Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát chung về vườn quốc gia Xuân Thủy , Nam Định

2.1.1. Vị trí địa lí, diện tích Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Vườn quốc gia Xuân Thủy nằm ở phía đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay tại cửa Ba Lạt của sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 150 km về hướng Đông Nam và cách thành phố Nam Định 60 km về phía Đông Nam. Vườn quốc gia Xuân Thủy có tọa độ địa lí 20°10¢ đến 20°15¢vĩ độ Bắc và từ 106°20¢đến 106°32¢ kinh độ Đông. Khu vực vùng lõi của vườn là diện tích đất ngập mặn trên ba cồn cát cửa sông là cồn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh thuộc xã Giao Thiện. Toàn bộ vùng đệm và vùng lõi của vườn nằm trên địa phận các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải. Tổng diện tích vườn quốc gia Xuân Thủy là 15.100 ha (với 7.100 ha vùng lõi gồm 3.100 ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập mặn và 8000 ha vùng đệm), trong đó có 12.000 ha thuộc khu Ramsar.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Ngành Du Lịch

2.1.2. Địa hình và cảnh quan toàn vùng

Vùng bãi triều cửa sông ven biển huyện Giao Thủy có diện tích khoảng 10.000 ha, gồm bãi Trong, cồn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh (cồn Mở).

Vùng bãi bồi huyện Giao Thủy có độ cao trung bình từ 0.5-0.9 m. Đặc biệt ở cồn Lu có nơi cao tới 1,2-2,5 m. Nhìn chung vùng bãi triều của huyện Giao Thủy thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.

Địa hình vùng bãi triều bị phân cắt bởi sông Vọp và sông Trà, chia khu vực thành 4 khu là : Bãi Trong, Cồn Ngạn, Cồn Lu , Cồn Xanh.

Vùng lõi của vườn quốc gia Xuân Thủy bao gồm bãi trong , cồn Ngạn, toàn bộ cồn Lu và cồn Xanh, có diện tích đất nổi khi triều kiệt: 3100 ha và đất còn ngập nước 4000 ha. Tổng diện tích tự nhiên 7100 ha.

Đặc điểm khí hậu:

Khu vực ởXuân Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mang đặc trưng của khí hậu miền Bắc Việt Nam. Mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Đầu mùa đông không khí lạnh khô, cuối mùa đông không khí lạnh ẩm. Mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm thường xuyên xuất hiện dông bão và áp thấp nhiệt đới.Nhiệt độ trung bình năm là 240C. Lượng mưa trung bình năm là 1.175 mm. Số ngày mưa trong năm là 133 ngày. Hai hướng gió chính trong năm ở đây là hướng Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và hướng Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9. Độ ẩm không khí khá cao, khoảng từ 70-90%, các tháng 10,11,12 có độ ẩm không khí thấp (thường nhỏ hơn 75%). Các tháng 2,3,4 có độ ẩm rất cao (80-90%) thường kèm theo mưa phùn ẩm ướt. Chính điều kiện nhiệt đới gió mùa ẩm này đã tạo điều kiện cho các loài động thực vật trong vườn phát triển rất phong phú và đa dạng tạo nên một hệ sinh thái bền vững và hoàn chỉnh. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Đặc điểm thủy văn:

Thủy triều: Thủy triều ở khu vực thuộc chế độ “Nhật triều” với chu kì khoảng 25 giờ, thủy triều có biên độ khá lớn, biên độ trung bình 150-180 cm, thủy triều lớn nhất đạt đến 4,5 m, nhỏ nhất là 0,25 m.

Thủy văn: Khu vực bãi triều huyên Giao Thủy được cung cấp nước từ sông Hồng, có 2 sông chính trong khu vực bãi triều là sông Vọp và sông Trà. Ngoài ra còn có một số lạch nhỏ cấp thoát nước tự nhiên.

Đặc điểm đất đai:

Đất đai toàn vùng cửa sông Hồng nói chung được hình thành từ nguồn phù sa bồi lắng của toàn bộ hệ thống sông Hồng. Vật chất bồi lắng bao gồm 2 loại hình chủ yếu: bùn phù sa (cố kết dần trở thành lớp đất thịt) và cát lắng đọng (tích đọng và di động do ngoại lực trở thành giống cát). Mức độ cố kết khác nhau của loại đất thịt và mức độ nâng cao trình giồng cát đã tham gia vào sự khác biệt chi tiết của những loại tầng đất và phân bố đất. Lớp phù sa được dòng chảy vận chuyển và bồi lắng hình thành lớp thổ nhưỡng ven châu thổ với những loại hình:

Đất nhẹ, cát pha và thịt nhẹ, phần nhỏ cát thuần

Đất trung bình, thịt trung bình

Đất nặng từ thịt nặng đến đất sét

Những nhóm đất chưa ổn định còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ của nhật triều, sông, dòng lũ và dòng chảy ven bờ, chưa cố kết và ở dạng bùn lỏng. Tập đoàn cây thuộc loại hình rừng ngập mặn có vai trò tích cực cố định lớp đất, nâng dần cốt cao trình ven biển. Lượng phù sa ở cửa Ba Lạt trung bình 1.8 gram trong 1 lít nước là cơ sở hình thành những cồn cát bồi lắng kéo dài theo hướng Tây nam. Độ PH của lớp đất khá ổn định (thịt- thịt nặng từ 7.2-7.6) và mức độ nhiễm mặn với mật độ NH biến động từ 17.2- 20 miligam trong 100 gram đất khô lấy mẫu.

Đất bùn long hay đất đã cố định giàu dinh dưỡng, thích hợp với nhiều loài cây ngập mặn . Thể hiện rất rõ mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tương tác theo chiều hướng có lợi giữa thổ nhưỡng với quần thể rừng ngập nước, hình thành hệ sinh thái đặc trưng của vùng cửa sông ven biển.

2.1.3. Điều kiện kinh tế , xã hội Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Dân số:

Diện tích của huyện là 232,1 km2 và dân số năm 2017 là 190.291 người. Mật độ dân số khoảng 820 người/km2.Trong đó dân số vùng đệm ở Vườn quốc gia Xuân Thủy trong huyện là khoảng 50.000 người.

Đơn vị hành chính:

Giao Thủy bao gồm 2 thị trấn: Ngô Đồng (huyện lị), Quất Lâm và 20 xã: Bạch

Long, Bình Hòa, Giao An, Giao Châu, Giao Hà, Giao Hải, Giao Hương, Giao Lạc, Giao Long, Giao Nhân, Giao Phong, Giao Tân, Giao Thanh, Giao Thiện, Giao Thịnh, Giao Tiến, Giao Xuân, Giao Yến, Hoành Sơn, Hồng Thuận.

Thị trấn Ngô Đồng là trung tâm kinh tế của Giao Thủy. Đây là địa phương có dự án Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh đi qua.

Tình hình phát triển kinh tế huyện Giao Thủy nói chung và vườn quốc gia Xuân Thủy nói riêng:

Sau gần 7 năm triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2011-2018, huyện Giao Thủy (Nam Định) đã đạt được những kết quả tích cực, tạo được sự chuyển biến trong đời sống người dân; nông thôn được quy hoạch theo hướng phát triển toàn diện.

Trong những giai đoạn gần đây, cụ thể là 6 tháng đầu năm 2018, huyện Giao Thủy đã có những thành tựu kinh tế nổi bật, cụ thể là:

Nông nghiệp:

Sáu tháng đầu năm, huyện Giao Thủy đã gieo cấy lúa xuân, tổng diện tích 7.170 ha (tăng 17 ha so với vụ xuân 2017, đạt 100% kế hoạch); năng suất ước đạt 76 tạ/ha. Toàn huyện đã xây dựng 7 mô hình cánh đồng mẫu lớn, tổng diện tích 362,5 ha; cây màu sinh trưởng, phát triển tốt.

