Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn
3.1.1. Hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Dưới góc độ luật thực đinh khoản 1, Điều 317 BLTTDS năm 2015 đã quy định các điều kiện để tòa án giải quyết vụ án nói chung và tranh chấp hợp đồng trong KDTM nói riêng theo thủ tục tố tụng rút gọn (TTRG). Theo đó phải hội tụ đủ hai điều kiện : một là, vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; hai là các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng.
Có thể thấy các quy định về điều kiện áp dụng thủ tục TTRG theo quy định của BLTTDS năm 2015 có sự khác biệt so với quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) năm 2010. Cụ thể Luật BVQLNTD năm 2010 đã đề cập tới ba điều kiện tối thiểu bắt buộc để áp dụng theo trình tự này, bao gồm: vụ án do cá nhân tiêu dùng khởi kiện tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ; vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng và giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng.
Trước đây tại thảo lần 2 BLTTDS (sửa đổi) khi quy định về điều kiện áp dụng TTRG có quy định tương thích với Luật BVQLNTD năm 2010 khi quy định tại Khoản 1, Điều 280 dự thảo về các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn bao gồm các tranh chấp có tài sản tranh chấp với giá trị dưới 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Tuy nhiên, rất tiếc khi BLTTDS năm 2015 được chính thức thông qua thì quy định này trong dự thảo lại được các nhà làm luật bãi bỏ. Theo tác giả, việc nhà làm luật đã bỏ đi quy định này vừa tạo nên sự không tương thích với pháp luật BVQLNTD khi cùng điều chỉnh về một vấn đề, đồng thời cũng tạo nên sự giữa PLVN với thông lệ quốc tế. Dưới góc nhìn so sánh pháp luật của nhiều quốc gia có quy định áp dụng thủ tục TTRG để giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong KDTM có giá trị thấp. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 427 Bộ luật TTDS năm 2004 của Đài Loan thì thủ tục giản đơn được áp dụng nếu tranh chấp về quyền tài sản có giá ngạch của vụ kiện không quá 100.000 Tân Đài Tệ (TWD) [tương đương 76,6 triệu đồng]. Hoặc theo PLTTDS năm của CH Pháp thì đối với các vụ án nói chung mà có giá trị tranh chấp không vượt quá 10.000 Euro [tương đương 253 triệu đồng] thì được giải quyết theo thủ tục xét xử nhanh bằng bằng một Thẩm phán duy nhất và các bên tham gia tố tụng không nhất thiết phải có luật sư.
Nghiên cứu lịch sử lập pháp cho thấy quy định về thủ tục TTRG đối với các vụ kiện có giá trị tranh chấp nhỏ đã từng được quy định trong luật thực định của nước ta. Ví dụ, thời Pháp thuộc, tại Trung Kỳ nghị định 20/10/1947 của Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ đã quy định về TTRG đối với các tranh chấp có giá trị nhỏ như sau: Các tòa đệ nhị cấp xử chung thẩm các việc tương tranh động sản hoặc đối với người, việc thương sự, việc đòi tiền bồi hoàn hay bồi thường về bất động sản theo giá nghạch đồng niên không quá 150 USD. Ở Miền Nam Việt Nam, theo điều 16 Bộ luật dân sự và thương sự ngày 20/1/1972 của chính quyền Sài Gòn (cũ) thì nhưng vụ kiện về động sản có giá trị dưới 60,000 đồng (thời điểm 1972) được coi là có giá ngạch thấp và giải quyết theo TTRG. Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các nước Pháp, Đức, Đan Mạch, Thủy Điển, Hoa Kỳ đều có quy định về vấn đề này. Ví dụ ở Hoa Kỳ, một số tiểu bang cho phép với những khiếu nại không vượt quá 20 USD [tương đương 400 nghìn Việt Nam đồng], đương sự được quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục giản lược. Với những vụ kiện theo kiểu này, có thể được giải quyết mà không cần phải xét xử theo thủ tục thông thường mà chỉ cần sau khi hai bên có cơ hội trình bày những quan điểm đối lập của mình, sau đó Tòa án dựa trên vào đó để ra phán quyết.
