Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An
2.2.1 Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An thông qua bảng cân đối kế toán
2.2.1.1 Phân tích bảng cân đối kế toán theo chiều ngang
Có rất nhiều thông tin khác nhau mà doanh nghiệp có thể dựa vào đó để phân tích tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp mình như: từ thông tin bên ngoài tới thông tin nội bộ, từ các tài liệu liên quan tới các báo cáo tài chính. Vì vậy sau đây ta sẽ phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Bảng 5 : Phân tích tình hình tài sản công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An năm 2011 – 2013 theo chiều ngang.
Qua số liệu tính toán ở trên ta có thể rút ra một số nhận xét nhƣ sau:
Phân tích sự biến động của vốn:
Tổng tài sản năm 2012 so với năm 2011 tăng 1.452.984.623 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 2.77%. Việc tổng tài sản tăng lên nói trên thể hiện quy mô sản xuất kinh doanh của công ty năm 2012 so với năm 2011 tăng.Tổng tài sản tăng lên là do tài sản ngắn hạn tăng 1.564.544.845đồng; tài sản dài hạn giảm 111.560.222 đồng. Đi sâu phân tích từng chỉ tiêu ta thấy:
Tiền và các khoản tương đương tiền tăng 218.817.533 đồng.
Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2012 so với năm 2011 giảm 893.063.635 đồng với tỷ lệ giảm 3,5%. Việc giảm các khoản phải thu nói trên là do phải thu khách hàng giảm 829.710.642 đồng, trả trước cho người bán tăng 71.040.308 đồng, các khoản phải thu khác giảm 29.342.690 đồng và dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi giảm 105.050.618 đồng..
Việc giảm các khoản phải thu nói trên là do chính sách kinh doanh của công ty trong nội bộ cũng như trong khách hàng là có hiệu quả.
Hàng tồn kho năm 2012 so với năm 2011 tăng 1.392.886.540đồng với tỷ lệ tăng 12,35%. Hàng tồn kho tăng lên là do quy mô sản xuất kinh doanh của công ty trong năm tăng hoặc do chính sách kinh doanh của công ty là tích trữ hàng chờ cơ hội bán với giá cao.
Tài sản ngắn hạn khác năm 2012 so với năm 2011 tăng 845.904.505 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 61,89%. Trong đó chi phí trả trước ngắn hạn tăng 3.706.431 đồng, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ giảm 440.294.484 đồng và tài sản ngắn hạn khác tăng 1.282.492.558 đồng. Việc tăng tài sản ngắn hạn khác này cho thấy công ty đã kinh doanh có hiệu quả và chấp hành việc nộp thuế đầy đủ.
Tài sản cố định hữu hình năm 2012 so với năm 2011 tăng 367.845 đồng với tỷ lệ tăng 0,37%. Việc tăng tài sản cố định hữu hình là do cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty đã được tăng cường đổi mới.
Tài sản cố định vô hình năm 2012 so với năm 2011 tăng 116.370.659 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 18.65%. Việc tăng tài sản cố định vô hình cho thấy về phần công nghệ thông tin của công ty đã được nâng cao.
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang năm 2012 so với năm 2011 tăng 116.870.426 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 14,94%. Điều này chứng tỏ trong năm có công trình xây dựng cơ bản chưa hoàn thành. Chính vì vậy chưa mang lại hiệu quả cho sản xuất kinh doanh.
Tài sản dài hạn khác năm 2012 so với năm 2011 tăng 215.760.850 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 20,51% trong đó chi phí trả trước dài hạn tăng 734.499 đồng còn tài sản dài hạn khác tăng 225.026.351 đồng .
Tóm lại, qua phân tích sự biến động cơ cấu tài sản ta thấy việc tăng giảm các chỉ tiêu tài sản trên cũng như tình hình phân bổ vốn năm 2012 so với năm 2011 là hợp lý. Bởi vì việc tăng tổng tài sản của công ty thể hiện quy mô của công ty đã được mở rộng đồng thời công ty tăng năng lực sản xuất kinh doanh, giảm các loại tài sản không cần thiết nhằm sử dụng vốn có hiệu quả.
Giai đoạn năm 2013- 2012:
Qua số liệu tính toán ở trên ta có thể rút ra một số nhận xét nhƣ sau:
Phân tích sự biến động của vốn:
So với năm 2012 tổng tài sản năm 2013 đã giảm 8.894.992.519đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 16,49%. Việc giảm tổng tài sản trong năm 2013 thể hiện quy mô sản xuất kinh doanh trong năm của công ty so với năm 2012 đã giảm. Tổng tài sản giảm đi là do: tài sản ngắn hạn giảm 6.027.982.542 đồng, tài sản dài hạn giảm 2.867.010.037 đồng. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Đi sâu phân tích từng chỉ tiêu ta thấy:
Tiền và các khoản tương đường tiền năm 2013 so với năm 2012 tăng 248,02% với số tăng là 1.850.980.034đồng, trong đó tiền chiếm 100% trên tổng tiền và tương đương tiền với mức tăng tương ứng 248,02% ( số tăng là 1.850.980.034 đồng).
Bên cạnh đó các khoản phải thu lại giảm với mức giảm 21,29%, tương ứng với số tiền là 5.243.389.371 đồng( khoản phải thu năm 2012 là 24.626.143.666 đồng, năm 2013 là 19.382.754.295 đồng). Các khoản phải thu giảm đi là do phải thu khách hàng giảm 6.394.728.786 đồng, với tỷ lệ giảm 24,63% nhưng khoản trả trước cho người bán tăng 57,41% với số tiền tăng là 363.155.193 đồng, các khoản phải thu khác cũng tăng với mức tăng là 3288,85% tương ứng số tiền 359.329.669 đồng. và dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi tăng 428.854.553 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 21,6%.
Trong năm 2013 hàng tồn kho cũng giảm 29,21%, với số tiền 3.700.493.041 đồng( hàng tồn kho năm 2012 là12.670.249.094đồng , năm 2013 là 8.969.756.003 đồng. Hàng tồn kho trong năm 2013 giảm là do chính sách kinh doanh của công ty thay đổi, trong năm 2013 công ty cũng đã hoàn thành một số công trình lớn đưa vào hoạt động nên lượng hàng hóa tích trữ dùng cho việc thi công cũng giảm.
Mặt khác tài sản ngắn hạn khác đã tăng 1.064.919.883 đồng (tăng 48,13%). Cụ thể như sau:chi phí trả trước ngắn hạn giảm 4.498.726 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 13,13%,thuế giá trị gia tăng được khấu trừ tăng 6.890.001 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 19,10%, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước giảm 9,26%với số tiền là3.060.506 đồng do trong năm 2013 hiệu quả kinh doanh của công ty giảm sút là do tình hình khó khăn chung của nền kinh tế cũng như khó khăn của toàn ngành. Tài sản ngắn hạn khác đã tăng 1.065.589.114 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 50,52%.
