Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Nhuệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2 Thực trạng và công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Sông Nhuệ

2.2.1. Thực trạng nợ xấu tại NHCT Sông Nhuệ

2.2.1.1. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Nợ xấu là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn quốc tế là 1,5%.

Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành hiệu quả tín dụng. Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ xấu là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ xấu càng cao, hiệu quả tín dụng ngày càng thấp.

Cùng với tăng trưởng tín dụng, chi nhánh chú trọng đến chất lượng tín dụng, tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay nhờ đó các khoản vay được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính ổn định và bền vững, dễ thấy điều này trong bảng dưới đây:

Bảng 3: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại NHCT Sông Nhuệ 2011-2013 

Tỷ lệ NPL của chi nhánh NHCT Sông Nhuệ không có nhiều biến động, chỉ dao động nhẹ, năm 2011 là 1,93%; năm 2012 là 1,21% và năm 2013 là 1,45%; do đó, biểu đồ tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh có độ lệch không nhiều. Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ qua các năm là thấp nếu xét trên mặt bằng chung của các NHTM khác và các chi nhánh NHCT khác cùng hệ thống.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.1.2 Phân tích nợ xấu theo nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Nợ xấu xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân chủ quan, có nguyên nhân khách quan. Đối với nguyên nhân khách quan thì Ngân hàng có thể nhận biết và hạn chế nó chứ không thể loại bỏ nó được. Đối với nguyên nhân chủ quan thuộc về bản thân Ngân hàng thì Ngân hàng chủ động có thể dùng các biện pháp hợp lý để hạn chế rủi ro, tuy nhiên việc làm này là rất khó khăn.

Để xem xét nguyên nhân gây ra nợ xấu đối với Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ ta theo dõi qua bảng số liệu chi tiết sau.

Bảng 4: Phân tích nợ xấu theo nguyên nhân

Biểu đồ 2: Tỷ trọng nợ xấu phân theo nguyên nhân

Qua bảng 3, biểu đồ 2 và các số liệu trên có thể thấy rằng nợ xấu chủ yếu là do nguyên nhân khách quan. Năm 2011 nợ xấu do nguyên nhân khách quan là 22.285 triệu đồng chiếm 93,4% tỷ trọng tổng nợ xấu. Năm 2012 nợ xấu do nguyên nhân khách quan là 15.285 triệu đồng chiếm 95,7%. Năm 2013 chiếm 95,3% tổng nợ xấu. Trong cơ cấu nợ xấu theo nguyên nhân khách quan năm 2011, 2012, 2013, nguyên nhân bất khả kháng, cơ chế chính sách chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ quá hạn còn chủ yếu do khách hàng vay vốn làm ăn thua lỗ, bị phá sản.

Tuy vậy bên cạnh đó vẫn còn những khoản nợ xấu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng. Năm 2011 nợ xấu do nguyên nhân chủ quan là 1.580 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 6,6%. Năm 2012 là 685 triệu đồng chiếm 4,3% và năm 2013 là 1.232 triệu đồng chiếm 4,7%. Những khoản nợ xấu này phát sinh chủ yếu là do trình độ nghiệp vụ của một số ít cán bộ nhân viên chưa thực sự tốt do còn thiếu kinh nghiệm, chưa tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ, còn chủ quan trong việc thẩm định cấp tín dụng cho khách hàng, bên cạnh đó công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ cũng chưa thực sự sát sao gây nên những rủi ro nhất định cho Ngân hàng.

2.2.1.3 Phân tích nợ xấu theo các nhóm nợ Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Như các nhà quản lý Ngân hàng thường nói, lợi nhuận tỷ lệ thuận với rủi ro, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao. Do đó bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được, NHCT Sông Nhuệ cũng có khoản nợ xấu khá lớn, đặc biệt là năm 2013 vừa qua. Điều này đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cũng như vòng quay của vốn và chất lượng tín dụng của Ngân hàng, nhưng Ban lãnh đạo Ngân hàng đã có những biện pháp hợp lý để ngăn ngừa và xử lý nợ xấu, làm cho tỷ lệ NPL luôn ở mức an toàn. Chúng ta xem xét bảng sau để có cái nhìn tổng quát về tình hình nợ xấu theo các nhóm nợ tại NHCT Sông Nhuệ:

Bảng 5: Phân tích nợ xấu theo các nhóm nợ giai đoạn 2011-2013

Biểu đồ 3: Tỷ trọng nợ xấu theo nhóm nợ giai đoạn 2011-2013

Qua số liệu bảng trên ta thấy nợ nhóm 3 ngày càng tăng dần lên. Năm 2011 nợ nhóm 3 là 16.285 triệu đồng chiếm 68,2% thì năm 2012 tuy giảm còn 12.230 triệu đồng nhưng xét về tỷ trọng lại tăng, chiếm 76,6% trong tổng nợ xấu. Sang năm 2013 nợ nhóm 3 tăng lên ở mức 20.990 triệu đồng chiếm 80% tổng nợ xấu. Nợ nhóm 2 và nhóm 4 có xu hướng giảm dần qua các năm về mức dưới 10%. Các khoản nợ nhóm 5 năm 2011 là 1.674 triệu đồng chiếm 7% tổng nợ xấu, năm 2012 giảm còn 986 triệu đồng chiếm 6,2% tổng nợ xấu, sang năm 2013 lại tăng lên 2.143 triệu đồng tương ứng với 4,8%; như vậy nếu xét về mặt tỉ lệ thì năm các khoản nợ nhóm 5 đang giảm dần. Nhưng nếu xét về mặt số tuyệt đối thì tỉ lệ số dư nợ nhóm 5 biến đổi thất thường và năm 2013 có số dư cao nhất (2.143 triệu).

Nói chung tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng tuy có tăng nhưng không đáng kể đặc biệt nếu xét tỉ lệ nợ xấu/tổng dư nợ thì ta càng thấy rõ điều này và càng thấy ngân hàng hoạt động vẫn hiệu quả. Điều này chứng tỏ ngân hàng đã tích cực áp dụng những biện pháp khác nhau nên đã hạn chế được số nợ xấu ở mức có thể chấp nhận được. Bên cạnh đó nợ nhóm 4, nhóm 5 luôn giữ tỷ trọng khá thấp, đa phần là nợ nhóm 3 do các cá nhân và doanh nghiệp chưa kịp quay vòng vốn kinh doanh. Mặc dù luôn xúc tiến công tác thu nợ nhưng nền kinh tế ngày càng phát triển, trị giá các khoản vay luôn tăng cao để phục vụ sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp, hoạt động xuất nhập khẩu hay bất động sản…thì khả năng trả nợ đúng hạn là điều thực sự khó khăn, nợ xấu tăng qua các năm là điều khó tránh khỏi.

2.2.1.3 Phân tích nợ xấu theo đối tượng khách hàng Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Bảng 6: Phân tích nợ xấu theo đối tượng khách hàng

Biểu đồ 4: Tỷ trọng nợ xấu theo đối tượng khách hàng

Khối khách hàng cá nhân

Năm 2011 nợ xấu của khối khách hàng cá nhân toàn ngân hàng ở 3.221 triệu đồng, chiếm 13,5% trong tổng nợ xấu. Thứ nhất là do cá nhân bị sa thải thất nghiệp trong giai đoạn 2008-2010, không có khả năng trả nợ ngân hàng do thu nhập chủ yếu của họ là dựa vào lương. Thứ hai là do công tác thu nợ đối với cá nhân trong giai đoạn này gặp khó khăn do lạm phát tăng, thị trường bất động sản, chứng khoán và vàng có nhiều diễn biến phức tạp khiến cho các nhà đầu tư thua lỗ, khả năng trả nợ giảm sút. Bên cạnh đó dư nợ tín dụng cũng tăng cao làm cho dư nợ đối với cá thể tăng cao.