Do đó, tác giả đề xuất, BLTTDS năm 2015 cần bổ sung thêm tiêu chí về giá trị tranh chấp khi xác định loại vụ án được giải quyết theo thủ tục TTRG. Điều này là phù hợp với thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thông lệ quốc tế. Theo đó trong thời gian tới quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 cần sửa đổi, bổ sung theo hướng như sau: “Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết các vụ án khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Tranh chấp có giá trị dưới 000.000 đồng (một trăm triệu đồng), vụ án đơn giản, tài liệu, chứng cứ rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ, đủ cơ sở giải quyết Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có nơi cư trú rõ ràng; không có yếu tố nước ngoài; Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Tranh chấp có giá trị từ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trở lên; các đương sự đã thừa nhận về nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ rõ ràng và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có nơi cư trú rõ ràng; không có yếu tố nước ngoài; các đương sự đề nghị áp dụng thủ tục rút gọn”.
3.1.2. Hoàn thiện quy định về quyền lựa chọn áp dụng thủ tục rút gọn của đương sự
Trong hệ thống luật tư, dựa trên nền tảng của tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì đó ngoài ý muốn của họ. Pháp luật thể hiện ý chí chung của các cá nhân trong xã hội, nên các qui định của pháp luật có giá trị bắt buộc chung mà các cá nhân đã gián tiếp ưng thuận. Quan niệm này đã tạo cơ sở cho sự hình thành học thuyết tự do ý chí trong lĩnh vực luật tư. Theo các nhà kinh tế học thì nhà nước thông thường như một phương tiện để đạt mục đích, chứ không phải là người qui định, và phản đối sự kiềm chế nhân định đối với ý chí tự do của cá nhân trong việc theo đuổi lợi ích riêng của anh ta. Với tính chất là một lĩnh vực của luật tư [Luật nội dung đại diện là luật dân sự, là bộ phận cốt yếu của luật tư, vì vậy luật TTDS nhằm bảo vệ luật nội dung nên cũng được coi thuộc luật tư, nên một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên của luật TTDS là trao quyền tự quyền cho các đương sự, chủ thể của các lợi ích. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 4 về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Điều 5 về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, Điều 9 về bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự của BLTTDS 2015. Nguyên tắc này có những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mọi cá nhân, pháp nhân có quyền lựa chọn cho mình phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM miễn sao không trái pháp luật, và đạo đức xã hội.
Thứ hai, đương sự có khả năng sử dụng tố quyền [khả năng được thừa nhận đối với chủ thể được cầu viện tới công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước.
Thứ ba, trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện đến trước khi kết thúc phiên tòa , đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút bớt, hoặc bãi bỏ yêu cầu của mình.
Thứ tư, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình hoặc yêu cầu người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trước Tòa án. Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Tự do ý chí chỉ bị giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như: (i) cân bằng lợi ích giữa cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội; (ii) bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch nhất định; (iii) đảm bảo trật tự và có định hướng trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.