Trong năm 2013 cũng là năm có nhiều sự thay đổi của tài sản dài hạn:
Tài sản dài hạn giảm đi là do tài sản cố định giảm và tài sản dài hạn khác giảm. Cụ thể trong năm 2013 tài sản cố định giảm 16,79% với số tiền đầu tư giảm đi tương ứng là 1.936.547.531 đồng, là do tài sản cố định hữu hình giảm 1.789.833.617 đồng, tài sản cố định vô hình giảm 259.992.583 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 35,12% và chi phí xây đựng cơ bản dở dang giảm 547.651.328 đồng tương ứng với mức giảm 60,9%.
Tài sản dài hạn khác trong năm 2013 giảm 21,26% so với năm 2012 là do chi phí trả trước dài hạn tăng.475.666 đồng tương ứng với mức tăng 142% và tài sản dài hạn khác giảm 289.938.169 đồng tương ứng với mức giảm 22,91%.
Qua phân tích bảng số liệu trên ta thấy trong năm 2013 công ty đã giảm lượng đầu tư vào tài sản ngắn hạn cũng như tài sản dài hạn tuy nhiên việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn giảm ít hơn so với việc giảm đầu tư vào tài sản ngắn hạn.
Tóm lại , qua phân tích cơ cấu tài sản ta thấy việc tăng giảm tỷ trọng các chỉ tiêu trong tổng tài sản là hợp lý, nó phù hợp với chính sách kinh doanh và tình hình thực tế tại công ty qua từng thời kỳ.
Bảng 6:Phân tích cơ cấu nguồn vốn công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An năm 2011 – 2013theo chiều ngang.
Từ bảng số liệu trên ta thấy tình hình nguồn vốn của công ty qua các năm 2011-2013 như sau:
Giai đoạn năm 2011- 2012:
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn vốn năm 2012 so với năm 2011 tăng 1.452.984.623 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 2.77%. Như vậy quy mô sản suất kinh doanh cuối năm tăng so với năm 2011.
Tổng nguồn vốn nói trên tăng lên là do: nợ phải trả năm 2012 so với năm 2011 tăng 2.289.648.555 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 5,3% nhưng bên cạnh đó vốn chủ sở hữu giảm 836.663.930 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 8,96%.
Đi sâu phân tích từng chỉ tiêu ta thấy:
Vốn chủ sở hữu giảm đi nói trên là do vốn đầu tư của chủ sở hữu giảm 656.228.686 đồng, thặng dư vốn cổ phần giảm 12.893.324 đồng, vốn khác của chủ sở hữu giảm 323.961.596 đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng 66.457.798 đồng, quỹ dự phòng tài chính tăng 102.400.046 đồng , quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu tăng 9.138.168 đồng và lợi nhuận chưa phân phối giảm 21.576.336 đồng..
Trong khi đó nợ phải trả tăng lên là do nợ ngắn hạn tăng 4.861.964.553 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 13,85% .Việc nợ ngắn hạn tăng lên do vay và nợ ngắn hạn tăng 259.666.991 đồng, phải trả người bán tăng 1.752.299.255 đông, người mua trả tiền trước tăng 5,96% đầu kỳ là 3.481.675.303đồng. cuối kỳ là 3.689.189.389đồng. Như vậy năm 2012 so với năm 2011 khách hàng đã trả trước tăng 207.514.056 đồng, việc tăng khoản khách hàng trả trước là do chính sách kinh doanh của công ty thay đổi. Bên cạnh đó cũng có các khoản tăng như thuế và các khoản phải nộp nhà nước tăng 832.955.829 đồng, phải trả công nhân viên tăng 545.371.035 đồng, chi phí phải trả tăng 62.951.729 đồng, phải trả nội bộ tăng 510.308.103 đồng, các khoản phải trả , phải nộp khác tăng 718.991.521đồng còn quỹ khen thưởng phúc lợi giảm 29.093.898 đồng. Việc tăng các khoản nói trên nếu chưa tới hạn thanh toán là hợp lý vì đây là khoản tiền mà công ty đi chiếm dụng không phải trả lãi; nguồn vố tín dụng của khách hàng.
Năm 2012 so với năm 2011 đã giảm được số nợ dài hạn là 2.572.316.010 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 31,89%. Việc giảm nợ dài hạn là do vay và nợ dài hạn giảm 2.538.663.229 đồng còn dự phòng trợ cấp mất việc làm tăng 32.335.637 đồng.
Mặt khác nguồn vốn ngắn hạn công ty huy động năm 2011 là 43.165.048.540 đồng, năm 2012 là 45.454.697.095đồng , trong khi đó tài sản ngắn hạn năm 2011 là 38.690.824.682 đồng, năm 2012 là 40.255.369.527 đồng. Như vậy ở cả thời điểm năm 2011 và năm 2012 công ty đã sử dụng một phần vồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Cách thức tài trợ này chưa mang lại sự ổn định cho công ty. Tình hình tài chính không được ổn định.
Giai đoạn năm 2013- 2012:
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn vốn năm 2013 so với năm 2012 giảm 8.894.992.519 đồng, tương ứng tỷ lệ giảm 16,49%. Như vậy quy mô sản suất kinh doanh trong năm 2013 đã giảm so với năm 2012. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Tổng nguồn vốn nói trên giảm đi là do: nợ phải trả năm 2013 so với năm 2012 giảm 7.459.878.440 đồng và vốn chủ sở hữu giảm 1.435.114.080 đồng.
Đi sâu phân tích từng chỉ tiêu ta thấy:
Vốn chủ sở hữu giảm đi nói trên là do vốn khác của chủ sở hữu giảm 298.019.131 đồng., quỹ đầu tư phát triển giảm 118.286.480 đồng, lợi nhuận chưa phân phối giảm 19.005.518 đồng trong khi đó quỹ dự phòng tài chính và quỹ khác của chủ sở hữu tăng không đáng kể. Bên cạnh đó vốn đầu tư của chủ sở hữu và thặng dư vốn cổ phần năm 2013 so với năm 2012 không có gì thay đổi.
Nợ phải trả giảm đi là do nợ ngắn hạn giảm 7.903.112.372 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 19,78%. Việc nợ ngắn hạn giảm đi do vay và nợ ngắn hạn giảm 3.586.066.191 đồng, người mua trả tiền trước giảm 35,06%, việc giảm khoản khách hàng trả trước là do chính sách kinh doanh của công ty thay đổi. Bên cạnh đó phải trả người bán giảm 27,36%, do năm 2012 khoản phải trả người bán là 10.364.864.700 đồng nhưng năm 2013 là 7.529.411.765đồng. Bên cạnh đó các khoản khác cũng giảm đi như phải trả công nhân viên giảm 730.031.764 đồng, chi phí phải trả giảm 100% do năm 2013 công ty không phải trả thêm chi phí nào cả, phải trả nội bộ cũng giảm 796.461.523 đồng và quỹ khen thưởng phúc lợi giảm 56.471.795 đồng..Việc giảm các khoản trên cũng hoàn toàn hợp lý do năm 2013 nền kinh tế nói chung gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó thuế và các khoản phải nộp nhà nước vẫn tăng đến 1.077.290.823 đồng và các khoản phải trả phải nộp khác tăng 481.500.207 đồng. Việc tăng các khoản nói trên nếu chưa tới hạn thanh toán là hợp lý vì đây là khoản tiền mà công ty đi chiếm dụng không phải trả lãi; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật thanh toán đối với tổ chức tín dụng.
