Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn – Thực tiễn tại Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài

Thủ tục rút gọn đã áp dụng tại nhiều quốc gia khác như Mỹ, Pháp, Nga, Nhật, Trung Quốc… Vai trò của thủ tục rút gọn trong tố tụng đã được khẳng định qua thời gian và trong hệ thống pháp luật của các quốc gia. Ở Việt Nam, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) quy định theo hướng các tranh chấp dân sự (TCDS) nói chung, cũng như các tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM) nói riêng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án1 đều được giải quyết bằng một trình tự thủ tục tố tụng thông thường, áp dụng chung mà không phân biệt giá trị tranh chấp, tính phức tạp hoặc đơn giản của tranh chấp, có sự thừa nhận nghĩa vụ của đương sự. Với quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) vô hình chung làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, môi trường kinh doanh và làm tăng chi phí trong hoạt động kinh doanh. Chính quy định thời hạn giải quyết kéo dài vài tháng (mà thực tiễn xét xử có khi lên đến cả năm) của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) đã có những tác động không tốt đến quá trình quay vòng của đồng vốn nếu tranh chấp trong vụ kiện có liên quan đến tài sản, tiền, vàng… trong khi đó giá cả trong nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động. Khắc phục bất cập của BLTTDS năm 200 (sửa đổi bổ sung năm 2011) thì Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 đã được Quốc hội khoá 13 ban hành ngày 25/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, trừ một số quy định liên quan đến Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Mục đích hướng đến của thủ tục rút gọn chính là giúp cho vụ án dân sự có thể được giải quyết với “trình thực đơn giản hơn và nhanh chóng hơn” so với thủ tục thông thường. Đối với đương sự việc áp dụng thủ tục rút gọn giúp cho đương sự tiết kiệm thời gian, công sức và nhanh chóng đòi lại quyền và lợi ích chính đáng của mình. Đối với ngành Tòa án và các thẩm phán, thủ tục rút gọn giúp giảm tải áp lực giải quyết các vụ án trong bối cảnh các tranh chấp dân sự vẫn chiếm số lượng lớn mỗi năm. Do đó, việc đưa những quy định về thủ tục rút gọn (TTRG) vào Bộ luật TTDS năm 2015 là phù hợp với xu hướng chung của thế giới trong việc rút ngắn thời gian giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong dân sự, bảo vệ kịp thời các lợi ích chính đáng, từ đó giúp phát triển giao thương kinh tế và duy trì ổn định trật tự xã hội.

Có thể thấy quy định trong BLTTDS năm 2015 là bước tiến mới của chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, phù hợp yêu cầu đòi hỏi của xã hội, có ý nghĩa pháp lí sâu sắc trong tình hình hiện nay. Thủ tục rút gọn sẽ là cơ sở pháp lí để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án đơn giản, rõ ràng góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng vụ án kéo dài. Việc pháp luật TTDS quy định về TTRG không chỉ tác động tích cực về mặt chính trị như: “giúp cho pháp luật nước ta nói chung, pháp luật TTDS nói riêng xích lại gần nhau hơn về mặt pháp luật, góp phần vào việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với nhau về phương diện chính trị, kinh tế một cách dễ dàng hơn, giữa Việt Nam và các nước phát triển”. Mà còn tác động tích cực dưới nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ, về mặt pháp lý, thủ tục này là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án đơn giản, rõ ràng; tập trung vào việc giải quyết các vụ án lớn, phức tạp hơn góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án kéo dài. Về mặt kinh tế, việc giải quyết vụ án nhanh chóng sẽ tạo điều kiện cho các CQTHTT tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức trong việc giải quyết các vụ án đơn giản. Đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những người tham gia tố tụng mà vẫn đảm bảo tính pháp chế trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM.

Tuy nhiên, do đây là một quy định mới được ghi nhận trong BLTTDS 2015 nên quá trình áp dụng pháp luật còn nhiều hạn chế, bất cập. Trên thực tế các quy định của BLTTDS năm 2015 về TTRG chưa được áp dụng rộng rãi, còn nhiều điểm “vênh” giữa lý luận và thực tiễn. Do đó để khắc phục các tồn tại, bất cập trong thực tiễn thi hành BLTTDS 2015 về thủ tục rút gọn từ đó; bảo đảm việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM dân chủ, bình đẳng, công khai, công bằng, minh bạch; nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp hợp đồng KDTM tại TAND; từ đó bảo đảm tốt hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Từ tất cả các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn – Thực tiễn tại Tỉnh Bình Dương ” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại tòa án theo thủ tục rút gọn, thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương, để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung đã nêu trên, các mục tiêu cụ thể của luận văn được xác định cụ thể như sau:

Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn;

Thứ hai, phân tích và đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn;

Thứ ba, làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn tại Tỉnh Bình Dương;

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn..

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Khái niệm, đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn?
  • Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn?
  • Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn như thế nào?
  • Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn tại tỉnh Bình Dương ra sao?
  • Những hạn chế, bất cập của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn ở Việt Nam?
  • Cần có định hướng và những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn ở Việt Nam?

3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Tại Việt Nam, TTRG trong TTDS là một chế định mới trong BLTTDS 2015. Tuy nhiên trong khoa học pháp lý nhiều năm qua, vấn đề này đã được nhiều công trình khoa học đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, các công trình này chủ yếu đề cập đến hai (02) vấn đề chính sau đây:

Thứ nhất, giới thiệu kinh nghiệm của nước ngoài về xây dựng TTRG trong TTDS và gợi mở cho Việt Nam (tiêu chí xác định tranh chấp hợp đồng KDTM được giải quyết theo TTRG, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết).

