc đó rất công tâm, nhiệt tình. Họ cư trú gần di tích, nên có thể bao quát, chăm sóc di tích thường xuyên, dễ dàng, sâu sát.
  • Về cơ chế quản lý: Cơ bản đã có quy định khá rõ ràng chức trách, nhiệm vụ của từng chủ thể trong bộ máy quản lý như đã trình bày tại mục 3.2.2 trên đây. Mỗi thành phần chủ thể đều có ý thức phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong quản lý di tích. Chủ thể quản lý Nhà nước, hoặc là trực tiếp quản lý, hoặc là chỉ giám sát, luôn tạo điều kiện cho các sư trụ trì và cộng đồng tín đồ tham gia thực hiện các nhiệm vụ nêu ở mục Cơ chế phối hợp trên đây. Các sư trụ trì, về cơ bản đã thực hiện việc báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Ban quản lý di tích. Cộng đồng tín đồ luôn tuân thủ quy định của Ban quản lý di tích và luôn hỗ trợ sư trụ trì chùa (nếu có).
  • Về mô hình quản lý: Cả ba mô hình quản lý cụ thể đều có những thành công nhất định:
  • Mô hình chủ thể quản lý Nhà nước trực tiếp quản lý: Tiêu biểu cho việc áp dụng mô hình này là chùa Hương Tích (di tích cấp quốc gia), Ban quản lý khu du lịch chùa Hương Tích hiện nay đã làm khá tốt công tác quản lý các dịch vụ du lịch tâm linh tại ngôi chùa nổi tiếng nhất Hà Tĩnh này. Đồng thời cũng làm khá tốt công tác trùng tu, tôn tạo chùa (xem mục 3.3 dưới đây).
  • Mô hình chủ thể Nhà nước chỉ giám sát do cộng đồng dân cư (chủ yếu là tín đồ) chịu trách nhiệm chính. Tiêu biểu cho sự thành công của mô hình cộng đồng dân cư chịu trách nhiệm chính có thể kể đến chùa Yên Lạc, chùa Hang. Đối với chùa Yên Lạc cộng đồng dân cư tại cơ sở (xã) thành lập ban quản lý chùa, trực thuộc ban quản lý di tích xã. Ban quản lý này chịu trách nhiệm toàn bộ việc theo dõi, chăm sóc, giữ gìn nguyên trạng di tích, phát hiện hư hỏng để báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết, khi được phép sẽ tiến hành tu bổ, sửa chữa. Ban quản lý có quyền kêu gọi đóng góp tài trợ, công đức cho việc tu bổ, bảo quản chùa.

Về việc quản lý tiền công đức cũng do ban quản lý đảm nhiệm dưới sự giám sát của Ban quản lý di tích xã và các đoàn thể địa phương. Tiền công được phép dùng cho các mục đích cụ thể sau đây: Chi xây dựng, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; tổ chức các hoạt động lễ hội, quản lý, tôn tạo di tích; chi các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức quyên góp, cúng tiến, tiếp nhận, quản lý tiền công đức; chi hỗ trợ mức sống bình thường đối với sư trụ trì (hiện chưa có); chi hỗ trợ cho ban quản lý, bảo vệ và phục vụ nghi lễ. Mọi hoạt động của Ban quản lý này có quy chế được quy định rõ trong quy chế “Quản lý và tổ chức hoạt động tại

Chùa Yên Lạc, xã Cẩm Nhượng, do UBND huyện Cẩm Xuyên ban hành năm 2014”. Hiện nay mô hình này hoạt động khá hiệu quả, cảnh quan chùa được gìn giữ sạch đẹp, hoạt động nghi lễ được tiến hành trật tự, nghiêm trang. Việc tu bổ, bảo quản chùa được làm hiệu quả, giữ gìn được nguyên trạng của chùa cổ. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí huy động được hạn hẹp, nên các công trình phụ trợ không được cải thiện nhiều. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Mô hình chủ thể Nhà nước chủ yếu giám sát (chùa Hang): Theo mô hình này, mỗi chùa có một thủ từ mà cộng đồng tín đồ gọi là Thầy, không phải nhà sư. Tuy nhiên, những thủ từ dạng này đã tạo ra cả một bộ máy giúp việc quản lý ngôi chùa rất hiệu quả. Ban quản lý của chùa được chia thành các tiểu ban như: Tiểu ban xây dựng, tiểu ban lễ tân, tiểu ban tài chính, tiểu ban hậu cần… Các thành viên trong các tiểu ban đều là các tín đồ và hoạt động có tính công ích. Họ làm việc thiện nguyện rất tích cực dưới sự chỉ đạo của Thầy. Ban quản lý di tích xã chỉ giám sát. Chính vì vậy mà từ một ngôi chùa nhỏ nằm trong một cái hang có diện tích không quá 30m2, hiện nay chùa Hang đã là một khu du lịch được quy hoạch rất đẹp trên diện tích vài hecta, nằm trong một môi trường sinh thái trong lành. Hàng năm thu hút hàng ngàn người thập phương đến thăm quan, chữa bệnh và làm công đức. Điều đáng lưu ý là chùa cổ (nằm trong hang) vẫn được giữ nguyên. Một điểm đặc biệt và là hạt nhân thu hút khách thập phương đến đây chính là khả năng chữa bệnh của Thầy trụ trì. Thầy và một số đệ tử đã chữa bệnh bằng phương pháp truyền năng lượng vũ trụ. Phương pháp này đã được Viện Nghiên cứu tiềm năng con người thẩm định và Nhà nước cho phép. Rất nhiều người mắc bệnh đã chữa khỏi tại chùa này. Do đó, hàng ngày có nhiều khách thập phương đến trị bệnh. Tùy theo bệnh nhẹ hay nặng, hàng ngày họ tham gia vào việc quét dọn, chăm sóc cây cảnh, tham gia vào các đội xây dựng chùa. Tín đồ địa phương cũng coi việc lên chùa làm việc mỗi tuần vài ngày là việc tích đức cho con cháu và gia đình. Đội quân tình nguyện làm việc tại chùa mỗi ngày có vài chục người. Họ được ban hậu cần phục vụ bữa ăn trưa chu đáo tại chùa. Toàn bộ nguồn kinh phí để mở rộng, tôn tạo chùa đều từ nguồn xã hội hóa.

Mô hình giáo hội (Sư trụ trì) phối hợp với cộng đồng tín đồ trực tiếp quản lý. Tiêu biểu cho sự áp dụng thành công mô hình quản lý này là mô hình quản lý tại chùa Diên Quang (di tích cấp quốc gia). Trong mô hình này, các sư trụ trì có vai trò quan trọng, cộng đồng tín đồ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Sư trụ trì chùa đã có một bộ máy hỗ trợ rất đắc lực từ cộng đồng, nên việc chăm sóc, bảo quản, tu bổ chùa làm khá tốt. Chùa cũng huy động được một nguồn kinh phí không nhỏ cho việc tôn tạo, bảo quản, tu bổ chùa, nhờ đó chùa cổ hiện còn giữ gìn được nguyên trạng. Sư trụ trì chùa Thiên tượng, đồng thời còn trụ trì cả hai chùa nữa là Long Đàm và Đà Liễu. Ông có thế mạnh kêu gọi được nguồn kinh phí xã hội hóa tốt, có tầm chiến lược về sử dụng di tích cho phát triển du lịch. Vì vậy, thay vì đầu tư vào các công trình xây dựng trong khuôn viên chùa, ông đầu tư vào việc làm đường xá để tín đồ khách thập phương dễ dàng tới thăm ngôi chùa trên núi cao, cảnh quan rất đẹp. Các sư trụ trì ở một số chùa khác có vai trò rất lớn trong việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa cho việc tôn tạo, tu bổ, phục hồi chùa (chùa Phổ Độ, Giai Lam, Thanh Lương).

3.2.4.2. Những hạn chế về bộ máy quản lý di sản văn hóa Phật giáo hiện nay trên địa bàn Hà Tĩnh

Về nhân sự:

Nhân sự trong thành phần là chủ thể quản lý Nhà nước mỏng và không đúng chuyên ngành đào tạo, kiến thức về quản lý đều chỉ mới được bổ túc, các hiểu biết về di sản chưa sâu sắc. Phải kiêm nhiệm nhiều mảng công việc khác nhau. Hiện nay, về thực chất trực tiếp thực hiện trách nhiệm quản lý các di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo, chủ yếu đặt lên vai cấp cấp xã. Trong khi đó, cấp xã, quyền hạn và năng lực đều hạn chế. Phối hợp giữa nhà nghiên cứu và nhà quản lý nhiều khi còn chưa chặt chẽ, đồng bộ và ăn ý. Không có nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, học hỏi để hiểu sâu sắc về hệ thống di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Có thể nói, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý di sản văn hóa của tỉnh hiện đang còn thiếu và yếu. Việc phải kiêm nhiều việc, không được đào tạo chuyên sâu về quản lý di sản, khiến họ làm việc còn thụ động, lúng túng. Chính vì vậy mà bộ máy quản lý còn chưa thực sự phát huy được vai trò của mình. Tình trạng cán bộ địa phương không nắm vững số lượng di tích trên địa bàn quản lý, không hiểu biết về lai lịch và giá trị thực sự hàm chứa trong các ngôi chùa mình quản lý khá phổ biến. Điều này ảnh hưởng tiêu cực lớn đến việc tư vấn cho cấp trên các giải pháp để quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các ngôi chùa trong phạm vi quản lý của họ.

  • Đội ngũ nhà sư trụ trì còn quá mỏng, mới có 42 vị sư trụ trì trên tổng số gần 200 ngôi chùa hoạt động (theo thống kê chính thức năm 2015). Các nhà sư hầu hết đều được chuyển từ các tỉnh khác tới, chưa thật sự am hiểu về phong tục, tập quán và văn hóa địa phương. Phần lớn các nhà sư chưa hiểu biết rõ về lai lịch của ngôi chùa họ trụ trì, vì thời gian họ trụ trì chưa nhiều.
  • Chủ thể quản lý đại diện cho cộng đồng không được trang bị kiến thức về quản lý vĩ mô, không am hiểu về quy hoạch; không am hiểu về các thủ tục hành chính; làm việc chủ yếu chỉ theo kinh nghiệm, nên thiếu những kiến thức cơ bản về bảo tồn di sản.
  • Về cơ chế hoạt động còn khá “linh hoạt”, chưa có một cơ chế thống nhất và chặt chẽ. Chẳng hạn, đối với di tích cấp quốc gia, chùa thì giao cho cấp huyện quản lý (Chùa Hương Tích), chùa giao cho cấp xã quản lý (Chân Tiên, Yên lạc, Diên Quang, Tượng Sơn). Việc bổ nhiệm các sư về trụ trì cũng hoàn toàn tôn trọng thậm chí phụ thuộc vào sự đề xuất của Giáo hội Phật giáo, chưa chủ động đề xuất để Giáo hội Phật giáo tìm nhân sự, dẫn đến tình trạng nhiều ngôi chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia (01 chùa), di tích cấp tỉnh (19 chùa) vẫn chưa có sư trụ trì. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý di sản. Việc quản lý tiền công đức cũng chưa có quy định chặt chẽ, thống nhất cho mọi chùa, có chùa do Ban quản lý di tích quản lý công đức, có chùa lại do sư trụ trì quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh
  • Về mô hình quản lý: Cả ba mô hình quản lý nêu trên, khi vận dụng cụ thể ở nhiều chùa đều có những bất cập:
  • Ở mô hình chủ thể Nhà nước trực tiếp quản lý tại chùa Hương Tích, đang có sự chồng chéo trong việc phân định trách nhiệm quản lý đối với di sản. Hiện nay, có bảy đơn vị tham gia quản lý chùa Hương Tích gồm: Ban Quản lý (BQL) Khu du lịch chùa Hương Tích, BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh, xã Thiên Lộc, xã Thuần Thiện, Ban đại diện Phật giáo (nhà sư trụ trì) và Công ty CP Đầu tư phát triển du lịch Hồng Lĩnh (cáp treo). Việc quản lý này có nhiều điểm chồng chéo, gây khó khăn cho việc đưa ra các quyết định quản lý. Ví dụ, BQL Khu du lịch chùa Hương không thể xử lý vi phạm về vệ sinh môi trường, mất trật tự an ninh khi các đối tượng nhận chăm sóc, bảo vệ rừng thường lấn chiếm hành lang, dựng hàng quán buôn bán gây ra. Bởi vì họ làm trên đất rừng do BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh giao, không thuộc phạm vi quản lý của BQL Khu du lịch chùa Hương. Khi ra các quyết định về điều chỉnh đường xá, cảnh quan của Khu du lịch chùa Hương đều khó khăn, vì các hoạt động này diễn ra trong diện tích rừng do BQL Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh quản lý, và diện tích mặt nước hồ Nhà Đường do công ty Thủy nông quản.
  • Mô hình chủ thể Nhà nước giám sát với sư trụ trì đóng vai trò chủ đạo:

Tại một số chùa cũng có nhiều bất cập, ví dụ chùa Thiên Tượng, chùa Long Đàm, chùa Hạ Phúc… Những ngôi chùa này, các sư trụ trì chưa thực sự quan tâm đến việc bảo tồn tính nguyên trạng của di tích, một phần vì do chưa hiểu rõ về Luật Di sản văn hóa, về lịch sử của chùa, một phần vì chỉ mong muốn xây dựng chùa thật khang trang để thu hút tín đồ và khách du lịch tới thăm quan. Vì vậy, trong công tác quy hoạch, tu bổ chùa, các sư chưa làm đúng nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng vành đai 1, việc xây mới các công trình làm khá tùy tiện mà chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở mục 3.3 dưới đây. Các chùa chưa xếp hạng, các sư vận động được kinh phí, thậm chí còn xây mới hoàn toàn, không lưu lại bất cứ dấu vết gì của ngôi chùa cổ (Giai Lam, Phổ Độ, Thanh Lương).

Mô hình chủ thể Nhà nước giám sát với vai trò quản lý trực tiếp chính là cộng đồng tín đồ: Nhiều chùa áp dụng mô hình này cũng nảy sinh nhiều bất cập.

Chùa không có kinh phí để tôn tạo, tu bổ, dẫn đến tình trạng hư hại, xuống cấp nặng. Một số chùa phục hồi trên thực tế là xây mới hoàn toàn, không quan tâm đến việc lưu giữ dấu tích lịch sử của chùa cổ. Một số chùa xây lại theo phong cách tùy tiện, tạm bợ mà chúng tôi sẽ phân tích kỹ ở mục 3.3 dưới đây.

Nguyên nhân cơ bản tạo nên hiệu quả của các mô hình quản lý

Như trên đã phân tích, cả ba mô hình đều có những thành tựu đáng ghi nhận, và có những bất cập cần xem xét. Nguyên nhân chính là ở năng lực của các chủ thể quản lý. Bất cứ mô hình nào, nếu chủ thể quản lý có kiến thức, hiểu biết về di sản, có khả năng tổ chức, vận động tài trợ, gương mẫu, có uy tín, có khả năng phối hợp với các chủ thể quản lý khác tốt thì đều thành công. Mô hình quản lý của chùa Diên Quang (với vai trò của Sư trụ trì là chính), chùa Hang, chùa Yên Lạc (với vai trò của cộng đồng là chính) cho thấy rõ điều này. Ở một số chùa khác, vận dụng mô hình này thì đều có những bất cập vì: Chủ thể Nhà nước giám sát, không sát sao, không hiệu quả. Những chùa có sư trụ trì, nếu có khả năng vận động kinh phí, huy động cộng đồng tham gia lao động công đức, nhưng lại không am hiểu về di sản (như chùa Giai Lam, chùa Phổ Độ, chùa Long Đàm) thì dẫn đến làm mất di sản hoặc mất giá trị di sản. Chùa không có sư trụ trì thì không có kinh phí bảo tồn, tu bổ di sản (Chùa Bảo Lâm), hoặc không am hiểu về di sản, dẫn đến tình trạng tu bổ chùa làm mất nhiều giá trị của di sản (chùa Hạ Phúc, chùa Bảo lâm…).

Để thấy rõ hơn hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý này, dưới đây sẽ phân tích các thành tựu và hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa Phật giáo.

3.3. Thành quả và hạn chế của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

3.3.1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể

3.3.1.1. Thành quả

Tuy chưa có một cuộc khảo sát mang tính chuyên đề, riêng biệt nào về các di tích văn hóa Phật giáo, nhưng công tác này, trên thực tế đã được tỉnh Hà Tĩnh tiến hành trong dự án khảo sát di sản chung trong toàn tỉnh. Kể từ năm 2001, khi có Luật Di sản văn hóa ra đời, Phòng văn hóa thông tin các huyện đều có báo cáo về tình hình điều tra, khảo sát di sản văn hóa trên địa bàn của mình. Năm 2015, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 148/KH-SVHTTDL ngày 17/9/2015 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổng kiểm kê di tích và điều tra lễ hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2015. Các loại hình di sản văn hóa như truyền thuyết, thần tích… chưa được quan tâm. Bảng thống kê tổng hợp di tích được sắp xếp theo huyện, trong mỗi huyện đều ghi rõ từng loại hình di tích, vì vậy chúng tôi có thể dễ dàng căn cứ vào bản tổng hợp này để nghiên cứu số lượng các di tích văn hóa Phật giáo. Theo báo cáo tổng hợp của cuộc tổng kiểm kê này thì có 7 ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia, 37 ngôi chùa xếp hạng di tích cấp tỉnh và 159 ngôi chùa chưa xếp hạng di tích. Tuy nhiên, phần thống kê về lễ hội, theo địa danh xã phường, nơi tổ chức lễ hội, nên chúng tôi không thể thống kê được số lễ hội chùa hiện nay là bao nhiêu. Việc lập bảng thống kê chưa thực sự khoa học cho thấy, các cán bộ làm công tác này chưa thực sự am hiểu quy trình và kỹ năng thống kê di sản.

So sánh kết quả của cuộc tổng điều tra năm 2015, với danh mục Chùa cổ ở Hà Tĩnh của Thái Kim Đỉnh [PL 1, tr.174], ta thấy vẫn còn trên 200 ngôi chùa cổ còn chưa có mặt trong danh mục thống kê. Điều này cho thấy: 1/Công tác tổng điều tra, khảo sát vẫn còn hạn chế về nhân lực và kinh phí, nên còn nhiều di tích, trong đó có các ngôi chùa chưa được thống kê. 2/Hiện trạng của những di tích này đang ở dạng xuống cấp nghiêm trọng, hoặc đã mất hoàn toàn, nên cán bộ điều tra không đưa vào danh mục thống kê.

Tuy nhiên, phải ghi nhận rằng, Hà Tĩnh là một tỉnh quan tâm đến công tác tổng kiểm kê sớm hơn nhiều tỉnh khác của vùng Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ. Kết quả điều tra sẽ là cơ sở quan trọng để tiến hành các bước tiếp theo một cách có hệ thống trong công tác quản lý di sản văn hóa.

Để phục vụ công tác trùng tu, tôn tạo những di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo, liên tục từ năm 2009 đến năm 2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Lộc Hà, Hồng Lĩnh tham mưu UBND tỉnh ban hành các Quyết định về Phê duyệt các đề án Quy hoạch tổng thể những ngôi chùa được xếp hạng cấp quốc gia, như chùa Yên Lạc, chùa Hương Tích, chùa Thiên tượng, chùa Diên Quang (Am), chùa Chân Tiên, chùa Tượng Sơn. Các đề án này đã góp phần quan trọng trong việc quản lý, bảo tồn và khai thác các di tích nêu trên.

Từ năm 2014 đến nay, nhiều chùa được xếp hạng di tích cấp tỉnh cũng đã có quy hoạch tổng thể được phê duyệt, như chùa Long Đàm, Đà Liễu, chùa Hang, chùa Đá, chùa Hạ Phúc

Nhiều chùa chưa được xếp hạng di tích, nhưng do các nhà sư vận động được kinh phí, nên tỉnh cũng đã cho phép họ lập quy hoạch tổng thể, và phê duyệt các quy hoạch đó, như chùa Đại Hùng, chùa Phổ Độ, chùa Giai Lam, chùa Thanh Lương,… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý các di tích lịch sử văn hóa Phật giáo và danh thắng trên địa bàn thời gian tới đạt kết quả tốt.

Thành tựu trong nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di tích

Song song với việc điều tra, thống kê, kể từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời, Bảo tàng Hà Tĩnh đã được giao nhiệm vụ tổ chức và thực hiện công tác nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học và xếp hạng di tích cho các ngôi chùa. Việc khảo sát, thống kê và lập hồ sơ khoa học các di tích có ý nghĩa quan trọng cho việc hoạch định chiến lược tổng thể để bảo tồn, khai thác giá trị của di tích. Hồ sơ khoa học là căn cứ khách quan, vững chắc để duy tu, bảo dưỡng, tôn tạo di tích, đảm bảo sự tôn trọng tinh chân thực lịch sử, tính nguyên dạng của di tích. Hiện nay, đã có 44 ngôi chùa được lập hồ sơ di tích, và xếp hạng di tích. Trong đó có 7 ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia vì giá trị và tầm quan trọng của chúng. 37 ngôi chùa xếp hạng di tích cấp tỉnh [PL 7, tr.257].

Thành tựu trong công tác bảo quản, tu bổ di tích

Với nhu cầu phục hưng Phật giáo, kể từ khi Luật Di sản Văn hóa ra đời (năm 2001) đến nay, công tác phục dựng, trùng tu, tôn tạo lại chùa được tiến hành liên tục ở khắp các huyện trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu của người dân, cần có một không gian thiêng để biểu thị niềm tin tôn giáo của mình. Với con số ban đầu chỉ có vài ba ngôi chùa còn hoạt động, tính đến năm 2016, đã có trên 105 ngôi chùa hương khói hàng ngày. Có những ngôi chùa, từ một phế tích, đã trở thành trung tâm sinh hoạt Phật giáo của một huyện. Nhiều ngôi chùa đã được trùng tu, sửa chữa, nhiều người dân đã tự nguyện mang trả lại đồ thờ bấy lâu cất giữ trong nhà, nhiều người đã trả lại ruộng chùa, hoặc dân góp tiền mua lại ruộng chùa. Xin điểm qua một số thành tựu chính trong lĩnh vực này.

Một trong những ngôi chùa được quan tâm đầu tư nhiều nhất là chùa Hương Tích. Khi được xếp hạng di tích cấp quốc gia, tỉnh đầu tư 10 tỷ để duy tu, tôn tạo chùa. Hàng năm, Huyện Can Lộc dành chừng 3 tỷ để chống xuống cấp, đầu tư cho việc sửa chữa những hư hỏng tại khu di tích, làm đường nội bộ, ghép đá trên các bậc lên chùa. Bên cạnh, đó nguồn vốn đầu tư huy động từ xã hội hóa cũng rất lớn. Năm 2003, ông Nguyễn Xuân Ninh, đầu tư sửa chữa, trùng tu nhà tiền đường, lát toàn bộ đá đường lên chùa, ước chừng kinh phí là 1 tỷ. Năm 2004, ông Phạm Nhật Vũ, đầu tư khoảng 1 tỷ để trùng tu khu nhà mẫu và nhà tổ. Hiện nay, ông Phạm Nhật Vũ lại tiếp tục đầu tư khoảng 30 tỷ để xây một quần thể mới phía trên núi sau chùa, tại nền Trang vương xưa. Dự tính quần thể mới này cũng gồm các chùa và tháp. Để cải thiện đường lên Chùa, Công Ty du lịch Cáp treo Hồng Lĩnh đã đầu tư 120 tỷ để xây dựng cáp treo từ chân núi lên chùa. Tuy nhiên, quãng đường từ phía ngoài vào chân cáp treo khoảng 5km đường rừng, vẫn rất khó đi, mùa lễ hội, vẫn gây ùn tắc.

Để cải thiện hạ tầng du lịch và môi trường, Hà Tĩnh đã kêu gọi đầu tư. Dự án Ngân Hàng ADB với tổng giá trị khoảng 6,7 triệu đô la đã chuẩn bị thực hiện. Năm 2014, đã tiến hành khảo sát triển khai. Tháng 5/2017 đã triển khai thực hiện.

Hàng năm, số lượng du khách và phật tử tới hành hương và tham quan du lịch rất đông, đặc biệt là vào ba tháng đầu năm mùa lễ hội. Theo số liệu của Ban Quản lý di tích cung cấp, thì hàng năm, có khoảng 20 ngàn khách tới, huyện thu 3 tỷ đồng tiền vé, tiền công đức vào khoảng 4-5 tỷ.

Chùa Thiên Tượng: Sau khi được xếp hạng di tích vào năm 2004, tỉnh đã đầu tư ngân sách từ chương trình mục tiêu quốc gia là 10 tỷ, hàng năm cũng duy trì mức đầu tư khoảng 1 tỷ để chống xuống cấp. Bên cạnh việc huy động ngân sách của tỉnh, nguồn kinh phí xã hội hóa dành cho việc duy tu, tôn tạo ngôi chùa này khá lớn. Năm 2009-2011, tỉnh đã huy động được nguồn vốn xã hội hóa khoảng 5 tỷ cho việc sửa chữa các hư hỏng trong đại điện, tu bổ, tôn tạo lại cổng tam quan, hạ điện, thượng điện, nhà thờ Tổ sư Đạt Ma, nhà tăng và một số hạng mục khác. Năm 2012 – 2013, tỉnh tiếp tục huy động được 4 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa để tôn tạo khuôn viên rộng khoảng 150.000m2, lát thêm đá cho đường lên chùa, trùng tu hai ngôi tháp là Thạch sơn tháp và Lưu đức Tháp. Riêng nguồn thu từ công đức hàng năm cũng được khoảng 1 tỷ để chi cho việc bảo tồn, tôn tạo chùa. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Chùa Tượng Sơn: Hà Tĩnh đã có chính sách rất linh hoạt để tận dụng được một nguồn đầu tư lớn cho việc bảo tồn, tôn tạo ngôi chùa này. Năm 2006, Bộ Y tế đã đầu tư 25 tỷ đồng để tu bổ và xây dựng lại uy nghi, hoành tráng, bao gồm: Tượng đài Lê Hữu Trác, khu mộ, khu di tích vườn thuốc cổ, nhà xe, nhà đón tiếp, đại điện chùa Tượng sơn và một số hạng mục khác trong chùa. Chùa trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể khu di tích tưởng niệm danh Y Lê Hữu Trác.

Bên cạnh những ngôi chùa được đầu tư lớn nêu trên, tỉnh cũng đã đầu tư ngân sách chống xuống cấp nhiều ngôi chùa khác, đồng thời huy động nguồn vốn xã hội hóa để duy tu, bảo tồn các ngôi chùa. Bảng thống kê ở phụ lục số 7 sẽ cho ta thấy rõ tình hình tu bổ, bảo tồn và tôn tạo các Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo trong những năm gần đây.

Với số liệu của Bảng thống kê này, chúng ta thấy, từ năm 1998 đến năm 2014, 24 ngôi chùa lớn nhỏ được đầu tư sửa chữa, tôn tạo. Số kinh phí đầu tư, tu bổ, tôn tạo chùa tại Hà Tĩnh tương đối lớn 438,484,000,000đ, trong đó, nguồn ngân sách 53,454,000,000đ, nguồn xã hội hóa 385,030,000,000đ, cao gấp gần 7 lần nguồn ngân sách. Như vây, bên cạnh những ngôi chùa đã được đầu tư kinh phí từ ngân sách và các nguồn xã hội hóa để bảo tồn, duy tu, tôn tạo, nhiều ngôi chùa khác hiện đang được Tỉnh quan tâm, lập hồ sơ khoa học, để có căn cứ đầu tư chống xuống cấp. Đó là các chùa Kim Dung, Xuân Đài, Long Hội, Triều Xuân ở huyện Lộc Hà, chùa Long Đàm, chùa Đại Hùng ở thị xã Hồng Lĩnh, Chùa Côn Sơn, Chùa Nhiễu Long ở Hương Sơn, chùa Pháp Hải ở Cẩm Xuyên.

Thành tựu trong công tác phục hồi các di tích hoang phế

Như trên đã đề cập, bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, nhu cầu của cộng đồng là phải có một không gian thiêng để thờ Phật trở nên rất cấp bách. Chính vì vậy mà tùy vào năng lực tài chính của từng địa phương, trên nền những ngôi chùa hoang phế đã lần lượt mọc lên những ngôi chùa mới quy mô to nhỏ khác nhau. Có những ngôi chùa đầu tư vài chục tỷ đồng, có những ngôi chùa chỉ vài trăm triệu đồng. Những ngôi chùa phục dựng có quy mô lớn nhất phải kể đến là: Chùa Thanh Lương (Lộc Hà) phục dựng năm 2008, với sự tài trợ của Phạm Nhật Vượng, và Phạm Nhật Vũ, pháp danh Từ Vân, hậu duệ của sư tổ khai lập chùa Thanh Quang, tổng kinh phí là 48 tỷ. Chùa Giai Lam (Thạch Hà): Năm 2010 – 2012, chùa đã được quy hoạch cho tổng diện tích là 3 hecta. Năm 2012, chính thức làm lễ khởi công phục dựng lại chùa, với tổng kinh phí 50 tỷ đồng hoàn toàn từ nguồn xã hội hóa. Chùa Phổ Độ (Phổ Hộ), huyện Lộc Hà đang phục dựng lại theo quy hoạch tổng thể trên diện tích 29 hecta. Công trình được chính sư thầy Đại đức Thích Hạnh Minh thiết kế, rộng tới 1000m2, đang được thi công. Toàn bộ công trình sau khi hoàn thiện ước tính vào khoảng 50 tỷ từ nguồn xã hội hóa.

Ngoài những ngôi chùa phục dựng lại với quy mô lớn nêu trên còn một số ngôi chùa phục dựng lại với quy mô nhỏ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân. Bảng thống kê tại phụ lục số 10 cho thấy tình hình cụ thể đó.

Việc phục dựng lại các ngôi chùa cổ bị hoang phế, chủ yếu được tiến hành trong vòng 10 năm trở lại đây, khi phong trào phục hưng Phật giáo đạt được nhiều kết quả quan trọng, Giáo Hội Phật giáo Hà Tĩnh đã được thành lập, nhiều nhà sư đã được bổ nhiệm về trụ trì các ngôi chùa, và điều quan trọng là tích lũy tài chính đã đạt được ở mức độ cho phép. Một điều dễ nhận thấy là kinh phí dùng cho việc phục dựng lại các ngôi chùa chủ yếu là nguồn xã hội hóa. Điều này cho thấy nhân dân tâm huyết với việc bảo tồn gìn giữ các giá trị di sản văn hóa Phật giáo biết nhường nào. Những ngôi chùa được phục dựng với nguồn kinh phí lớn đều có quy hoạch tổng thể tốt, kết hợp mục đích bảo tồn, hoằng dương Phật giáo với các mục đích phát triển kinh tế xã hội. Cảnh quan đẹp, nhờ sự phối hợp giữa công trình kiến trúc với vườn cây, hồ nước và cảnh quan tự nhiên.

Theo kinh nghiệm của các nhà quản lý văn hóa, thì chỉ những ngôi chùa có sư trụ trì mới có thể huy động được nhiều kinh phí từ cộng đồng cho việc phục dựng các ngôi chùa. Tỉnh cũng đã có chính sách linh hoạt để tận dụng tối đa nguồn tài chính quý giá này. Đối với các dự án xây dựng bình thường, phía chủ đầu tư phải có quy hoạch, có nguồn vốn pháp định tối thiểu là bao nhiêu mới được cấp phép thực hiện, nhưng đối với các chùa, thì quy trình hơi ngược, phải được phép xây dựng rồi mới huy động sự đóng góp của cộng đồng, vậy mà họ đều làm thành công, chùa Phổ Độ, chùa Giai Lam là một minh chứng sinh động. Sư trụ trì huy động kinh phí cho từng hạng mục công trình. Mỗi hạng mục đều niêm yết bảng những chi phí cần thiết, để bà con và các nhà hảo tâm thập phương đóng góp [PL 2, tr.201]. Bằng cách ấy các sư huy động được hàng chục ngàn tỷ đồng. cả chùa Giai Lam và chùa Phổ Độ đều đang huy động kinh phí xây dựng rộng tới 1000m2. Khi chúng tôi tới khảo sát, cả hai công trình đều đang ở giai đoạn hoàn thiện.

3.3.1.2. Hạn chế, tồn tại Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Hạn chế, tồn tại trong điều tra, quy hoạch

  • Hà Tĩnh hiện chưa xây dựng được quy hoạch tổng thể hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh. Đây là một bất cập lớn trong công tác quản lý di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng.
  • Chất lượng quy hoạch tổng thể của các ngôi chùa không phải đều đảm bảo tính khoa học, tôn trọng các giá trị gốc. Một số chùa quy hoạch còn thiếu tính hệ thống và tổng thể, khiến cho việc xây dựng, sửa chữa, tôn tạo di tích có những cái chưa đạt yêu cầu.

Ví dụ: chùa Long Đàm. Long Đàm là chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia, nằm lưng chừng ngọn núi Thiên Tượng. Cảnh quan của chùa đẹp. Trong quy hoạch tổng thể đã không tính toán kỹ không gian bố trí các hạng mục công trình cho hợp với địa hình núi dốc, nên khi nhà đại điện được xây mới, ngay trước mặt chùa cũ, đã xây mái chạm vào sát bậc thang lên, bịt kín lối lên chùa cũ. Điều này làm cho tổng thể kiến trúc ngôi chùa bị cắt đoạn, thiếu độ thông thoáng. Khách thập phương và phật tử muốn lên thắp hương bàn thờ Tam bảo ở chùa cũ phải đi vòng sang bên cạnh, vì các bậc đá ở lối đi thẳng đã bị mái của đại điện mới bịt kín.

Trong quy hoạch tổng thể Chùa Hạ Phúc (Hương Khê), thì làm đường cắt qua khuôn viên, tách ao chùa ra khỏi khuôn viên chùa làm hẹp đáng kể diện tích ngôi chùa và không quan tâm gì đến phong thủy. Chùa Bụt Sơn (Nghi Xuân), khi bảo tồn, tôn tạo lại chùa, đã tùy tiện đổi hướng ngôi chùa khi mở rộng. Chùa Đà Liễu (Nghi Xuân) khi làm nhà xung quanh, lại làm nền cao hơn chùa, điều tối kị trong việc tôn tạo và bảo tồn cảnh quan cho các công trình cổ.

Số lượng chùa chưa được xếp hạng di tích còn rất lớn: Theo kết quả cuộc tổng điều tra, toàn tỉnh có 159 ngôi chùa chưa xếp hạng di tích, phân bố cụ thể ở

Bảng thống kê tại phụ lục số 11 [PL 10, tr.262].

Theo bảng thống kê đó, ta thấy các huyện Lộc Hà, Thạch Hà, Nghi Xuân, Cẩm Xuyên là những huyện còn nhiều chùa chưa xếp hạng nhất. Riêng thành phố Hà Tĩnh, việc khảo sát, thống kê và lập hồ sơ di tích làm tốt nhất trong cả tỉnh, không còn ngôi chùa nào là chưa có hồ sơ khoa học và xếp hạng. Việc chưa xếp hạng di tích có một số nguyên nhân: Do việc nghiên cứu khảo sát, lập hồ sơ khoa học chưa làm tốt, do chùa có quy mô nhỏ, do chùa có hiện trạng bị hoang hóa, hư hỏng quá nặng. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Hạn chế về nghiên cứu lập hồ sơ khoa học

  • Chất lượng lập hồ sơ khoa học cho các ngôi chùa đã được xếp hạng, và đang đề nghị xếp hạng, chưa đồng đều. Nhìn chung, các hồ sơ này đều được thực hiện theo mẫu đã quy định, gồm đầy đủ các mục, như tên Nôm, tên Hán tự, địa điểm phân bố, đường tới di tích, mô tả hiện trạng, lịch sử và nhân vật. Tuy nhiên, chất lượng thông tin nội dung của những bộ hồ sơ này không đồng nhất. Có những bộ hồ sơ đã mô tả chi tiết, cụ thể những đặc điểm công trình kiến trúc, hệ thống tượng thờ, lịch sử hình thành, sưu tầm thần tích, truyền thuyết như: Hồ sơ chùa Diên Quang, chùa Hương Tích, chùa Thiên Tượng, chùa Chân Tiên…,còn có hồ sơ khoa học lập nội dung khá sơ sài, nhất là phần lịch sử ra đời, quá trình trùng tu, các đồ thờ cúng… Có thể nhận thấy, phần lớn thông tin đưa vào hồ sơ di tích, chủ yếu là chọn lọc, tổng hợp từ các nguồn tin đã công bố. Những thông tin do tác giả tự khảo sát thực địa, sưu tầm trong dân gian chưa thực sự được quan tâm. Đó là một điều đáng tiếc. Nguyên nhân một phần cũng do trình độ nghiên cứu, khảo sát của tác giả lập hồ sơ chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế.
  • Số lượng những ngôi chùa chưa được nghiên cứu, khảo sát và lập hồ sơ khoa học còn khá lớn, công việc này trước mắt cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa.

Hạn chế trong công tác sửa chữa, tôn tạo di tích

  • Việc tôn tạo, sửa chữa làm khá tùy tiện. Chẳng hạn chùa Bảo Lâm ở Hương Khê, khi tu sửa lại các pho tượng (10 pho Thập điện Diêm vương) bị bong tróc, do dùng loại sơn bóng hiện đại, sơn một cách tùy tiện lên tất cả bề ngoài của những pho tượng, làm cho các pho tượng này mất hết cả những nét độc đáo vốn có của tác phẩm nghệ thuật thế kỷ 17. Theo ông Bùi Đình Ch, 56 tuổi, hiện là người chịu trách nhiệm chính trong Ban hộ tự của chùa, thì trước đây những bức tượng này rất có thần thái, mỗi bức mỗi vẻ. Người nghệ nhân xưa đã khắc họa cho mỗi bức tượng một thần thái riêng, thể hiện rõ nhất ở ánh mắt. Nhưng giờ đây, do lớp sơn bóng phủ hết lên toàn bộ bề ngoài pho tượng (kể cả mắt) nên các pho tượng này không còn thần thái như xưa. Cũng ở ngôi chùa này, tùy tiện làm thêm một mái tôn trước nhà Tam bảo, làm mất phong quang của ngôi chùa [PL 2, tr.201].
  • Các chùa Long Đàm, Chùa Hạ Phúc, Chùa Bụt Sơn, Chùa Đà Liễu thì do chất lượng của công tác quy hoạch tổng thể chưa đảm bảo, nên khi thực hiện công tác trùng tu, tôn tạo, đã làm giảm đi nhiều giá trị vốn có của chúng.

Hạn chế về việc phục dựng các di tích hoang phế:

  • Về thực chất, những ngôi chùa này được làm mới hoàn toàn, chứ không phải là phục dựng (mặc dù trong hồ sơ xin phép xây dựng có ghi là phục dựng lại chùa cổ). Điều duy nhất khiến chúng còn liên quan với ngôi chùa cũ là bởi chùa được làm trên khuôn viên của ngôi chùa cổ, mang tên cũ của chùa mà thôi.
  • Nhiều ngôi chùa này được làm theo một phong cách rất lạ, khung sắt, mái tôn. Từ xa, khó tưởng tượng đó là một ngôi chùa, vì chúng được làm theo nguyên mẫu của một hội trường, hoặc một quán ăn. Đành rằng, với kinh phí hạn hẹp, lại phải thỏa mãn nhu cầu cấp bách cần có một không gian để thực hành các nghi lễ và các hoạt động biểu thị niềm tin tôn giáo của cộng đồng. Nhưng nên đầu tư nghiên cứu hình dáng ngôi chùa xưa, mô phỏng lại chúng, để có được cảm giác gần gũi với không gian thiêng và đúng với ý nghĩa phục dựng lại chùa cổ. Với cách làm hiện nay, thật là tạm bợ. Tạm bợ thì nhìn chung sẽ lãng phí, vì khi có kinh phí ta lại phải phá đi làm lại từ đầu. Chùa Phúc Linh (Hương Khê) (đã đầu tư trên 1,5 tỷ), chùa Khang Quý (thành phố Hà Tĩnh) (đã đầu tư 4 tỷ để giải phóng mặt bằng và xây chùa), chùa Phổ Độ (Lộc Hà)… là những chùa chúng tôi tới khảo sát và thấy đều làm giống như quán ăn, hoặc hội trường hiện đại. Riêng chùa Phổ Độ, hiện đang làm lại Đại Hùng điện, rộng tới 1000 mét, chắc chắn khi nào Đại hùng điện xây xong sẽ phá chùa tạm để chuyển vào chùa mới.

3.3.2. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể liên quan đến Di tích lịch sử – văn hóa Phật giáo Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

3.3.2.1. Thành tựu việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội cổ truyền

Lễ hội dân gian chính là một sinh hoạt văn hóa tổng thể, ẩn chứa trong đó các giá trị của nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng…, tái tạo lại những thông tin trong truyền thuyết và thần tích một cách sinh động, đầy tính biểu tượng. Vì vậy, việc khảo sát các lễ hội cũng cho thấy bức tranh chung của việc bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể mà chúng ta quan tâm.

Tại phần lớn các chùa, bên cạnh những lễ hội mang đậm tính chất tôn giáo, còn có các lễ hội dân gian. Đó là, các lễ hội tôn vinh, tưởng nhớ công trạng của những vị Thánh, Thần, Mẫu có công với cộng đồng, hay là người sáng lập ra ngôi chùa. Trước năm 1945, lễ hội vẫn thường được tổ chức vô cùng trang trọng, theo đúng quy mô làng, hoặc liên làng (tuỳ từng di tích). Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, một là do hoàn cảnh chiến tranh, hai là do quan điểm ấu trĩ và sai lầm của chúng ta về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, nên cùng với việc các di tích tôn giáo bị bỏ hoang phế hay dùng vào các việc trần tục khác, thì các lễ hội làng liên quan đến các di tích này cũng bị mai một. Tuy nhiên, từ năm 1986, khi công cuộc đổi mới được thực hiện cho đến nay, đặc biệt khi nghị quyết trung ương 5 khoá 8 ra đời, thì việc nghiên cứu, phục dựng lại các lễ hội truyền thống trở thành một phong trào nở rộ tại các làng quê. Cùng với dòng chảy đó, các lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh nói chung, lễ hội chùa nói riêng cũng dần dần phục hồi theo đúng mô hình trước đây tại mỗi làng.

Từ khi có Luật Di sản văn hóa ra đời năm 2001, việc khôi phục các lễ hội được quan tâm nhiều hơn trước đây. Riêng đối với các di tích đã được xếp hạng, lễ hội được khôi phục lại với quy mô hoành tráng hơn. Như mục 2.2 của chương 2 đã đề cập, Hà Tĩnh có một hệ thống lễ hội chùa truyền thống khá đa dạng và phong phú. Mặc dù mô hình tổ chức lễ hội đã được chuẩn hóa vào thế kỷ 15, khi Nguyễn Bính được vua Lê giao cho nhiệm vụ san định lại thần tích và rà soát, thể chế hóa lại lễ hội dân gian trên toàn quốc theo mô hình của Nho giáo. Tuy nhiên, với mỗi vùng, miền đều có những nét độc đáo, bản sắc riêng. Hà Tĩnh cũng vậy, những nét bản sắc này thể hiện ở một số nghi lễ và đặc biệt là trong các trò chơi, trò diễn dân gian. Với đường bờ biển dài 137km từ Cửa Hội (Nghi Xuân) đến vùng biển Kỳ Nam (thị xã Kỳ Anh), có đến hơn 30% các lễ hội dân gian nằm ở các xã ven biển, với các nét đặc trưng luôn gắn với nghề chài lưới trên biển cả mênh mông. Hà Tĩnh cũng có tới ¾ diện tích là đồi núi, nên nhiều lễ hội cũng mang đậm tính sơn cước. Lễ hội với mục đích cầu mong sự bình an, cầu mong một mùa đi biển, đi rừng, làm mùa thắng lớn, giải thoát những uẩn ức từ năm cũ. Những lễ hội chùa tiêu biểu đã được bảo tồn phát huy hiện nay, ta có thể nêu:

Lễ hội cầu ngư chúc Phật: Về bản chất, đây là lễ hội của ngư dân cầu được mùa cá, tôn vinh, tưởng nhớ, đền đáp công ơn cứu giúp của Đức Ông đối với người đi biển. Vì vậy, Lễ hội chính diễn ra tại miếu cá Ông vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhưng có thêm phần Lễ Phật trên chùa Yên Phúc, vì diễn ra vào ngày 8 tháng 4 là ngày Phật Đản. Lễ hội này cho thấy sự tác động lớn lao của Phật giáo đến văn hóa dân gian truyền thống của địa phương. Sự hợp nhất việc chúc Phật với cầu ngư cho thấy sự hòa quyện hài hoà và nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng dân gian với niềm tin Phật giáo. Bên cạnh đó đây cũng là dịp ngư dân thể hiện tính tương trợ, tình đoàn kết, gắn bó cộng đồng và những sinh hoạt văn hóa tinh thần của địa phương. Bên cạnh phần tế lễ tại miếu và chùa như các lễ hội khác, Lễ hội này có hai đặc trưng độc đáo, thứ nhất là đám rước trên biển; thứ hai, là diễn xướng chèo cạn. Cả hai yếu tố này đều mang đậm sắc thái biển. Độc đáo hơn cả là trò diễn Chèo cạn (hình thức cách điệu của chèo thuyền) được diễn ra sau nghi lễ cúng tế Đức Ông. Diễn xướng Chèo Cạn được tổ chức như sau: Đội quân chèo cạn có khoảng 22-24 người, tuổi đời khoảng 25-40, chia thành hai mạn, đứng sóng đôi, người trẻ đứng ở phía gần “mũi”, trung tuổi đứng ở phía “lái”. Mỗi người ở “mũi” thuyền, tay cầm cờ phất nhịp, một người đứng ở “giữa thuyền”, làm nhiệm vụ tát nước vừa cầm cần câu giả vờ câu cá. Đội chèo trình diễn bài chầu văn ca ngợi ơn đức của Đức Ông và những khát vọng của ngư dân trên biển mong muốn được bình an, có được nhiều tôm cá,… Khi tổng mũi hát xong, tất cả đội chèo hò theo, rồi vừa chèo vừa bước rất đẹp. Kể từ năm 1945 đến nay, lễ hội cầu ngư ở Cẩm Nhượng vẫn được tổ chức hàng năm. Ngoài các nghi lễ và trò chơi truyền thống còn có các trò chơi mang hơi thở của cuộc sống mới, như: Bóng chuyền, kéo co… Riêng trò diễn chèo cạn mới được phục hồi năm 2011, các đạo cụ trình diễn trong lễ hội đẹp và rực rỡ hơn xưa. Hiện nay, nhận thấy trò diễn chèo cạn (hò Chèo cạn) là một sinh hoạt văn hóa dân gian có giá trị. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đang lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận “Hò chèo cạn” là di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Lễ Hội Chùa Hương Tích thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, gắn với tích Công chúa Diệu Thiện – con gái Sở Trang Vương, tu hành hóa phật. Trước đây, hội chùa Hương vào ngày 18 tháng 02 âm lịch, nhưng những năm gần đây thì hội chùa bắt đầu từ ngày 06 tháng 01 âm lịch, và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch, với nhiều nghi lễ, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian đặc sắc: Lễ dâng hương, Lễ khai hội, hội thi đấu vật, kéo co, chọi gà… Đây là lễ hội chùa duy nhất của Hà Tĩnh, được tổ chức với quy mô cấp tỉnh, hàng năm thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tới hành hương, vãng cảnh. Du khách, ngoài hành hương, vãng cảnh, trẩy hội, còn được tham dự rất nhiều hoạt động văn hoá thú vị, có ý nghĩa: Thi mâm ngũ quả, thi cỗ chay, kéo co, vật, bóng chuyền, giao lưu văn hoá văn nghệ với địa phương, thưởng thức các đặc sản tinh thần của địa phương, như hát ví, hát giao duyên…, đặc biệt là được tham quan triển lãm những hiện vật cổ vừa được khai quật từ di tích nền Trang Vương.

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được tổ chức tại khu di tích thờ danh y Lê Hữu Trác, trong đó có chùa Tượng Sơn. Lễ hội này cũng mới được khôi phục lại quy mô hoành tráng vào năm 2011. Để tỏ lòng tri ân sâu sắc đại danh y của dân tộc, năm 2015, Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được tổ chức từ ngày 06 đến 15 tháng 01 âm lịch, với chuỗi các hoạt động văn hóa, văn nghệ quy mô cấp tỉnh, gắn liền sự kiện khai trương năm Du lịch Hà Tĩnh 2015. Các sự kiện chính sẽ diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng 01 âm lịch. Lễ hội có ý nghĩa thiết thực, nhằm tôn vinh vị thần y của dân tộc, cầu cho quốc thái dân an, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội chùa Chân Tiên: Lễ hội chùa Chân Tiên được tổ chức vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch. Theo quan sát của chúng tôi, đây là lễ hội biểu hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Phật giáo với tục thờ đá cổ xưa và đạo giáo thần tiên. Việc tôn vinh các dấu tích của Tiên, gắn với nhiều địa điểm đã cho chúng tôi suy nghĩ đó. Đặc trưng của lễ hội này là đám rước linh đình từ chùa ra đình với các trò chơi dân gian đậm tính vùng sơn cước, như chơi đu, cờ thẻ, cờ người, vật cù. Hội vật cù là trò chơi đặc sắc nhất của hội này. Đây là một trò chơi tài khéo và khỏe mạnh, có tính đồng đội cao. Trò này gần đây mới được khôi phục lại.

Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương tại chùa Đại Hùng, thị xã Hồng Lĩnh. Lễ hội này đã được khôi phục, quy mô ngày một lớn kể từ năm 2001. Hàng năm cứ đến dịp Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 ÂL), bà con trong vùng và các vùng phụ cận của các huyện: Can Lộc, Đức Thọ, Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An cũng đến dâng hương để tưởng niệm các Vua Hùng. Ngay từ những ngày đầu tháng 3, các gia đình đã tập trung về dọn dẹp, sơn quét vôi, tu sửa các hạng mục thờ tự tại chùa để chuẩn bị cho ngày dâng tế. Vào các ngày mồng 5,mồng 6, cho đến đúng ngày 10 tháng 3 mỗi ngày chùa đều đón hàng trăm lượt người từ các huyện, tỉnh bạn đến dâng hương, đặc biệt là ngày giỗ chính thức lên đến hàng ngàn người. Với các lễ vật mà mọi người đưa đến để dâng lên ngày giỗ của các Vua Hùng, chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp làm ra như: Bánh chưng, bánh tét, hoa, quả (các loại bánh dâng tế ở đây đều chay tịnh) vì nhà chùa kiêng sát sinh… Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Lễ hội chùa Kim Dung: Từ xa xưa, lễ hội chùa Kim Dung tổ chức tự phát, với quy mô nhỏ, nhưng sau khi được xếp hạng di tích lịch sử danh thắng cấp tỉnh (vào tháng 6 năm 2003), thì lễ hội được tổ chức bài bản, quy mô lớn, với nhiều nghi thức tế lễ và nhiều hội thi. Phần tế lễ tại chùa gồm có lễ rước kiệu rồng từ chùa Xuân Đài lên, thỉnh chuông, cung nghinh hoà thượng cầu quốc thái, dân an. Có mặt tại lễ hội, hàng trăm tăng ni, Phật tử và người dân địa phương đã thành tâm cầu mong sự an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Lễ hội còn diễn ra nhiều hoạt động văn hoá phong phú ở khu vực dưới chân núi: Kéo co, chọi gà, cờ thẻ, tôm trống, cắm trại, bóng chuyền… [PL 11, tr.263].

Bảng thống kê tại phụ lục số 12 cho thấy, những lễ hội tại các di tích liên quan đến Phật giáo đã khôi phục lại, nhưng chưa hết những hoạt động và quy mô, những nghi lễ, trò diễn, trò chơi… Bên cạnh những trò chơi dân gian tuyền thống, cũng đã đưa vào các trò chơi hiện đại, như bóng truyền, thi hát dân ca, giao lưu văn nghệ. Nghiên cứu để phục hồi lại các nghi lễ, trò diễn, trò chơi mang đậm bản sắc văn hóa địa phương là nhiệm vụ quan trọng của các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý di sản trong thời gian tới.

3.3.2.2. Thành tựu trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Thần tích, truyền thuyết, sắc phong về các Thánh/Thần/ người có công dựng chùa

Như ở chương 2 đã đề cập đến, hầu như mỗi ngôi chùa đều gắn bó với những truyền thuyết, sự tích liên quan đến các vị được phối thờ trong chùa, hoặc quá trình xây dựng, tồn tại của ngôi chùa. Đó là những câu chuyện về lịch sử của mỗi vùng đất, với những con người và sự kiện cụ thể cả trong quá khứ xa xưa đến những năm tháng gần gũi với chúng ta. Đây là nguồn tư liệu vô cùng sinh động để nghiên cứu về lịch sử và văn hóa địa phương. Trong các hồ sơ di tích, đều đã có sưu tầm và ghi chép ngắn gọn những truyền thuyết, sự tích, sự kiện lịch sử liên quan đến di tích, nhưng vẫn còn sơ lược. Hầu như không chùa nào còn giữ lại được những bản thần tích cổ. Đó là điều đáng tiếc.

Tuy nhiên, điều đáng mừng là trong một số chùa còn giữ được hàng trăm đạo sắc phong của nhiều triều đại. Một số sắc phong được dịch nghĩa, như sắc phong chùa Chân Tiên. Qua các đạo sắc phong này ta thấy, nó không chỉ liên quan đến các vị Thần/Thánh/Mẫu được phối thờ trong chùa, mà còn liên quan đến các vị thần được thờ phụng ở các di tích khác như đền, đình, điếu… Đây là một nét đặc biệt của chùa Hà Tĩnh (hậu quả của quá trình hợp tự). Việc dồn góp một cách cơ học các đồ thờ,tượng, sắc phong… của cả đình, đền, miếu, chùa vào nhau một cách cơ học, khiến cho các nhà nghiên cứu khi tiến hành khảo sát, phải dày công mới có thể xác định được rõ những giá trị đích thực của các di sản này.

Các sắc phong này đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, không chỉ để nghiên cứu về các giá trị của di tích liên quan đến Phật giáo, mà còn cả về lịch sử của cả vùng đất. Số lượng sắc phong còn lưu giữ lại được ở các ngôi chùa chúng tôi đã thống kê ở mục 2.3, chương 2. Đây là những cổ vật và sử liệu có giá trị. Cần phải đầu tư hơn nữa cho việc dịch, nghiên cứu và giới thiệu giá trị của chúng.

Nếu như trong thần tích-thần sắc, chúng ta biết được những thông tin cơ bản về ngày sinh, ngày hóa, lý do vì sao cộng đồng dân cư tại các làng thờ vị Thánh/Thần, thì trong truyền thuyết (được người dân lưu truyền cho đến ngày nay), chúng ta lại thấy được những nét sinh hoạt đời thường của Thánh/Thần gắn với đời sống của người nông dân, được họ nâng niu, trân trọng. Trong quá trình nghiên cứu, có dịp khảo sát các địa phương, nơi có các di tích thờ Thánh/thần, chúng tôi luôn thấy người dân nhắc đến các vị Thánh/Thần với sự trân trọng, thành kính.

3.3.2.3. Thành tựu trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị tinh thần của Phật giáo Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Như đã đề cập đến trong chương 1, kể từ sau khi tách tỉnh năm 1991, phong trào Phục hưng Phật giáo tại Hà Tĩnh phát triển nhanh chóng. Với sự quan tâm của chính quyền tỉnh, sự hoạt động tích cực của Giáo hội Phật giáo địa phương, sự đóng góp tích cực của nhân dân, nhiều ngôi chùa đã hồi sinh. Theo kết quả khảo sát thực địa của chúng tôi, từ năm 2000 trở về trước, các chùa hầu như không có nhà sư trụ trì. Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh, bên cạnh việc quan tâm phục hồi các di tích lịch sử Phật giáo, còn mời các sư về hướng dẫn, giảng dạy Phật pháp cho bà con, khuyến khích giáo hội Phật giáo giới thiệu sư về trụ trì tại các ngôi chùa và bổ nhiệm các sư về trụ trì. Tính đến tháng 12 năm 2016, toàn địa bàn tỉnh đã có 105 ngôi chùa hoạt động thường xuyên, số tín đồ Phật tử tăng lên nhanh chóng. Năm 2005, toàn tỉnh có 5000 phật tử quy y. Năm 2014, con số này tăng lên hơn gấp đôi trên 10 nghìn. Nhưng chỉ hai năm sau, năm 2016, số phật tử quy y đã là 25 nghìn. Điều này cho thấy nhu cầu tâm linh của nhân dân rất lớn. Bên cạnh những con số thống kê số Phật tử quy y chính thức, cũng cần phải nói thêm rằng, nhiều tín đồ đạo Phật không quy y, nhưng vẫn thường xuyên đi chùa. Số tín đồ như vậy, chiếm một tỷ lệ rất lớn, có đến gần 89% dân số Hà Tĩnh.

Với sự hồi sinh của nhiều ngôi chùa, các giá trị tâm linh gắn với Phật giáo cũng dần dần hồi sinh và được bảo lưu mạnh mẽ. Ngôi chùa lại dần lấy lại vị thế là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng. Theo số liệu cung cấp của Ban trị sự Phật giáo Hà Tĩnh, kết quả khảo sát thực địa, tại những ngôi chùa đã hồi sinh, các sư trụ trì đã cùng cộng đồng tín đồ khôi phục lại các nghi lễ mang đậm tính tôn giáo và cả những hoạt động để ánh sáng Phật pháp lan tỏa ra cộng đồng. Ban quản lý di tích xã, phối hợp với Ban hộ tự, hoặc Ban hộ trị của mỗi chùa, cho phép cộng đồng khôi phục lại các nghi lễ Phật giáo, đồng thời giám sát các hoạt động này cho đúng với mục đích nhân văn, tốt đẹp của chúng. Các nghi lễ như Dâng chay cúng Phật đều được thực hành hàng ngày ở hầu hết các ngôi chùa. Ở một số chùa, như chùa Phục Linh, chùa Khang Quý, buổi chiều khoảng 5 giờ còn có lễ cúng cháo cho các linh hồn lang thang, cơ nhỡ. Đây là một nghi lễ vô cùng nhân văn, biểu lộ tình thương, tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật, thương xót, yêu quý tới mọi sinh linh. Các nghi lễ khác, như sám hối, cầu an cũng được Ban quản lý di tích cho phép được khôi phục lại theo đúng cách thức như xưa tại các ngôi chùa. Phòng tôn giáo trực thuộc UBND các huyện, trên địa bàn Hà Tĩnh, hàng năm đều chấp thuận đề nghị cuả chi hội Phật giáo địa phương đề nghị được tiến hành thực hiện đại lễ Vu lan và Đại lễ Phật đản tại tất cả các ngôi chùa mới hồi sinh. Bên cạnh đó còn phối hợp với chi hội phật giáo đảm nhiệm việc gìn giữ an ninh, trật tự cho lễ hội. Quản lý và giám sát việc tổ chức các dịch vụ trong đại lễ, để đại lễ diễn ra tốt đẹp. Bên cạnh đó, chuẩn theo báo cáo và đề xuất của các sư trụ trì, phòng tôn giáo đã đề nghị UBND huyện chấp thuận cho các sư tổ chức các khóa tu ngắn ngày cho đông đảo thanh thiếu niên. Đó là các khóa tu ngắn hạn từ 1 tháng đến ba tháng cho thanh, thiếu niên và các lứa tuổi khác. Các khóa tu này đều dạy thanh thiếu niên về Phật pháp, cách ngồi thiền tĩnh tâm, ăn chay, sống theo giáo lý của nhà Phật. Hầu hết những thanh thiếu niên đến tham gia các khóa tu đều có nhận thức tốt hơn về đạo lý làm người, sống thiện lương. Đây là việc làm có ý nghĩa trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Khi các em đang bị chơi vơi vì những tiêu cực trong cuộc sống thường nhật, hệ giá trị đang bị đảo lộn, thì có một nơi tin tưởng, một niềm tin để neo đậu tâm hồn, quả là điều tuyệt vời. Hơn nữa, niềm tin vào những điều lương thiện, giúp con người tự nghiêm khắc trau dồi bản thân một cách tự giác, sẽ có tác động vô cùng mạnh mẽ lên việc hình thành nhân cách của các em.

Ngoài ra các ngôi chùa đều tiến hành một số hoạt động xã hội và tâm linh có nghĩa khác, như các hoạt động từ thiện, hoạt động hỗ trợ mùa thi, làm lễ cầu siêu cho các cư dân bị chết trong vòng 7 ngày. Đối với các gia đình, có thể mời sư về làm lễ 49 ngày, 100 ngày…

Những hoạt động này đều được diễn ra dưới sự giám sát của Phòng tôn giáo và Ban quản lý di tích địa phương để đảm bảo việc thực hiện chúng đúng mục đích đã xin phép, đảm bảo vệ sinh, an toàn trong khuôn viên của di tích.

Nhìn chung, những giá trị tâm linh đích thực gắn với ngôi chùa đã được khôi phục lại đầy đủ, góp phần đưa những giá trị tinh thần tốt đẹp của Phật giáo tỏa sáng vào cộng đồng. Ngôi chùa giờ đây đã là một địa chỉ tin cậy mỗi khi con người có những âu lo, uẩn ức cần giải tỏa, những căng thẳng cần thư giãn, những chơi vơi có thể lạc lối cần sự nhắc nhở.

3.3.2.4. Hạn chế, tồn tại việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội cổ truyền Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Công tác bảo tồn lễ hội dân gian liên quan đến ngôi chùa hiện nay, Hà Tĩnh làm chưa thực sự tốt, trong các hồ sơ di tích, hầu như không hề đề cập đến hội chùa. Chỉ có một số hồ sơ có ghi vài dòng ngắn gọn, như Hồ sơ di tích chùa Chân Tiên, chùa Hương Tích. Cuộc tổng điều tra di sản văn hóa trên địa bàn toàn tỉnh có thống kê 180 lễ hội dân gian, nhưng không phân loại lễ hội theo địa điểm tổ chức, nên không thể từ đó thống kê số lượng các lễ hội chùa.

Nhiều nghi lễ có ý nghĩa trong lễ hội còn chưa được khôi phục lại [PL 12, tr.261], trong đó có lễ rước nước về làm lễ Mộc dục là lễ đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Các đám rước ngai, tượng, sắc phong, hầu như cũng chưa phục hồi, mới chỉ thấy ở một số chùa, như chùa Kim Dung, chùa Chân Tiên.

Ở mỗi di tích, những trò diễn mang tính riêng biệt, đặc trưng cho nếp sống, điều kiện sản xuất của người dân địa phương cũng chưa được nghiên cứu và phục hồi. Việc nghiên cứu phục hồi các trò diễn này rất quan trọng, vì chúng chính là những nét bản sắc của từng lễ hội và địa phương mà ta cần bảo tồn.

Còn nhiều biểu hiện tiêu cực trong việc tổ chức lễ hội tại các chùa tiêu biểu, đặc biệt là các chùa lớn như chùa Hương Tích, Diên Quang: hàng quán bán tràn lan làm mất vệ sinh và an ninh trật tự; rác thải xả bừa bãi, các chủ quầy hàng chèo kéo khách viết tấu sớ, gây nên tình trạng lộn xộn. Trên thượng điện và các cung thờ, tình cảnh sư thầy và người làm lễ chen chúc, xô bồ, nhuốm màu vụ lợi thần thánh. Cả BQL khu du lịch chùa Hương Tích và sư thầy đều cho rằng, nguyên nhân chính là do chưa đủ lực lượng hướng dẫn và kiểm soát hiện tượng chen lấn và nhiều thầy các nơi khác đến hành lễ, nên sư trụ trì không có cách nào để can thiệp. Dâng đồ lễ tràn lan, ở chùa Hương còn dâng cả thịt sống lên bàn thờ Phật và Thần Hổ. Thực hiện các niềm tin một cách phản cảm, như xoa dầu vào đầuThần Hổ, rồi xoa khắp người trước bàn dân thiên hạ để cầu mạnh khỏe, hương đốt quá nhiều, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ tại các di tích.

Đa phần lễ hội mới chú trọng phần lễ (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật), mà đang coi nhẹ phần hội (vui chơi, thể thao). Cần phải nghiên cứu để tổ chức lễ hội sao cho hài hòa giữa 2 yếu tố này thì chúng ta mới trả lễ hội về với nguyên bản của nó.

Thiếu một cơ chế quản lý lễ hội thống nhất cho toàn tỉnh, trong đó quy định việc cử người hướng dẫn du khách thực hiện, việc thắp hương, quản lý người ăn xin, dâng lễ theo thứ tự, tránh sự chen lấn, làm mất không khí thanh tịnh, thâm nghiêm; quản lý người viết tấu sớ, người thực hành nghi lễ; có chế tài xử phạt nghiêm khắc các vi phạm.

3.3.2.5. Hạn chế trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của thần tích, truyền thuyết, sắc phong về các Thánh/Thần/ người có công dựng chùa Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Việc tuyên truyền, phổ biến thần tích, truyền thuyết làm chưa tốt. Số người biết cặn kẽ về những truyền thuyết này hiện còn rất ít (hầu như tại mỗi làng chỉ có một vài vị cao niên) biết về nó. Để gặp được người hiểu rõ về lịch sử xây dựng chùa và các truyền thuyết, sự tích về ngôi chùa, chúng tôi phải đi hai ba lần mới gặp được người cần gặp. Đây là một hiện trạng rất đáng báo động, bởi vì những ký ức cuối cùng còn lưu giữ các câu chuyện về lịch sử văn hóa dân gian này, có thể không còn nữa trong một vài năm tới.

Chưa nghiên cứu một cách thấu đáo và sâu sắc những sắc phong hiện đang lưu giữ trong chùa, vì thế chưa sử dụng được hiệu quả những giá trị lịch sử tiềm ẩn trong các sắc phong này.

3.3.2.6. Hạn chế trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị tinh thần của Phật giáo

Thứ nhất, nhiều cư dân còn chưa hiểu rõ về giáo lý Phật giáo, vẫn coi Phật là một vị thần tối cao, có thể ban phúc lộc, hay giáng họa, vì thế thay vì đến chùa để tĩnh tâm, tu luyện, hướng thiện, sám hối, họ chỉ đến với những mâm lễ vật để cầu xin.

Thứ hai, một số ngày lễ tôn giáo hiện nay ở một số chùa cũng mang đậm màu sắc thương mại. Khi chúng tôi phỏng vấn cụ Nguyễn Xuân L, sinh năm 1928, người đã từng có nhiều công đối với việc bảo tồn ngôi chùa Hạ Phúc (Hương Khê), cụ có chia sẻ với một nỗi băn khoăn: Lễ Phật Đản và Vu Lan, chùa có thỉnh sư tận Huế về làm lễ (chùa Hạ Phúc chưa có sư trụ trì), họ yêu cầu phải chi 100 triệu. Vì nhiều khách thập phương yêu quý ngôi chùa này, nên địa phương vẫn tổ chức. Đây chắc chắn là một yêu cầu không đúng với tinh thần của Phật giáo.

Một số hoạt động tiêu cực, như cờ bạc, cá độ, xóc thẻ, xin xăm, viết sớ sai quy định vẫn tồn tại ở một số lễ hội và có nguy cơ bùng phát.Trên đây là những hạn chế, tồn tại mà các nhà quản lý văn hóa địa phương cần quan tâm.

3.3.3. Công tác xã hội hóa hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích

3.3.3.1. Thành tựu

Thời gian thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, chống xuống cấp và tu bổ di tích, trong thời gian 8 năm (từ 2006 – 2013), Hà Tĩnh cũng nhận được nguồn kinh phí nhất định để trùng tu, tôn tạo di tích. Tuy nhiên, kinh phí ấy là dành cho tất cả các loại hình di tích. Như đã phân tích ở trên, những ngôi chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia đều được đầu tư chống xuống cấp, tùy theo hiện trạng từ 100 triệu đến 10 tỷ. Tỉnh cũng đầu tư từ ngân sách cho các di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh, một số kinh phí nhất định. Nhưng số kinh phí đó, thực sự chưa thể đáp ứng được yêu cầu phục dựng, bảo tồn, duy tu và tôn tạo các di tích đang ở hiện trạng rất tồi tệ của Hà Tĩnh. Theo số liệu thống kê tại phụ lục số 7, dù con số thống kê này chưa thực sự đầy đủ, ngân sách chi cho việc bảo tồn, duy tu, tôn tạo các ngôi chùa trong vòng 10 năm gần đây, vào khoảng 438,484,000,000 đồng, trong đó huy động từ ngân sách Nhà nước 53,454,000,000đồng, còn lại 385,030,000,000đồng, từ nguồn xã hội hóa. Như vậy, nguồn xã hội hóa dành cho việc trùng tu, bảo tồn, tôn tạo di tích chiếm tới trên 87,81% tổng chi phí. Kinh phí chi cho việc phục dựng lại các ngôi chùa đổ nát cũng ở hiện trạng tương tự, thậm chí tỷ lệ kinh phí từ nguồn xã hội hóa còn cao hơn, cụ thể trong số 254,053,000,000đồng, chi cho việc phục dựng các ngôi chùa chỉ có 453 triệu được huy động từ ngân sách xã, còn lại 253,600,000,000 đồng, là huy động từ nguồn xã hội hóa, chiếm tới 99,8%. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Những con số hàng ngàn tỷ đồng cho các hoạt động tu bổ, tôn tạo và phục dựng di tích được huy động từ cộng đồng, cho thấy rõ chính sách xã hội hóa của Hà Tĩnh rất hiệu quả. Hầu hết kinh phí chi cho tôn tạo, bảo tồn di tích (87,81%) và phục dựng di tích (99,8%), đều bằng tiền đóng góp của cộng đồng. Việc xã hội hoá các hoạt động tôn tạo, tu bổ di tích vừa đáp ứng nhu cầu kinh phí cho tu bổ, tôn tạo, phục dựng di tích, vừa đưa di sản văn hóa đến với cộng đồng, tạo điều kiện cho cộng đồng được tiếp cận với di sản, hưởng thụ giá trị của di sản. Khi đóng góp cho việc tôn tạo, tu bổ, phục dựng di tích, người dân, bên cạnh việc thoả mãn nhu cầu tâm linh, như tích đức cho con cháu, còn thể hiện quyền làm chủ có quyền lựa chọn di sản cần bảo vệ và tham gia vào việc ra quyết định bảo vệ, tôn tạo di sản như thế nào.

Những người con đi làm ăn xa và thành đạt (như tỷ phú Phạm Nhật Vượng…), những người giàu có, hảo tâm ở địa phương (như ông Nguyễn Xuân Ninh…), và những đồng tiền công đức của tất cả những cư dân và khách vãng lai đã làm nên những điều kỳ diệu: Góp phần quyết định, bổ sung vào nguồn ngân sách eo hẹp hiện tại, đưa những di tích hồi sinh và tiếp tục toả sáng trong đời sống tâm linh và đời sống hiện tại của cộng đồng.

Xuất phát từ quan điểm, nhìn nhận vai trò của cộng đồng trong quá trình lao động, sáng tạo các giá trị văn hóa, chúng ta thấy rõ, cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo ra các di sản văn hóa nói chung và các di sản văn hóa Phật giáo nói riêng. Vì vậy, họ có quyền hưởng thụ giá trị của những di sản văn hóa ấy, đồng thời đóng vai trò quyết định vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của chính mình. Để việc bảo tồn có hiệu quả và chất lượng tốt hơn, ngoài sự tham gia đóng góp của cộng đồng cư dân cho tiến trình bảo tồn, cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía, cơ bản vẫn là từ phía Nhà nước, chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý di sản văn hóa và các tổ chức xã hội.

Một trong những ưu điểm dẫn đến việc huy động thành công nguồn kinh phí xã hội hóa khá lớn, trong khi Hà Tĩnh, thực chất là một tỉnh nghèo, đó chính là cơ chế huy động vốn linh hoạt, không máy móc, cứng nhắc. Bên cạnh việc sử dụng đồng vốn huy động đúng mục đích, công khai, minh bạch, đáp ứng nguyện vọng của người dân, tỉnh còn tạo điều kiện cho các chùa huy động vốn dần dần theo phương thức vừa làm vừa huy động vốn. Đây là cách làm linh hoạt, nhưng không hề tùy tiện, bởi vì, tỉnh cho phép vừa làm, vừa huy động vốn cho các dự án đã được phê duyệt quy hoạch tổng thể một cách khoa học và chi tiết. Vì vậy, trên quy mô lớn đã định hình về dự án tôn tạo và phục dựng di tích, việc huy động vốn cũng dễ dàng và khả thi hơn.

Xã hội hóa công tác bảo tồn, duy tu, tôn tạo và phục dựng di tích lịch sử -văn hóa Phật giáo, không phải chỉ huy động vốn, mà còn huy động sức lao động, vật liệu và các giá trị vật chất khác. Nhiều nhà hảo tâm đã cung tiến vào chùa các pho tượng Phật có giá trị, các vật dụng như ghế ngồi, chuông, khánh, và nhiều ngày công lao động phục vụ, không chỉ cho các dự án tôn tạo, mà còn cho các hoạt động thường nhật trong chùa, đặc biệt là các hoạt động thiện nguyện do nhà chùa tổ chức. Điều này làm cho ngôi chùa thực sự trở thành một trung tâm văn hóa – tâm linh, một nơi tu hành tích đức và làm việc thiện, một trung tâm chia sẻ cộng đồng.

3.3.3.2. Tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Chưa có chính sách cụ thể, rõ ràng, khuyến khích các sư trụ trì và các nhà quản lý, vận động xã hội hóa phục vụ cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Các mô hình vận động kinh phí linh hoạt, như ở chùa Giai Lam và chùa Phổ Độ (như phân tích trên đây), chưa được nhân rộng và chưa được thể chế hóa bằng văn bản.

Chủ yếu mới quan tâm đến xã hội hóa nguồn tài chính, chưa quan tâm đến công tác xã hội hóa việc tuyên truyền, quảng bá các giá trị của di tích và hưởng thụ các giá trị văn hóa tại các di tích.

3.3.4. Công tác thanh tra, kiểm tra

3.3.4.1. Thành tựu

Mới đây nhất, tỉnh Hà Tĩnh đã quan tâm đến công tác kiểm tra giám sát: Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định số 24/QĐ-HĐND, ngày 07/5/2018 của Thường trực HĐND tỉnh về thành lập Đoàn giám sát chuyên đề về “Công tác quản lý các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh”, Đoàn đã ban hành Kế hoạch số 11/KH-ĐGS và Thông báo số 20/TB-ĐGS ngày 10/5/2018 triển khai chương trình giám sát. Trên cơ sở kiểm tra thực tế, đoàn giám sát thống nhất đánh giá kết quả công tác quản lý di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh (giới hạn trong 5 năm gần đây, 2013-2018).

3.3.4.2. Tồn tại, hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

Công tác thanh tra kiểm tra hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di sản ở Hà Tĩnh làm chưa tốt. Qua phỏng vấn cán bộ trực tiếp công tác trong Phòng quản lý di sản văn hóa tỉnh, hàng năm không có một đợt thanh tra thường xuyên, định kỳ nào chuyên về di sản văn hóa. Mỗi năm, Sở Văn hóa, Thể thao Du lịch tổ chức một đoàn kiểm tra tổng hợp, thanh tra, kiểm tra, toàn bộ các hoạt động liên quan đến ngành, trong đó có hoạt động quản lý di sản. Đây là một điểm rất hạn chế trong công tác quản lý. Chính vì không thường xuyên thanh tra, kiểm tra nên những hạn chế, vi phạm mà chúng tôi nhận thấy ở mục 3.3.1.2, 3.3.2.4, 3.3.2.5 và 3.3.2.6 trên đây không phát hiện ra.

Công tác thanh tra kiểm tra thực hiện chưa thường xuyên và chuyên sâu, theo đó, công tác khen thưởng, xử lý vi phạm cũng không làm tốt. Trong gần hai thập kỷ, không xử lý vi phạm một vụ việc nào liên quan đến quản lý di sản văn hóa Phật giáo. Điều này không có nghĩa là công tác đó hiện đang làm rất tốt, không có sai phạm gì, mà chủ yếu không kiểm tra, nên không phát hiện ra sai phạm. Những sai phạm trong quy hoạch và sửa chữa vi phạm vành đai I, như ở chùa Long Đàm, chùa Hạ Phúc, lẽ ra cần phải được xử lý kịp thời.

Tiểu kết

Kết quả phân tích hệ thống văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa cho thấy: Hà Tĩnh tuy có ban hành một số văn bản quy định về việc quản lý di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Phật giáo nói riêng, nhưng chủ yếu vẫn chưa có các văn bản hướng dẫn chi tiết cụ thể, phù hợp với tính đặc thù của địa phương. Chính vì vậy, khi áp dụng các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa, vẫn nảy sinh một số vấn đề cần khắc phục, như: 1.Vấn đề liên quan đến chứng chỉ hành nghề tôn tạo sửa chữa di sản. 2.Mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật liên quan. 3.Thủ tục xin cấp phép sửa chữa, tôn tạo di tích còn phức tạp, rườm rà. 4.Một số sư trụ trì không muốn chùa được xếp hạng di tích. 5.Thiếu các văn bản chi tiết cụ thể về phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể quản lý di tích, về việc sử dụng tiền công đức một cách thống nhất, về việc quản lý lễ hội, về công tác xã hội hóa.

Hà Tĩnh duy trì mô hình quản lý có sự phối hợp của ba thành phần: Nhà nước, giáo hội và cộng đồng. Mục tiêu và nội dung quản lý đều thực hiện nghiêm túc theo đúng yêu cầu của pháp luật hiện hành về quản lý di sản văn hóa. Cả ba mô hình nêu trên đều có những thành tựu và bất cập. Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại này là đối tượng quản lý phức tạp, nội dung quản lý đa dạng, lực lượng chủ thể quản lý ở cả ba nhóm số lượng ít, chất lượng hạn chế. Ngoài ra chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa nhà quản lý và nhà nghiên cứu. Cộng đồng cư dân đang là chủ thể trực tiếp gánh trọng trách chính trong mô hình quản lý hiện tại nên hiệu quả quản lý chưa cao.

Các ngôi chùa đã xếp hạng được trùng tu, tôn tạo chống xuống cấp, đặc biệt các chùa có giá trị đã được đưa vào quỹ đạo du lịch. Một số ngôi chùa hoang phế được phục dựng, trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh. Kinh phí dùng cho việc tôn tạo, trùng tu, chống xuống cấp và phục dựng chùa chủ yếu lấy từ nguồn xã hội hóa.

Việc sưu tầm, nghiên cứu thần tích, truyền thuyết liên quan đến chùa đang được triển khai. Ở các ngôi chùa đã xếp hạng, lễ hội dân gian đã được khôi phục tuy nhiên các nghi lễ và trò diễn đặc trưng chưa được nghiên cứu để khôi phục. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, thi đua, khen thưởng, làm chưa tốt.

Các giá trị tinh thần của Phật giáo được khôi phục, đặc biệt là các ngôi chùa có sư trụ trì. Những nghi lễ được tổ chức nghiêm túc, các hoạt động từ thiện, giáo dục và các hoạt động khác được chú trọng. Tuy nhiên việc không hiểu rõ bản chất của Phật giáo, xu thế thương mại hóa các dịch vụ tôn giáo và mê tín dị đoan, đang có nguy cơ bùng nổ, cần có các biện pháp hữu hiệu để khắc phục.

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, thi đua khen thưởng làm chưa tốt, chính vì vậy chưa kịp thời phát hiện các sai phạm, để xử lý và chưa kịp thời động viên các nhân tố tích cực. Luận văn: Thực trạng quản lý di sản văn hóa ở Hà Tĩnh

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý di sản VH phật giáo ở tỉnh Hà Tĩnh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464