Mặt khác nguồn vốn ngắn hạn công ty huy động năm 2012 là 39.960.255.232 đồng, trong khi đó tài sản ngắn hạn năm 2012 là40.255.369.527đồng; nguồn vốn dài hạn công ty huy động là 5.494.441.860 đồng trong khi tài sản dài hạn của công ty năm 2012 là 13.697.764.276 đồng. Năm 2013 nguồn vốn ngắn hạn công ty huy động là 32.057.142.860đồng, tài sản ngắn hạn năm 2013 là 34.227.386.985 đồng; nguồn vốn dài hạn của công ty là 4.937.675.790 đồng còn tài sản dài hạn của công ty là 10.830.754.239 đồng. Điều này cho thấy ở cả thời điểm năm 2012 năm 2013 tài sản ngắn hạn công ty vẫnđảm bảo tài trợ cho tài sản ngắn hạn tương tự tài sản dài hạn của công ty cũng đảm bảo tài trợ cho tài sản dài hạn của công ty.
Như vậy về mặt tài chính sự gia tăng các khoản nợ cho thấy công ty có được uy tín với các nhà đầu tư nhưng đây cũng là một dấu hiệu cảnh báo khả năng công ty gặp phải rủi ro rất lớn nếu không có chiến lược sử dụng vốn vay hiệu quả.Ta thấy trong cơ cấu nguồn vốn vay chủ yếu là vốn vay ngắn hạn sự gia tăng của nguồn vốn vay ngắn hạn quá lớn khiến doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn nhất là khi thời gian cho vay là rất ngắn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2.1.1 Phân tích bảng cân đối kế toán theo chiều dọc Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Phân tích bảng cân đối kế toán theo chiều dọc để qua đó ta có thể đánh giá biến động so với quy mô chung, giữa năm sau so với năm trước. Để thực hiện phương pháp phân tích này thì ta lấy mọi chỉ tiêu so với tổng tài sản hoặc nguồn vốn để từ đó xác định mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng khoản mục trong tổng số.
Bảng 7: Phân tích tình hình tài sản công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An năm 2011 – 2013 theo chiều dọc.
Qua bảng phân tích ta thấy cơ cấu tài sản năm 2012 so với năm 2011 và năm 2013 so với năm 2012 đã có sự thay đổi nhẹ. Năm 2011, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng là 73,70%, tương với số tiền là 38.690.824.682 đồng, tài sản dài hạn chiếm 26,30%, tương đương với số tiền là 13.809.324.498 đồng. Năm 2012,tài sản ngắn hạn chiếm 74,61%, tương đương với số tiền là 40.255.369.527 đồng, tài sản dài hạn chiếm 25,39%, tương đương với số tiền là 13.697.764.276 đồng. Năm 2013, tài sản ngắn hạn chiếm 75,96%, tương đương với số tiền là 34.227.386.985 đồng, tài sản dài hạn chiếm 24,04%, tương đương với số tiền là 10.830.754.239 đồng. Như vậy, qua 3 năm, năm 2012 so với năm 2011 tài sản ngắn hạn thì tăng nhẹ 0,91%, tài sản dài hạn giảm đi đúng 0,91%; năm 2013 so với năm 2012 tài sản ngắn hạn tăng 1,35%; tài sản dài hạn giảm đúng 1,35%.Từ đó có thể thấy tốc độ tăng tài sản ngắn hạn đúng bằng tốc độ giảm của tài sản dài hạn. Trong kỳ công ty đã chú trọng hơn đến việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn (chủ yếu đầu tư vào hàng tồn kho), đồng thời giảm tỷ trọng đầu tư tài sản dài hạn. Điều này cho thấy công ty đã chủ động công tác dự trữ sản phẩm cũng như nắm bắt được tình hình thị trường, luôn duy trì một lượng hàng hoá ổn định trong kho để kịp thời cung cấp cho thị trường.Trong tài sản ngắn hạn thì tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2011 là 48,61 %; năm 2012 là 45,64% và năm 2013 là 43,02% so với tổng tài sản. Như vậy tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn đã giảm qua từng năm. Tỷ trọng này giảm chứng tỏ doanh nghiệp đã có biện pháp thu hồi nợ hiệu quả làm cho nguồn vốn công ty ít bị ứ đọng, vòng quay luân chuyển vốn nhanh hơn dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cũng sẽ tăng lên. Tiền và tương đương tiền chiếm tỷ trọng rất thấp, năm 2011 là 1,00%; năm 2012 là 1,38% và năm 2013 chiếm 5,76%. Mặc dù tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng tài sản nhưng tỷ trọng này đã tăng dần qua các năm đặc biệt là năm 2013 tỷ trọng này tăng từ 1,38% lên đến 5,76%. Tính chủ động của doanh nghiệp tăng lên đồng thời tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến công hạn là do tiền và các khoản tương đương tiền tăng. Do tỷ trọng tài sản cố định giảm đi đã làm tỷ trọng tài sản dài hạn giảm cụ thể năm 2012 so với năm 2011 giảm 1,98%; năm 2013 so với năm 2012 giảm 0,08%.
Bên cạnh đó tổng tài sản của công ty tăng lên một cách đáng kể do chỉ tiêu tài sản ngắn hạn khác tăng lên bởi do công ty được hoàn lại thuế giá trị gia tăng đầu vào, công tác sổ sách chứng từ kế toán được chú trọng.
Tóm lại, qua phân tích sự biến động cơ cấu tài sản ta thấy cơ cấu tài sản của công ty là chưa hợp lý, TSLĐ và ĐTNH chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản trong đó chủ yếu là khoản phải thu của khách hàng, điều này là không tốt. Vì vậy Công ty cần có những biện pháp làm giảm khoản phải thu của khách hàng xuống sẽ tránh ứ đọng vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Bảng 8: Phân tích tình hình nguồn vốn công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An năm 2011 – 2013 theo chiều dọc. Đơn vị tính: đồng
Qua biểu đồ so sánh ta thấy cơ cấu nguồn vốn cũng thay đổi không nhiều. Năm 2011 nợ phải trả chiếm 82,22% trong tổng nguồn vốn thì năm 2012 khoản này tăng lên 84,25% và năm 2013 tăng lên 84,32% còn phần vốn chủ sở hữu giảm từ 17,78% năm 2011 xuống còn 15,75% năm 2012 và 15,68% năm 2013 trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Do công ty đã thay đổi chính sách kinh doanh nên đã dẫn đến sự thay đổi này. Có thể thấy rằng tài sản dài hạn đã được công ty sử dụng một phần vốn ngắn hạn để tài trợ do khủng hoảng kinh tế và lạm phát tăng cao cho nên công ty đã vay vốn ngắn hạn từ phía các nhà đầu tư và ngân hàng để tài trợ vốn. Việc vay vốn ngắn hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn là việc rất mạo hiểm. Cách thức tài trợ này chưa mang lại sự ổn định cho công ty.
Nợ ngắn hạn của công ty tăng lên còn do công ty đã chiếm dụng vốn của các nhà cung cấp của mình một khoản khá lớn. Nếu công ty kéo dài tình trạng chiếm dụng vốn lâu như vậy thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản phẩm bởi các nhà cung cấp sẽ khó khăn trong việc thu hồi vốn và họ không muốn bán hàng cho công ty nữa. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Nợ ngắn hạn của công ty tăng nhanh chóng cho thấy sự phụ thuộc của công ty vào các tổ chức tín dụng bên ngoài. Nếu công ty không có các chiến lược sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay nợ ngắn hạn thì rất có khả năng sẽ mất khả năng thanh toán các khoản lãi vay và nguốn vốn, mất uy tín với các tổ chức tín dụng và các nhà cung ứng cũng như các đối tác của mình.
Và qua biểu đồ trên ta thấy sự thay đổi của cơ cấu nguồn vốn sự tăng lên của nợ phải trả và sự giảm đi của nguồn vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả của công ty khá cao so với tổng nguồn vốn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc huy động vốn cho các kế hoạch kinh doanh mới của công ty và khả năng thanh toán của công ty.
2.2.1.2 Phân tích cân đối tài sản và nguồn vốn
Việc phân tích mối quan hệ cân đối tài sản và nguồn vốn nhằm đánh giá khái quát tình hình phân bố, huy động, sử dụng các loại vốn và nguồn vốn đảm bảo cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Đồng thời nó còn dùng để đánh giá xem giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động với việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp lý và hiệu quả hay không.
Để có thể hiểu rõ tình hình thực tế tài chính doanh nghiệp xem sự sắp xếp, phân bố tài sản và nguồn vốn trong doanh nghiệp đã hợp lý hay chưa, cân đối chưa ta tiến hành lập bảng sau:
Bảng 9 : Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn năm 2011
Tài sản ngắn hạn ròng năm 2011 = tài sản ngắn hạn – Nợ phải trả ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn ròng năm 2013 = Tài sản ngắn hạn – Nợ phải trả ngắn hạn = 34.227.386.985- 32.057.142.860 = 2.170.244.120 đồng
Cân đối giữa tài sản ngắn hạn và với nợ ngắn hạn Năm 2011 ( đồng): 38.690.824.682 > 35.098.290.679
Năm 2012 (đồng) : 40.255.369.527 > 39.960.255.232
Năm 2013 (đồng) : 34.227.386.985 > 32.057.142.860
Điều này chứng tỏ 1 phần TSNH của công ty được tài trợ bởi nguồn VCSH. Tuy điều này tạo được sự an toàn cho công ty nhưng chi phí sử dụng vốn lại cao.
Cân đối giữa tài sản dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu Năm 2011 (đồng): 13.809.324.498 >9.335.100.640 Năm 2012 (đồng): 13.697.764.276 >8.498.436.710 Năm 2013 (đồng): 10.830.754.239 > 7.063.322.630
Năm 2011, năm 2012 và năm 2013, tài sản dài hạn lớn hơn nguồn vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn. Điều này đảm bảo tính an toàn về mặt tài chính và về mặt hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì ít gây ra sự lãng phí trong kinh doanh tuy nhiên lợi nhuận lại thấp.
2.2.2 Phân tích tình hình tài chính qua bảng Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
2.2.2.1 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh theo chiều ngang.
Qua bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty theo số liệu trên Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011, 2012, 2013 cho ta thấy:
- Doanh thu năm 2012 tăng 20.97% so với năm 2011, tương đương với số tiền là 8.193.359.014 đồng. Doanh thu năm 2013 giảm 21,80% so với năm 2012 tương đương với số tiền là 10.303.997.457 đồng.
- Năm 2012, doanh thu tăng 20.97% so với năm 2011. Thì giá vốn cũng tăng lên 21,49% so với năm 2011, tương đương với số tiền 7.202.645.972 đồng, tốc độ tăng của giá vốn là tăng cao hơn so với tốc độ tăng của doanh thu là 0,52 %. Xét tỷ số giữa tốc độ tăng giá vốn và tốc độ tăng doanh thu ta có 21,49% /20.97% = 1.025 >1.Do giá xăng dầu trên thế giới năm 2012 liên tục tăng. Năm 2013, doanh thu giảm 21,80% so với năm 2012. Thì giá vôn cũng giảm xuống 21,02% so với năm 2012, tương đương với số tiền 8.556.570.968 đồng, tốc độ giảm của giá vốn là giảm nhiều hơn so với tốc độ giảm của doanh thu là 0,78 %. Xét tỷ số giữa tốc độ giảm giá vốn và tốc độ giảm doanh thu ta có (21,02%) /(21,80%) = 0,96<1. Do giá xăng dầu trên thế giới năm 2013 có giảm nhẹ.
- Lợi nhuận gộp đạt được năm 2012 cao hơn so với năm 2011. Năm 2012, lợi nhuận gộp thu được là 5.554.646.470 đồng, năm 2012 là 6.545.359.510 đồng, như vậy tăng lên 990.713.040 đồng, tương ứng với tỷ lệ là 17,84%. Lợi nhuận gộp đạt được năm 2013 thấp hơn so với năm 2012. Năm 2013, lợi nhuận gộp thu được là 4.797.933.020 đồng, năm 2012 là 6.454.359.510 đồng, như vậy giảm đi 1.747.426.490 đồng, tương ứng với tỷ lệ là 26,70%.
- Chi phí tài chính năm 2012 tăng 57,20% so với năm 2011, tương đương với số tiền là 1.125.337.091 đồng. Nguyên nhân chính là do trong năm công ty phát hành cổ phiếu thường. Do đó mà chi phí tài chính tăng vọt. Tuy nhiên chi phí tài chính năm 2013 giảm 42,15% so với năm 2012, tương đương với số tiền là 1.303.638.213 đồng.
- Chi phí bán hàng năm 2012 tăng lên 2,60% so với năm 2011 tương đương với số tiền là 24.915.984 đồng. Trong năm 2012 công ty mất chi phí quản lý doanh nghiệp là 1.288.753.962 đồng. Chi phí bán hàng năm 2013 so với năm 2012 giảm 6,21% tương đương với số tiền 61.053.279 đồng. Và đến năm 2013 công ty lại mất thêm khoản chi phí quản lý doanh nghiệp là 1.001.780.526 đồng. Điều này là nguyên nhân làm cho lợi nhuận của công ty giảm xuống.
Như vậy, kết quả kinh doanh mà công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An qua các năm từ 2011 đến 2013 đạt được như sau: lợi nhuận sau thuế TNDN năm 2011 đạt 2.259.074.937 đồng, năm 2012 đạt 2.114.529.557 đồng, năm 2013 đạt 1.849.051.730 đồng. Nhìn vào số liệu trên ta thấy tình hình kinh doanh của công ty có chiều hướng giảm xuống. Điều này là do tác động của nhiều nhân tố, trong đó có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân khách quan là do trong năm 2013 tình hình kinh tế suy thoái trên toàn cầu, Việt Nam cũng không nằm ngoài những khó khăn này. Với công ty là một đơn vị phụ thuộc vào nguồn vốn Nhà nước thì việc kinh doanh khó khăn là điều không thể tránh khỏi, nhất là công ty lại hoạt động trong lĩnh vực hóa dầu. Nguyên nhân chủ quan là do trong năm 2013 công ty khai thác và sử dụng các nguồn vốn, nguồn tài sản chưa hợp lý, chưa mang lại lợi nhuận cho công ty. Lợi nhuận kế toán sau thuế TNDN năm 2013 giảm 265.477.827 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 12,55% so với năm 2012. Nguyên nhân là do: doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm thay đổi như đã phân tích ở trên.
2.2.2.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh theo chiều dọc. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Theo các thông tin trên Bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta nhận thấy trong năm 2011 để có 100 đồng doanh thu thuần thì công ty phải bỏ ra 85.78 đồng giá vốn hàng bán, 2.45 đồng chi phí bán hàng, 3.64 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2012, để có 100 đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra 86.15 đồng giá vốn hàng bán, 2.08 đồng chi phí bán hàng và 2,73 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp. Như vậy, để có 100 đồng doanh thu thì năm 2012 phải bỏ ra ít chi phí hơn so với năm 2011. Năm 2013, để có 100 đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra 87.02 đồng giá vốn hàng bán, 2.49 đồng chi phí bán hàng, 2.71 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp. Như vậy để có 100 đồng doanh thu thì năm 2013 phải bỏ ra nhiều chi phí hơn năm 2012. Từ đây ta có thể thấy, mặc dù quy mô sản xuất càng mở rộng nhưng tỷ lệ giá vốn hàng bán vẫn tăng và chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng lên do khâu sản xuất của công ty được đảm nhiệm hầu hết bằng các thiết bị máy móc, tuy nhiên khâu bán hàng và tiêu thụ sản phẩm lại hoạt động chưa bài bản, quản lý chi phí chưa được tốt.
Cứ 100 đồng doanh thu thuần năm 2011 thì đem lại được 14.22 đồng lợi nhuận gộp, năm 2012 thì chỉ đem lại 13.85 đồng và năm 2013 thì giảm xuống chỉ còn 12.98 đồng. Như vậy sức sinh lời trên một đồng doanh thu năm 2012 thấp hơn so với năm 2011 và năm 2013 thấp hơn so với năm 2012. Cứ 100 đồng doanh thu thuần thì có 5.78 đồng lợi nhuận trước thuế năm 2011, 4.47 đồng năm 2012 và 5.00 đồng năm 2013.
Như vậy chứng tỏ trong kỳ tình hình hoạt động kinh doanh của công ty năm 2012 so với năm 2011 là khá ổn định còn năm 2013 không được khả quan so với năm 2012. Doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân và tìm biện pháp giải quyết kịp thời. Có thể thấy trong 3 năm 2011, 2012, 2013 doanh nghiệp đã tiến hành những kế hoạch sản xuất kinh doanh khác nhau. Trong giai đoạn 2011 -2012 giá bán các sản phẩm của công ty có tăng lên nhưng vẫn nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần nên có thể thấy, giá bán hiện thời của công ty là đủ sức cạnh tranh. Tuy nhiên sang năm 2013, doanh thu thuần của công ty giảm mạnh, chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm lý do vì sao nguyên nhân này giảm: Do giá bán sản phẩm tăng lên, hay do quy mô sản xuất của công ty bị thu hẹp, nguyên nhân của việc thu hẹp đó. Một điểm sáng trong khâu quản trị sản xuất của công ty là khi khối lượng tiêu thụ tăng thì trị giá vốn hàng bán cũng tăng là lẽ đương nhiên nhưng tốc độ tăng giá vốn hàng bán lại bé hơn so với tốc độ tăng doanh thu, đây là điều đáng mừng nếu công ty có ý định mở rộng sản xuất kinh doanh. Chi phí tài chính trong năm 2013 tuy giảm dần và tiến đến sử dụng vốn vay ngoài nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp lại giảm, do đó doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh hợp lý giữa việc điều chỉnh vốn vay và vốn chủ.
2.2.3. Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng của Công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
2.2.3.1 Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán
Bảng 14: Các chỉ số về khả năng thanh toán của công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An.
Khả năng thanh toán tổng quát:
Từ bảng số liệu trên ta thấy: Năm 2011 công ty cứ đi vay 1 đồng thì có 1,216 đồng bảo đảm, tương tự với năm 2012 công ty cứ đi vay 1 đồng thì có 1,187 đồng bảo đảm và năm 2013 công ty cứ đi vay 1 đồng thì có 1,186 đồng đảm bảo. Như vậy cả 3 năm 2011, 2012, 2013 thì khả năng thanh toán tổng quát của công ty đều lớn hơn 1. Điều này chứng tỏ tổng giá trị tài sản của công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ hiện tại của công ty. Tuy nhiên khả năng thanh toán tổng quát của công ty lại giảm dần cụ thể nếu năm 2011 khả năng thanh toán tổng quát là 1,216 lần thì đến năm 2012 giảm còn 1,187 lần và năm 2013 chi còn 1,186 lần. Nguyên nhân của việc khả năng thanh toán tổng quát của công ty bị giảm là do ở năm 2012 cả tổng tài sản và tổng nợ phải trả đều tăng tuy nhiên tốc độ tăng của tổng nợ phải trả lại nhanh hơn tốc độ tăng của của tổng tài sản nên đá làm giảm khả năng thanh toán tổng quát của công ty. Đến năm 2013 thì ngược lại cả tổng tài sản và tổng nợ phải trả đều giảm nhưng tốc độ giảm của tổng tài sản lại nhanh hơn tốc độ giảm của tổng nợ phải trả bởi vậy nên cũng làm giảm khả năng thanh toán tổng quát của công ty.
Mặc dù khả năng thanh toán tổng quát của công ty cả 3 năm 2011, 2012 và năm 2013 vẫn đảm bảo thanh toán các khoản nợ khi đến hạn nhưng cả 3 năm chỉ tiêu này đều nhỏ hơn 2 cho nên về mặt tài chính không tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư và cung cấp tín dụng vì khi đến hạn thanh toán các khoản nợ khi không có đủ tiền mặt thì không có một doanh nghiệp nào lại đem tài sản của mình bán đi để trả nợ. Nhìn chung khả năng thanh toán tổng quát của công ty là thấp nên sẽ ảnh hưởng đến các kế hoạch kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Qua số liệu trên có thể thấy năm 2011 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,102 đồng tài sản ngắn hạn; năm 2012 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,07 đồng tài sản ngắn hạn và năm 2013 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,068 đồng tài sản ngắn hạn. Từ việc phân tích trên ta thấy nhìn chung khả năng thanh toán hiện hành của công ty là tốt ( các tỷ số đều lớn hơn 1). Do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của tổng tài sản ngắn hạn đã làm cho khả năng thanh toán hiện hành năm 2012 giảm xuống so với năm 2011 và do tốc độ giảm của nợ ngắn hạn lớn hơn tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn đã làm cho khả năng thanh toán hiện hành năm 2013 tăng lên so với năm 2012. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Khả năng thanh toán nhanh:
Số liệu trên cho thấy rằng năm 2011, công ty có 78,1% tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cho mỗi đồng nợ đến hạn. Năm 2012, công ty có 69 % tài sản có tính thanh khoản cho mỗi đồng nợ đến hạn. Năm 2013, công ty có 78,8% tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cho mỗi đồng nợ đến hạn. Khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2012 giảm so với năm 2011 và do giá trị hàng tồn kho quá lớn so với tổng tài sản ngắn hạn cho nên đến năm 2013 mặc dù tăng lên so với năm 2012 nhưng vẫn không đảm bảo khă năng chi trả nợ đến hạn.
Khả năng thanh toán tức thời:
Nhìn vào số liệu trên ta thấy hệ số khả năng thanh toán tức thời tăng dần qua các năm, tuy nhiên vẫn ở mức rất thấp thì rất đáng lo ngại. Vì công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, việc chi trả các khoản đầu vào hàng ngày phục vụ sản xuất là rất cần thiết.
Tỷ số khoản phải thu trên khoản phải trả:
Ta thấy năm 2011 cứ 1 đồng khoản phải trả thì được đảm bảo bằng 0.591 đồng các khoản phải thu. Năm 2012, thì 1 đồng các khoản phải trả được đảm bảo bằng 0,542 đồng các khoản phải thu. Năm 2013 cứ 1 đồng các khoản phải trả thì được đảm bảo bằng 0,510 đồng các khoản phải thu. So sánh khoản phải thu và khoản phải trả năm 2011 và 2012 thì thấy rằng các khoản phải thu giảm xuống còn các khoản phải trả tăng lên. Điều này chứng tỏ trong kỳ công ty đi chiếm dụng vốn nhiều hơn các khoản vốn bị chiếm dụng. Còn so sánh khoản phải thu và khoản phải trả năm 2012 và 2013 các khoản phải thu giảm xuống đồng thời các khoản phải trả cũng giảm xuống tuy nhiên tốc độ giảm của các khoản phải trả lớn hơn tốc độ giảm của các khoản phải thu. Điều này chứng tỏ trong kỳ công ty bị chiếm dụng vốn nhiều hơn so với khoản đi chiếm dụng. Công ty cần tận dụng nguồn vốn chiếm dụng, có biện pháp tăng khoản vốn đi chiếm dụng trong kỳ kinh doanh sau.
Khả năng thanh toán lãi vay:
Nhìn chung khả năng thanh toán lãi vay của công ty là rất tốt. Từ số liệu ta thấy cứ 1 đồng lãi vay tạo ra được 2,148 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay năm 2011, chỉ tạo ra được 1,684 đồng vào năm 2012. Như vậy, 1 đồng vốn đi vay năm 2011 được sử dụng hiệu quả hơn năm 2012. Do đó mà khả năng thanh toán lãi vay năm 2012 không cao bằng năm 2011. Còn năm 2013 cứ 1 đồng lãi vay tạo ra được 2,033 đồng lợi nhuận kế toán trước thuế và lãi vay. Như vậy, 1 đồng vốn đi vay năm 2013 được sử dụng hiệu quả hơn năm 2012. Do đó mà khả năng thanh toán lãi vay năm 2013 cao hơn năm 2012.
2.2.3.2 Nhóm tỷ số phản ánh về cơ cấu nguồn vốn và tài sản Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Bảng 15: Các chỉ số về cơ cấu nguồn vốn và tài sản của công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An.
Hệ số nợ:
Như vậy, năm 2011 trong 100 đồng vốn thì có 82,22 đồng hình thành từ vốn vay, năm 2012, thì có 84,25 đồng hình thành từ vốn vay và có 84,32 đồng hình thành từ vốn vay vào năm 2013.
Năm 2012 công ty đã vay một lượng vốn lớn để mua 1 lượng lớn xăng dầu về tích trữ trong kho cho nên tổng số nợ của công ty chiếm một lượng khá cao trong tổng nguồn vốn. Hệ số nợ của công ty rất cao cho thấy tình hình tài chính của công ty phụ thuộc quá nhiều vào các nguồn vốn vay từ bên ngoài, công ty cần có các biện pháp giảm vốn vay, nâng cao vốn chủ sở hữu. Khi hệ số nợ cao hơn mà tình hình kinh doanh của công ty hiệu quả thì có lợi hơn vì được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chi phí đầu tư lại nhỏ nhưng ngược lại tình hình kinh doanh không hiệu quả do doanh nghiệp không đủ tài chính để thanh toán các khoản nợ khi đáo hạn thì có thể dẫn đến khả năng xấu nhất có thể xảy ra đó là doanh nghiệp bị phá sản.
Tỷ suất tự tài trợ (Hệ số vốn chủ sở hữu)
Năm 2011 tỷ suất tự tài trợ là 17,78%; năm 2012 giảm còn 15,75% và năm 2013 giảm còn 15,68%. Năm 2011 cứ 100 đồng vốn kinh doanh thì có tới 17,78 đồng là do vốn chủ tài trợ nhưng đến năm 2012 thì con số này chỉ còn lại là 15,75% tức là cứ trong 100 đồng vốn kinh doanh thì chỉ có 15,75 đồng được tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu và đến năm 2013 còn giảm xuống chỉ còn 15,68 đồng được tài trợ bằng nguồn vốn chủ sở hữu trong 100 đồng vốn kinh doanh.
Tỷ suất tự tài trợ của công ty nhỏ hơn 1 cho biết mức độ độc lập về tài chính của công ty là không cao hay nói cách khác tình hình tài chính của công ty
không được vững mạnh và có xu hướng giảm đi. Công ty đã dùng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào một bộ phận không nhỏ tài sản cố định. Điều này là vô cùng mạo hiểm. Công ty cần tìm biện pháp nâng cao vốn chủ bằng cách huy động các thành viên cùng góp thêm vốn hoặc xin tài trợ thêm vốn từ công ty mẹ.
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn giảm dần qua các năm, cuối năm 2013 nhỏ hơn các năm trước đó điều đó chứng tỏ doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư vào TSCĐ, điều này có thể hạn chế việc đổi mới kỹ thuật, công nghệ để tạo ra tiền đề cho việc tăng năng lực sản xuất trong tương lai.
Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định:
Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ giảm dần qua các năm và giảm xuống đến mức 20,64% (năm 2013). Chứng tỏ một bộ phận của doanh nghiệp được tài trợ bằng vốn vay, và đặc biệt mạo hiểm khi đó là vốn vay ngắn hạn.Điều đó khiến cho các chủ nợ không thích, vì không có một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn.
2.2.3.3 Nhóm tỷ số về tình hình hoạt động Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Vòng quay hàng tồn kho và số ngày 1 vòng hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho: Qua số liệu phân tích ta thấy số vòng quay hàng tồn kho của công ty trong 2 năm qua biến động không nhiều, tuy vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm đi vào năm 2013 nhưng không đáng kể. Tuy nhiên ta thấy, năm 2011 hàng tồn kho của Công ty chỉ quay được 3,38 vòng. Năm 2012 quay được 3,4 vòng. Năm 2013 quay được 2,97 vòng. Như vậy, một năm hàng tồn kho của Công ty quay được rất ít vòng.
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: số vòng quay hàng tồn kho ảnh hưởng tới sự biến động của số ngày một vòng quay hàng tồn kho chính vì vậy mà khi số vòng quay hàng tồn kho của công ty không biến động nhiều thì số ngày một vòng quay hàng tồn kho cũng biến động không nhiều.Thời gian trung bình 1 vòng quay trong năm 2011 là 106,51 ngày; năm 2012 thời gian bình quân có giảm đi còn 105,88 ngày nhưng năm 2013 lại tăng lên 121,21 ngày. Thời gian quay 1 vòng là rất lớn. Điều này chứng tỏ công ty bị ứ đọng vốn quá nhiều. Nguyên nhân chủ yếu do công ty bỏ vốn mua xăng dầu tích trữ để phục vụ cho nhu cầu thị hiếu của khách hàng vì lượng xăng dầu nhập khẩu đang giảm do cuộc khủng hoảng kinh tế nên công ty phải tích trữ đề phòng vì vậy đã làm cho giá trị hàng tồn kho lớn và thời gian bình quân 1 vòng quay rất lớn.
Số vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân
Năm 2011, các khoản phải thu quay được 1,65 vòng. Năm 2012, vòng quay các khoản phải thu tăng so với năm 2012 quay được 1,88 vòng. Nhưng năm 2013 vòng quay các khoản phải thu lại giảm so với năm 2012 xuống còn 1,68 vòng. Năm 2011, bình quân cứ 218,18 ngày thì các khoản phải thu hoàn thành 1 vòng quay. Năm 2012, bình quân 191,49 ngày thì mới hoàn thành 1 vòng các khoản phải thu. Sang năm 2013 thì tận 214,29 ngày các khoản phải thu mới hoàn thành 1 vòng quay. Nguyên nhân là do năm 2012, tốc độ tăng của doanh thu cao hơn tốc độ tăng của các khoản phải thu bình quân nhưng đến năm 2013 thì cả 2 chỉ tiêu đều giảm nhưng tốc độ giảm của doanh thu thuần lại lớn hơn tốc độ giảm của các khoản phải thu bình quân.Tuy nhiên, ta thấy công ty sẽ gặp khó khăn trong việc quay vòng vốn đối với mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ bởi vì số ngày 1 kỳ thu tiền là tương đối cao và khoảng cách giữa hai kì thu tiền là khá xa nhau.Vì vậy để không bị ứ đọng vốn do bị chiếm dụng quá nhiều thì công ty cần đẩy mạnh công tác thu hồi nợ. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Vòng quay vốn lưu động và số ngày một vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động bình quân và số ngày 1 vòng quay vốn lưu động: năm 2011 vốn lưu động của công ty bình quân quay được 1,04 vòng, tức bình quân năm 2011 cứ bỏ ra 1 đồng vốn lưu động thu về được 1,04 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động 346,15 ngày. Năm 2012 cứ bỏ ra 1 đồng vốn lưu động thu về 1,2 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động là 300 ngày. Năm 2013 cứ bỏ ra 1 đồng vốn lưu động thu về 0,99 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động là 363,64 ngày. Như vậy có thể thấy đây là 1 việc đáng lo ngại với công ty bởi vì trong cả 3 năm 2011, 2012, 2013 công ty sử dụng vốn lưu động chưa hiệu quả.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Năm 2011 cứ một đồng vốn cố định thì tạo ra 2,92 đồng doanh thu, năm 2012 cứ một đồng vốn cố định tạo ra 2,37 đồng doanh thu. Như vậy năm 2012 hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty đã tăng so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 thì giảm nhưng không đáng kể. Năm 2013 một đồng vốn cố định tạo ra 3,01 đồng doanh thu. Có thể thấy năm 2012 và năm 2013 số tiền mà công ty đầu tư vào tài sản cố định là tương đối lớn và đã đem lại hiệu quả nhất định.
Vòng quay toàn bộ vốn
Hiệu suất sử dụng tổng vốn của Công ty năm 2012 đã tăng so với năm 2011 nhưng đến năm 2013 lại giảm. Năm 2011, cứ 1 đồng tài sản bình quân thì tạo ra được 0,77 đồng doanh thu thuần. Đến năm 2012 một đồng tài sản đã tạo ra được 0,89 đồng doanh thu thuần. Nhưng năm 2013 thì 1 đồng tài sản chỉ tạo ra được 0,75 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân do năm 2012 cả doanh thu thuần và vốn kinh doanh đều tăng nhưng tốc độ tăng của vốn kinh doanh lại lơn hơn tốc độ tăng của doanh thu còn năm 2013 thì cả 2 chỉ tiêu doanh thu và vốn kinh doanh đều giảm nhưng tốc độ giảm của doanh thu lại lướn hơn tốc độ giảm của vốn kinh doanh. Như vậy việc sử dụng vốn của công ty là chưa hiệu quả.
Tóm lại công ty cần phải có các biện pháp tích cực hơn nữa trong kinh doanh để nâng cao các chỉ số hoạt động bởi trong năm 2013 phần lớn các chỉ số hoạt động của công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An đều giảm so với năm2012.
2.2.3.4 Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
Tỷ suất doanh lợi trên doanh thu của công ty ba năm qua rất nhỏ và năm 2012 so với năm 2011 có xu hướng giảm đi, năm 2011 trong 100 đồng doanh thu thu được 5,78 đồng lợi nhuận nhưng năm 2012 trong 100 đồng doanh thu chỉ thu được 4,47 đồng lợi nhuận, đến năm 2013 đã tăng lên 5 đồng lợi nhuận, mặc dù tăng không đáng kể nhưng đây cũng là 1 dấu hiệu đáng mừng cho công ty. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn
Từ bảng trên ta thấy: năm 2011 cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 4,4 đồng lợi nhuận. Năm 2012 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là 4% tức là cứ đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra 4 đồng lợi nhuận. Như vậy so với năm 2011 thì hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty đã giảm 0,4% lần. Nguyên nhân là do trong năm 2012 lợi nhuận kế toán trước thuế giảm bên cạnh đó tài sản sử dụng bình quân lại tăng. Năm 2013 cứ 100 đồng đầu tư cho tài sản thì tạo ra 3,7 đồng lợi nhuận, so với năm 2012 thì tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đã giảm 0,3%. Nguyên nhân giảm là do lợi nhuận kế toan trước thuế giảm lớn hơn tốc độ giảm của tài sản sử dụng bình quân.
Như vậy trong ba năm qua hiệu quả sử dụng tài sản của công ty có xu hướng giảm, trong năm 2013 đã giảm 0,3%. Như vậy trong các năm tới công ty cần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, bằng cách cần đề ra các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường tốc độ luân chuyển vốn, đồng thời nâng cao dần tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Trong 3 năm từ năm 2011 – 2013 hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng; hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trong 3 năm lần lượt là: 22,4%; 23,7%; 23,8%. Như vậy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2012 và 2013. Đi sâu phân tích ta thấy:
Trong năm 2011 hiệu quả sử dụng vốn chủ là 22,4%; tức là cứ 100 đồng vốn chủ bỏ ra công ty thu được 22,4 đồng lợi nhuận kế toán sau thuế. So với năm 2011 thì hiệu quả sử dụng vốn chủ đã tăng. Trong năm 2012 cứ 100 đồng vốn chủ bỏ ra thì công ty thu được 23,7 đồng lợi nhuận. Nguyên nhân tăng là do trong năm 2012 có sự biến động lớn về nguồn vôn chủ sử dụng bình quân và lợi nhuận kế toán sau thuế. Trong năm 2012 cả 2 chỉ tiêu này đều giảm nhưng tốc độ giảm của lợi nhuận kế toán sau thuế nhỉ hơn tốc độ giảm của vốn chủ sở hữu bình quân đã làm hiệu quả sử dụng vốn chủ trong năm 2012 tăng lên mang lại lợi nhuận cho công ty.
Tương tự với năm 2013 cũng vậy. Trong năm 2013 cứ 100 đồng vốn chủ bỏ ra thì công ty thu được 23,8 đồng lợi nhuận kế toán sau thuế. Như vậy so với năm 2012 thì hiệu quả sử dụng vốn chủ có tăng nhẹ.
Tóm lại, trong 3 năm 2011, 2012, 2013 hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trong năm 2013 đạt mức cao nhất chứng tỏ trong năm công ty đã nâng cao được chất lượng quản lý cũng như sử dụng vốn chủ. Trong các năm tới công ty cần phát huy và đề ra các biện pháp cụ thể để tăng hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.
2.2.4 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
Năm 2011 cứ sử dụng 1 đồng tài sản thì mang về cho công ty 0,043 đồng lợi nhuận sau thuế, có được kết quả đó là do:
Sử dụng bình quân giá trị 1 đồng tài sản tạo ra 0,744 đồng doanh thu nhưng trong 1 đồng doanh thu đó chỉ có 0,0578 đồng lợi nhuận sau thuế.
Năm 2012 cứ sử dụng 1 đồng tài sản thì mang về cho công ty 0,039 đồng lợi nhuận sau thuế, có được kết quả đó là do:
Sử dụng bình quân giá trị 1 đồng tài sản tạo ra 0,876 đồng doanh thu nhưng trong 1 đồng doanh thu đó chỉ có 0,0447 đồng lợi nhuận sau thuế.
Năm 2013:
Năm 2013 cứ sử dụng 1 đồng tài sản thì mang về cho công ty 0,041 đồng lợi nhuận sau thuế, có được kết quả đó là do:
Sử dụng bình quân giá trị 1 đồng tài sản tạo ra 0,82 đồng doanh thu nhưng trong 1 đồng doanh thu đó chỉ có 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế.
Doanh lợi tài sản của công ty năm 2012 thấp hơn năm 2011 nhưng đến năm 2013 đã tăng mặc dù không đáng kể so với năm 2012 và vẫn thấp hơn năm 2011 nhưng điều này cho thấy công ty đã bắt đầu có biện pháp sử dụng tài sản hiệu quả hơn.
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ tăng dần qua các năm. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu tăng lên là do sự tăng lên của tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn mặc dù năm 2012 có giảm nhẹ nhưng tỷ suất tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu tăng vẫn làm cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ tăng lên.
2.2.5 Đánh giá chung tình hình tài chính tại công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
2.2.5.1 Ưu điểm
Từ những phân tích về tình hình tài chính của công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An ta có thể thấy được một số ưu điểm sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng không đáng kể đã làm tăng khả năng sinh lời của công ty.
- Công ty đã thực hiện tốt, nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước và các quy định tài chính, thuế của nhà nước.
- Công ty đã đảm bảo chấp hành đúng các quy định đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một cách kịp thời, đầy đủ theo những thông tư, chuẩn mực và luật lệ kế toán mới.
2.2.5.2 Nhược điểm
Mặc dù có những ưu điểm như vậy song bên cạnh đó công ty TNHH MTV hóa dầu quân đội – Hải An vẫn tồn tại một số nhược điểm sau:
- Tình hình tài chính công ty phát triển không ổn định do các chỉ tiêu tài chính tăng giảm bất thường.
- Các chi phí hoạt động kinh doanh còn cao đã dẫn đến lợi nhuận của công ty bị giảm.
- Tình hình thanh toán chưa chắc chắn. Mặc dù công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn song khả năng thanh toán lại chưa cao hay còn ở mức thấp. Đặc biệt là khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời.
- Công ty vẫn còn chiếm dụng một khoản vốn khá lớn của các nhà đầu tư, các nhà cung cấp.
- Công ty vẫn còn tồn đọng khá nhiều hàng tồn kho dẫn đến vốn bị ứ đọng làm ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển vốn. Khóa luận: Thực trạng về tài chính tại Công ty TNHH Hải An
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Cty Hải An

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát tình hình tài chính Cty TNHH Hải An