Thứ hai, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng TTRG trong BLTTDS nước ta nhằm đáp ứng với tiêu chí hội nhập.

Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu ở cấp độ bài viết khoa học, luận văn, đề tài khoa học như:

Thứ nhất, Nhóm các bài viết khoa học:

  • Trần Tuyết Trinh (2019), “Bàn về thủ tục TTDS rút gọn tại cấp sơ thẩm”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Số 5, tr. 14-17. Bài viết đã phân tích & đánh giá thực trạng quy định pháp luật về thủ tục TTDS rút gọn tại tòa án cấp sơ thẩm, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, thụ lí vụ án và xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn.

Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thủ tục tố tụng rút gọn.

  • Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận một số quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 6/2017, tr. 42 – 46. Bài viết đã phân tích các hạn chế trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục rút gọn: điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; khiếu nại, kiến nghị về quyết định không xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.
  • Đặng Thanh Hoa (2015), “Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Số 6/2015, 46 – 49. Bài viết đã phân tích thủ tục rút gọn của một số nước như Pháp, Đức, Trung Quốc; đề xuất hướng Dự thảo trong Bộ luật Tố tụng dân sự ở một số khía cạnh: không nên quy định cụ thể mức tranh chấp có giá ngạch thấp, ghi nhận quyền kháng cáo khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
  • Võ Thị Ánh Trúc (2019), “Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng và giải pháp, kiến nghị hoàn thiện”. Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử; truy vấn tại:  Bài viết chỉ ra thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là một chế định tiến bộ trong pháp luật tố tụng dân sự. Ở Việt Nam, thủ tục này lần đầu tiên được chính thức ghi nhận trong BLTTDS năm 2015, hiện thực hóa nhiệm vụ cải cách tư pháp. Bài viết đã chỉ ra một số vướng mắc trong áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp hợp đồng và một số kiến nghị.
  • Dương Tấn Thanh (2018), “Quy định về thủ tục rút gọn và thực tiễn tại áp dụng tại Tòa án cấp huyện”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử; truy vấn tại: Bài viết đã làm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm và thực tiễn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp huyện.
  • Nguyễn Tài Tuấn Anh (2022), “Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Toà án nhân dân, Số 11, tr. 54-61. Bài viết tập trung phân tích những tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng quy định về thủ tục rút gọn, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Trịnh Tuấn Anh, Lưu Thị Thu Hường, Nguyễn Thị Thanh Nhã (2018), “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ: Chuyên san Kinh tế – Luật và Quản lý, Tập 2, Số 4. Bài viết phân tích số qui định về thủ tục rút gọn theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 nhìn từ góc độ luật học so sánh và gợi mở một số kiến nghị hoàn thiện.

Thứ hai, Nhóm các luận văn, luận án & đề tài khoa học:

  • Nguyễn Tài Tuấn Anh (2020), “Thủ tục rút gọn giải quyết các tranh chấp hợp đồng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các qui định của BLTTDS năm 2015 về thủ tục rút gọn; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này.
  • Đặng Thị Hồng Ánh (2021), “Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích thực tiễn thực hiện thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự tại các Toà án Việt Nam; từ đó đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.
  • Đặng Thanh Hoa (2015), “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh. Luận án đã phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án Việt Nam làm cơ sở xây dựng TTRG giải quyết tranh chấp KDTM; từ đó làm rõ các yêu cầu và đưa ra các đề xuất xây dựng TTRG giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án Việt Nam.
  • Trần Anh Tuấn (2014), “Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay – Thực trạng và giải pháp”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ Tư pháp. Đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực trạng tố tụng dân sự, xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam. Từ đó đưa ra quan điểm và đề xuất mô hình về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

Luận văn kế thừa một số nội dung sau:

  • Về lý luận và lý luận pháp luật: Luận văn kế thừa nghiên cứu một số vấn đề lý luận như các gợi mở khái niệm, cơ sở pháp lý và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.
  • Về thực tiễn thực hiện pháp luật, Luận văn kế thừa một số nội dung chỉ ra trong các vướng mắc, vụ việc điển hình.
  • Luận văn nghiên cứu chuyên sâu hơn và tiếp cận qua thực tiễn tại Tỉnh Bình Dương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn;
  • Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn theo BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
  • Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn tại Tỉnh Bình Dương trong thời gian vừa qua.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về không gian: Trên địa bàn Tỉnh Bình Dương.
  • Về thời gian: Từ thời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành trên thực tiễn (01/7/2016) cho đến hiện tại.
  • Về nội dung nghiên cứu: (i) Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm; (ii) Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc thẩm.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

  • Phương pháp phân tích và thống kê, tổng hợp để hệ thống hóa, làm rõ các vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu. Như làm rõ các vấn đề về lý luận, thuật ngữ và các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo TTRG.
  • Phương pháp so sánh luật học để đối sánh các quy định pháp luật Việt Nam và một số quy định pháp luật các quốc gia trên thế giới về TTRG để đưa ra những nhận định; từ đó tạo cơ sở khoa học pháp lý cho đề xuất hoàn thiện pháp luật.
  • Phương pháp thống kê (số liệu thứ cấp) và nghiên cứu điển hình được sử dụng để thu thập thông tin một số vụ án cụ thể, xác định một số vướng mắc, khó khăn, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1. Đóng góp khoa học

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn tại Tòa án. Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ cung cấp những nội dung, thông tin hữu ích, tin cậy về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về TTRG trong TTDS tại Việt Nam, trong đó có tham khảo kinh nghiệm nước ngoài.

Ngoài ra, Luận văn có đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện pháp luật về TTRG nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, tạo điều kiện hơn nữa cho đương sự tiếp cận công lý, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

6.2. Đóng góp về thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng là tài liệu tham khảo để hoàn thiện pháp luật, phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục viết tắt; phần chính của luận văn có 03 chương và những nội dung cơ bản sau:

  • Chương 1: Tổng quan về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn
  • Chương 2: Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn và thực trạng áp dụng tại Bình Dương
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN THEO THỦ TỤC RÚT GỌN

1.1 Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn

1.1.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn

Trong khoa học pháp lý, khi bàn về thủ tục giải quyết các tranh chấp đơn giản. Thuật ngữ “thủ tục rút gọn” được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh đó các thuật ngữ ‘thủ tục đơn giản”, “thủ tục giản lược” cũng được một số học giả, và nền pháp chế sử dụng. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Nghiên cứu so sánh thấy rằng, pháp luật TTDS nhiều quốc gia trên thế giới có quy định về vấn đề này.

Ở Cộng hòa Pháp, TTRG được đề cập với tên gọi thủ tục xét xử nhanh được để cập trong BLTTDS Pháp 1807. Trong suốt quá trình phát triển của PLTTDS, kể từ khi ban hành BLTTDS 1807 thì thủ tục xét xử nhanh được quy định để áp dụng giải quyết đối với những tranh chấp mà việc giải quyết mang tính khẩn cấp và những loại tranh chấp đơn giản mà việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường là quá chậm chạp và tốn kém. Thủ tục tố tụng nhanh được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu.

Ở Hoa Kỳ, mặc dù TTRG không được pháp điển hóa trong luật thành văn nhưng trong thực tiễn xét xử, các án lệ thì TTRG được thừa nhận rộng rãi ở nhiều tiểu bang. Theo một số học giả thì TTRG ở Hoa Kỳ được hiểu là thủ tục pháp lý được sử dụng để thực thi quyền có hiệu lực nhanh hơn và hiệu quả hơn các phương pháp thông thường.

Pháp luật TTDS nhiều quốc gia như Đan Mạch, Thụy Điển, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản đều có quy định về vấn đề này. Ví dụ Ở Nhật Bản thì BLTTDS 1996 (sửa đổi, bổ sung 2011) quy định có 04 loại thủ tục giản lược gồm:

  • Thủ tục thông thường trong tòa án rút gọn;
  • Thủ tục yêu cầu trả tiền đối với hối phiếu, lệnh phiếu, séc;
  • Thủ tục đối với những vụ kiện nhỏ;
  • Thủ tục đối với các yêu cầu thanh toán.

Ở Trung Quốc theo quy định BLTTDS 2012 thì có ba trường hợp có thể áp dụng TTRG trong xét xử tranh chấp hợp đồng trong KDTM:

  • Vụ án có tính chất đơn giản;
  • Vụ án giá trị tranh chấp nhỏ;
  • Vụ án mà các đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ với

Ở Việt Nam, khái niệm TTRG được tiếp nhận từ pháp luật nước ngoài thông qua quá trình thuộc địa hóa. Khi nhắc đến TTRG người ta thường có sự liên tưởng đến thủ tục xét xử nhanh của Pháp tiếp nhận bị động với sự xâm lược thuộc địa đi liền với “sự xâm lăng pháp luật”. Bằng chứng là trong nhiều công trình về TTDS, tác giả Nguyễn Huy Đẩu, Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn (1955-1975) đã đề cập về TTRG là thủ tục ít nệ thức, đỡ tốn kém, và mau chóng hơn, được nhà lập pháp dự liệu như biệt lệ với thủ tục tố tụng thông thường. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Trên thực tế, một số nội hàm của TTRG được thể hiện từ trước năm 1945. Trong giai đoạn này, TTRG chỉ có một hình thức duy nhất là xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm và chỉ được áp dụng đối với tranh chấp hợp đồng trong KDTM có giá ngạch thấp. Thủ tục TTDS rút gọn trước đây nằm rải rác trong một số văn bản như:

  • Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức tòa án và quy định các ngạch thẩm phán có quy định chánh án xử một mình.
  • Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về thẩm quyền tòa án sơ cấp về dân sự, thương mại và Điều 12 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 có quy định có thể xét xử một thẩm phán, không có hội thẩm nhân dân trong vụ án nhỏ, đơn giản.
  • Nghị định số 32 ngày 06/4/1952 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 4013 ngày 09/5/1959 của Bộ Tư pháp và Thông tư liên bộ thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao số 93 ngày 11/11/1959 có quy định tòa án huyện có quyền chung thẩm trong một số lĩnh vực.

Trong giai đoạn hiện nay, Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó có nội dung: “Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”.

Tuy nhiên, trong BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung 2001) lại không đề cập về TTRG. Nói cách khác, TTRG lại không xây dựng trong luật chung (luật tố tụng) mà lại được quy định ở luật chuyên ngành. Cụ thể, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định, tranh chấp hợp đồng trong KDTM về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về TTDS khi có đủ các điều kiện sau đây:

  • Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;
  • Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
  • Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng”.

Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2023 tiếp tục quy định:

2. Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng thì được giải quyết theo thủ tục rút gọn mà không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

3. Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật Tố tụng dân sự.”

Tuy nhiên, cả văn kiện của Đảng và luật nêu trên đều không đưa ra khái niệm thế nào là TTRG. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng chỉ đưa ra tiêu chí áp dụng thủ tục đơn giản để giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong KDTM về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chứ chưa quy định về thủ tục giải quyết.

Trong khoa học pháp lý, TTRG được nhiều học giả đề cập đến với nhiều cách diễn giải khác nhau. Có tác giả định nghĩa: Thủ tục tố tụng rút gọn được áp dụng để xử lý những vi phạm pháp luật nhỏ, những tranh chấp, khiếu kiện có giá trị thấp, những vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng. Có tác giả lại tiếp cận một cách cụ thể, chi tiết hơn: Thủ tục tố tụng rút gọn là dạng đơn giản hóa của thủ tục xét xử thông thường, được sử dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong KDTM có chung những đặc điểm là nhỏ, đơn giản, rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ. Phán quyết và quyết định của tòa án sử dụng thủ tục tố tụng rút gọn có thể có giá trị chung thẩm. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Như đề cập, về kĩ thuật lập pháp thì TTRG được đề cập trong Hiếp pháp 2013. Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 chỉ sử dụng cụm từ TTRG mà không đưa ra khái niệm cụ thể của TTRG. Nhằm cụ thể hóa HP 2103, BLTTDS 2015 đã định nghĩa về TTRG như sau: “Thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong KDTM thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật”.

Từ các phân tích trên có thể hiểu: Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn là một thủ tục tố tụng đặc biệt, nhằm đơn giản hóa thủ tục xét xử thông thường do Tòa án tiến hành giải quyết đối với các tranh chấp hợp đồng trong KDTM có chứng cứ rõ ràng, nội dung tranh chấp đơn giản, giá trị tranh chấp không lớn…, theo một trình tự tố tụng giản lược.

1.1.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Thứ nhất, Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với những vụ án có đủ các điều kiện luật định

Thông thường, TTRG là một thủ tục chỉ để giải quyết đối với những tranh chấp đặc thù, đáp ứng các điều kiện cơ bản do luật định như: tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc giá ngạch thấp. Vấn đề này được quy định tương tự ở nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Nghiên cứu pháp luật tố tụng của Hoa Kỳ, và pháp luật Nhật Bản cho thấy TTRG có những đặc điểm sau:

  1. Vụ án xác định xét xử theo thủ tục giản lựơc hoặc TTRG thường phụ thuộc vào giá trị tranh chấp. Các nước thường quy định mức tiền cụ thể để xác định, và thông thường mức tranh chấp này đều có giá trị nhỏ;
  2. Các vụ án mà chứng cứ rõ ràng, các đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ với

Ở Việt Nam, theo quy định của BLTTDS 2015, thì việc áp dụng TTRG để giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM khi vụ án có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ.
  2. Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng
  3. Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp”.

Một là, vụ án có tình tiết đơn giản, được hiểu là các vụ án mà nội dung của nó có các tình tiết đơn giản, dễ dàng để Tòa án xác định được sự thật khách quan và cũng rất thuận lợi trong việc việc kiểm tra tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của đương sự. Chẳng hạn, giữa nguyên đơn và bị đơn có hợp đồng tín dụng cụ thể, rõ ràng và các khoản vay đã được giải ngân, do vậy, bị đơn khó có thể chối cãi trách nhiệm đối với các khoản nợ của mình đối với nguyên đơn.

Hai là, quan hệ pháp luật rõ ràng, nghĩa là tính chất vụ án đơn giản về mặt pháp lý, chứng cứ rõ ràng.

Ba là, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ. Đương sự – theo quy định của BLTTDS được hiểu bao gồm cả nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Với các tranh chấp mà đương sự thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ, nghĩa là một trong các bên hoặc nhiều bên trong quan hệ tranh chấp đều thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền mà giữa họ không đưa ra bất kỳ yêu cầu phản đối nào so với yêu cầu khởi kiện và sự thừa nhận thực hiện nghĩa vụ đó không trái với đạo đức xã hội cũng như không vi phạm điều cấm của pháp luật, do vậy, Tòa án coi đó là trường hợp đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ.

Bốn là, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ được hiểu là những tài liệu, chứng cứ phản ánh đầy đủ, chính xác, toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án. Những tài liệu, chứng cứ khi đương sự giao nộp cho Tòa án phải đảm bảo đủ căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án mà không phải tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Có thể thấy, pháp luật TTDS nước ta khi quy định về vấn đề này, có tính chất tương đồng với pháp luật các nước. Ví dụ ở Pháp, Italia thì Tòa án ra lệnh thanh toán nợ nếu khoản nợ có nguồn gốc từ một hợp đồng hoặc từ một nghĩa vụ theo điều lệ và là số tiến nhất định; nếu là do hợp đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng.

Ở Nga thì lệnh của Tòa án – quyết định của Toà án do một Thẩm phán ban hành dựa trên yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản nếu:

  • Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;
  • Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn bản viết không cần công chứng, chứng thực;

Như vậy, TTRG được áp dụng đối với các vụ án có đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 317 BLTTDS. Nếu tranh chấp hợp đồng trong KDTM không đáp ứng một trong các điều kiện quy định thì vụ án đó sẽ được thụ lý, giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo TTRG, nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo TTRG thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Năm là, các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng, nghĩa là các thông tin về địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ để Tòa án có thể dựa vào các thông tin đó thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, như thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử…đảm bảo đúng thời hạn quy định.

Thứ hai, Thủ tục TTRG chỉ do một Thẩm phán tiến hành giải quyết

Về thành phần tham gia giải quyết tranh chấp theo TTRG có sự thừa nhận chung theo hướng: việc giải quyết và xét xử chỉ do một Thẩm phán tiến hành từ khi thụ lý cho đến khi xét xử.

Điều 65, BLTTDS 2015 quy định: “Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành”. Nghiên cứu so sánh, cho thấy Pháp luật TTDS ở một số nước thuộc hệ thống pháp luật Châu âu lục địa như Đan Mạch, Thụy Điển có quy định tương tự. Ở các nước này khi áp dụng TTRG thì vụ kiện do một Thẩm phán xét xử và việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị hạn chế thông qua việc cấp phép. Ở nhiều nước, phiên tòa rút gọn do một thẩm phán phụ trách và diễn ra theo trình tự đơn giản hơn thông thường. Thường phiên tòa chỉ diễn ra trong vòng một ngày. Nhân chứng có thể tham gia trực tiếp hoặc làm chứng qua điện thoại, màn hình video. Thủ tục này là ngoại lệ của nguyên tắc xét xử tập thể, nhưng nó lại được ưa chuộng tại nhiều nước. Thực tế khi áp dụng TTRG nhiều nguyên tắc cơ bản trong TTDS đã bị bỏ qua. Ví dụ nguyên tắc “Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử tranh chấp hợp đồng trong KDTM”. Về lý thuyết, việc Hội thẩm nhân dân (bồi thẩm đoàn, phụ thẩm) tham gia vào việc xét xử thể hiện việc áp dụng chế độ dân chủ trong hoạt động xét xử thông qua việc cử người đại diện cho nhân dân vào tham gia xét xử. Điều 11.1 BLTTDS 2015 quy định: “Việc xét xử sơ thẩm tranh chấp hợp đồng trong KDTM có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên trong việc áp dụng mô hình TTDS hiện đại, nhiều nước trên thế giới như Nhật, Đức thì Hội thẩm chỉ tham gia xét xử những vụ án phức tạp, có tính chất tranh chấp lớn mà thôi. Phụ thẩm là những đương sự bình thường như giáo viên, nông dân, công nhân, công nhân…được lựa chọn một cách ngẫu nhiên cho mỗi vụ án. Các Hội thẩm ngồi cùng Thẩm phán trong HĐXX tại phiên tòa và có quyền ngang với Thẩm phán khi quyết định những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Trên thực tế không chỉ Hội thẩm mà trong phiên tòa áp dụng TTRG thì vai trò người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Luật sư) cũng thường bị hạn chế. Về nguyên tắc việc người này tham gia vào tranh chấp hợp đồng trong KDTM nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, giúp cho quá trình tố tụng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Qua đó, giúp cho việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, bảo về quyền bình đẳng của mọi công dân. Tuy nhiên, cũng có nước khi quy định cụ thể về việc hạn chế sự tham gia của Luật sư trong những vụ án áp dụng TTRG nhằm mục đích giảm chi phí cho đương sự và cũng để hạn chế việc xét xử vụ án bị kéo dài khi có sự tham gia của Luật sư. Ở Nhật Bản, trong phiên tòa áp dụng TTRG, không nhất thiết phải có sự tham gia tố tụng của Luật sư. Thậm chí một số bang ở Hoa Kỳ còn cấm luật sư tham gia tố tụng.

Thứ ba, Thủ tục TTRG được giản lược một số thủ tục tố tụng so với thủ tục TTDS thông thường

Khác với thủ tục tố tụng thông thường, mà theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án và đương sự phải tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng như thu thập, cung cấp, tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, tổ chức phiên hòa giải, và tại phiên tòa phải tiến hành đầy đủ các bước trình tự phiên tòa…, thì khi áp dụng TTRG sẽ đơn giản hóa về trình tự, thủ tục hoặc giản lược một số giai đoạn tố tụng không cần thiết . Ví dụ như trong một vụ án tranh chấp hợp đồng vay nợ, có hợp đồng bằng văn bản với những thỏa thuận cụ thể, rõ ràng, có biên bản giao nhận tiền vay, thỏa thuận lãi suất…vv mà với các chứng cứ đó bị đơn khó có thể chối cãi trách nhiệm của mình đối với nguyên đơn. Khi áp dụng thủ tục TTRG thì Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ, không phải hòa giải khi đương sự không có yêu cầu, loại bỏ bước tranh luận tại phiên tòa.

Cụ thể, tại phiên tòa xét xử cấp sơ thẩm theo TTRG, trường hợp Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử. Tuy nhiên, khi áp dụng TTRG để giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM, Tòa án vẫn phải đảm bảo tuân thủ các trình tự, hoạt động tố tụng nhất định và cần thiết do pháp luật TTDS quy định từ khi khởi kiện, thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa để giải quyết vụ án, hoặc quyền kháng cáo trong toàn bộ hoặc một số trường hợp khi áp dụng TTRG… Những thủ tục nào là cơ bản và nhất thiết cần phải thực hiện để Tòa án có thể thực thi công lý trong việc giải quyết tranh chấp đúng pháp luật, bảo vệ đầy đủ và đúng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Quy định như vậy thể hiện sự phân biệt các tiêu chí, và cách thức áp dụng TTRG, và thủ tục thông thường trong giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM. Có thể thấy, về trình tự thủ tục khi áp dụng TTRG vừa giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng. Đồng thời vẫn bảo đảm cho việc giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật.

Thứ tư, Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn sẽ rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí so với việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Một là, Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn sẽ rút ngắn thời gian, so với việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường.

Trong thủ tục thông thường, nhà làm luật quy định một thời hạn nhất định để CQTHTT có thời gian tiến hành các hoạt động tố tụng ở những giai đoạn tố tụng nhất định bảo đảm cho việc giải quyết vụ án chính xác, kịp thời, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với một số vụ án nhất định, với tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các đương sự thừa nhận nghĩa vụ hoặc giá ngạch thấp thì CQTHTT có thể giải quyết nhanh hơn so với thủ tục thông thường, Với những vụ án đó, pháp luật quy định một thời hạn tố tụng ngắn hơn thời hạn thông thường, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải xử lý vụ án nhanh chóng.

Nghiên cứu so sánh, pháp luật TTDS nhiều nước đều quy định về vấn đề này khi áp dụng TTRG. Ở Nga khi áp dụng TTRG để giải quyết việc ra lệnh thanh toán, thì khi có bằng chứng xác thực Lệnh thanh toán của Tòa án được ban hành trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mà không cần phải mở phiên tòa xét xử và không triệu tập các bên để nghe lời giải thích của họ. Pháp luật TTDS Italia quy định tương tự, cụ thể khi áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ kiện về nhà ở thì Tòa án có thể lên lịch yêu cầu các bên ra Tòa chỉ trong vòng 03 ngày.

Pháp luật TTDS Việt Nam cũng quy định cụ thể về thời hạn xét xử sơ thẩm theo TTRG như sau: Trong thời hạn không quá 01 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án sơ thẩm, Thẩm phán phải ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm tối đa là 01 tháng 10 ngày, giảm 02 tháng 20 ngày so với thủ tục thông thường (chưa kể thời gian gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với thủ tục thông thường).

Do tính chất đơn giản của vụ án, chứng cứ đầy đủ và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, tiến hành những việc cần thiết cho việc mở phiên tòa như ban hành thông báo thụ lý vụ án gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp, ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Cho nên thời hạn chuẩn bị xét xử theo TTRG được rút ngắn hơn rất nhiều so với thủ tục thông thường. Việc quy định thời hạn chuẩn bị xét xử rút ngắn như vậy là để cho việc giải quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng, đảm bảo được lợi ích hợp pháp của các đương sự, đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Hai là, Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn sẽ giảm thiểu chi phí so với việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường.

Nhìn chung, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo thủ tục tố tụng thông thường sẽ đảm bảo ở mức độ cao khả năng tìm kiếm và bảo vệ công lý đối với các tranh chấp hợp đồng trong KDTM được áp dụng. Tuy nhiên, việc áp dụng thủ tục thông thường đối với các vụ án đơn giản, rõ ràng, hoặc có giá trị tranh chấp thấp là một sự lãng phí về tiền do phải trải qua nhiều hoạt động tố tụng không cần thiết hoặc thời gian tố tụng kéo dài. Để khắc phục hạn chế này, nhiều nền pháp chế văn minh hiện này thường áp dụng TTRG để giải quyết các vụ án có tình tiết đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị tranh chấp thấp giúp tiết kiệm chi phí tố tụng. Khi lập luận về tính hiệu quả trong việc giảm thiểu chi phí, các học giả thường sử dụng phương pháp kinh tế học pháp luật (phân tích pháp luật dưới góc độ kinh tế theo đó các quy tắc pháp lý được đánh giá chi phí/lợi ích để xem liệu một sự thay đổi pháp luật từ trạng thái này sang trạng thái khác sẽ làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng và phân bổ nguồn lực, tăng hay giảm sự giàu có của xã hội). Triết lý kinh tế luật cho rằng mục đích của hệ thống tố tụng nhìn từ góc độ kinh tế học là nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra các sơ suất trong quá trình xét xử và cả chi phí để vận hành hệ thống đó nữa. Dưới góc độ kinh tế học pháp luật, nếu Nhà nước muốn giảm chi phí kiện tụng, thay vì tranh tụng trước toà, thì các qui định về TTDS phải không khuyến khích các bên tranh tụng (thí dụ, tăng tiền tạm ứng án phí nếu giá ngạch của vụ kiện tăng). Ngoài ra, Nhà nước cũng phải cho phép các bên có yêu cầu chính đáng được bảo vệ quyền lợi của mình thông qua con đường toà án bằng các thủ tục đơn giản. Điều này bảo đảm tính pháp chế của hệ thống pháp luật. Một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài vẫn than phiền về hệ thống pháp luật Việt Nam là ở chỗ hệ thống thực thi kém hiệu quả: thời gian kiện quá lâu, chi phí kiện quá tốn kém và việc thực thi quá khó khăn.

1.1.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn

Trong xu thế toàn cầu hoá và mở rộng giao lưu thương mại giữa các quốc gia hiện nay thì sự trao đổi văn hoá tư pháp giữa phương Đông và phương Tây là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tư pháp thì quy định về TTDS được xây dựng phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản: Tiếp thu được những thành tựu khoa học tố tụng của các nước phát triển nhưng không quá xa lạ với người Việt và văn hoá Việt. Như đã đề cập, lịch sử phát triển PLTTDS Việt Nam, mặc dù có nhiều quy định thể hiện TTRG trong việc giải quyết một số loại án nhất định nhưng nhìn chung, đây mới chỉ là sự giản lược ở một số yếu tố nhất định mà chưa có sự quy định một cách tổng thể về TTRG. Kinh nghiệm từ nhiều nền pháp chế văn minh và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, đáp ứng tiêu chí hội nhập, việc áp dụng TTRG trong BLDS 2015 thể hiện sự cần thiết ở một số điểm sau:

Thứ nhất, với bối cảnh tự do hóa thương mại đòi hỏi là các luật lệ, chính sách, quy định hay tập quán của mỗi quốc gia phải tương thích trong khuôn khổ pháp lý quốc tế chung. Trong đó, yêu cầu pháp luật tố tụng nói chung và TTDS nói riêng phải theo hướng: Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

  • Đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt;
  • Đa dạng hoá các loại hình thủ tục tố tụng cho phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp;
  • Thủ tục giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận tiện.

Việc áp dụng thủ tục TTDS theo hướng rút gọn khi giải quyết các tranh chấp hợp đồng trong KDTM đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp KDTM. Đồng thời thúc đẩy hoạt động hội nhập quốc tế khi mà các quan hệ hợp đồng trong KDTM có yếu tố nước ngoài chiếm tỷ lệ ngày càng lớn. Xét về thực tế thì Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, nhưng pháp luật TTDS của chúng ta lại thiếu vắng các quy định về thủ tục tố tụng giản đơn áp dụng đối với các vụ kiện hợp đồng trong KDTM đơn giản, rõ ràng. Các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM mới được xây dựng ở Việt Nam là một loại hình thủ tục TTDS đặc biệt nhưng bản thân các quy định về thủ tục này cũng còn có những hạn chế, thiếu tính mềm dẻo, linh hoạt cần phải được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi và hoàn thiện.

Thứ hai, TTRG trên thực tế sẽ giảm đáng kể các chi phí tố tụng cho đương sự và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Bởi lẽ, nếu áp dụng một thủ tục tố tụng chung cho tất cả các tranh chấp KDTM nói chung mà không phân biệt: (i) tính chất đơn giản hay phức tạp; (ii) tài liệu chứng cứ đầy đủ hay Tòa án phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ; (iii) có hay không sự thừa nhận nghĩa vụ của đương sự thì sẽ gây lãng phí về chi phí tố tụng do quá trình giải quyết vụ án bị kéo dài.

Do tính chất của các vụ án áp dụng TTRG là đơn giản, xét xử nhanh nên trên thực tế sẽ hạn chế các chi phí đi lại của đương sự. Tòa án cũng không phải tiến hành tất cả các trình tự, thủ tục để đưa vụ án ra xét xử mà gần như chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp. Vì vậy, các chi phí như thẩm định tại chỗ, định giá, xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ cũng không phát sinh.

Thứ ba, trong thủ tục TTDS rút gọn, thời gian để tiến hành tố tụng được rút ngắn đi rất nhiều lần so với thủ tục TTDS thông thường. Đây là điểm đặc trưng cơ bản để nhận diện TTRG so với thủ tục thông thường. Trên thực tế, PLLTDS nhiều nước khi xây dựng TTRG với mục đích giúp cho CQTHTT tiết kiệm thời gian, tập trung nghiên cứu, giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp đòi hỏi một trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và đương sự tiết kiệm thời gian, hạn chế sự gián đoạn và bỏ lỡ cái cơ hội kinh doanh do việc dành quá nhiều thời gian việc kiện tụng. Nghiên cứu so sánh cho thấy, nhiều hệ thống pháp luật tiêu biểu như Pháp, Australia, Hoa Kỳ và một số nước châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có quy định về thời gian rút ngắn khi áp dụng TTRG so với khi áp dụng thủ tục thông thường. Ví dụ theo báo cáo của Bang Califonia (Hoa Kỳ) thì trong giai đoạn 2003-2012 thì có hơn 50-75% vụ án tranh chấp nhỏ được giải quyết trong vòng 70 ngày. Đây là hệ quả tất yếu của việc giản lược các hoạt động tố tụng và cũng là một trong những mục tiêu đầu tiên mà thủ tục rút gọn hướng tới. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Thứ tư, Dưới góc độ kinh tế học pháp luật, có tác giả nhấn mạnh một trong các yêu cầu của PLTTDS đó là bảo vệ quyền lợi của công dân. Ở Hoa Kỳ, để thực hiện được mục tiêu trên pháp luật đảm bảo công dân có quyền bảo vệ quyền lợi của mình, pháp luật khuyến khích công dân kiên tụng. Do đó việc áp TTRG sẽ mang lại thuận lợi cho đương sự trong việc tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trên thực tế khi áp dụng TTRG thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi để công tiến hành khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà không phải tốn kém chi phí thuê luật sư.

Về phía CQTHTT, TTRG góp phần giảm áp lực công việc cho các CQTHTT, và người tiến hành tố tụng đặc biệt là trong bối cảnh số lượng án dân sự ngày càng tăng do bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, và tác động của nền kinh tế thị trường . Đối với các đô thị lớn như TP.HCM, trung bình một thẩm phán một tháng phải giải quyết từ 10 vụ việc trở lên. Trong số đó, có không ít trường hợp tranh chấp đơn giản, các bên đều thừa nhận và mong tòa giải quyết nhanh. Do đó việc áp dụng TTRG được coi là một trong các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, giảm lượng án quá hạn, tồn đọng. Trong điều kiện không thể tăng biên chế Thẩm phán tương ứng với sự gia tăng số lượng công việc và ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp thì việc xây dựng thủ tục TTDS rút gọn với một trình tự, thủ tục đơn giản, thời gian giải quyết ngắn sẽ giúp cho các Thẩm phán nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử, chủ động giải quyết được số các vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá ngạch thấp.

1.2. Khái quát về cơ chế điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn

Theo GS. Jack I. H Jacob quan niệm: “ Luật tố tụng là ngành luật có vai trò đưa vào thực tế cuộc sống những quy định của luật nội dung, bảo vệ và quy định các giá trị của luật nội dung”. Tính chất thủ tục của luật tố tụng thể hiện ở chỗ các hành vi tố tụng, các giai đoạn diễn biến của vụ án được diễn ra theo một quy trình chặt chẽ từ khởi điểm đến kết thúc.

Trong khoa học luật TTDS thì Luật TTDS bao gồm hệ thống các QPPL điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng dân sự để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự một cách nhanh chóng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức & nhà nước. Theo tác giả Tống Công Cường thì Luật TTDS được hiểu là một ngành luật điều chỉnh về tổ chức nền tư pháp dân sự, thẩm quyền xét xử dân sự của Tòa án vũng như toàn bộ quy tắc để giải quyết vụ việc dân sự. Có ý kiến khác nhận định: “Luật tố tụng dân sự là ngành luật hình thức, quy định cách thức, trình tự, thủ tục để toà án và các chủ thể thực hiện các hành vi tố tụng nhằm giải quyết tranh chấp dân sự, các yêu cầu dân sự, bảo vệ quyền lợi ích cho nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc, thủ tục rút gọn là một trình tự đơn giản hơn so với trình tự giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM thông thường, được áp dụng để giải quyết nhanh chóng các tranh chấp hợp đồng trong KDTM có đủ điều kiện nhất định. Điều này được thể hiện tại quy định ở Điều 316 BLTTDS năm 2015: “Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của BLTTDS với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật”.

Từ đó có thể hiểu: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn là hệ thống các QPPL quy định về toàn bộ quy trình tố tụng để cơ quan tiến hành tố tụng & đương sự áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn trong quá trình giải quyết tranh chấp tranh chấp hợp đồng trong KDTM để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp một cách đơn giản, nhanh chóng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức & nhà nước

1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh thương mại tại Toà án theo thủ tục rút gọn Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

Về nguyên tắc, thủ tục rút gọn vẫn là một thủ tục TTDS do đó khi áp dụng TTRG thì thẩm phán phải thực hiện theo 2 cấp xét xử như thủ tục thông thường. Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự.

Theo tác giả Tống Công Cường thì các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là:

Một là, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống của hội thẩm hay phụ thẩm khi xét xử nhưng dầu sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm). Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan.

Hai là, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm.

Dựa trên nguyên tắc này, BLLTTDS năm 2015 khi quy định về TTRG đã ghi nhận theo hai cấp xét xử sở thẩm và phúc thẩm (đây chính là nội dung pháp luât cơ bản điều chỉnh về TTRG). Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG tại Tòa án cấp sơ thẩm. Với tính chất tố tụng “giản lược” do đó pháp luật TTDS tập trung điều chỉnh vào các quy định như: (i) Điều kiện khởi kiện; (ii) Chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn; (iii) Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn…vvv.

Thứ hai, Nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng trong KDTM theo TTRG tại Tòa án cấp phúc thẩm. Với tính chất là giai đoạn TTDS mà Tòa án xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, bị kháng nghị. Do đó, pháp luật TTDS tập trung điều chỉnh vào các quy định như: (i) Kháng cáo, kháng nghị; (ii) Thời hạn xét xử phúc thẩm; (iii) Phiên tòa phúc thẩm theo thủ tục rút gọn…vvv.

Kết luận Chương 1

Chương 1 của luận văn đã hệ thống một số vấn đề lý luận và lý luận pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo thủ tục rút gọn. Thủ tục rút gọn được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới quy định, đây là thủ tục “giản lược” khi đáp ứng những điều kiện nhất định góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời. Từ việc phân tích và so sánh luận văn đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về vấn đề nghiên cứu. Về mặt pháp lý, thủ tục tố tụng rút gọn là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án đơn giản, rõ ràng; tập trung vào việc giải quyết các vụ án lớn, phức tạp hơn góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án kéo dài. Về mặt kinh tế, việc giải quyết vụ án nhanh chóng sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức trong việc giải quyết các vụ án đơn giản. Đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những người tham gia tố tụng mà vẫn đảm bảo tính pháp chế trong việc giải quyết các vụ án KDTM. Có thể khẳng định áp dụng thủ tục rút gọn khi giải quyết tranh chấp các hợp đồng kinh doanh thương mại phù hợp với xu thế của các chủ thể kinh doanh, hỗ trợ giải quyết nhanh gọn phục vụ sản xuất kinh doanh. Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

One thought on “Luận văn: Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464