Nuôi trồng thủy hải sản:

Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước đạt 25.893 tấn (bằng 51% kế hoạch, tăng 6,6% so cùng kỳ). Trong đó, khai thác 7.234 tấn (đạt 53% kế hoạch, tăng 3,6% so cùng kỳ); nuôi trồng 18.659 tấn (đạt 50,3% kế hoạch, tăng 7,9% so cùng kỳ). Diện tích nuôi tôm sú quảng canh kết hợp 1.700 ha (đạt 100% kế hoạch); tôm thẻ chân trắng, đã thả trên diện tích 250 ha (đạt 57,7% kế hoạch). Các trại giống đã cho sinh sản 65 triệu con tôm sú giống; 4,5 tỷ ngao giống, 5 triệu con cá bống bớp, 3,5 triệu con cua, nhập 275 triệu con tôm thẻ giống. Tổng số lượng tàu thuyền tham gia khai thác thủy hải sản trên toàn huyện là 851 tàu, trong đó, 301 tàu công suất trên 20 CV.

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

Sản xuất Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệpbao gồm nhiều lĩnh vực như nước mắm, muối I-ốt, quần áo may sẵn, gạch đất nung, dệt may, đan, thêu…tăng trưởng ổn định, giá trị sản xuất ước đạt 544 tỷ đồng (đạt 51% kế hoạch, tăng 15% so cùng kỳ). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 1.072 tỷ đồng (tăng 12% so cùng kỳ, đạt 53,6% kế hoạch).

Xây dựng:

Huyện đã kiểm tra, đôn đốc các xã, thị trấn, chủ đầu tư xây dựng các công trình bảo đảm đúng tiến độ theo kế hoạch. Trong đó, huyện là chủ đầu tư 2 công trình: Xây dựng sân vận động huyện (đã hoàn thành) và công trình xây dựng nhà truyền thống huyện (đã thực hiện đạt 85%). Xã, thị trấn là chủ đầu tư 15 công trình, giá trị thi công ước đạt 38/65 tỷ đồng (bằng 65% khối lượng).

2.2. Điều kiện phát triển du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

2.2.1. Tài nguyên du lịch sinh thái Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Tài nguyên du lịch tự nhiên:

Sự đa dạng sinh học

Vườn quốc gia Xuân Thủy được công nhận là khu Ramsar (công ước bảo tồn những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt là nơi cư trú của những loài chim nước – Ramsar, Iran) đầu tiên của Việt Nam từ năm 1989, là rừng ngập mặn thứ 50 của thế giới, đồng thời cũng là điểm Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và duy nhất của Việt Nam hiện nay. Vườn quốc gia Xuân Thủy được nâng cấp từ Khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thủy theo quyết định số 01/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 2 tháng 1 năm 2003. Tháng 12/ 2004, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận đây là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hiện nay Vườn quốc gia Xuân Thủy đang đạt 3 cái nhất trong khu vực Đông Nam Á: đa dạng sinh học cao nhất, năng suất sinh học lớn nhất, hệ sinh thái nhạy cảm nhất.

Sự kết hợp phù sa màu mỡ của sông Hồng và vùng ven biển đã biến khu vực này thành một khu dự trữ thiên nhiên với nhiều sinh cảnh độc đáo của hệ sinh thái đất ngập nước với nhiều động thực vật hoang dã và các loài chim di cư quý hiếm. Hàng năm, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hàng chục ngàn cá thể chim di cư tầm 30.000-40.000 con đến tránh rét từ phương Bắc cụ thể từ Xiberi , Trung Quốc, Triều Tiên chọn vườn quốc gia Xuân Thủy để dừng chân, kiếm ăn tích lũy năng lượng để đến Australia trú đông và ngược lại .Trong đó có tới 1/5 số lượng cò mỏ thìa của toàn thế giới. Bởi vậy vườn quốc gia Xuân Thủy được ví như một ga chim quốc tế quan trọng. Các nhà khoa học đã thống kê được 219 loài chim thuộc 41 họ và 13 bộ có mặt tại vườn quốc gia, có trên 150 loài di cư, 50 loài chim nước và có tới 9 loài nằm trong sách đỏ quốc tế trong số 33 loài chim bảo vệ toàn cầu, đó là: Cò thìa (Platalea minor), Rẽ mỏ thìa ( Eurynorynchus pygmeus), Choắt chân màng lớn (Limodromus sepipanmatus), Choắt đầu đốm (Tringastagnatinis), Cò trắng Trung Quốc (Egretta culohotes), Te vàng (Vanelluscinereus), Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer), Mòng bể mỏ ngắn (Larussaundersi), Bồ nông chân xám (Penecanus Philippensis). Ở Việt Nam hiện nay hầu như chỉ có thể dễ dàng bắt gặp Cò thìa và Rẽ mỏ thìa ở vườn quốc gia Xuân Thủy (có thời điểm số lượng cá thể Cò thìa ở đây đã chiếm tới 26% số lượng hiện còn của thế giới.Vào mùa xuân (tháng ba, tháng tư) khi tiết trời trở nên ấm áp từng đàn chim lại dừng chân tại đây kiếm ăn, nạp thêm năng lượng trước khi bay trở về phương Bắc. Mùa hè và mùa thu đến Xuân Thủy để tận hưởng những con gió mát từ biển và vẫn có thể xem những loài chim di trú tránh nóng đến từ Nam Bộ và Campuchia như Giang Sen, Bồ nông.Do có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn các loài chim, Xuân Thuỷ đã được Tổ chức bảo tồn chim quốc tế công nhận là một vùng chim quan trọng (IBA) của Việt Nam.

Trên vùng đất ngập mặn này, dưới làn nước thủy triều có khoảng 165 loài động vật nổi gồm 55 loài thuộc 40 giống và 154 loài động vật đáy gồm 350 loài động vật đáy thuộc 6 ngành, tổng cộng khoảng 500 loài động vật thủy sinh. Tiêu biểu là các loài thủy hải sản. Những mô hình nuôi trồng thủy hải sản mang đậm nhân văn ở khu vực vừa mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương đồng thời là những điểm tham quan thú vị đối với du khách. Có 37 loài bò sát- ếch nhái, trong đó có 13 loài ếch nhái; có 6 loài qúy hiếm và có giá trị bảo tồn. Có 17 loài thú, trong đó có 3 loài quy‎ hiếm: Rái cá (Lura lutru), Cá heo (Lipotes vixillifer), cá đầu ông sư (Neophocaera phocaennoides). Ngoài ra khu rừng sú vẹt Xuân Thủy là nơi cư ngụ của nhiều loài chim, mèo biển, cáo biển, rái cá… Dưới nước là các loại tôm, cá, cua, rắn, ngao, sò… là nguồn thức ăn phong phú của các loài chim. Có 122 loài cá thuộc 13 bộ, 46 họ. Côn trùng vô cùng phong phú với trên 100 loài. Hệ động vật phong phú có giá trị kinh tế cao hàng năm đã cho thu nhập tới hàng trăm tỷ đồng đã góp phần tạo nên sự khởi sắc về kinh tế- xã hội cho các xã vùng đệm.

Về thực vật, vườn hiện có 120 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có gần 20 loài thích nghi với điều kiện sống ngập nước hình thành nên hệ thống rừng ngập mặn trên 3000 ha và trên 100 ha rừng phi lao chạy dọc trên các giống cát ở đảo Cồn Lu. Rừng ở đây góp phần cố định phù sa đề tạo nên các bãi bồi mới, làm vườn ươm và cung cấp thức ăn cho các loài động vật thủy sinh, đồng thời đóng vai trò cân bằng sinh thái trong khu vực. Có nhiều loài thực vật chính tiêu biểu cho hệ sinh thái rừng ngập mặn như cây trang (Kandelia candel), sú (Aegicenia lannata), bần (Sonneranita caseolairis), mắm (Avicennia lanata), cóc kèn (Derris trifoliata)…Ngoài ra còn có nhiều loài rong tảo có giá trị kinh tế cao thuộc 2 ngành rong xanh và rong đỏ, tiêu biểu là loài rong câu chỉ vàng. Có 2 loại thực vật gồm thực vật trên cạn gồm 192 loài thuộc 145 chi của 60 họ thực vật có mạch.Và thực vật nổi có 112 loài thuộc 43 chi, 20 họ của 5 ngành tảo: Tảo Mắt , Tảo Lục, Tảo Giáp, Vi khuẩn Lam, Tảo Silic. Hệ sinh thái rừng ở vườn quốc gia Xuân Thủy là những sinh cảnh đặc trưng cho kiểu rừng ngập mặn ở ven biển Bắc Bộ Việt Nam, đó là hệ sinh thái cửa sông ven biển. Điều này cũng tạo ra một tiềm năng lớn cho phát triển sinh thái. Vào mùa hoa sú vẹt, hương thơm tỏa mát là dịp hội tụ của những đàn ong mật. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Vườn quốc gia Xuân Thủy có nhiều kiểu hệ sinh thái cảnh quan khác nhau:

Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới, kiểu phong hóa thổ nhưỡng rừng ngập mặn hàng ngày. Hệ sinh thái này phân bố ở trung tâm cồn Lu và cồn Ngạn, chiếm diện tích lớn của vườn quốc gia. Thành phần loài chủ yếu là sú, trang , bần, mắm, ô rô, thảm thực vật dày đan xen với nhau. Đây là nơi trú mưa bão gió, ngủ đêm, làm tổ, kiếm ăn của nhiều loài chim và cũng là sinh cảnh của các loại Rái cá, thủy sinh, lưỡng cư, bò sát.

Hệ sinh thái kiểu phụ thổ nhưỡng và rừng ngập mặn hàng ngày trên các đầm tôm phân bố ở phía Bắc cồn Ngạn và một phần nhỏ cồn Lu. Hệ sinh thái này là nơi kiếm ăn của một số loại chim hoang dã như: cò đen, cò lao Ấn Độ, cốc biển đen, cò bợ, choắt chân đỏ, choắt mỏ trắng đuôi đen, mòng biển đầu đen.

Hệ sinh thái rừng phi lao được trồng thành những dải hẹp trên đất cát biển ở phía Đông cồn Lu để chắn cát và sóng.

Hệ sinh thái cồn Đất và cồn Cát: Đây là nơi sinh sống của các loại thủy sinh, côn trùng và là nơi kiếm ăn của một số loài chim nước (rẽ mỏ thìa, rẽ lưng nâu, choắt mỏ cong lớn, diều âu, hải âu, choắt chân màng lớn, cò lao Ấn Độ, rẽ…)

Hệ sinh thái bãi phù sa lầy bồi lắng: đây là nơi phát triển của các loài ngao, cá, cua, cáy và là nơi kiếm ăn của các loài chim nước.

Hệ sinh thái mặt nước sông lạch và biển: đây là hệ sinh thái có hệ thống đa dạng sinh học cao gồm: mặt nước các sông lạch là sinh cảnh của các loài chim nước (ngỗng trời, vịt trời, cò giang, bói cá, diều, cắt, các loại choắt, rẽ kiếm ăn ven bờ), mặt nước biển tính từ độ sâu 6 m, đây là nơi sinh sống của cá heo, cá sú vàng, là nơi kiếm ăn của nhạn biển, ó cá, hải âu…

Tài nguyên du lịch nhân văn:

Di tích lịch sử, văn hóa kiến trúc:

Cộng đồng dân cư vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy tiêu biểu cho nền văn hóa mở đất của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trải qua gần 300 năm với truyền thống quai đê, lấn biển, cần cù dũng cảm trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên, vật lộn với biển khơi, cộng đồng dân cư địa phương đã khai hoang lập ấp tạo lập nên những làng quê trù phú. Đó là hệ thống kiến trúc nhà bồi, cảng cá, chợ chiều, các điểm sản xuất nước mắm truyền thống, các khu chợ sầm uất, nhà thờ Thiên chúa giáo và chùa chiền mang nhiều dáng dấp dân gian được xây dựng trên những làng quê thanh bình trù phú phù hợp với khí hậu ven biển vẫn còn được bảo tồn và lưu giữ. Nơi đây rừng biển giao hòa tạo cho du khách ấn tượng mạnh mẽ và khoáng đạt. Chim trời, cá nước hòa quyện vào nhau tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.

Nhà bồi và nhà ngói là hai loại nhà truyền thống phổ biến ở các xã vùng đệm vườn quốc gia Xuân Thủy, trong đó nhà bồi là công trình kiến trúc văn hóa truyền thống nổi bật và độc đáo nhất.

Nhà Bồi : xã Giao Xuân còn có những ngôi nhà bồi – nhà đặc trưng của vùng đất ven biển ngập nước, cũng là điểm đến thu hút du khách. Nhà bồi là những căn nhà khung gỗ, nền đất, được lợp bằng ngói và rạ, mỗi mái nhà nặng hơn 2 tấn, dày từ 1m – 1,2 m , mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông. Qua thời gian, mái bồi xẹp dần xuống, nhưng vẫn rất bền, chịu được sức tàn phá của gió biển. Những căn nhà mái bồi ở Giao Xuân có tuổi thọ hàng trăm năm và được người dân gìn giữ từ thế hệ này đến thế hệ khác. Người Giao Xuân cung cấp dịch vụ lưu trú cho du khách, khách ăn ngủ ngay tại nhà dân, nếu may mắn thì có thể được nghỉ tại một trong những căn nhà bồi này.

Giao Thủy có 3 tôn giáo chính là đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành. Do lịch sử phát triển tôn giáo ở ven biển Miền Bắc nên nơi đây có khá đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa nhưng cộng đồng công giáo sống hòa hợp với nhau cùng chung lưng đấu cật để xây dựng quê hương Giao Thủy giàu đẹp. Cư dân trong phạm vi vùng đệm có khoảng 50% số dân theo đạo Cơ đốc giáo, điển hình là các xã Giao An, Giao Thiện có khoảng 80-90% đồng bào theo đạo Thiên Chúa. Trong huyện Giao Thủy hầu như xã nào cũng có vài ba nhà thờ lớn nguy nga và kiến trúc chùa chiền cũng rất phong phú độc đáo, thể hiện sự hài hòa trong tôn trọng tín ngưỡng. Có 3 di tích được xếp hạng cấp quốc gia: Đền chùa Diêm Điền, cụm di tích đền chùa làng Hòe Nha – xã Giao Tiến, đình chùa Hà Cát- xã Hồng Thuận. Toàn huyện có 22 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.

Sinh hoạt văn hóa dân gian:

Sống ở nơi thiên nhiên ưu đãi, con người nơi đây chân chất, mộc mạc, hồn hậu nhưng cũng rất phóng khoáng và lãng mạn. Du khách đến đây sẽ được nghe những làn điệu dân ca do chính người dân địa phương biểu diễn như “Sắp cổ phong”, “Hát mời trầu”, “Hát giã bạn”… Những sinh hoạt văn hóa mang đậm dấu ấn của nền văn minh lúa nước đồng bằng sông Hồng như: hát chèo, hát chầu văn, bơi chải, múa lân, chọi gà, đấu vật…trong các dịp lễ hội cũng như trong sinh hoạt thường nhật của cộng đồng đã gắn kết mọi người với nhau trong mối quan hệ “tình làng, nghĩa xóm” rất bền chặt. Sống ở miền quê được thiên nhiên ưu đãi, người dân miền biển cũng chất phác, nhân hậu, cởi mở và mến khách. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Đặc sản :

Về Nam Định với “Thơ Xương, chuối Ngự”, bạn không thể không nhớ đến món nem nắm Giao Thủy. Cái tên cũng tựa như cách làm, phải nắm hỗn hợp thành khối tròn, thật chặt và cách ăn cũng là nắm từng miếng nhỏ với các loại rau ghém sao cho vừa miệng. Để có nắm nem ngon, nguyên liệu bì lợn phải được tuyển chọn từ những con lợn khỏe, miếng bì phải làm sạch lông và dính chút mỡ, thường chọn miếng bì ở phần đầu vừa không dày, lại không nhiều mỡ, sẽ không ngán và nắm nem không bị ướt nhão. Bì lợn làm nem được thái thủ công bằng tay. Thịt lợn phải được lấy từ lò mổ khi miếng thịt còn nóng hổi và không được đặt xuống đất, không được rửa nước lạnh để thịt ngon và dẻo hơn. Luộc bì rồi thái tay thành những sợi nhỏ, thịt lợn nạc luộc tái sau đó cũng thái bản mỏng, thịt tái sẽ giúp nem có vị ngọt và bùi hơn. Điều làm nên mùi thơm của nem nắm Giao Thủy chính là thính, phải làm từ gạo tám Nam Định mới dậy mùi. Gạo ngâm trong nước qua một đêm rồi để ráo nước, đem rang lên rồi xay thành bột, có màu vàng ngà ngà, thơm phức, vị ngậy. Thính sau đó được trộn đều với bì lợn và thịt lợn đã sơ chế ở trên. Từng hạt thính nhỏ li ti quyện chặt lấy từng sợi bì, đào đều tay nghe xào xạo vui tai, rồi nắm chặt. “Bạn đường” không thể tách rời của nem nắm Giao Thủy là nước mắm Sa Châu (xã Giao Châu, huyện Giao Thủy), thứ nước chấm được làm theo cách cổ truyền cũng rất nổi tiếng. Làm nước mắm này hơi kì công một chút, đó là cá được nấu chín tự nhiên, không qua tẩm ướt, sau chừng 6 tháng mới mang ra vắt lấy nước mắm nguyên chất. Sau đó, mắm lại được phơi nắng nóng rồi cho vào vại sành chôn xuống đất thêm 6 tháng nữa. Vậy là phải mất một năm, nước mắm Sa Châu mới được đem ra để ăn với nem nắm. Để thưởng thức món nem nắm Giao Thủy, bạn chỉ cần cuốn nem nắm vào lá sung, thêm ít rau thơm rồi nhón qua bát nước mắm Sa Châu là xong. Vị béo béo ngầy ngậy nhưng không ngán cùng với đắng chát nhẹ của đinh lăng sẽ làm bạn nhớ mãi. Bởi thế, người xưa đã có câu:”Tay cầm bầu rượu nắm nem/ Mải vui quên hết lời em dặn gì!”. (Chuyên mục: Đặc sản Nam Định)

Làng nghề truyền thống:

Phong tục tập quán và hoạt động sản xuất: Khu vực cửa sông Ba Lạt còn tiêu biểu cho nền văn hóa mở đất của cư dân ven biển đồng bằng châu thổ Sông Hồng, với tập quán nuôi trồng, khai thác quảng canh nguồn lợi thủy sản, phát triển các đầm nuôi tôm, vây vạng rộng hàng ngàn hécta. Ghe thuyền là phương tiện di chuyển phổ biến nơi đây. Ngoài ra, người dân còn làm nước mắm, và tận dụng nguồn hoa rừng ngập mặn để nuôi ong lấy mật… Hầu hết nông dân ở đây đều làm nghề: canh tác lúa nước, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, nhiều thời kì đã thực hiện phương châm:’’lúa lấn cói,cói lấn vẹt,vẹt lấn biển”. Họ khai thác nguồn lợi từ Vườn quốc gia với nhiều hình thức: đánh bắt tôm cua cá, bẫy chim, nhặt nhuyễn thể, chặt cây lấy củ,…Hiện nay ở đây chuyển nuôi tôm và vây vạng từ “quảng canh”sang”bán thâm canh”, khoảng 2000 ha đất bãi bồi đã chuyển đổi thành đầm nuôi tôm và khoảng 3000 ha cây vạng.

Đặc biệt ở Giao Thủy còn có làng nghề nước mắm Sa Châu – xã Giao Châu nổi tiếng với các loại mắm ngon với trên 100 hộ tham gia sản xuất, chế biến, sản lượng bình quân đạt 450.000- 500.000 lít nước mắm/năm.

Nuôi ong lấy mật và trồng nấm sò: Với sự hỗ trợ của Dự án sáng kiến rừng ngập mặn cho tương lai (MFF), Vườn quốc gia đã chọn mật ong và nấm làm hai sản phẩm chính để xây dựng quy trình quản lý chất lượng, nâng cao giá trị sản phẩm. Hiện tại, có 44 cơ sở, hộ gia đình ở địa phương đã tham gia sản xuất và phát triển hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Nhờ vậy, giá trị của mật ong và nấm đã tăng 25%. Trồng nấm được người dân đánh giá là vừa nhàn lại cho thu nhập tốt, từ 30-40 triệu đồng/vụ, cao gấp 2 lần so với trồng lúa mà chi phí đầu tư rẻ, lại tận dụng được rơm rạ ngoài đồng sau thu hoạch. Chất lượng và nguồn gốc rõ ràng, giá bán nấm sò đã được nâng lên từ 22 nghìn đồng lên 25 nghìn đồng/kg, nấm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ đến đó nên ai cũng hăng hái chuẩn bị cho mùa nấm sò mới. Mọi quy trình được chuyên gia của Vườn quốc gia Xuân Thủy trực tiếp hướng dẫn cầm tay chỉ việc nên việc sản xuất nấm sò diễn ra thuận lợi, giảm được thiệt hại do bào tử nấm chết, tỷ lệ thu hoạch gần như đạt 100%. Hiện tại, việc sản xuất nấm sò đã được nhân rộng với hơn 30 hộ tại các xã Giao Hương, Giao An, Giao Thiện thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy. Cùng với nấm, mật ong rừng sú vẹt cũng được nhiều người dân đón nhận, sử dụng bởi chất lượng vượt trội so với các loại mật ong khác. Từ năm 2014, cán bộ Vườn quốc gia đã mời chuyên gia của Viện Khoa học Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ quản lý, chăm sóc đàn ong, cách tạo ong chúa, chia đàn, phòng trị bệnh cho ong cũng như cách xây dựng tổ ong, chế biến thức ăn bổ sung, tìm hiểu về nguồn hoa nuôi ong, cách thu hoạch, sơ chế và tiêu thụ sản phẩm ong… để có thể khai thác tối đa nguồn hoa của địa phương và phát triển đàn ong một cách bài bản, khoa học. Đến nay, sản phẩm mật ong sú vẹt của Vườn quốc gia có sản lượng đều đặn 30-40 tấn/năm với 30 hộ tham gia nuôi ong, đều thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm. Ngoài những hộ nuôi ong “du mục” theo đàn ong tìm hoa lấy mật khắp Bắc – Nam, các hộ dân tại các xã: Giao An, Giao Lạc, Giao Thiện đều sản xuất ổn định với thu nhập thêm bình quân từ 30-40 triệu đồng/năm từ nuôi ong lấy mật. Hoa sú vẹt nở tự nhiên, không bị ảnh hưởng bởi các loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật nên mật ong hoa sú vẹt được dùng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh, được thị trường rất ưa chuộng và được bán với giá khá cao. Mật ong được sản xuất theo quy trình nghiêm ngặt dưới sự giám sát của Vườn quốc gia Xuân Thủy luôn đảm bảo về chất lượng. Cũng nhờ có đàn ong mà từ nhiều năm nay, cây sú, vẹt thụ phấn được, sai hoa, nhiều quả, góp phần tái tạo lại giống cho vườn mà không còn phải nhập từ nơi khác đến.

2.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Hạ tầng cơ sở kỹ thuật du lịch bao gồm các công trình hạ tầng, cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, các tiện nghi phục vụ du lịch… đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả khai thác tài nguyên và phục vụ khách du lịch. Trên địa bàn huyện hiện có 196 cơ sở lưu trú du lịch với 1.209 buồng, phòng; 9 khách sạn được xếp hạng; trong đó có 4 khách sạn 2 sao: Minh Hải, Minh Thu, Minh Hạnh 2, Minh Hạnh 3 và 5 khách sạn 1 sao và 11 nhà nghỉ bình dân ( Theo “baonamdinh.com.vn”).Hiện nay trên khu vực vườn quốc gia có 2 đơn vị là Ban quản lý vườn quốc gia Xuân Thủy và Hợp tác xã du lịch sinh thái cộng đồng xã Giao Xuân tổ chức khai thác thông qua các hoạt động du lịch ( theo “baonamdinh.com.vn”).

Ban quản lý vườn quốc gia Xuân Thuỷ hiện có 14 phòng ngủ đôi đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi của khoảng 45-55 khách/ngày, phòng họp hội nghị gồm một phòng họp nhỏ (50 chỗ ngồi, hệ thống âm thanh chất lượng, điều hòa cây, wifi, 2 bình nước lọc, máy chiếu, loa mic,….) và một phòng họp lớn (200 chỗ ngồi, trang thiết bị hiện đại, điều hòa, có phòng giải lao, phòng chiếu phim, thư viện,2 bình nước lọc, máy chiếu, loa mic,…) cho thuê để các đơn vị, các tổ chức và các cá nhân tổ chức hội nghị, hội thảo, tiệc, đám cưới,…Quán café, karaoke trực thuộc Ban quản lý vườn có thể phục vụ được 40 – 50 khách. Ngoài ra Vườn còn có phòng hội nghị nhỏ (có cả phục vụ karaoke giúp cho du khách giải trí sau khi đi du ngoạn. Hợp tác xã du lịch sinh thái cộng đồng Giao Xuân có 10-15 phòng nghỉ (homestay) có thể phục vụ cùng lúc từ 20-40 khách. Trụ sở Hợp tác xã Giao Xuân là một nhà hàng (Ecolife Café) dân dã, đậm chất sinh thái, nằm đối diện với trụ sở xã. Đây vừa là nơi giao dịch, đón khách vừa là nơi đội văn nghệ biểu diễn phục vụ du khách, cũng là nơi cung cấp dịch vụ ẩm thực, cũng là nơi trưng bày rất nhiều sách, báo, tạp chí về môi trường, biến đổi khí hậu, về vườn quốc gia Xuân Thủy. Du khách có thể nghỉ tại nhà dân theo hình thức du lịch homestay nếu muốn tận hưởng không khí trong lành, yên ả của một làng quê với hệ thống khoảng hơn 30 nhà dân là hội viên của loại hình kinh doanh dịch vụ homestay với các trang thiết bị phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân như chăn, màn, đèn điện, ấm chén uống trà, phích nước, quạt.Ban quản lývườn quốc gia cũng đầu tư xây dựng một số chòi quan sát chim cho du kháchtới tham quan, tìm hiểu và khám phá đời sống các loài chim…

Nổi bật tại đây là Bảo tàng thiên nhiên của Vườn quốc gia Xuân Thủy (hay còn gọi là Bảo tàng tổng hợp Vườn quốc gia Xuân Thủy). Từ năm 2007, Chính Phủ đã đầu tư xây dựng Bảo tàng thiên nhiên của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ với quy mô diện tích trưng bày ban đầu là 600m2 bao gồm cả phần Bảo tàng thiên nhiên và bảo tàng về thiên nhiên của địa phương; Trong đó có 4 phòng chuyên đề và 2 sảnh chính. Bảo tàng được sắp đặt một cách lô gic các tài nguyên tự nhiên và kết hợp hài hoà giữa bảo tồn các giá trị của thiên nhiên với các gía trị về nhân văn, nhân bản của địa phương và phương pháp bài trí theo các chủ đề mang tính ước lệ. Tại Gian chính của Bảo tàng là “Phòng cảnh quan và sa bàn”; Trong gian này có các Bức tranh tường lớn và các phù điêu được khắc hoạ ở trên trần nhà nhằm mô phỏng các cảnh quan tiêu biểu của Vườn quốc gia. Sa bàn được đặt ở giữa nhà cùng với các màn hình cảm ứng đặt ở các góc phòng sẽ cung cấp cho người xem các dữ liệu cơ bản của Vườn quốc gia thông qua việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số. Sa bàn không làm mô hình theo kiểu truyền thống mà được thiết kế thành nhiều lớp như:” lớp thực bì, lớp thổ nhưỡng, lớp chim, lớp thuỷ sinh và du lịch sinh thái…” Với các công nghệ tiên tiến như vậy nhằm dễ dàng tạo được ấn tượng cho người xem đồng thời truyền tải được những thông tin trực quan sinh động đến với những đối tượng quan tâm tìm hiểu về thiên nhiên và môi trường của Vườn.

Tiếp sau phòng cảnh quan là “Phòng tài nguyên sinh vật”, ở phòng này cách bài trí cũng được cách tân, không chỉ trưng bày thuần tuý các mẫu vật mà tiến hành phục dựng các sinh cảnh chính với các tài nguyên động thực vật đặc trưng của Vườn theo một lô gic có sự gắn bó hữu cơ giữa các loài sinh vật tự nhiên với nhau. Ví dụ:” thiết kế phục dựng một đám rừng ngập mặn, trên tán rừng là một số loài chim, dưới gốc cây là các loài động thực vật thuỷ sinh và một số loài chim nước tiêu biểu…”. Các mẫu vật và sinh cảnh nhân tạo trên đa phần sẽ được chế tác bằng các vật liệu thân thiện với môi trường và có độ bền cao. Các mẫu vật truyền thống đã được sưu tầm cũng sẽ được bài trí một cách hài hòa với không gian chung của chủ đề phòng trưng bày.

Sảnh giữa Nhà Bảo tàng: đây là khoảng không gian mở nằm ở giữa các Phòng trưng bày của Bảo tàng được thiết kế các bức tranh tường chạy dọc hai bên sảnh với chủ đề mô phỏng lịch sử phát triển tự nhiên của khu vực.

Phòng thứ ba: được thực hiện với chủ đề về nhân văn, ở gian này các hiện vật và các bức tranh phong cảnh được thiết kế nhằm mô phỏng sinh động nền văn hoá mở đất và cái nôi của nền văn minh lúa nước của khu vực đồng bằng ven biển châu thổ Sông Hồng. Các quá trình khai hoang lấn biển, các mô hình canh tác truyền thống cùng các nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc của cộng đồng bản địa sẽ được bài trí theo một kịch bản lô gic giúp cho người xem hình dung được mối tương quan giữa bảo tồn và phát triển bền vững thiên nhiên gắn liền với sự nghiệp phát triển đời sống văn hoá lâu bền của cộng đồng dân địa phương.

Phòng thứ tư là phòng được thiết kế với một kịch bản giả định về tương lai: Trong phòng này phần trưng bày sẽ dẫn người xem đi theo hai lối rẽ; Một là bảo tồn và phát trỉên bền vững tài nguyên thuyên nhiên và Hai là tàn phá thiên nhiên thì con người chúng ta sẽ đi đâu về đâu? Với các cách biểu đạt trực quan sinh động; gian phòng có chủ đề kết này sẽ nhắm đến mục tiêu giáo dục ý thức môi trường cho cộng đồng phổ thông với kỳ vọng Bảo tàng trong nhà của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ sẽ thực hiện tốt các chức năng cơ bản gồm: “Lưu giữ các giá trị quý giá về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, đồng thời góp phần phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái cho nhu cầu đa dạng và cuộc sống có chất lượng ngày càng cao hơn của cộng đồng khu vực.”

Ngoài bảo tàng thiên nhiên do chính phủ thành lập thì ở nơi đây còn có bảo tàng Đồng Quê do tư nhân thành lập. Đó là dự án văn hóa do Nhà giáo Ngô Thị Khiếu sáng lập, công trình được xây dựng ở thôn Bình Di, xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nơi đây tái hiện lại cuộc sống lao động, sinh hoạt của các tầng lớp dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ từ xưa đến nay. Năm 2013, Bảo tàng Đồng quê được Tổ chức kỷ lục Guinness Việt Nam ghi nhận là bảo tàng đầu tiên trong nước đã xác lập kỷ lục lưu giữ những nét đặc sắc nhất vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Trên khuôn viên rộng 6.000m2, bảo tàng trưng bày 5 loại nhà tiêu biểu của đồng bằng Bắc Bộ từ thời phong kiến đến nay gồm: Nhà mái rạ tường đất của tầng lớp bần cố nông, Nhà lợp bổi của tầng lớp trung nông, Nhà xây lợp ngói nam của tầng lớp địa chủ, Nhà gác tường lợp ngói tây của người dân vùng nông thôn Bắc Bộ giữa thế kỷ 20: Đây đều là những nhà cũ nguyên bản có tuổi đời hàng chục năm. Nhà trung tâm của bảo tàng được xây 4 tầng là nơi trưng bày phong phú các hiện vật, đồ vật. Trong đó, tầng một trưng bày mảng truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam; những hình ảnh, hiện vật về đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh, truyền thống bộ đội hải quân, bộ đội công binh mở đường, đào hầm, xây đảo, làm nhà dàn ĐK trên quần đảo Trường Sa, thềm lục địa Việt Nam; về các loại vũ khí, tư trang, vật dụng người lính thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ…

Nội dung trưng bày ở tầng 2 có chủ đề “Cây lúa với đời sống sinh hoạt của cư dân đồng bằng Bắc Bộ” tái hiện cuộc sống của người nông dân, diêm dân, ngư dân với các loại công cụ lao động trong nông nghiệp, các công cụ nghề biển, nghề muối… Tầng ba trưng bày dụng cụ, đồ dùng sinh hoạt của người dân đồng bằng Bắc Bộ, trong đó bộ sưu tập khoảng 200 chiếc nồi đồng, 200 chiếc mâm đồng, 50 chậu đồng, hơn 100 chiếc đèn cổ, bộ sưu tập tiền xu các loại, tiền giấy Đông Dương, các đồ gốm, đồ sành, đồ sứ, chum choé đựng nước… Tầng bốn là thư viện với hàng nghìn đầu sách phong phú, đa dạng phù hợp các lứa tuổi. Sau toà nhà trung tâm là hệ thống hầm hào tái hiện một số hình ảnh về cuộc sống người dân khi tránh mưa bom, bão đạn thời kỳ chống Mỹ… Ngoài 5 kiểu nhà tiêu biểu, Bảo tàng Đồng quê còn trồng, bảo tồn những cây đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ bây giờ người dân ít trồng như: cậy, chay, sắn thuyền… và một số cây ở quần đảo Trường Sa, cây từ các nước bạn, cây gỗ đặc trưng rừng nhiệt đới Việt Nam… Khu trưng bày các nghề truyền thống ở Bảo tàng có mô phỏng các mô hình người dệt chiếu, trồng cói, cày, cấy… tái hiện đời sống lao động của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ qua các thời kỳ. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Về phương tiện vận chuyển phục vụ tham quan thì Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy có ca nô chở khách gồm 2 loại: cano nhỏ có thể chứa tối đa 6 khách và cano lớn có thể chứa tối đa 8 khách; ngoài ra còn có tàu loại 1 có thể chứa tối đa 45 khách và tàu loại 2 có thể chứa tối đa 35 khách; thuyền máy có thể chứa tối đa 15 khách.Ngoài ra Ban quản lý còn có rất nhiều xe đạp, xe máy cho khách du lịch thuê để phục vụ các chuyến du khảo đồng quê của du khách. Dịch vụ tham quan bằng đường thủy của vườn quốc gia của các đoàn khách chủ yếu qua 2 phương tiện tàu thép mới đưa vào sử dụng từ tháng 5-2017 của anh Trịnh Văn Hậu ở xã Giao Xuân có sức chứa 48 khách và anh Nguyễn Văn Dũng ở xã Giao Thiện có sức chứa 42 khách.

Đến tham quan vườn quốc gia Xuân Thủy, du khách có cơ hội được thưởng thức những món ăn mang đậm hương vị biển. Ngoài các nhà hàng tư nhân ở các xã vùng đệm thì Ban quản lý của vườn quốc gia Xuân Thủy còn có một nhà ăn lớn có thể đáp ứng cho khoảng 200 suất ăn.

Về cơ sở hạ tầng:

Huyện đã hoàn thành việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý, 100% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Hệ thống giao thông được đầu tư xây dựng qua nhiều năm đang phát huy tác dụng: trên địa bàn huyện hiện có 46,4km tỉnh lộ, 19km huyện lộ, 761km đường trục xã, liên xã, đường thôn xóm được nhựa hoá hoặc bê tông hoá. Hiện tại chỉ còn 5% đường thôn xóm chưa được nâng cấp. Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, con đường độc đạo dài khoảng 5 km nối từ đê sông Hồng đoạn gần cửa Ba Lạt với đê sông Trà là ranh giới giữa vùng đệm và vùng lõi của vườn quốc gia Xuân Thủy đã được làm mới vào năm 2017 đã tạo cơ hội đi lại dễ dàng hơn cho các hoạt động du lịch đến Vườn. Trước khi tới vùng lõi, con đường này chạy qua trụ sở vườn, các đầm bãi, cầu cống ở vùng đệm. Huyện có gần 15 km đường quốc lộ đạt chuẩn cấp III và IV đồng bằng, trong đó các tuyến Quốc lộ 37B và tỉnh lộ 489, 489B quy hoạch đạt tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng. 8 tuyến huyện lộ được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng, 2 tuyến huyện lộ đạt chuẩn cấp V đồng bằng. Đường trục chính nội đồng có 508,4 km/ 787,6 km (64,5%) mặt đường bê tông xi măng đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Hầu hết các tuyến đường trục xã, trục thôn xóm và đường ngõ xóm có lắp hệ thống điện chiếu sáng.

Nhà máy nước Giao Tiến được nâng công suất 28.875 m3/ngày đêm để đảm bảo nhu cầu sử dụng nước cho toàn huyện. Ngoài ra còn có nhà máy nước Giao Thịnh cấp nước cho 6 xã Giao Thịnh, Giao Phong, Quất Lâm, Giao Yến, Bạch Long, Giao Long.

Bưu chính viễn thông thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ. Mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn huyện với chất lượng sóng tốt, 100% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc của xã hội.

Về hạ tầng y tế, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, y tế được tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng: Năm 2017 toàn huyện có 20/22 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Bệnh viện đa khoa trung tâm huyện được đầu tư nâng cấp với số kinh phí hàng chục tỷ đồng, số giường bệnh năm 2017 đạt trên 300 giường, toàn huyện có hơn 70 bác sĩ, trong đó có 1 bác sĩ chuyên khoa cấp II và 13 bác sĩ chuyên khoa cấp I.100% số xóm và tổ dân phố có cán bộ y tế được đào tạo kiến thức về y tế thôn.

2.2.3. Nguồn nhân lực du lịch sinh thái

Nguồn nhân lực du lịch đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển du lịch. Nguồn nhân lực du lịch hiện nay tại Vườn quốc gia Xuân Thủy bao gồm đội ngũ cán bộ ban quản lý, hướng dẫn viên, những người dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch và những người tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch…

Đội ngũ Ban quản lý hiện nay gồm giám đốc vườn quốc gia là ông Nguyễn Viết Cách, 20 nhân viên được trả lương, 2 tình nguyện viên quốc tế và 50 tình nguyện viên không thường xuyên người Việt Nam. Ngoài Ban giám đốc thì còn có các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ sau: “Phòng khoa học-kỹ thuật, Phòng kinh tế-tổng hợp, Phòng quản lý bảo vệ tài nguyên-môi trường và Trung tâm du lịch sinh thái”.Trên 80% cán bộ của Vườn quốc gia Xuân Thủy có trình độ Đại học được đào tạo từ nhiều chuyên ngành có liên quan khác nhau. Trình độ chuyên môn và ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ viên chức của Vườn quốc gia đang từng bước được nâng cao để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Trong những năm gần đây, cùng với việc đầu tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật, thời gian qua, huyện Giao Thủy đã quan tâm nhiều hơn vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch. Năm 2018, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ lao động du lịch trực tiếp ở 150 cơ sở kinh doanh lưu trú, các ki-ốt ven biển. Đến nay, toàn huyện có 1.120 lao động du lịch trực tiếp, trong đó 55% lao động qua đào tạo.Số lượng lao động du lịch trực tiếp của huyện trong năm 2018 đã tăng lên nhiều hơn so với những năm trước và tỉ lệ lao động du lịch qua đào tạo đã tăng lên nhiều hơn những vẫn chỉ ở mức khiêm tốn khi tỉ lệ lao động du lịch đã qua đào tạo vẫn chỉ bằng một nửa so với tổng số lao động du lịch trực tiếp. Năm 2019 hiện nay Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy có 5 hướng dẫn viên du lịch có nghiệp vụ vững vàng, trong đó những người hướng dẫn các đoàn khách xem chim được bồi dưỡng chuyên sâu sự hiểu biết về các loài chim trong Vườn quốc gia. Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) đã mời các giáo viên của trường dạy nghề Hoa Sữa đến tận nơi hướng dẫn bà con cách dọn phòng, nấu ăn, phục vụ khách nhằm xây dựng nguồn nhân lực phục vụ du lịch Homestay.

Về cộng đồng dân cư địa phương hoạt động trong lĩnh vực thì lao động trong lĩnh vực này vẫn chưa đông đảo, chủ yếu là nữ giới. Phần lớn vốn là lao động phổ thông, trước đây từng làm nông nghiệp, cuộc sống phụ thuộc vào các hoạt động chăn nuôi các bãi ngao, tôm trong Vườn hoặc các hoạt động đánh bắt các nguồn lợi thủy sản trong khu vực Vườn quốc gia. Kỹ năng nghề nghiệp du lịch và khả năng ứng xử, phục vụ du khách của họ còn hạn chế, chưa gây được thiện cảm cho khách du lịch. Trong số những người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch tại đây thì đã có nhiều người đã học qua các lớp tập huấn về nghiệp vụ du lịch do chính quyền địa phương tổ chức như phục vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, nhắc nhở khách không vứt rác bừa bãi hoặc làm tổn hại đến Vườn quốc gia.

Ngoài ra còn có bộ phận người dân tham gia bán hàng lưu niệm cho khách. Do phần lớn người dân địa phương tham gia bán hàng lưu niệm ở đây là lao động phổ thông, hiểu biết về phục vụ du lịch còn thấp, các mặt hàng lưu niệm mang đậm tính địa phương ở đây là các sản phẩm từ ong như mật ong, rượu ngâm ấu trùng ong và nấm sò, ngoài ra là các mặt hàng thủy hải sản chế biến, hàng thủ công mĩ nghệ (sản phẩm cói), còn các mặt hàng lưu niệm khác vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách. Nhìn chung lượng lao động có thể tham gia phục vụ du lịch ở đây tuy dồi dào về số lượng nhưng chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đa dạng của khách. Lượng lao động tham gia hoạt động du lịch ở đây chỉ tập trung đông vào các giai đoạn thời vụ, tức các tháng có bầy chim di trú đi qua vào các mùa đông- xuân. Còn các tháng khác khách du lịch đến ít thì họ chuyển sang làm nông nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản theo phạm vi quản lý của Ban quản lý Vườn quốc gia.

2.2.4. Chính sách phát triển du lịch Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch sinh thái của Vườn quốc gia:

Ban quản lý đã ban hành quy định xây dựng, tổ chức và liên kết hoạt động du lịch sinh thái nhằm quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy. Quy định này nêu rõ trách nhiệm, quyền lợi của các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan tới hoạt động du lịch sinh thái tại khu vực, qua đó tạo mối liên kết chặt chẽ trong việc nhận tour, tổ chức tour và đảm bảo an toàn cho tour.

Huyện có cơ chế chính sách hấp dẫn để thu hút các công ty lữ hành, khuyến khích việc liên kết giữa các khu du lịch, điểm tham quan, hình thành các tour, tuyến du lịch trên địa bàn như: du lịch làng nghề nước mắm Sa Châu (Giao Châu) – cánh đồng muối Bạch Long – đóng tàu Quất Lâm; du lịch khám phá trải nghiệm văn hóa cộng đồng tại Bảo tàng Đồng Quê, xã Giao Thịnh…

Từ nhiều năm qua, Vườn quốc gia Xuân Thuỷ đã phối kết hợp với nhiều tổ chức phi Chính phủ như Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD), Tổ chức tình nguyện SJ Việt Nam, Tổ chức tình nguyện Vì hoà bình (VPV), chính quyền địa phương, và đặc biệt là sự phối kết hợp và nỗ lực từ phía người dân địa phương để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Thông qua đó, ý thức của người dân trong việc giữ gìn và bảo vệ tài nguyên vườn quốc gia, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên nhân văn quý giá của chính quê hương mình cũng được nâng cao. Các điểm hấp dẫn của mô hình du lịch này là kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà Bổi đặc trưng cho vùng ven biển châu thổ sông Hồng, văn hóa mở đất, khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, và những làn điệu chèo mượt mà do chính các “nghệ sỹ nông dân” biểu diễn.

Bên cạnh việc tiếp cận vườn quốc gia thông qua Ban quản lý, nhiều khách du lịch còn đến với vườn quốc gia thông qua mô hình du lịch sinh thái cộng đồng xã Giao Xuân. Anh Trịnh Văn Hậu, Trưởng ban điều hành du lịch sinh thái cộng đồng xã Giao Xuân cho biết: Mô hình được triển khai từ năm 2005 do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) giúp các hộ tham gia làm du lịch bằng việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, phòng ngủ, nghỉ, nấu ăn phục vụ du khách… Đến nay, các thành viên của hợp tác xã có thể đón tiếp 50-60 khách nghỉ đêm với giá 80 nghìn đồng/khách/đêm. Do giá cả hợp lý, hoạt động có tổ chức, hiện hợp tác xã có trên 20 đối tác khắp các nước: Hàn Quốc, Pháp, Thái Lan, Trung Quốc… và các Công ty, doanh nghiệp lữ hành trong nước. Đến với vườn quốc gia Xuân Thủy trong mùa chim di cư, du khách sẽ được hợp tác xã tổ chức các tour du lịch hấp dẫn từ 1-3 ngày. Theo đó, du khách được đưa ra bến thuyền của xã Giao Lạc, sau đó lên thuyền có sức chứa tối đa 70 người đi 4-6km xuyên trong rừng đến các điểm xem chim trong vườn, lên các chòi quan sát để ngắm chim, được thăm khu nuôi thả ngao vạng với hàng trăm chòi vạng mọc lên giữa cảnh trời nước bao la. Ngoài hoạt động tìm hiểu cuộc sống của chim di cư, trong chuyến du lịch nơi đây du khách được tham gia nhiều hoạt động như tắm biển, ăn hải sản trên nhà giàn trông ngao giữa biển, du khảo đồng quê bằng hình thức đi xe đạp, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở các xã vùng đệm vườn quốc gia, giao lưu văn nghệ…

Chính sách xúc tiến, quảng bá du lịch

Ban quản lý Vườn cũng đã lập ra trang web vuonquocgiaxuanthuy.org.vn bằng cả 2 thứ tiếng là tiếng Việt và tiếng Anh và tạo trang “Vườn quốc gia Xuân Thủy” trên mạng xã hội facebook để đăng các thông tin chung và dịch vụ du lịch của vườn nhằm giới thiệu, quảng bá và phổ biến rộng rãi hình ảnh của Vườn quốc gia Xuân Thủy cho khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài biết đến. Ngoài ra được sự liên kết giúp đỡ của chính quyền tỉnh thì thông tin của vườn quốc gia còn được đăng lên trang web dulichnamdinh.com.vn cũng được viết bằng song ngữ Việt – Anh của sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Nam Định lập ra để tăng cường xúc tiến quảng bá cho du lịch của Vườn quốc gia Xuân Thủy.

Vườn Quốc gia Xuân Thủy trong thời gian qua đã được quảng bá trên kênh sóng vtv1 lúc 20:05 tối trong chương trình “S Việt Nam- vẻ đẹp tiềm ẩn” với thởi hạn 4’41” và được đăng lên mạng qua các trang tin tức được nhiều người biết đến như Tin tức 24h

Với mong muốn giới thiệu tới du khách trong nước và quốc tế những nét đặc trưng và các sinh cảnh độc đáo của Vườn và dưới sự hỗ trợ của nhiều chương trình, tổ chức khác nhau, chẳng hạn như của chương trình liên minh đất ngập nước (WAP), các cán bộ của Vườn đã tạo ra nhiều mẫu tờ rơi với nội dung và hình ảnh chất lượng để quảng bá, giới thiệu về Vườn quốc gia Xuân Thủy trong nhiều năm qua .

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch được đẩy mạnh: Cuộc thi sáng tác mẫu thiết kế logo du lịch Nam Định và thi ảnh du lịch Nam Định lần thứ I được tiến hành từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 3 năm 2009. Ban tổ chức đã nhận được hơn 500 tác phẩm dự thi. Ban giám khảo cuộc thi đã chọn được 71 tác phẩm ảnh có giá trị nghệ thuật nội dung. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch đã xây dựng website “Du lịch Nam Định” và biên soạn, phát hành cuốn sách ảnh, bản tin về du lịch Nam Định, phối hợp xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng Vườn quốc gia Xuân Thuỷ tại xã Giao Xuân. Trung tâm đã tổ chức chương trình khảo sát các tuyến điểm du lịch trong tỉnh cho một số đơn vị kinh doanh lữ hành trong nước và quốc tế.

Chính sách bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường

Ban quản lý cũng thường xuyên hợp tác với các cơ quan truyền thống địa phương, Đài truyền hình trung ương VTV, VTC, Truyền hình của Thôn tấn xã Việt Nam và các Báo Đài khác nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân địa phương trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và các loài chim hoang dã.

Câu lạc bộ bảo tồn các loài chim hoang dã đã được hình thành và duy trì tại các xã vùng đệm, sự phối hợp giữa các cán bộ Vườn và người dân địa phương trong công tác bảo tồn đã mang lại những hiệu quả tích cực. Nhiều câu lạc bộ xanh đã được thành lập tại các trường học, nhiều ấn phẩm, tài liệu về giáo dục môi trường đã được biên soạn và phát hành đã góp phần nâng cao nhận thức cho các em học sinh và cộng đồng dân cư. Ban quản lý đã và đang nỗ lực nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương, các em học sinh cũng như du khách nhằm góp phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường được tốt hơn. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

Ban quản lí Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã phối kết hợp với các đơn vị liên quan thực hiện tốt công tác quản lý bảo tồn thiên nhiên như xử lý các vi phạm về phá rừng, khai thác rừng trái phép kể cả việc xả rác, nhổ cây bẻ cành của du khách; phục hồi rừng qua việc phối hợp với các ban ngành địa phương và cộng đồng dân cư vùng đệm để thực hiện các dự án trồng rừng của quốc gia như dự án 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án trồng rừng ngập mặn của Đan Mạch…;triển khai và thực hiện các đề án thí điểm về đồng quản lý sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn lợi thủy sản, tài nguyên môi trường ở khu vực nhằm chia sẻ lợi ích trong quản lý khu du lịch.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về lưu giữ và phát triển những loài thủy, hải sản tự nhiên quý hiếm chỉ có tại Giao Thủy.

Mô hình quản lý vùng lõi theo mô hình dựa vào cộng đồng đã được Ban quản lý đề xướng và đã được thực hiện rất thành công nhằm bảo vệ hệ sinh thái vùng lõi nhưng đồng thời có thể tận dụng sự phong phú của nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng lõi để mang lại lợi ích kinh tế cho người dân theo mô hình phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo cuộc sống cho người dân địa phương. Cơ chế “đồng quản lý” để cùng bảo vệ, cùng chia sẻ lợi ích từ rừng, từ đầm bãi là một lựa chọn hữu hiệu. Ban quản lý có các hoạt động truyền thông ; thực hiện các công tác tham vấn, tập huấn, kí cam kết nhằm giúp người dân ý thức rõ được quyền lợi, trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên sinh thái vườn quốc gia cũng là để bảo vệ sinh kế, nguồn sống của chính bản thân người dân địa phương.Thời gian qua, tại Vườn quốc gia Xuân Thủy có nhiều mô hình đồng quản lý được triển khai, như hai mô hình đồng quản lý về rừng ngập mặn ở vùng lõi và vùng đệm; về sử dụng bền vững tài nguyên dược liệu ở khu vực Cồn Lu; về khai thác bền vững tài nguyên ngao giống ở vùng cửa sông Hồng; về quản lý khu nuôi ngao quảng canh bền vững và về sử dụng khôn khéo tài nguyên rừng ngập mặn. Theo mô hình này, cộng đồng sẽ được tập hợp thành tổ nhóm và được giao đất, được trao quyền khai thác các nguồn lợi dưới tán rừng ngập mặn nhất định trên cơ sở phải tuân thủ nghiêm các quy định về quyền lợi, trách nhiệm. Nhờ đó người dân được trao quyền, được thực hiện các sinh kế trong đất Vườn một cách chính danh. Để giảm áp lực cho công tác bảo tồn, Ban quản lý đã khuyến khích và hỗ trợ các hộ dân địa phương phát triển nhiều mô hình sinh kế mới như trồng nấm, nuôi ong, VAC, nuôi giun quế làm thức ăn cho gia cầm, tham gia dịch vụ du lịch cộng đồng nhằm giảm việc phụ thuộc và khai thác nguồn lợi tự nhiên trong khu vực vùng lõi Vườn quốc gia.

Quản lý bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ trọng tâm được Vườn quốc gia Xuân Thủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bằng các giải pháp tích cực và thực hiện nghiêm túc. Vườn quốc gia Xuân Thủy còn hợp tác với các cấp, các ngành hữu quan triển khai và tổ chức 2 mô hình “Nuôi ngao quảng canh”; “Khu bảo tồn giống ngao bản địa”. Trong công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên và phát triển Vườn quốc gia, đơn vị đã coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục môi trường cho cộng đồng địa phương thông qua các hội nghị, các buổi tọa đàm, các kênh thông tin tuyên truyền từ Trung ương tới địa phương và các buổi học ngoại khóa của các trường học, nhờ đó ý thức chung của cộng đồng địa phương về bảo tồn và phát triển nguồn thiên nhiên được nâng lên. Đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, đơn vị đã tổ chức thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ khoa học như đào tạo cán bộ công chức viên chức, hợp tác nghiên cứu khoa học và thực hiện các dự án, các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế về bảo tồn phát triển cho khu vực như: Đề tài về gieo trồng cây bần không cánh; đề tài về sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước Khu dự trữ sinh quyển Sông Hồng; đề tài thực hiện nghiên cứu về đất sụt lún…

Bên cạnh đó, dưới sự hướng dẫn của Vườn quốc gia, các hộ nông dân ở đây cũng đã biết tận dụng mật hoa của rừng ngập mặn để nuôi ong, thu về hàng chục tấn mật mỗi năm. Và khi rừng ngập mặn mang lại lợi ích kinh tế thì người dân cũng có ý thức bảo vệ rừng hơn.

Ngoài ra, Vườn quốc gia cũng đứng ra giúp các hộ nông dân thành lập câu lạc bộ trồng nấm. Nhờ việc thu gom rơm để trồng nấm, cuộc sống của người dân xã Giao An thuộc vùng đệm Vườn quốc gia không những được cải thiện, mà tình trạng đốt rơm gây ô nhiễm môi trường hay vứt rơm gây tắc nghẽn dòng chảy đã giảm dần. Khóa luận: Tổng quan chung về vườn quốc gia Xuân Thủy

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Xuân Thủy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464