Đến năm 2012, khoản nợ này giảm mạnh còn 1.459 triệu, chiếm 9,1% trong tổng nợ xấu. Điều này được lý giải là do phía Ngân hàng ngại về khả năng tái lạm phát, cùng với việc thực hiện chủ trương kiểm soát tốc độ tăng truởng tín dụng, kiểm tra giám sát vốn tín dụng đầu tư cho lĩnh vực phi sản xuất như kinh doanh chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng, Ngân hàng đã hạn chế cho vay và hầu hết chỉ giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã ký. Về phía khách hàng, do vừa thoát khỏi khủng hoảng 2008-2010 và tình hình kinh tế chung trong nước vẫn còn ảm đạm nên khách hàng cũng khá dè dặt trong việc chi tiêu và đầu tư mới. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Tỷ trọng nợ xấu tín dụng của cá thể và hộ gia đình tăng năm 2013 chiếm 10,9%, tăng mạnh so với năm 2011, lên tới tận 96,16%. Điều này là do doanh số tín dụng tăng cao trong năm 2013 nên dư nợ xấu đối với cá nhân cũng tăng theo, tuy nhiên so với năm 2011 thì tỷ trọng này lại giảm 11,14%. Vì kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi, CPI tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của người dân được cải thiện, tạo ra tâm lý tốt trong việc vay vốn cũng như trả nợ Ngân hàng phục vụ tiêu dùng, sửa chữa và sản xuất nhỏ. Và đây được xem là nguồn thu có ý nghĩa quan trọng trong công tác điều hòa lãi suất toàn Ngân hàng do thường là các khoản vay nhỏ với lãi suất cao, thời gian đáo hạn nhanh.

Khối khách hàng doanh nghiệp

Năm 2011 nợ xấu của khách hàng doanh nghiệp là 20.644 triệu đồng, chiếm đến 86,5% so với tổng nợ xấu. Đa phần là các khoản nợ tích lũy từ thời gian khủng hoảng kinh tế 2008-2010. Mặt khác, giá trị các khoản vay trong năm 2011 rất lớn do nhu cầu vốn để tái sản xuất, hoạt động cao, cùng với việc Chính phủ và NHNN tạo điều kiện tối đa để các chủ doanh nghiệp tiếp cận với Ngân hàng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thích nghi kịp với môi trường kinh doanh nhiều biến động nên gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng vẫn còn hạn chế.

Đến năm 2012, mặc dù khối các khoản nợ xấu của khách hàng doanh nghiệp đã giảm đáng kể nhưng xét về tỷ trọng lại tăng, chiểm đến 90,9% tổng nợ xấu. Mặc dù đã đẩy mạnh công tác thu nợ, chú trọng đến chất lượng tín dụng hơn, tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay, khoản vay được kiểm soát chặt chẽ, nhưng bước sang năm 2012, kinh tế – tài chính của Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới, do khủng hoảng tài chính và nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết. Suy thoái tại khu vực đồng Euro cùng với khủng hoảng tín dụng khiến cho hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp gây nên nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

Tiếp tục phát huy công tác thu hồi nợ cùng với việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ là biện pháp cần thiết để hạn chế nợ xấu nhưng nợ xấu năm 2013 vẫn tăng 61,1%, 8.865 triệu đồng, chiếm 89,1% trong tổng nợ xấu, điều này là do doanh số tín dụng tăng vọt trong năm 2013 kéo theo các khoản nợ xấu cũng tăng theo. Đồng thời cũng có các khoản nợ xấu của khách hàng mới phát sinh như: Công ty Minh Hiền (5.084 triệu đồng), Tổ hợp Nam Hải (2.000 triệu đồng) đầu tư dàn trải vượt quá khả năng tài chính dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản; còn lại chủ yếu là các khách hàng hoạt động trong các làng nghề, khó khăn chưa được khắc phục, tồn kho lớn, phải thu khả năng thu hồi kém tuy nhiên các khách hàng đều có tài sản đảm bảo đầy đủ, có khả năng thu hồi.

Mặc dù có sự thay đổi nhỏ về tỷ trọng của các khoản nợ xấu theo thành phần kinh tế nhưng nhìn chung nợ xấu của cá nhân, hộ gia đình và cả doanh nghiệp đều tăng tuyến tính. Tốc độ tăng trưởng không đều đặc biệt là các khoản nợ của cá nhân, hộ gia đình có những biến động bất thường, các khoản nợ xấu thay đổi đều do những yếu tố khách quan, tác động của môi trường kinh doanh như tỷ giá, lạm phát, thất nghiệp hay những chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước…

2.2.1.4 Phân tích nợ xấu theo thời hạn cho vay Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Bảng 7: Phân tích nợ xấu theo thời hạn cho vay

Công thương Sông Nhuệ 2011,2012,2013)

Biểu đồ 5: Tỷ trọng nợ xấu theo thời hạn cho vay

Trong cơ cấu nợ xấu, nhóm nợ xấu ngắn hạn là tác nhân chính gây nên sự tăng lên của tổng nợ xấu. Nợ xấu ngắn hạn trong giai đoạn 2011 – 2013 luôn tăng tịnh tiến qua các năm, năm 2012 nợ xấu tăng 0,6% (gần 71 triệu đồng) so với năm 2011, năm 2013 tăng 68,7% (8195 triệu đồng). Nợ xấu ngắn hạn cao là do doanh số dư nợ ngắn hạn cao. Là Ngân hàng TMCP, NHCT Sông Nhuệ đã xác định đúng đắn mức vốn cho vay ngắn hạn trong cơ cấu vốn đầu tư. Trong các năm 2011, 2012, 2013 tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn ổn định ở mức cao. Ngân hàng nhận thấy rõ ràng cho vay ngắn hạn có ưu thế hơn cho vay trung và dài hạn sau khi nghiên cứu kỹ các dự án có tính khả thi, đem lại hiệu quả, góp phần tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, với bất kỳ một ngân hàng thương mại, yếu tố quay vòng vốn nhanh là rất cần thiết, tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao là tốt do đó nợ xấu ngắn hạn cũng cao.

Nợ xấu trung dài hạn theo các năm có xu hướng tăng giảm không đều nhưng tỷ trọng thì giảm liên tục qua các năm. Nguyên nhân của thực trạng này là do thời gian gần đây hoạt động cho vay dài hạn tại các Ngân hàng TMCP đã được kiểm soát chặt chẽ hơn vì lãi suất huy động có kỳ hạn chịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát, kinh tế Việt Nam biến động nhiều, các doanh nghiệp chưa dám mạo hiểm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phát triển quy mô, chủ yếu vay vốn để sản xuất hàng hóa phục vụ trong nước và xuất khẩu. Nợ xấu trung dài hạn năm 2011 là 12.011 triệu đồng, năm 2012 là 4.045 triệu đồng, giảm 66,3% , năm 2013 tăng vọt đạt mốc 6.118 triệu đồng, tăng 51,2% so với 2012, nhưng lại giảm mạnh so với năm 2011. Vì các hồ sơ tín dụng trung dài hạn thường có giá trị rất lớn, nên việc kiểm tra, phân tích, đánh giá khách hàng được ngân hàng rất chú trọng và được tiến hành rất cẩn thận. Để đạt được kết quả như trên sự là nhờ sự nổ lực của các phòng ban và tất cả các nhân viên NHCT Sông Nhuệ. Kết quả đạt được của ngân hàng là dư nợ xấu trung và dài hạn giảm đáng kể qua các năm. Chi nhánh nên phát huy hơn nữa thành công trên và nâng cao trình độ chuyên môn cho các nhân viên trong tất cả các phòng ban, tiến hành phân tích cẩn thận từng bước các hồ sơ tín dụng trước khi duyệt cấp tín dụng cho khách hàng, nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng và đảm bảo lợi nhuận, nâng cao uy tín cho ngân hàng.

2.2.2 Thực trạng xử lý nợ xấu ở Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ

2.2.2.1 Công tác phòng ngừa nợ xấu phát sinh. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Thấy rõ được ảnh hưởng của nợ xấu không chỉ đến Ngân hàng mà còn đối với cả nền kinh tế nên Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ luôn chú trọng đến công tác phòng ngừa nợ xấu phát sinh. Các biện pháp mà Chi nhánh đưa ra đã và đang phát huy hiệu quả, làm giảm nguy cơ rủi ro cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Ngân hàng.

Thực hiện quy trình tín dụng theo tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000.

Thực hiện các giới hạn về an toàn tín dụng theo đúng quy định. Các quy chế về hoạt động tín dụng đã được ban hành. Xác định giới hạn cho vay tối đa đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng khách hàng làm cơ sở mở rộng tín dụng và giảm thiểu rủi ro.

Thường xuyên chủ động phân tích, đánh giá chất lượng các khoản vay để xác định chính xác thực trạng chất lượng tín dụng, từ đó sớm phát hiện các khoản nợ có vấn đề, hoặc có phát sinh xấu thì xác định rõ nguyên nhân để có hướng giải quyết, đồng thời có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách, quy trình tín dụng và các mặt hoạt động khác đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

Xây dựng đội ngũ chuyên gia trên các lĩnh vực chuyên môn, sản phẩm mới, công nghệ. Đồng thời kết hợp với việc sắp xếp, bố trí, phân công công việc hợp lý nhằm phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của cán bộ tín dụng.

Song song với công việc đó thì công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ cũng được thực hiện nghiêm túc và đồng bộ. Chính điều này đã giúp Chi nhánh phát hiện được các sai lầm từ phía Ngân hàng để phòng ngừa kịp thời.

Công tác thu thập và xử lý thông tin dần được cải thiện. Thông tin thu thập từ nhiều nguồn: Trung tâm thông tin tín dụng, từ khách hàng, từ bạn hàng của khách hàng…việc phân tích đánh giá, phân loại và chọn lọc khách hàng đã được thực hiện nghiêm túc và mang lại những hiệu quả nhất định.

Chi nhánh cũng thường xuyên thực hiện việc kiểm tra quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Tại Chi nhánh, cán bộ tín dụng thường xuyên xuống các cơ sở sản xuất để kiểm tra tình hình sử dụng vốn có đảm bảo như trong phương án vay vốn không?

Tài sản đảm bảo cũng được kiểm tra thường xuyên nhằm đảm bảo cho giá trị tài sản đảm bảo được duy trì trong suốt thời gian vay vốn. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp có rủi ro xảy ra.

2.2.2.2 Công tác xử lý nợ xấu

Gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ

Bảng 8: Các khoản nợ đã gia hạn và điều chỉnh kỳ hạn năm 2011-2013

Gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ được Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ áp dụng đối với các Doanh nghiệp, cá nhân có uy tín, có quan hệ lâu năm với Ngân hàng, nhưng do một số nguyên nhân khách quan làm cho nguồn vốn của họ bị ứ đọng lại dẫn đến khách hàng không trả được nợ cho Ngân hàng đúng hạn. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

Việc xử lý nợ xấu bằng biện pháp gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ góp phần tích cực vào việc giảm nợ xấu, song nó cũng gây ra những khó khăn trong việc quản lý nợ xấu, vì vậy việc xét gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ phải được xem xét cẩn thận đảm bảo khách hàng có thể trả được nợ sau thời gian gia hạn.

Xử lý nợ xấu bằng quỹ dự phòng rủi ro

Thực hiện theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 5 năm 2005, Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ đã trích lập quỹ dự phòng rủi ro như sau:

Bảng 9: Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng năm 2011-2013

Qua những số liệu trên, có thể thấy mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của chi nhánh đều chiếm trên 55% tổng nợ xấu. Bên cạnh đó tỷ lệ DPRRTD/Tổng dư nợ cả 3 năm đều ở mức trên 1%. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng này là tương đối hợp lý so với mức tổng dư nợ và tổng nợ xấu của chi nhánh, điều này đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Đây sẽ là phần bù đắp rủi ro chính cho Ngân hàng trong trường hợp không xử lý hoặc xử lý không triệt để được các khoản nợ xấu.

Việc xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro chỉ là biện pháp tạm thời, mang tính tình thế bàng cách sử dụng một số tiền của Ngân hàng được trích từ lợi nhuận hàng năm nhằm tạm thời bù đắp các khoản nợ chưa thanh toán được để ổn định tình hình tài chính. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh và lợi nhuận hàng năm của Ngân hàng.

Công tác thu hồi nợ

Bảng 10: Kết quả thu hồi các khoản nợ xấu

Kết quả thu hồi nợ xấu Chi nhánh thu hồi chưa cao, số dư nợ xấu tồn đọng chưa xử lý được khá lớn nếu xét thêm các khoản nợ xấu phát sinh trong năm. Chi nhánh cần đẩy mạnh hơn công tác xử lý thu hồi các khoản nợ xấu này trong năm tới, tránh tổn thất về tài sản và nguồn vốn của Ngân hàng.

2.3 Đánh giá công tác xử lý nợ xấu ở Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ-Hà Nội. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

2.3.1 Những kết quả đã đạt được

Nếu như năm 2011 nợ xấu là 23.865 triệu đồng, chiếm 1,93% so với tổng dư nợ và năm 2012 là 15.970 triệu đồng chiếm 1,21 % so với tổng dư nợ thì sang năm 2013 nợ xấu chỉ còn 26.238 triệu đồng chiếm 1,45% tổng dư nợ. So với năm 2011 thì tỷ trọng nợ xấu đã giảm đi rất nhiều mặc dù doanh số cho vay tăng rất nhanh. Qua đó thể hiện sự cố gắng vượt bậc của Chi nhánh trong việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu.

Bước đầu làm trong sạch bảng cân đối tài sản, tách bạch được một phần nợ xấu ra khỏi bảng cân đối của toàn hệ thống để theo dõi riêng trên ngoại bảng và tiếp tục tận thu.

2.3.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân

Vẫn còn những khoản nợ xấu phát sinh do yếu tố chủ quan xuất phát từ bản thân Ngân hàng. Nguyên nhân là năng lực chuyên môn của một số ít cán bộ nhân viên chưa thực sự tốt, chưa có nhiều kinh nghiệm nên dễ dẫn đến sai sót trong quá trình chọn lựa, thẩm định cấp tín dụng cho khách hàng

Nguồn thu từ thanh lý tài sản ở nhiều doanh nghiệp giải thể không được trả cho Ngân hàng nên việc thu nợ còn khó khăn, việc chuyển nợ thành vốn phụ thuộc nhiều vào quá trình cổ phần hoá. Công tác xử lý thu hồi nợ xấu cũng chưa được đôn đốc thúc đấy mạnh, số dư nợ xấu chưa thu hồi được vẫn còn khá lớn.

Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngừng sản xuất nhưng các Bộ, ngành địa phương chần chừ không sắp xếp lại do nhiều lý do gây nên khó khăn trong việc thu nợ. Cũng có doanh nghiệp đã có quyết định phá sản, giải thể nhưng tài sản không thể thanh lý được do không có đầy đủ giấy tờ hoặc tài sản không còn giá trị. Do vậy việc bán tài sản công khai trên thị trường và qua trung tâm bán đấu giá rất mất thời gian để xác định tài sản. Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện quản lý nợ xấu tại VietinBank

One thought on “Khóa luận: Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng VietinBank

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan tình hình hoạt động tại VietinBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464