Theo quy định của PLTTDS Việt Nam hiện hành, quyền lựa chọn việc áp dụng TTRG thuộc về thẩm quyền của Thẩm phán. Pháp luật Việt Nam không hề cho đương sự được tự do lựa chọn việc có cần thiết nên áp dụng TTRG hay không. Nói cách khác đương sự có thể tự do lựa chọn việc áp dụng TTRG và thủ tục thông thường. Theo các nhà bình luật BTLLTDS 2015 thì quy định về quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Điều 318.1 chỉ mới là quyết định về mặt tố tụng sau đó Tòa án vẫn phải bước tiếp theo đó là tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án theo TTRG. Với quy định này việc tiếp cận TTRG của đương sự vẫn còn quá khó khăn do pháp luật chưa quy định một chế độ đãi ngộ tốt đối với đương sự. Theo tác giả, để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, pháp luật TTDS Việt Nam cần sửa đổi theo hướng cho phép đương sự được tự do lựa chọn việc áp dụng TTRG hay thủ tục thông thường khi giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Tham khảo kinh nghiệm lập pháp ở các nước Nhật, Đức có cách tiếp cận tương tự. Ở CHLB Đức, với những trường hợp thuộc phạm vi được xét xử theo thủ tục rút gọn, các đương sự vẫn có quyền lựa chọn được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục tố tụng thông thường. Bộ luật TTDS Cộng hòa Liên bang Đức cho phép chủ nợ được tự do lựa chọn giữa thủ tục tố tụng thông thường với thủ tục tố tụng rút gọn. Ở Nhật Bản, BLTTDS được ban hành năm 1996 sửa đổi, bổ sung 2011 có hiệu lực cho tới hiện nay quy định bốn loại thủ tục giản lược. Những thủ tục này có thể là được lựa chọn và không bắt buộc. Thông thường, các đương sự không có bất kỳ thông tin nào về TTRG có sẵn. Vì vậy, nhiều Tòa án rút gọn độc lập có bàn thông tin, nơi Thư ký Tòa án sẽ nghe đương sự tóm tắt các vụ tranh chấp, hỏi họ muốn giải quyết chúng như thế nào và giải thích cho họ các loại thủ tục mà họ nên lựa chọn.
3.1.3. Hoàn thiện quy định về hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục rút gọn Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Theo nguyên tắc hai cấp xét xử, với quan niệm rằng thẩm phán được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế nhưng vẫn là con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức, hoặc cảm tính cá nhân. Vì vậy, Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra , pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa án cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm). Áp dụng nguyên tắc này, Điều 321 BLTTDS 2015 quy định: “Bản án quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn cũng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”. Điều này có nghĩa bản án quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà được trù liệu một thời hạn nhất định cho các đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị. Hết thời hạn đó mà các chủ thể không kháng cáo, kháng nghị thì bản án quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực.
Tuy nhiên khi so sánh pháp luật của nhiều quốc gia phát triển, các bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án được xét xử theo thủ tục TTRG có giá trị chung thẩm. Ví dụ theo PLTTDS của Nhật Bản nếu giá trị của tranh chấp không vượt quá 600.000 yên [tương đương 100 triệu Việt Nam đồng], thì vụ việc được đưa ra xét xử theo thủ tục đơn giản, và đương sự không được quyền khiếu nại quyết định của Tòa án giải quyết theo thủ tục đơn giản lên Tòa án cấp trên. Theo các luật gia của Nhật thì điều này đảm bảo rằng vụ án KDTM sẽ không bị kéo dài về thời gian giải quyết, hạn chế được những thiệt hại không cần thiết cho xã hội. Hoặc theo PLTTDS của Philippines đối với các vụ tranh chấp KDTM có giá trị tài sản không vượt quá 200,000.000 Pesos [tương đương 85 triệu Việt Nam đồng] thì vụ việc được giải quyết theo thủ tục TTRG, và đương sự không có quyền kháng cáo về quyết định này [Quyết định này là quyết định cuối cùng, bắt buộc các bên đương sự thực thi và không thể khiến nại.
Theo các nhà bình luận khoa học BLTTDS năm 2015 thì cơ chế xét xử một lần hay sơ thẩm đồng thời chung thẩm có ưu thế là đảm bảo việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng, hiệu quả. Việc hạn chế kháng cáo phúc thẩm đối với tranh chấp có giá trị nhỏ sẽ khắc phục được hiện tượng lạm dụng quyền kháng cáo nhằm kéo dài vụ án, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Đối với loại vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ thì xét về bản chất đây là loại việc không có tranh tụng cả về chứng cứ và về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự. Nếu quy định bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án của Toà án trong trường hợp này thì bị đơn sẽ có thể lợi dụng pháp luật kháng cáo nhằm kéo dài vụ án, trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình. Như vậy, Vô hình chung pháp luật đã tạo điều kiện cho người không có thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, theo tác giả để bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn đối với các phán quyết được Thẩm phán giải quyết theo thủ tục TTRG sẽ có hiệu lực pháp luật ngay. Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
3.1.4. Hoàn thiện quy định về vai trò của viện kiểm sát trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn
Dưới góc độ pháp lý, BLTTDS năm 2015 quy định việc kiểm sát vụ án có đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn hay không chỉ được thông báo thụ lý vụ án được gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp. Nhưng thực chất việc thông báo thụ lý này mới chỉ dừng lại ở việc xác định quan hệ tranh chấp, yêu cầu của đương sự và các tài liệu chứng cứ ban đầu mà đương sự các bên cung cấp. Chính quy định này đã gây khó khăn cho kiểm sát viên được phân công kiểm sát hoạt động của vụ án đủ hay không đủ những căn cứ để yêu cầu giải quyết vụ án mà áp dụng thủ tục rút gọn.
Từ thực tiễn cho thấy, khi hồ sơ chuyển sang Viện Kiểm sát nghiên cứu trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015, thì Viện kiểm sát mới phát hiện ra vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng Thẩm phán không áp dụng, thời điểm phát hiện đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử 01 tháng so với quy định tại Điều 318 BLTTDS 2015.
Mặt khác, BLTTDS 2015 không quy định việc áp dụng giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn là bắt buộc nếu vụ án có đủ các điều kiện theo quy định nên Viện kiểm sát cũng không có căn cứ kiến nghị vi phạm và yêu cầu Tòa án áp dụng. Điều 319 BLTTDS 2015 chỉ quy định “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định”.
Như vậy, có thể hiểu, Viện kiểm sát chỉ có quyền kiến nghị trong trường hợp đã áp dụng thủ tục rút gọn mà không đủ điều kiện chứ không quy định về quyền kiến nghị trong trường hợp đủ điều kiện nhưng không áp dụng. Quy định này đã hạn chế quyền kiểm sát hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án. Hơn nữa, Viện kiểm sát chỉ có thể thực hiện việc kiến nghị với Chánh án tòa án cùng cấp khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, làm cho hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát bị thu hẹp lại. Nếu nhận thấy những dấu hiệu không rõ ràng giữa các đương sự, các tài liệu chứng cứ có liên quan chưa thực sự thuyết phục để Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn cho vụ án, Viện kiểm sát phải có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục thông thường và tiến hành các hoạt động kiểm sát theo nhiệm vụ của mình chứ không đợi đến thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới có kiến nghị, sẽ kéo dài thời gian giải quyết vụ án vì mất thêm một công đoạn cho việc chuyển vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường. Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Từ các quy định hiện hành về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trong các vụ án theo thủ tục rút gọn của Tòa án, từ thực tiễn xét xử trong các vụ án trên thực tế cho thấy vai trò của Viện kiểm sát còn hạn chế, chưa có quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục hay thẩm quyền của kiểm sát viên trong việc kiểm sát hoạt động của Tòa án trong các vụ án theo thủ tục rút gọn.
Thứ nhất, bổ sung quy định cho phép Viện kiểm sát được quyền kiến nghị đối với thông báo thụ lý vụ án theo thủ tục tố tụng rút gọn của Tòa án. Như quy định hiện hành, chỉ đến khi có quyết định đưa bản án ra xét xử, Viện kiểm sát cùng cấp mới có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định. Quy định này vô hình chung đã làm hạn chế quyền của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt động của Tòa án. Bởi lẽ, trong trường hợp sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thấy có những điểm cần phải có thời gian nghiên cứu, làm rõ, đánh giá thẩm định một cách chính xác, Viện kiểm sát sẽ có quyền kiến nghị với Tòa án về việc thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn ngày, chứ không cần phải khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới có quyền kiến nghị và chuyển vụ án thụ lý theo thủ tục thông thường. Đảm bảo vai trò của Viện kiểm sát, vụ án được diễn ra đúng hướng, tiết kiệm thời gian từ ban đầu trong trường hợp Tòa án phải chuyển vụ án sang thủ tục thông thường.
Thứ hai, bổ sung quy định cho phép Viện kiểm sát có thẩm quyền chuyển từ thủ tục tố tụng thông thường sang giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn. Nếu trong quá trình giải quyết vụ án mà xét thấy vụ án thỏa mãn các điều kiện để áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn ở cả phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Hiện nay, quy định mới chỉ dừng lại ở quy định Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Tòa án chuyển giải quyết vụ án từ thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường, chứ chưa có quy định chuyển ngược các vụ án từ thông thường sang rút gọn khi có đủ điều kiện cần thiết. Đây là quy định quan trọng, nhằm thể hiện vai trò của Viện kiểm sát không chỉ kiểm sát trình tự, thủ tục, chất lượng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án, mà còn phải giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả, tránh trường hợp thẩm phán được phân công cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Thứ ba, bổ sung quy định cho phép Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không làm thay đổi tính chất và không ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án và khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời này thì vụ án vẫn được xét xử theo thủ tục rút gọn.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
3.2.1. Nghiên cứu xây dựng mô hình Tòa án giản lược
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 thì trong hệ thống TAND chưa có Tòa chuyên trách hoặc những Thẩm phán chuyên trách được giao nhiệm vụ giải quyết các vụ việc theo thủ tục giản lược. Việc thành lập Tòa Giản lược xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi từ thực tế và phù hợp với thông lệ quốc tế. Nguyên Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình đã từng khẳng định: “Việc thành lập Tòa giản lược trong Tòa án nhân dân và áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả công tác Tòa án trong bối cảnh chúng ta đang tích cực triển khai các chủ trương, định hướng, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và triển khai thi hành Hiến pháp mới là hết sức cần thiết.
Dưới góc nhìn so sánh, nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia phát triển trên thế giới như Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia…vvv; đều thấy trong hệ thống Tòa án của các quốc gia này đều có mô hình Tòa án giản lược, được tổ chức để giải quyết các tranh chấp có giá ngạch thấp, những vụ việc nhỏ với những tiêu chí nhất định, xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật không nghiêm trọng. Ví dụ Ở Nhật Bản, Tòa án giản lược là tòa án có thẩm quyền hạn chế, xét xử sơ thẩm các vụ án KDTM có giá trị tài sản tranh chấp không vượt quá 1.400.000 yên [tương đương khoảng 23 triệu Việt Nam đồng] và các vụ hình sự nhỏ theo quy định của pháp luật. Hiện nay có khoảng 438 tòa án giản lược trên toàn nước Nhật. Tại tòa án giản lược, tất cả các vụ việc đều do một thẩm phán xét xử. Thông thường, thẩm phán làm việc tại đây là những người trước đây làm cán bộ tòa án, không đỗ Kỳ thi luật quốc gia nên không đủ tiêu chuẩn làm luật sư bengoshi, công tố viên hay thẩm phán tại tòa án cấp cao hơn.
Ở Hoa Kỳ, Úc, Anh, Singapore; có quốc gia thành lập các Tòa hòa giải (the Peace Court/ Conciliation Court) để thực hiện chức năng hòa giải những tranh chấp nhỏ; có quốc gia không thành lập các Tòa giản lược độc lập với Tòa án sơ thẩm thông thường, nhưng thành lập các chi nhánh của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc có quy định về thủ tục rút gọn để áp dụng giải quyết đối với các vụ việc cụ thể như ở Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính vì vậy, để tương đồng với pháp luật của nhiều quốc gia thì pháp luật Việt Nam cũng cần bổ sung Toà án giản lược trong hệ thống TAND.
3.2.2. Nâng cao năng lực áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn của đội ngũ thẩm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Các Tòa án và đội ngũ cán bộ Tòa án cần phải nhận thức rõ về yêu cầu cấp bách cần phải áp dụng TTRG trong một số trường hợp mà pháp luật quy định để từ đó nâng cao ý thức thực thi các quy định của pháp luật tố tụng trong tất cả các khâu tố tụng, từ việc tiếp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, thụ lý đơn khởi kiện, ra các thông báo cần thiết về thụ lý đơn khởi kiện, về áp dụng TTRG. Nếu Tòa án và đội ngũ cán bộ của Tòa án không nhận thức được đầy đủ yêu cầu về việc áp dụng TTRG mà vẫn “xử lý” các vụ việc đó theo tuần tự và thông lệ như đã và đang áp dụng đối với những tranh chấp thông thường khác thì chắc chắn ý nghĩa của chế định TTRG sẽ không đạt được trên thực tế.
Đồng thời, theo tác giả hiện nay hệ thống cơ sở hạ tầng của Tòa án về dữ liệu pháp luật cũng tốt hơn nhiều so với trước đây để các Thẩm phán và cán bộ Tòa án có thể truy cập các thông tin và quy định liên quan của pháp luật trong quá trình chuẩn bị công tác xét xử. Điều đó dẫn đến giảm thiểu nhiều thời gian để Tòa án xác định tính phức tạp của những vấn đề pháp lý áp dụng cho vụ án thuộc đối tượng áp dụng TTRG, và cũng giảm thiểu đáng kể thời gian để Tòa án kiểm tra tính hợp pháp của các yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn thừa nhận nghĩa vụ (thuộc một trong những trường hợp áp dụng TTRG). Tuy nhiên, để đảm bảo việc triển khai áp dụng TTRG được thuận lợi và hiệu quả, cần thiết mỗi Tòa án tùy thuộc vào điều kiện vật chất và các nguồn lực cụ thể của mình để xây dựng một cơ chế và trình tự tổ chức phù hợp thực hiện việc áp dụng TTRG có sự phân công rõ ràng người chịu trách nhiệm “đầu vào, đầu ra” và thời gian xử lý từng đầu việc. Cụ thể, việc phân công Thẩm phán chịu trách nhiệm xử lý các đơn khởi kiện có thể thuộc trường hợp áp dụng TTRG, trách nhiệm của bộ phận nhận đơn khởi kiện trình Thẩm phán phụ trách việc thụ lý đơn, mối quan hệ giữa Thẩm phán phụ trách và lãnh đạo Tòa án trong việc xem xét, cân nhắc có áp dụng TTRG, thẩm quyền xem xét và quyết định về việc có chấp nhận sự phản đối của đương sự đối với việc áp dụng TTRG, về việc chuyển vụ án theo TTRG sang thủ tục thông thường… Ngoài ra, mỗi Tòa án cũng cần xây dựng các trình tự kiểm tra, giám sát việc áp dụng TTRG nhằm bảo đảm việc áp dụng các thủ tục này là đúng đắn ngay từ giai đoạn đầu tiên áp dụng TTRG.
3.2.3. Tuyên truyền, phổ biến đến đương sự về những lợi ích của thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Có một thực tế hiện nay, đương sự có tâm lý e ngại khi phải sử dụng các dịch vụ của Tòa án vì lo sợ sự rườm rà, mất thời gian, tốn kém và ít hiệu quả. Thời gian qua, việc đương sự sử dụng những giải pháp tiêu cực, trái pháp luật để khôi phục quyền lợi hợp pháp của mình đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Do đó, khi các quy định về TTRG được hoàn thiện, Tòa án các cấp cần có chương trình phổ biến đến đương sự để hiểu, tin và chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ đây đủ để yêu cầu Tòa án áp dụng TTRG trong giải quyết vụ tranh chấp, bảo vệ tốt nhất lợi ích cho đương sự. Về vấn đề này, Tòa án tối cao Philipin đã làm rất hiệu quả bằng việc phát hành các tờ rơi (Brochure) giới thiệu mô hình giải quyết các vụ án có giá trị nhỏ.
Kết luận Chương 3
Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn trong thời gian qua, luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn trong thực tiễn. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn. Bao gồm: Hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; Hoàn thiện quy định về quyền lựa chọn áp dụng thủ tục rút gọn của đương sự; Hoàn thiện quy định về hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục rút gọn; Hoàn thiện quy định về vai trò của viện kiểm sát trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn.
Thứ hai, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn. Bao gồm: Nghiên cứu xây dựng mô hình Tòa án giản lược; Nâng cao năng lực áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn của đội ngũ thẩm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại; Tuyên truyền, phổ biến đến đương sự về những lợi ích của thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại.
Các giải pháp tập trung vào sửa đổi hoặc hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 trên cơ sở các định hướng. Bên cạnh đó, các chủ thể trong quan hệ hợp đồng trong KDTM và Tòa án (chủ thể giải quyết) cũng đóng vai trò quan trọng để áp dụng thủ tục rút gọn.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) không có quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục rút gọn, thủ tục tố tụng thông thường được Tòa án áp dụng để giải quyết cho tất cả các loại tranh chấp. Theo quy định của BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) thì thời hạn chuẩn bi ̣xét xử là hai tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại130. Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy có rất nhiều các tranh chấp hợp đồng trong KDTM đơn giản nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường. Chẳng hạn, không ít trường hợp tranh chấp đơn giản, các bên đều thừa nhận và mong Tòa án giải quyết nhanh…, đương sự chỉ chờ một phán quyết của Tòa án để thực hiện việc thi hành án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ. Nhưng Tòa án không thể giải quyết nhanh, bởi Thẩm phán phải tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, mặc dù điều này là không cần thiết.
Trước yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trịvà yêu cầu thực tiễn trong thời kỳ đất nước đang hàng ngày hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Để cụ thể hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, Hiến pháp năm 2013 quy định “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Như vậy, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, việc xét xử còn có thể được tiến hành theo thủ tục rút gọn (TTRG). Quy định này của Hiến pháp năm 2013 được cụ thể hóa trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, gồm 10 phần, 42 chương, 517 Điều, trong đó nội dung về thủ tục rút gọn được quy định tại phần thứ tư. Phần này gồm hai chương (Chương XVIII và chương XIX), quy định về thủ tục giải quyết vụ án theo TTRG tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.
Với các mục đích, nghiệm vụ, đối tương & phạm vi nghiên cứu đã đặt ra, Luận văn đã giải quyết được các vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Chương 1 Luận văn đã hệ thống các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn. Phân tích đặc điểm, ý nghĩa của áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Tòa án Việt Nam ở hiện nay. Cũng như nghiên cứu khái niệm, nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn.
Thứ hai, Chương 2 Luận văn đã phân tích các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn theo BLTTDS năm 2015, từ thủ tục thụ lý đơn khởi kiện, chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phiên tòa sơ thẩm và thủ tục phúc thẩm theo thủ tục rút gọn khi có kháng cáo, kháng nghị. Từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của BLTTDS năm 2015 về thủ tục tố tụng so với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong các giai đoạn trước đó, đặc biệt là BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011. Mặt khác, thấy được sự phù hợp giữa thủ tục rút gọn của nước ta với thủ tục rút gọn của các nước trên thế giới.
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn trong thời gian qua; luận văn chỉ rõ những điểm bất cập, chưa hợp lý và không phù hợp với thực tiễn của BLTTDS năm 2015, Chương 3 Luận văn đã đưa ra một số kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn trong thực tiễn. Cụ thể:
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn. Bao gồm: Hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; Hoàn thiện quy định về quyền lựa chọn áp dụng thủ tục rút gọn của đương sự; Hoàn thiện quy định về hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục rút gọn; Hoàn thiện quy định về vai trò của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn.
Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn. Bao gồm: Nghiên cứu xây dựng mô hình Tòa án giản lược; Nâng cao năng lực áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn của đội ngũ thẩm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại; Tuyên truyền, phổ biến đến đương sự về những lợi ích của thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại. Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh