Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn và thực trạng áp dụng tại Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn
2.1.1. Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
- Điều kiện khởi kiện
Về điều kiện áp dụng TTRG, Điều 317 BLTTDS 2015 đã xác định loại vụ việc có thể áp dụng TTRG theo hướng phải có sự tích hợp đủ các điều kiện sau:
- Tính chất loại vụ việc,
- Nơi cư trú,
- Không có yếu tố nước ngoài.
Điều này được thể hiện rõ ràng, cụ thể theo quy định tại khoản 1, Điều 317 BLTTDS 2015 như sau: “Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản”
Quy định này cho thấy pháp luật Việt Nam không hề cho đương sự được tự do lựa chọn việc có cần thiết nên áp dụng TTRG hay không?, nói cách khác đương sự không thể tự do lựa chọn việc áp dụng TTRG và thủ tục thông thường. Mà quyền lựa chọn việc áp dụng TTRG thuộc về thẩm quyền của Thẩm phán. Về mặt kỹ thuật lập pháp, khi phân tích điều 189 và điều 318 BLTTDS 2015 thì có thể thấy việc khởi kiện theo thủ tục TTRG và thủ tục thông thường không có sự khác biệt. Cụ thể là sau khi đương sự nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 189 thì Tòa án sẽ xem xét việc giải quyết đơn khởi kiện theo thủ tục thông thường hay TTRG. Nói cách khác, do đương sự không được lựa chọn về thủ tục xét xử của mình nên luật cũng không quy định về trường hợp ngoại lệ về việc nộp đơn khởi kiện cho đương sự theo TTRG ngay ban đầu.
Về mặt lý thuyết, việc áp dụng TTRG có thể bao gồm những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với nguyên đơn và những vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, việc áp dụng pháp luật để giải quyết là đơn giản (không phức tạp). Điều 317.2 BLTTDS đã mở rộng hơn phạm vi áp dụng TTRG khi giảm bớt điều kiện về “Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng” và cho phép Tòa án vẫn có thể áp dụng TTRG trong một số trường hợp nhất định. Cụ thể đối với các vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn.
Theo quy định tại Điều 317 BLTTDS 2015 thì trong giai đoạn xét xử vụ án theo TTRG nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ các điều kiện để giải quyết theo TTRG thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường theo 6 căn cứ được quy định tại Điều 317.3, cụ thể là:
- Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định; Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;
- Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;
- Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp.
Theo các nhà bình luật BLTTDS 2015 thì đây thực chất là các căn cứ để Tòa án quyết định không áp dụng thủ tục rút gọn chứ không phải cơ chế kháng án theo đúng nghĩa của nó.
Bên cạnh đó, Điều 317.4 cũng quy định, trường hợp chuyển vụ án đang giải quyết theo TTRG sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Theo tác giả, với quy định này tạo ra hai tác động với các chủ thể khác nhau: Đối với Tòa án quy định này tạo ra tác động tích cực (dấu hiệu tích cực), giúp cho Thẩm phán có thời gian tập trung nghiên cứu, giải quyết các vụ án. Tuy nhiên đối với đương sự thì lại tạo ra tác động tiêu cực (dấu hiệu tiêu cực), đó là khi vụ án chuyển sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời gian tổng thể sẽ kéo dài hơn 01 tháng so với việc đương sự lựa chọn việc xét xử thông thường ngay từ ban đầu.
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Thứ nhất, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
Theo quy định của PLVN, thì trong trường hợp vụ án được xét xử theo TTRG thì thời hạn chuẩn bị xét xử là một tháng kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án. Thời điểm thụ lý vụ án được tính từ khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai tiền tạm ứng án phí. Còn trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện, tài liệu và chứng cứ kèm theo.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo TTRG là sự khẳng định về việc thời hạn giải quyết theo vụ án theo TTRG được rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường. Đồng thời đảm bảo tiêu chí vụ án được giải quyết nhanh chóng theo TTRG. Theo quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục thông thường là 02 tháng (tối đa 03 tháng nếu có gia hạn) kể từ ngày tòa án thụ lý vụ án. Như đã đề cập nếu áp dụng TTRG thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 01 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án nếu tranh chấp hội tụ đủ các điều kiện được quy định tại Điều 317.1 BLTTDS 2015, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Quyết định này phải được gửi cho đương sự để họ biết và có thể thực hiện các quyền tố tụng của mình như quyền khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; yêu cầu thay đổi Thẩm phán. Bên cạnh quyết định này cũng phải được gửi ngay cho viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM kịp thời, đúng pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Viện kiểm sát cùng cấp: trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu thay vì 15 ngày theo thủ tục thông thường. Hết thời hạn 03 ngày VKS phải trả lại hồ sơ cho Tòa án. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định đưa vụ án ra xét xử theo TTRG thì VKS có quyền khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định trên của Tòa án.
Thứ hai, Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn.
BLTTDS 2015 quy định về khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn. Đây là điểm khác biệt (đặc thù) của PLVN khi quy định về vấn đề này, bởi vì khi tiến hành nghiên cứu so sánh chúng tôi thấy rằng pháp luật TTDS thực định của các nước có nền pháp chế phát triển như Nhật, Đức, Pháp không có quy định về vấn đề này.
Theo quy định tại Điều 319 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định đó.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn; hoặc
- Hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Điều này có nghĩa là đương sự, VKS cùng cấp chỉ có quyền khiếu nại một lần mà không có quyền khiếu nại, kiến nghị lần thư hai lên Tòa án cấp cao hơn. Có thể thấy đây là quy định dành riêng cho việc xét xử tranh chấp hợp đồng trong KDTM sơ thẩm theo TTRG bởi vì về kỹ thuật lập pháp thì Điều 3 chỉ cho phép việc giải quyết kiến nghị đó trong thời hạn 03 ngày làm việc (và không áp dụng thủ tục khác). Theo các nhà bình luận BLTTDS 2015 thì quy định như vậy góp phần đảm bảo quyền con người trong TTDS một cách có hiệu quả, và quá trình tố tụng không diễn ra tùy tiện, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
Thứ nhất, Sự có mặt của đương sự, kiểm sát viên cùng cấp tại phiên tòa sơ thẩm.
Một là, đối với sự hiện diện của đương sự. Theo quy định tại Điều 320.1 BLTTDS 2015 thì các đương sự phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn. Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa. Nghĩa là nếu bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ ngay kể từ lần triệu tập hợp lệ đầu tiên. Điều này có thể hiểu một cách ngược lại, nếu những người này mà vắng mặt có lý do chính đáng thì Thẩm phán phải tiến hành hoãn phiên tòa, tuy nhiên vấn đề này BLTTDS 2015 lại không quy định. Do đó, trong trường hợp này Thẩm phán có thể áp dụng Điều 316.2 BLTTDS 2015: “Trường hợp không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Bộ luật này để giải quyết vụ án”. Tòa án áp dụng các quy định của thủ tục tố tụng thông thường để hoãn phiên tòa sơ thẩm là 15 ngày.
BLTTDS 2015 cũng không quy định, trong trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ án hay phải hoãn phiên tòa. Điều này cần có sự hướng dẫn cụ thể của TANDTC.
Hai là, đối sự hiện diện của kiểm sát viên VKS cùng cấp. Theo quy định tại Điều 320.1 BLTTDS 2015 thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Điều này có nghĩa là việc VKS vắng mặt cũng không làm ảnh hưởng đến việc tiến hành việc xét xử của Tòa án. Đây là ngoại lệ của nguyên tắc kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong TTDS, theo đó VKS với chức năng và nhiệm vụ của mình phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm việc giải quyết các v được đúng đắn, khách quan. Theo các nhà bình luận BLTTDS 2015 thì đây là quy định thực sự tiến bộ vì nó đã góp phần vào việc hạn chế việc hoãn phiên tòa do sự vắng mặt của VKS cùng cấp nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng hơn, tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án mà nguyên nhân không xuất phát từ đương sự.
Thứ hai, Thành phần xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục tố tụng rút gọn.
Theo quy định tại Điều 65 BLTTDS 2015 thì việc xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG được tiến hành bởi một Thẩm phán. Quy định này có sự tương thích với pháp luật các quốc gia khi áp dụng chế định xét xử tố tụng rút gọn. Có thể thấy đây là điểm đặc trưng riêng biệt của TTRG so với thủ tục thông thường. Ở Việt Nam, đây là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân. Về mặt kỹ thuật lập pháp quy định này là sự thể chế hóa các quy định tại Hiến pháp 2013, và Luật tổ chức TAND 2014: “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Thứ ba, Trình tự, thủ tục phiên tòa xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục tố tụng rút gọn.
Một là, đối với việc hòa giải tại phiên tòa. Hòa giải là một chế định quan trọng trong TTDS. Hòa giải tranh chấp hợp đồng trong KDTM là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Cơ sở của hòa giải tranh chấp hợp đồng trong KDTM là quyền tự định đoạt của các đương sự. Hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc trước khi xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM trừ trường hợp những vụ án không được hòa giải, không tiến hành hòa giải được, hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.Tuy nhiên khi áp dụng TTRG, thì đối với TTRG pháp luật không bắt buộc Thẩm phán phải tiến hành hòa giải vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, mà việc hòa giải được kết hợp với việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm. Sau khi Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa sơ thẩm theo quy định chung, Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải (trừ trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được). Mục đích của việc giản lược thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm góp phần thúc đẩy nhanh quá trình giải quyết vụ án, giúp cho vụ án được giải quyết theo TTRG được diễn ra nhanh hơn so với vụ án được giải quyết theo thủ tục thông thường. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Hai là, đối với việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục tố tụng thông thường. Có thể nhận thấy rằng đối với các vụ việc có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ thì không cần thiết cho đương sự tranh luận đối đáp. Việc tranh luận đối đáp có thể được thực hiện với các vụ án mà tài liệu chứng cứ không phải Tòa án tự mình thu thập mà do các đương sự cung cấp. Việc tranh luận này thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTDS. Trong giai đoạn này, các đương sự tranh luận về pháp luật áp dụng, về đánh giá chứng cứ để tìm ra lẽ phải việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM dựa trên những chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Tòa án là trọng tài và có quyền áp dụng những quy định của pháp luật để phân xử tranh chấp giữa các bên đương sự trong tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Nhiệm vụ của Tòa án là tiếp nhận chứng cứ của vụ án do các bên đương sự cung cấp và hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ để giải quyết đúng đắn tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Trên cơ sở việc xem xét, đánh giá chứng cứ, Tòa án thể hiện quyết định về từng vấn đề phải giải quyết trong phần Quyết định của bản án và công bố công khai tại phiên tòa. Đối với thủ tục nghị án, mặc dù BLTTDS 2015 không quy định rõ ràng nhưng có thể thấy Thẩm phán suy luận một cách hợp lý dựa trên chứng cứ, lời trình bày, đối đáp tranh luận của các đương sự. Thẩm phán sẽ ra phán quyết ngay mà không tiến hành thủ tục nghị án bởi lẽ phiên tòa theo TTRG chỉ do một thẩm phán đảm nhận.
- Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm theo thủ tục rút gọn Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Theo pháp luật Việt Nam, nhằm đảm bảo chế độ hai cấp xét xử thì dù bản án sơ thẩm được xét xử theo thủ tục rút gọn cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn. Cụ thể là đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm. Theo các nhà bình luận BTLLTDS 2015 thì việc duy trì chế độ xét xử hai cấp trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM nói chung và xét xử tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG nói riêng sẽ góp phần đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM của Tòa án được diễn ra theo đúng quy định của Pháp luật cũng như bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Hiện nay theo quy định của PLTTDS hiện hành thì thành phần xét xử tranh chấp hợp đồng trong KDTM được thực hiện bởi một thẩm phán. Việc không áp dụng nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, xét xử tập thể đã ảnh hưởng đến tính khác quan, công bằng, dân chủ…trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Trên thực tế việc quy định hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm cho TTRG đã phần nào mở ra một giải pháp có thể được áp dụng trong trường hợp có sự nghi ngờ hay không thỏa mãn của các bên đối với quyết định của Thẩm phán. Cấp xét xử thứ hai là cơ hội để vụ án được xem xét lại một lần nữa ở Tòa án cấp cao hơn. Mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là để Tòa án có thể xem xét một cách cụ thể, kỹ lưỡng tránh những sai sót đảm bảo cho việc giải quyết vụ án của Tòa án được đúng đắn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Quy định thực hiện chế độ hai cấp xét xử sẽ góp phần vào việc tránh sự lạm quyền của Thẩm phán khi giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG.
2.1.2. Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Tòa án cấp phúc thẩm theo thủ tục rút gọn Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Kháng cáo, kháng nghị
Thủ tục phúc thẩm theo thủ tục TTRG chỉ đặt ra khi đương sự, VKS không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa sơ thẩm. Việc không đồng ý phải được thể hiện bằng hình thức kháng cáo, kháng nghị và phải được thực hiện trong thời hạn do pháp luật quy định.
Về mặt luật thực định, thời hạn kháng cáo kháng nghị được rút ngắn hơn rất nhiều so với thủ tục thông thường. Cụ thể là:
Đối với đương sự, thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết. Như vậy so với thủ tục thông thường thì thời hạn này đã được rút xuống còn ½.Theo các nhà bình luận BLTTDS 2015 thì việc quy định mốc tính thời hạn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc bản án, quyết định được giao cho đương sự hoặc bản án, quyết định được niêm yết là nhằm tạo điều kiện cho đương sự biết được các nội dung quyết định, bản án của Tòa án có liên quan đến quyền lợi của mình để thực hiện các quyền hiến định đồng thời cũng là giải pháp để chống lại sự trì hoãn, trốn tránh không nhận bản án, quyết định của Tòa án.
Đối với VKS cùng cấp thì hời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định thay vì 15 ngày hoặc 01 tháng so với thủ tục thông thường.
- Thời hạn xét xử phúc thẩm
Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa cũng tương tự với giai đoạn sơ thẩm đó là 01 tháng. Như vậy, cũng giống như giai đoạn sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử ở giai đoạn phúc thẩm theo TTRG được rút ngắn rất nhiều so với xét xử phúc thẩm theo thủ tục thông thường. Cụ thể là thời hạn xét xử phúc thẩm theo TTRG được rút gọn ngắn 01 tháng so thời hạn 02 hoặc 03 tháng của thủ tục thông thường. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
- Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
- Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với quyết định tạm đình chỉ, theo các nhà bình luận BLTTDS 2015, trong trường hợp phát sinh căn cứ làm cho Tòa án không thể tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án, Tòa án có quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án mà không làm mất đi hiệu lực của TTRG. Có nghĩa là khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết theo TTRG. Nói cách khác, quyết định tạm đình chỉ không phải là tình tiết mới làm cơ sở cho vụ án chuyển sang xét xử theo thủ tục thông thường. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn.
Trường hợp Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án phải gửi ngay quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm cho những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án để nghiên cứu. Cần lưu ý, quyết định này phải được gửi ngay cho các đương sự để họ kịp thời biết ngay và thực hiện các quyền tố tụng của mình. Bên cạnh đó quyết định này cũng phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp để họ thực hiện chứng năng và nhiệm vụ theo luật định của mình. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Như vậy, thời hạn này đã được rút ngắn một cách tối đa mà không còn là 03 ngày theo thủ tục phúc thẩm thông thường. Theo thủ tục tố tụng rút gọn thì thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án thay vì 15 ngày theo thủ tục tố tụng thông thường. Hết thời hạn 05 ngày làm việc Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Do yêu cầu về tính nhanh chóng của việc giải quyết tranh chấp theo TTRG và hạn chế việc lạm dụng quyền kháng cáo của đương sự, quy định về thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm theo TTRG được rút ngắn hơn rất nhiều so với phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục thông thường. Cụ thể là trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc thẩm. Như vậy thời hạn thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm theo TTRG được rút ngắn chỉ còn 15 ngày so với 01 đến 02 tháng khi xét xử phúc thẩm theo thủ tục thông thường.
- Phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn
Thứ nhất, sự có mặt của đương sự và đại diện VKS.
- Một là, Đối với đương sự
Theo quy định tại Điều 324.2 BLTTDS 2015 thì các đương sự phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Trường hợp đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa. Quy định này, cho thấy đối với thủ tục phúc thẩm theo TTRG thì việc đòi hỏi về quyền tham gia phiên tòa của đương sự được giảm nhẹ hơn so với thủ tục thông thường. Sự vắng mặt của đương sự tham gia phiên tòa phúc thẩm trong một số trường hợp không thể làm cho phiên tòa bị gián đoán như trong thủ tục phúc thẩm thông thường.
- Hai là, Đối với đại diện viện kiểm sát cùng cấp
Theo quy định tại Điều 324.2 BLTTDS 2015 thì Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Thứ hai, trình tự thủ tục xét xử phúc thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục rút gọn. Nghiên cứu cho thấy ngoài việc giản lược về thành phần tham gia xét xử phúc thẩm thì sự giản lược về thủ tục, trình tự xét xử phúc thẩm theo TTRG so với thủ tục thông thường cũng được thể hiện rõ nét. Theo đó, Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM ở giai đoạn phúc thẩm. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Về thẩm quyền của Thẩm phán xét xử phúc thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG, thì mặc dù việc xét xử theo TTRG do một Thẩm phán tiến hành nhưng Thẩm phán của Tòa án cấp phúc thẩm theo TTRG vẫn có những quyền hạn tương tự như HĐXX cấp phúc thẩm theo thủ tục thông thường. Cụ thể, khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có quyền sau đây: Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Thứ ba, hiệu lực của bán án, quyết định phúc thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục rút gọn. Về nguyên tắc bản án phúc thẩm sẽ có hiệu lực thi hành ngay và không thể bị thay đổi vì đây là cấp xét xử cao nhất theo nguyên tắc hai cấp xét xử. Điều 324 (7) BLTTDS 2015 quy định: “Bản án, quyết định phúc thẩm theo thủ tục tố tụng rút gọn có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết định”. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử thì vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, và TTDS theo TTRG cũng không ngoại lệ. Cụ thể, theo Điều 321 (2) BLTTDS 2015 thì: “Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”.
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
2.2.1. Tổng quan về thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn tại tỉnh Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai. Theo thông tin thống kê mới nhất, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam bộ); dân số trung bình 2.568.689 người, GRDP bình quân đầu người đạt 151 triệu đồng/ năm (Báo cáo của Cục Thống kê Bình Dương ngày 01 tháng 12 năm 2020); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An,thành phố Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (41 xã, 45 phường, 05 thị trấn).
Với tỷ lệ đô thị ở mức 82% (2020), Bình Dương hiện là tỉnh có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất. Do đó nhu cầu về nhà, đất trên địa bàn Tỉnh Bình Dương ngày càng gia tăng qua các năm. Đặc biệt tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất tập trung số lượng công nhân, NLĐ chiếm tỉ lệ cao [Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 29 khu công nghiệp, trong đó có 27 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích 12.670,5 ha, tỷ lệ cho thuê đạt 87,4% và 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích 790 ha, tỷ lệ lấp đầy 67,4%. Một số khu công nghiệp hiện đại, được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh, có tốc độ thu hút đầu tư nhanh và khả năng quản lý sản xuất, bảo vệ môi trường tốt như VSIP 1, VSIP 2, Đồng An, Mỹ Phước…vvv]. Điều này dẫn đến tranh chấp kinh doanh thương mại trên địa bàn Tỉnh Bình Dương trong thời gian qua diễn ra ngày càng phổ biến. Theo số liệu báo cáo của TANDTC trong giai đoạn từ năm 2016-2023 thì TAND các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã thụ lý và giải quyết 199 vụ án KDTM; theo biểu đồ như sau:
Việc hoàn thiện thủ tủ tố tụng tư pháp dân sự là một đòi hỏi khách quan trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hoá và mở rộng giao lưu thương mại như hiện nay thì việc tiếp nhận văn hoá tư pháp giữa các quốc gia là một tất yếu khách quan. Nhằm bảo đảm việc giải quyết các tranh chấp tại Tòa án được tiến hành một cách nhanh chóng, hiệu quả, công minh và đúng pháp luật. BLTTDS năm 2015 đã có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm lập pháp của một số nước tiên tiến trên thế giới. Bộ luật này là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hay có tranh chấp có thể tự bảo vệ mình trước Tòa án, đồng thời là phương tiện mà Luật sư, luật gia có thể sử dụng để hỗ trợ, bảo đảm cho khách hàng có thể được xét xử một cách công bằng đúng pháp luật. Các quy định của bộ luật này còn có giá trị định hướng và điều chỉnh hành vi của người tiến hành tố tụng, đảm bảo cho công lý được thực thi, quyền lợi hợp pháp của các chủ thể được tôn trọng và đảm bảo thực hiện. Triển khai các quy định của BLTTBDS năm 2015, công tác xét xử của các toà án nhân hai cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương trong thời gian qua đạt được những kết quả cơ bản sau: Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Thứ nhất, quá trình giải quyết các vụ án theo thủ tục TTDS các Tòa án luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự. Trong số các vụ án KDTM đã được TAND các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương hòa giải, đối thoại thành công được 2.708 vụ đạt tỉ lệ 59,41%; (Năm 2020); 2.281 vụ đạt tỉ lệ 53,76%; tổng số vụ án được giải quyết theo thủ tục TTDS (Năm 2019); 2.54 7 vụ đạt tỷ lệ 54,59% tổng số vụ án được giải quyết theo thủ tục TTDS (Năm 2018); 2.304 vụ việc, đạt tỷ lệ: 48,69% tổng số vụ án được giải quyết theo thủ tục TTDS (Năm 2017). Thực tế có nhiều đơn vị có kết quả giải quyết vụ án đạt tỉ lệ khá cao theo các số liệu được báo cáo năm 2019 như TAND TP. Thủ Dầu Một đạt tỉ lệ 82,8% ; TAND Tp. Thuận An đạt tỉ lệ 69,6%; TAND TP. Dĩ An đạt tỉ lệ 69%. Các vụ án, việc chưa giải quyết chủ yếu là án tạm đình chỉ chờ cung cấp chứng từ của các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền và các vụ án, việc mới thụ lý đang trong thời hạn giải quyết. Tỉ lệ hòa giải thành đạt tỉ lệ cao theo quy định của TANDTC (Số liệu năm 2019) như TAND TP. Thủ Dầu Một đạt tỉ lệ 83,6%; TAND Tp. Thuận An đạt tỉ lệ 89,9%; TAND TP. Dĩ An đạt tỉ lệ 90.8%. Căn nguyên của việc áp dụng hòa giải trong TTDS là vì các tranh chấp KDTM liên quan đến lợi ích tư. Do đó, các chủ thể của lợi ích đó hoàn toàn có quyền tự định đoạt, quyền tìm sự thương lượng giữa chủ thể xâm phạm và người có lợi ích về một giải pháp tối ưu. Đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu tòa án công nhận, bảo vệ các thỏa thuận đó trên cơ sở không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Thực tiễn công tác xét xử tại Tỉnh Bình Dương trong thời gian qua cho thấy việc tòa án đã hòa giải, đối thoại thành đạt tỉ lệ cao làm cho các vụ án được giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm chi phí tố tụng và giảm thiểu công việc của Tòa án. Việc hòa giải thành giúp cho Tòa án không phải mở phiên tòa xét xử, tiết kiệm thời gian, công sức của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, và vì vậy rộng hơn là ngân sách nhà nước. Hệ quả là số lượng án xét xử ở cấp sơ thẩm giảm xuống mà số lương án cấp phúc thẩm cũng giảm xuống rõ rệt. Thực hiện tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, TAND các cấp thành phố phải tinh giản 10% trên tổng 1.340 biên chế được giao, tức giảm 134 biên chế, hiện đã tinh giản được 107 biên chế (tính đến năm 2020) thì TAND các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã thực hiện được 1.215/1.340 biên chế được phân bổ. Trong đó, Tòa án nhân dân thành phố có 348 biên chế, gồm 156 Thẩm phán, 22 Thẩm tra viên, 140 Thư ký và 30 biên chế khác; Tòa án nhân dân cấp quận, huyện có 866 biên chế, gồm 519 Thẩm phán, 09 Thẩm tra viên, 286 Thư ký và 25 biên chế khác. Trong đó, về trình độ chuyên môn có 11 Tiến sĩ, 295 Thạc sĩ, 899 trình độ Đại học, Cao đẳng và 10 trình độ khác; có 195 Cử nhân Cao cấp chính trị, 254 Trung cấp chính trị. Đồng thời, hòa giải thành mang lại kinh nghiệm và các kiến thức về pháp luật cho đương sự, đặc biệt với tình trạng dân trí và kiến thức pháp luật của nhân dân trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Thông qua việc hòa giải, sự hiểu biết về pháp luật sẽ giúp ích cho cuộc sống tương lai của các đương sự. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Thứ hai, TAND hai cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã chú trọng công tác giải quyết vụ án nên chất lượng giải quyết các vụ án được nâng cao, số lượng án bị hủy, sửa giảm. Số liệu thống kê cho thấy, mặc dù Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân Tỉnh Bình Dương đã đề ra, triển khai thực hiện nhiều giải pháp và đạt được kết quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng giải quyết án, tuy nhiên số lượng án bị hủy, sửa, đặc biệt là hủy, sửa do lỗi chủ quan vẫn còn. TAND các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương có 318 trường hợp bản án, quyết định bị hủy, chiếm tỷ lệ 0,54%, trong đó hủy do lỗi chủ quan là 166 trường hợp, chiếm tỷ lệ 0,28%; có 844 trường hợp bản án, quyết định bị sửa, chiếm tỷ lệ 1,43%, trong đó sửa do lỗi chủ quan là 322 vụ, chiếm tỷ lệ 0,55%. So với năm 2017, tỷ lệ án bị hủy do lỗi chủ quan giảm 0,03%, sửa do lỗi chủ quan giảm 0,04%. Hai cấp xét xử là một nguyên tắc đặc trưng trong pháp luật TTDS nước ta. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm là một nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ, theo đó bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, nhưng hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì phát sinh hiệu lực. Bản án quyết định của Tòa án phúc thẩm không thể bị kháng cáo, kháng nghị mà có tính hiệu lực pháp luật ngay. Điều này nhằm đảm bảo tính nhanh chóng của hoạt động tố tụng cũng như tránh tìn trạng lạm dụng quyền yêu cầu xét lại của đương sự để kéo dài vụ án, pháp luật quy định chỉ cho phép đương sự kháng nghị một lần thôi. Thực tiễn tại TAND các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương đã áp dụng “hiệu quả” các quy định của pháp luật, dẫn đến việc hạn chế số lượng án bị hủy, sửa, đồng nghĩa với việc hạn chế xét xử cấp phúc thẩm nhằm tăng cường tính chính xác, đúng pháp luật, nghiêm minh của bản án cấp sơ thẩm. Đồng thời, hạn chế tình trạng một số đương sự hạn chế việc kháng cáo để kéo dài việc giải quyết vụ án, gây bất lợi và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự khác.
Trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự trong thời gian qua trên trên địa bàn Tỉnh Bình Dương, nhìn chung chất lượng công tác xét xử án nói tại TAND các cấp đã được nâng lên. Tỉ lệ giải quyết các vụ án dân sự ở TAND các cấp qua các năm giảm rõ rệt, điều này cho thấy công tác hòa giải được thực hiện có hiệu quả, Tòa án tôn trọng quyền tự quyết và định đoạt của các đương sự, giúp các đương sự giải tỏa tâm lý đối kháng, trong nhiều trường hợp sẽ tiếp tục hợp tác với nhau, tránh một bản án có tính chất quyền lực. Về nguyên tắc, pháp luật yêu cầu Tòa án phải tận dụng mọi cơ hội để tiến hành hòa giải và tạo mọi điều kiện để các đương sự được hòa giải mà không được thực hiện bất kỳ các hoạt động nào ngăn cấm điều này. Các sai sai sót, khuyết điểm trong công tác xét xử từng bước được khắc phục, được thể hiện qua việc số lượng án để quá hạn luật định và án bị sửa, hủy qua các năm liên tục giảm.
Công tác xây dựng ngành có tiến bộ. Số liệu tổng kết năm 2016 cho thấy, TAND Tỉnh Bình Dương đã quan tâm bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch công chức nhằm đáp ứng yêu cầu công việc chung của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn Tỉnh Bình Dương. Việc bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ đảm bảo đúng quy trình của pháp luật. TAND các cấp đã quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn hội thẩm nhân dân; nâng cao năng lực, trình độ nghiệm vụ cũng như ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp cho đội ngũ Hội thẩm nhân dân.
Công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, xây dựng và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật đạt hiệu quả cao. Về cơ bản trong những năm qua, các chính sách, văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM có nhiều thay đổi; một số văn bản pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo nhau, chưa được hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhận thức, áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng BLTTDS năm 2015 chưa được TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn nên gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng. Mặc dù các vụ án bị hủy án, sửa án trong giải quyết tranh chấp KDTM ít, đa số là những vụ án có tính chất phức tạp, quá trình giải quyết gặp sai sót do phía Tòa án không xác minh đầy đủ đối với các trường hợp liên quan. Ngoài ra, một số thẩm phán của tòa án chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình thụ lý giải quyết án. Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, còn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như sự đa dạng, tính chất phức tạp trong tình hình hiện nay. Bên cạnh đó, nhiều thẩm phán bị áp lực và còn nặng về tâm lý lo ngại án bị hủy, sửa nên thiếu sự chủ động, chậm đổi mới trong việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng xét xử nên lúng túng, dẫn đến có nhiều sai sót, vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc sai lầm trong áp dụng pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Trước khi BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành
Trong tổng số các vụ án mà toàn ngành Toà án thụ lý, giải quyết nêu trên có không ít những vụ án có chứng cứ rõ ràng, nội dung tranh chấp đơn giản, bị đơn thừa nhận hoặc không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, vụ án có giá ngạch thấp nhưng vẫn phải giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng thông thường gây mất thời gian, tiền bạc, công sức của cơ quan tố tụng và các đương sự. Hơn nữa, có rất nhiều các vụ án bị đơn cố tình không thực hiện nghĩa vụ, lạm dụng quyền kháng cáo để kéo dài thời gian giải quyết vụ án làm cho tình trạng án tồn đọng kéo dài và gây sức ép không nhỏ cho các Thẩm phán đã giải quyết vụ án.
Thực tiễn xét xử trong những năm qua trước khi ban hành BLTTDS 2015 có 2 nhóm tranh chấp: (i) Tranh chấp đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ; (ii) Tranh chấp đơn giản, và chứng cứ rõ ràng, nhưng tòa án vẫn phải tiến hành các thủ tục tố tụng thông thường, dẫn đến thời gian giải quyết tranh chấp bị kéo dài tuy nhiên Tòa án lại dễ dàng trong việc xác định được sự thật khách quan và cũng rất thuận lợi việc kiểm tra tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của đương sự (vụ án chứng cứ rõ ràng) hoặc; đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ (một trong các bên hoặc nhiều bên trong quan hệ tranh chấp đều thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền mà giữa họ không đưa ra bất kỳ yêu cầu phản đối nào so với yêu cầu khởi kiện). Có thể kể đến một số tranh chấp điển hình như:
Vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng A và bà HTTL – chủ doanh nghiệp tư nhân HV có vay vốn tại Ngân hàng A. Ngân hàng khởi kiện đòi bà HTTL tổng số tiền nợ gốc là 706.800.000 đồng theo 02 hợp đồng tín dụng. Bị đơn HTTL thừa nhận có đứng tên đại diện Doanh nghiệp Tư nhân HV kí kết Hợp đồng tín dụng số 12/HĐTD ngày 10/02/2009 và Hợp đồng tín dụng số 21/HĐTD ngày 05/10/2010 với lãi suất và số tiền vay, mục đích vay đúng như ngân hàng đã yêu cầu. Bà thừa nhận có nợ ngân hàng tổng số tiền gốc là 706.800.000 đồng, về phần lãi thì bà không rõ yêu cầu tòa án giải quyết theo pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông LHV trình bày: ông cũng thừa nhận nợ như trong hợp đồng vay nhưng điều kiện kinh tế khó khăn nên doanh nghiệp của vợ chồng ông chưa có tiền trả nợ cho ngân hàng. Như vậy, đối với vụ án này, các bên đã thừa nhận nghĩa vụ và tài liệu chứng cứ đã được cung cấp đầy đủ, rõ ràng.
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa vợ chồng ông NĐC, bà TTH và vợ chồng bà LTT, ông TTT. Trong tranh chấp hợp đồng trong KDTM thụ lý số 47/2013/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm Nguyên đơn là vợ chồng ông NĐC, bà TTH đã khởi kiện Bị đơn là vợ chồng bà LTT, ông TTT ra TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để yêu cầu Bị đơn thanh toán 50.000.000đ tiền gốc và lãi suất tính từ tháng 10 năm 2012 cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo thỏa thuận là 3%/tháng. Liên quan đến yêu cầu này, Bị đơn đồng ý trả khoản gốc nhưng đề nghị Tòa án xem xét lại khoản tiền lãi vì Bị Đơn cho rằng Nguyên đơn đã tính lãi suất quá cao so với quy định. Ngày 03/6/2013, TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã ra bản án sơ thẩm, trong đó, Tòa chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyên đơn về yêu cầu Bị đơn thanh toán 50.000.000 đồng tiền nợ gốc và xem xét tính lại lãi suất theo quy định của pháp luật. Như vậy trong vụ án này với tình tiết đơn giản, và chứng cứ rõ ràng [các bên có cùng tuyên bố về các sự kiện, tình tiết xảy ra và cung cấp được những bằng chứng đáng tin cậy, nhờ đó Tòa án có thể dễ dàng tìm ra sự thật khách quan, và ban hành bản án. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực thi hành
BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, đã dành riêng phần thứ 4 từ Điều 316 đến Điều 324 quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Các quy định về thủ tục rút gọn không chỉ đảm bảo tính phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, phù hợp với triết lý xây dựng thủ tục rút gọn trong khoa học pháp lý mà còn có sự kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật của Việt Nam. Kinh nghiệm các nước cho thấy việc áp dụng TTRG sẽ giảm thời gian giải quyết vụ án nhưng vẫn đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi của các bên, giảm công việc của thẩm phán, thư ký đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của tòa án. Với việc giải quyết nhanh chóng các tranh chấp. Như đã đề cập, theo quy định BLTTDS 2015 thì TTRG theo hướng phải có sự tích hợp đủ các điều kiện sau: a) Tính chất loại vụ việc; b) nơi cư trú; c) không có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, dưới góc độ luật thực định đã có quy định về việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên trên thực tiễn đối với các vụ tranh chấp đủ điều kiện áp dụng TTRG đó là có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng theo quy định tại Điều 317.1 BLTTDS 2015 phần lớn các Thẩm phán chọn giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường và rất ít vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Đa số, đối với các vụ án này, Tòa án hòa giải thành ngay lần hòa giải đầu tiên. Sau 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thực tiễn hoạt động xét xử tại trên địa bàn tỉnh Bình Dương, trong đa số các trường hợp này Tòa án thường ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Ví dụ như: Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và Bà BTKV. Theo quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự của TAND TP. Tân Uyên thì Bà BTKV có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương, Phòng Giao dịch Tân Uyên tổng số tiền là 377.595.000 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn: 70.000.000 đồng và tiền nợ lãi quá hạn: 7.595.000 đồng. (Tiền lãi tạm tính đến ngày 17/11/2017). Sau khi bà BTKV trả hết nợ gốc, nợ lãi và lãi suất phát sinh thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương, Phòng Giao dịch Tân Uyên phải trả lại cho bà BTKV 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 442130 do Ủy ban nhân dân TP. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/6/2008 mang tên hộ BTNT và đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cập nhật thay đổi chủ sở hữu tặng cho bà BTKV vào ngày 04/9/2015. Khi đến hạn trả nợ mà bà BTKV không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp nói trên được xử lý theo quy định của pháp luật. Đây là tranh chấp có giá ngạch thấp, các bên đã thừa nhận nghĩa vụ và tài liệu chứng cứ đã được cung cấp đầy đủ, rõ ràng.
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ông BVK và Ông B.H. Trong quá trình giải quyết tranh chấp Tòa án xác định: Ông N.B.H còn nợ ông BVK số tiền là 301.125.000đ (Ba trăm lẻ một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), lãi suất tính đến ngày 30/7/2017 là 1.125.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Theo quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự của TAND Huyện Dầu Tiếng thì Ông N.B.H có trách nhiệm trả cho ông BVK số tiền là 301.125.000đ (Ba trăm lẻ một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), lãi suất tính đến ngày 30/7/2017 là 1.125.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Đây là những tranh chấp với tình tiết đơn giản, và chứng cứ rõ ràng [Nội dung của nó có các tình tiết đơn giản, dễ dàng để Tòa án xác định được sự thật khách quan và cũng rất thuận lợi việc kiểm tra tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của đương sự. Với các tranh chấp này đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ, nghĩa là các bên trong quan hệ tranh chấp đều thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền mà giữa họ không đưa ra bất kỳ yêu cầu phản đối nào so với yêu cầu khởi kiện.
Sở dĩ Thẩm phán lựa chọn giải quyết vụ án nêu trên theo thủ tục thông thường mà không chọn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn là vì những lý do sau:
Thứ nhất: Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn nhanh hơn, có ít thời gian chuẩn bị phiên tòa hơn so với thời hạn giải quyết theo thủ tục thông thường .
Thứ hai: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2.2.2. Vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
- Thứ nhất, Về điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn
Một là, về việc xác định “vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng”, vấn đề là, hiện nay chưa có quy định và hướng dẫn thế nào là tình tiết đơn giản. Đây là một quy định mới có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau. Chẳng hạn, trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn chỉ đồng ý trả khoản tiền là nợ gốc, đồng thời phản đối yêu cầu thanh toán lãi quá hạn của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn đã tính lãi quá cao. Điều này sẽ dẫn tới hai cách hiểu và vận dụng, áp dụng pháp luật khác nhau.
- Cách hiểu thứ nhất cho rằng, vì bị đơn đã phản đối một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên không thỏa mãn điều kiện “đương sự thừa nhận nghĩa vụ”, do đó trường hợp này không áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án mà phải giải quyết bằng thủ tục thông thường.
- Cách hiểu thứ hai, khẳng định trường hợp này vẫn áp dụng được thủ tục rút gọn, vì bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ trả phần nợ gốc và khoản tiền lãi cho nguyên đơn. Bị đơn chỉ không đồng ý đối với phần lãi cao vượt quá mà nguyên đơn đưa ra, chứ không phải là bị đơn phủ nhận nghĩa vụ trả nợ của mình đối với nguyên đơn.
Quan điểm của tác giả đồng tình với cách hiểu thứ hai. Trường hợp này Tòa án có thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết. Bởi vì, vụ án“có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng” là vụ án mà Tòa án dễ dàng xác định sự thật khách quan của vụ án, tính hợp pháp và có căn cứ của yêu cầu khởi kiện của đương sự. Trong trường hợp trên, bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ trả nợ và Tòa án hoàn toàn có thể xác định được sự thật khách quan của quan hệ vay nợ giữa các bên. Về cách tính lãi chậm trả, Tòa án có thể dễ dàng kiểm tra tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện về phần lãi chậm trả, cụ thể là cách tính lãi có đúng như các bên đã cam kết trong hợp đồng và có phù hợp với quy định của pháp luật hay không. Khi nguyên đơn đã tính lãi phù hợp các quy định của pháp luật, trên thực tế Tòa án sẽ ra quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận ý kiến phản đối của bị đơn. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Ngoài ra, với cách hiểu của quan điểm thứ nhất, khi cho rằng bị đơn phản đối yêu cầu thanh toán lãi quá hạn là đã phản đối một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên không thỏa mãn điều kiện “đương sự thừa nhận nghĩa vụ”, do đó trường hợp này không áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án. Với cách hiểu này sẽ không hợp lý, bởi vì nếu trong vụ án mà bị đơn đã thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ, trong đó thừa nhận cả phần nợ gốc và phần lãi suất quá hạn thì về bản chất các bên đương sự sẽ không còn tranh chấp về các yêu cầu khởi kiện. Lúc này, Tòa án chỉ có nghĩa vụ và thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của sự thừa nhận nghĩa vụ đó. Trường hợp đủ điều kiện công nhận sự thỏa thuận của đương sự, Tòa án ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà không cần thiết xem xét quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết. Trong vụ án bị đơn chỉ thừa nhận một phần nghĩa vụ, khi đó về bản chất vẫn còn tranh chấp giữa các bên, như vậy mới cần cân nhắc đến các yếu tố như có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ… như thế nào để có xem xét giải quyết theo thủ tục rút gọn hay không.
- Hai là, Điều kiện: “Tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ”
Hiểu thế nào là vụ án có tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể mà chủ yếu phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của Thẩm phán. Điều này dẫn đến khả năng Thẩm phán đánh giá không đúng về tính đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ của tài liệu, chứng cứ từ đó quyết định việc áp dụng hay không áp dụng thủ tục rút gọn không chuẩn xác hoặc có sự đánh giá khác nhau giữa các cấp xét xử dẫn đến tình trạng hủy, sửa bản án hoặc chuyển vụ án từ thủ tục tố tụng rút gọn sang thủ tục tố tụng thông thường khi xét xử ở cấp phúc thẩm. Bên cạnh đó, quy định điều kiện đủ “và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ” là quá chặt, dẫn đến thu hẹp đối tượng vụ án được áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn. quá trình áp dụng.
Ba là, về tình tiết “đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ”. Đương sự theo quy định của BLTTDS được hiểu bao gồm cả nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Với các tranh chấp mà đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ, nghĩa là một trong các bên hoặc nhiều bên trong quan hệ tranh chấp đều thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền mà giữa họ không đưa ra bất kỳ yêu cầu phản đối nào so với yêu cầu khởi kiện và sự thừa nhận thực hiện nghĩa vụ đó không trái với đạo đức xã hội cũng như không vi phạm điều cấm của pháp luật, do vậy Tòa án coi đó là trường hợp đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ. Chẳng hạn, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ vay quá hạn thì phải có sự thừa nhận nghĩa vụ của bị đơn về khoản nợ đó hoặc trong trường hợp khoản nợ đó có người thứ ba bảo lãnh thì người bảo lãnh với tư cách là người có nghĩa vụ liên quan đồng ý thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Bên cạnh đó, việc hiểu đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ cũng không loại trừ trường hợp họ không thể thực hiện theo đúng yêu cầu của nguyên đơn, mà có thể vì lý do hiện đang khó khăn về tài chính, như chưa bán được nhà, từ đó đề nghị được giảm tiền lãi và giãn tiến độ thanh toán. Như vậy vấn đề là cần có cách giải thích chính thức về điều kiện đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ.
Thứ hai, Về thủ tục khiếu nại, kiến nghị việc Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn BLTTDS năm 2015 chỉ quy định việc khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn tại Điều 319 mà chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại của đương sự đối với việc Tòa án thụ lý vụ án theo thủ tục tố tụng rút gọn. Thiếu sót này dẫn đến đương sự, Viện kiểm sát không có quyền khiếu nại, kiến nghị đối với việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng rút gọn ngay từ đầu mà phải đợi đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới có quyền khiếu nại, kiến nghị. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Trường hợp qua giải quyết khiếu nại, kiến nghị mà phải chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường thì gây lãng phí khoảng thời gian từ khi thụ lý vụ án đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thứ ba, Về vấn đề chuyển vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn sang thủ tục thông thường và ngược lại.
Khoản 3 Điều 317 BLTTDS năm 2015 quy định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 lại không có quy định sau khi thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường mà có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thì chuyển từ thủ tục thông thường sang thủ tục rút gọn. BLTTDS năm 2015 cũng không quy định cho phép Tòa án ấp phúc thẩm thụ lý vụ án theo thủ tục tố tụng rút gọn trong trường hợp vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường nhưng đến khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý thì vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.
Khoản 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015 quy định: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và tùy từng trường hợp mà ra quyết định – trong đó có tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của BLTTDS năm 2015. Như vậy, việc áp dụng thủ tục rút gọn hay không là phải quyết định ngay từ khi thụ lý vụ án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Tòa án cần có thời gian (dài hơn 05 ngày làm việc) để xác định được chính xác một vụ việc có đủ các điều kiện để áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015 hay không. Do luật không quy định nên đối với những vụ án này Tòa án thông thường sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường. Sau đó, mặc dù vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn nhưng do BLTTDS không quy định về việc chuyển từ thủ tục thông thường sang thủ tục rút gọn nên vụ án vẫn không thể được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
- Thứ tư, Về thời hạn chuẩn bị xét xử
Đối với thủ tục TTRG thì Thẩm phán trong vòng một tháng bắt buộc chỉ được ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quy định này đã rút ngắn thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục rút gọn so với thủ tục thông thường. Tuy nhiên, với quy định này thì thời gian vụ án được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường có thể sẽ được rút ngắn hơn so với giải quyết theo thủ tục TTRG. Cụ thể với trường hợp giải quyết theo thủ tục TTDS thông thường mà sau khi thụ lý các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sau thời gian bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành. Còn nếu để giải quyết theo thủ tục TTRG thì thời gian này tối thiểu phải là một tháng.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
Nếu có tranh chấp xảy ra và được giải quyết tại Tòa án thì rõ ràng các bên đương sự đều mong muốn phía Tòa án giải quyết nhanh các tranh chấp đó để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ. Vì nếu vụ án giải quyết bị kéo dài sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích chính đáng của đương sự và việc đi lại nhiều lần mất thời gian, tiền của và công sức, bên cạnh đó số lượng vụ án do Tòa án thụ lí giải quyết bị tồn đọng, kéo dài . Để khắc phục tình trạng trên, nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn trong tiến trình cải cách tư pháp, thủ tục rút gọn được bổ sung trong BLTTDS năm 2015 góp phần giải quyết nhanh chóng nhiều loại tranh chấp KDTM mà Tòa án thụ lý, từ đó bảo đảm tính kịp thời và hiệu quả trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Đồng thời, việc xét xử thủ tục rút gọn còn giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho đương sự, Nhà nước, và góp phần làm giảm tải áp lực công việc cho Tòa án nhân dân các cấp. Chương 2 của luận văn đã phân tích các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại bằng Tòa án theo thủ tục rút gọn theo BLTTDS năm 2015 theo cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm). Từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của BLTTDS năm 2015 về thủ tục tố tụng so với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong các giai đoạn trước đó, đặc biệt là BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011. Tuy nhiên, do là quy định mới nên thực tiễn áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh