Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội và pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
- Thời kỳ trước đổi mới 1986
Doanh nghiệp xã hội” là thuật ngữ mới xuất hiện tại Việt Nam vào cuối thế kỷ XX. Trong cơ chế tập trung bao cấp, Nhà nước là chủ thể duy nhất có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ xã hội được phân phối tới người dân. Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội như: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên… luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, gắn chặt với hệ thống quản lý Nhà nước và là nơi duy nhất qua đó cá nhân có thể tham gia vào hoạt động cộng đồng. Trong thời kỳ này, các loại hình tổ chức xã hội độc lập với Nhà nước như các NGO không được phép hoạt động ở Việt Nam. Bên cạnh đó, chỉ có kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận là hai thành phần kinh tế chủ đạo của đất nước.
Trong bối cảnh ấy, hợp tác xã (HTX) là hình thức tổ chức kinh tế – xã hội phù hợp duy nhất được thành lập để đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt của xã viên theo tinh thần cộng đồng: hợp tác, chia sẻ và cùng hưởng lợi. HTX được coi là một tổ chức thuộc sở hữu cộng đồng, đồng thời là một đơn vị kinh tế độc lập. Nhiều HTX ra đời với mục đích tương trợ các hội viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như HTX thương binh, HTX của người khuyết tật…
Các mô hình này đã có những hỗ trợ rất tích cực và hiệu quả cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội nói trên góp phần làm giảm gánh nặng đối với chính sách an sinh xã hội của Nhà nước cho nhóm đối tượng này. Chính vì vậy, HTX có thể được coi là mô hình doanh nghiệp xã hội sớm nhất ở Việt Nam. Việc phát triển HTX, đặc biệt là HTX trong lĩnh vực đảm bảo chính sách an sinh xã hội đối với một số nhóm đối tượng yếu thế, đảm bảo quá trình góp sức lao động, góp của cải vật chất làm ăn chung, dưới sự hỗ trợ của Nhà nước góp phần quan trọng vào việc hình thành nên một mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên ở Việt Nam.
Với tính chất như vậy, trong số các HTX ra đời trong giai đoạn này, chúng ta thấy bên cạnh các HTX mang tính sản xuất là chủ yếu như HTX nông nghiệp, HTX tiểu thủ công nghiệp… thì một số không nhỏ được thành lập để tạo việc làm, hỗ trợ cuộc sống cho những đối tượng yếu thế của xã hội, chủ yếu là người khuyết tật. Hầu hết HTX của người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp như mây tre, đan thêu, may mặc… bởi đây được coi là những việc làm phù hợp với sức khỏe và điều kiện lao động của họ. Đây là đặc trưng điển hình của một doanh nghiệp xã hội mà các HTX này đã có. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một mô hình mang tính chất tương tự như các doanh nghiệp xã hội. Còn trong giai đoạn này, ở Việt Nam chưa có khái niệm doanh nghiệp xã hội cũng chưa thực sự có doanh nghiệp xã hội nào được thành lập và hoạt động trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng cũng như pháp luật của Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
- Giai đoạn Đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010
Việt Nam, mặc dù trong các giai đoạn trước doanh nghiệp xã hội đã bắt đầu xuất hiện dưới hình thức HTX từ rất lâu, nhưng các doanh nghiệp mang tính chất xã hội với mục tiêu xã hội và có đầy đủ các đặc điểm cơ bản của mô hình doanh nghiệp xã hội chỉ bắt đầu phát triển kể từ khi chính sách đổi mới được thực hiện vào năm 1986. Đây là cột mốc đánh dấu sự thừa nhận các thành phần kinh tế mới là kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ. Nhờ đó, vai trò chủ động của cá nhân và cộng đồng trong việc cung cấp và trao đổi các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dân đã được công nhận và phát triển.
Thời kỳ Đổi mới đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt là chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa các giao lưu kinh tế, dẫn đến việc các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn viện trợ phát triển đối với Việt Nam tăng nhanh chóng. Sự gia tăng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) đã thổi một luồng gió mới vào các quan hệ kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Các mô hình doanh nghiệp mới được du nhập, các cách thức quản trị mới từ nước ngoài được áp dụng ở Việt Nam. Bên cạnh đó, mô hình doanh nghiệp hoạt động phi lợi nhuận, hoạt động vì mục tiêu xã hội đã theo chân các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đem lại những phúc lợi xã hội rất lớn cho xã hội Việt Nam giai đoạn này.
Đây là giai đoạn Nhà nước có nhiều chính sách cởi mở, tạo lập khung khổ pháp lý cho sự phát triển các tổ chức kinh tế và xã hội ngoài Nhà nước. Các chính sách này đã giúp các tổ chức và doanh nghiệp phát triển cộng đồng thực sự nở rộ. Số liệu thống kê cho thấy có tới hơn 1000 tổ chức NGO, 320 hiệp hội hoạt động cấp quốc gia và 2150 hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện và tự chủ ở Trung ương và địa phương. Hầu hết tất cả các tổ chức này nhận hỗ trợ tài chính từ các tổ chức NGO quốc tế và nhà tài trợ để duy trì hoạt động và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức có tính cộng đồng như nhà văn hóa, câu lạc bộ và mảng phụ trách hoạt động kinh doanh thuộc các tổ chức chính trị – xã hội quần chúng (ví dụ như: Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người tàn tật…) và hàng nghìn đơn vị sự nghiệp đang thực hiện chức năng cung cấp phúc lợi xã hội của Nhà nước (mang lại các dịch vụ công cộng như quản lý chất thải, nguồn nước…). Các tổ chức này đều có một số đặc điểm của doanh nghiệp xã hội và có khả năng chuyển thành doanh nghiệp xã hội trong tương lai. [16]
Nhìn chung, giai đoạn Đổi mới là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội ngoài Nhà nước, trong đó có doanh nghiệp xã hội. Tuy nhiên, sự tách biệt hai lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội cả trong tư duy lẫn hoạt động thực tế đã hạn chế sự ra đời của mô hình hỗn hợp như doanh nghiệp xã hội. Giai đoạn này đã xuất hiện những doanh nghiệp xã hội khá điển hình, hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng như Trường Hoa Sữa, Doanh nghiệp xã hội KOTO, Công ty TNHH Mai Handicrafts tại Thành phố Hồ Chí Minh… Các doanh nghiệp xã hội trong giai đoạn này tuy còn ít, phương thức hoạt động chưa hiệu quả, khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động còn thiếu tuy nhiên cũng cho thấy tiềm năng rất lớn cho sự hình thành và phát triển cho doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
- Từ năm 2010 đến nay
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển.
So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, với sức tăng trưởng kinh tế trong những năm qua, Việt Nam không còn thuộc nhóm các nước nghèo và vì thế những nguồn tài trợ từ các tổ chức thế giới ngày càng giảm.
Việc dừng các chương trình hỗ trợ phát triển, hỗ trợ xã hội từ các nguồn vốn nước ngoài, cộng thêm việc ngân sách Nhà nước dành cho an sinh xã hội còn khá hạn chế đã đặt cho Việt Nam một thách thức trong việc đạt được các giải pháp tốt về an sinh xã hội.
Chính vì vậy, việc xây dựng và phát triển mô hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội là rất cần thiết. Doanh nghiệp xã hội giải quyết được cả hai mục đích xã hội và kinh tế, trong đó mục tiêu xã hội là mục tiêu chủ đạo, thông qua mục tiêu kinh tế để đạt được mục tiêu xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Một nghiên cứu năm 2011 do Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) – Hội đồng Anh phối hợp cùng với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã cho thấy, ở Việt Nam có đến gần 200 tổ chức có đầy đủ đặc điểm để trở thành một doanh nghiệp xã hội, trong số đó, được hình thành sớm nhất là Hợp tác xã Nhân đạo thuộc Hội người khuyết tật Hà Nội, thành lập năm 1973. Tuy nhiên, cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội, thì doanh nghiệp xã hội mới được pháp luật ghi nhận và nhận diện một cách khá đầy đủ.
Tính đến thời điểm cuối năm 2016, số liệu do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố cho thấy, trong hơn 1 năm, số lượng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam đã tăng lên gấp đôi, từ khoảng 3.000 doanh nghiệp lên hơn 6.000 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp xã hội tiêu biểu như Zó-Project, Trang trại Hữu cơ Tôi tự nhiên (I-Nature), Công ty Cổ phần Đầu tư Du lịch Phát triển Cộng đồng… Mặc dù đã có cơ sở pháp lý cho việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, song số lượng doanh nghiệp xã hội chưa nhiều, quy mô còn nhỏ và ảnh hưởng xã hội chưa lớn.
2.2. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
2.2.1. Những thuận lợi của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.
Hiện nay, trên thế giới phong trào doanh nghiệp xã hội phát triển mạnh mẽ và lan tỏa trên nhiều lĩnh vực. Ở Việt Nam, doanh nghiệp xã hội đang tiếp tục phát triển, mở rộng, được xã hội biết đến và tôn vinh. doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển, nếu biết năm bắt những thuận lợi này tạo thành thời cơ thì doanh nghiệp xã hội Việt Nam sẽ có nhiều bước tiến mới trong tương lai.
Thứ nhất, nhu cầu sử dụng dịch vụ phúc lợi cho người dân ngày càng tăng, do đó cần doanh nghiệp xã hội đóng vai trò hỗ trợ Nhà nước cung cấp các dịch vụ này cho các nhóm đối tượng khác nhau.
Thứ hai, ưu thế của doanh nghiệp xã hội so với doanh nghiệp thông thường đó chính là việc Nhà nước tạo hành lang pháp lý để mô hình doanh nghiệp này được ưu đãi về tài chính, tiếp nhận viện trợ. Các doanh nghiệp xã hội nói chung có thể tiếp nhận viện trợ phi Chính phủ nước ngoài theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi Chính phủ nước ngoài. Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận tài trợ từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt nam. Đó chính là nguồn lực quan trọng để các doanh nghiệp xã hội có thể thực hiện được mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký.
Thứ ba, trong quá trình cải cách hành chính, một trong những nhiệm vụ quan trọng là cải cách khu vực sự nghiệp xông lập, chuyển đổi hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, tự chủ quản lý, tự chịu trách nhiệm, tách bạch sự nghiệp với hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn, Theo đó, mô hình doanh nghiệp xã hội có thể xem là mô hình phù hợp đối với việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Thứ tư, các doanh nghiệp xã hội mới thường áp dụng tốt sự phát triển khoa học kỹ thuật, do đó sản phẩm làm ra có giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại. Ngoài ra là sự phát triển và ứng dụng của “kinh tế chia sẻ” đã huy động được số lượng lớn cộng đồng quan tâm tới các dự án của những doanh nghiệp xã hội mới này.
Thứ năm, xu hướng cho thấy cần thiết chuyển đổi vai trò của Nhà nước từ người trực tiếp cung cấp dịch vụ phúc lợi sang vai trò người mua dịch vụ phúc lợi từ các tổ chức, doanh nghiệp. Điều này tạo cơ hội cho các chủ thể xã hội khác ngoài Nhà nước (các tổ chức xã hội, khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp, cộng đồng…) tham gia cung ứng các dịch vụ công cho người dân.
Thứ sáu, hoạt động vì mục đích xã hội, cho nên, những người sáng lập doanh nghiệp xã hội, ban lãnh đạo, quản lý hoặc những tình nguyện viên đều là những con người tâm huyết với mục đích đã lựa chọn. Họ có thể khắc phục được mọi khó khăn từ tài chính tới thiếu vắng các quy định pháp luật để hoạt động.
Với những thuận lợi này, doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để phát triển và hội nhập với hệ sinh thái doanh nghiệp xã hội trên thế giới.
2.2.2. Một số khó khăn của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.
Doanh nghiệp xã hội vẫn còn là một lĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam, điều này dẫn tới một loạt những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp xã hội Việt Nam đang phải đối mặt. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Thứ nhất, Doanh nghiệp xã hội phải hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội phải là doanh nghiệp, được đăng ký, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đây là một quy định hết sức khiên cưỡng, không phù hợp với thông lệ quốc tế về mô hình doanh nghiệp xã hội. Quy định như trên đã loại bỏ một số mô hình hết sức phù hợp với các mục đích xã hội, môi trường, đó là hợp tác xã. Ở Việt Nam các HTX không được coi là doanh nghiệp, mà chỉ được coi là “tổ chức kinh tế tập thể” hình thành trên cơ sở “sở hữu tập thể”. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội không được thành lập dưới hình thức HTX. Quy định này đã bỏ qua các đặc tính ưu việt rất phù hợp với các mục tiêu xã hội của các HTX đó là tính chất sở hữu tập thể, tinh thần cộng đồng. Trên thực tế, từ trước năm 1986 nhiều doanh nghiệp xã hội thực tế đã tồn tại ở nước ta dưới hình thức hợp tác xã như “hợp tác xã thương binh”, “hợp tác xã người tàn tật”… các cơ sở này có những đóng góp đáng kể trong việc tạo công ăn việc làm và cuộc sống tích cực cho cho các xã viên là những nhóm người dễ bị tổn thương, khó hòa nhập trong xã hội. Bởi vậy, các HTX chính là một mô hình rất phù hợp cho các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
Thứ hai, quy định về việc sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư. Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động luôn phải sử dụng tối thiếu 51% tổng lợi nhuận hàng năm để nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Tuy nhiên, trong thực tế, những năm đầu tiên khi thành lập, hoạt động, nhà đầu tư phải bỏ nhiều vốn đầu tư, cũng như chưa thể huy động tài trợ từ các nguồn lực khác, việc khởi sự kinh doanh còn nhiều khó khăn. Do đó, ngay từ đầu, lợi nhuận đã bắt buộc phải chia sẻ thì dẫn đến khó khăn cho sự phát triển của doanh nghiệp xã hội trong những năm đầu thành lập.
Thứ ba, chưa có quy định cụ thể về chuyển đổi trực tiếp từ doanh nghiệp thông thường sang doanh nghiệp xã hội. Mặc dù tại Điểm a, Khoản 2, Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong Nghị định số 96/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn về biểu mẫu đối với đăng ký doanh nghiệp xã hội đều chưa quy định cụ thể hồ sơ thủ tục chuyển đổi giữa 2 mô hình này. Các văn bản hướng dẫn kể trên mới chỉ quy định cụ thể việc chuyển đổi cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện thành doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Thứ tư, về cơ quan quản lý doanh nghiệp xã hội. Hiện tại, các doanh nghiệp xã hội được thành lập, quản lý bởi cơ quan đăng ký doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Mọi thủ tục hành chính đều được giải chung như các doanh nghiệp thông thường, tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội lại có những đặc thù riêng, đặc biệt như tiếp nhận tài trợ, thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường… Do đó, việc quản lý chung bởi cùng 1 cơ quan có thể sẽ gây khó khăn.
Thứ năm, thiếu vốn và yếu kém trong khả năng tiếp cận các nguồn tài chính. Các nguồn tài chính, ở đây đề cập tới cả nguồn vốn khởi sự doanh nghiệp và cả nguồn vốn phát triển doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng cơ bản đối với bất kỳ lĩnh vực kinh doanh và phát triển tổ chức nào. Đối với một số doanh nghiệp xã hội nhu cầu về vốn càng cấp thiết hơn nữa, bởi họ là người đi tiên phong, khai mở thị trường trong một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với xã hội. Chi phí “giáo dục” khách hàng, “tạo lập” thói quen, thị hiếu mới thường vô cùng tốn kém. Đơn cử như lĩnh vực sản phẩm hữu cơ, các doanh nghiệp xã hội phải bỏ rất nhiều nỗ lực để thực hiện truyền thông về tác dụng tích cực của sản phẩm đối với sức khỏe của khách hàng, thậm chí có doanh nghiệp xã hội còn tổ chức khám, tư vấn cho các khách hàng trong vai trò bệnh nhân. Các trường hợp tương tự như doanh nghiệp xã hội về dịch vụ bác sĩ gia đình tư vấn kiến thức y tế dự phòng và cải thiện nếp sinh hoạt… Trong khi đó, các doanh nhân xã hội thường xuất phát từ tầng lớp trí thức, trung lưu, nên thiếu vốn và yếu về khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính là những thách thức lớn mà các doanh nghiệp xã hội đều phải đối mặt.
Thứ sáu, thị trường vốn đầu tư xã hội tại Việt Nam còn non trẻ chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp xã hội, đồng thời thiếu các doanh nghiệp xã hội vững mạnh đủ khả năng tiếp nhận vốn đầu tư xã hội. Thị trường vốn cho doanh nghiệp xã hội Việt Nam hiện chưa phát triển, thể hiện ở việc thiếu vốn và thiếu các hình thức và kênh cấp vốn phù hợp với doanh nghiệp xã hội phát triển ở các giai đoạn khác nhau và trong các lĩnh vực khác nhau. Cho đến năm 2012 mới chỉ có hai tổ chức NGO là Trung tâm CSIP và Trung tâm phát triển DNXH Tia Sáng là hai nơi có chương trình đầu tư vốn cho doanh nghiệp xã hội với tổng vốn đầu tư bằng tiền mặt vào khoảng 200,000 USD/năm. Đây là khoản vốn quá nhỏ bé so với nhu cầu của các doanh nghiệp xã hội hiện nay và mới chỉ là những đầu tư mang tính chất tạo vốn hạt giống, nhằm kích hoạt các ý tưởng và nâng cao năng lực chứ không phải vốn đầu tư đủ đáp ứng cho phát triển kinh doanh.
2.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
2.3.1. Pháp luật về doanh nghiệp xã hội trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời.
Mặc dù, đến khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời, doanh nghiệp xã hội mới lần đầu tiên được chính thức công nhận nhưng trước đó đã có nhiều loại hình doanh nghiệp và tổ chức có mục tiêu xã hội tương tự như doanh nghiệp xã hội được thành lập và hoạt động, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam với những tên gọi và hình thức khác nhau.
Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ về quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản pháp quy ra đời năm 1998 lần đầu tiên chính thức khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách tại cộng đồng. Nhà nước đã có những bước đi tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các tổ chức khác nhau thông qua việc tăng cường sức mạnh các tổ chức chính trị xã hội. Nghị định số 35-HĐBT ngày 28/3/1992 về công tác quản lỹ khoa học đã đưa ra một số giải pháp thúc đẩy việc cá nhân thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ. Nghị định số 177/1999/NĐ-CP ngày 22/12/1999 của Chính phủ về quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện và sau đó là Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007 về tổ chức và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện thay thế Nghị định 177/1999/NĐ-CP đã đưa ra cơ sở cho việc thành lập các quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Trong các Nghị định nói trên, vai trò của các tổ chức cộng đồng được đặc biệt chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cộng đồng như quản lý tài nguyên nước, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường.
Trong giai đoạn này có 5 văn bản pháp luật quan trọng là cơ sở quản lý Nhà nước về các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam. Nghị định định 79/2003/NĐ-CP về quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã đã thể chế hóa sự tham gia của người dân địa phương, của các tổ chức ở cộng đồng, các tổ chức của người nghèo trong các hoạt động phát triển ở cấp xã. Luật Hợp tác xã thừa nhận HTX là tổ chức tình nguyện hoạt động như một đơn vị kinh tế độc lập. Luật Khoa học Công nghê thừa nhận các Hiệp hội chuyên ngành như các cơ quan dịch vụ độc lập. Nghị định 148/2007/NĐ-CP quy định về việc thành lập và hoạt động của các quỹ từ thiện và xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Như vậy, trong giao đoạn trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời thì các vấn đề liên quan đến các tổ chức tương tự doanh nghiệp xã hội đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam. Nhu cầu cần thiết của việc ban hành khung pháp lý vững chắc cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp xã hội là một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam.
2.3.2. Pháp luật về doanh nghiệp xã hội từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời.
Năm 2014 là một dấu ấn quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam khi lần đầu tiên các quy định về doanh nghiệp xã hội được luật hóa.
Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014. Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Doanh nghiệp xã hội sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội còn có một số quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp. Cụ thể như sau:
- Duy trì mục tiêu và điều kiện về chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;
- Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;
- Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;
- Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;
- Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.
Việc thừa nhận này đã tạo nên bước ngoặt cho cộng đồng doanh nghiệp xã hội Việt Nam. Nhưng cho đến nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn chưa có những quy định riêng quy định cụ thể về doanh nghiệp xã hội, vì vậy, vị trí pháp lý của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam cũng chưa thực sự vững chắc.
2.3.3. Một số hạn chế của pháp luật về doanh nghiệp xã hội. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
- Thứ nhất, về hình thức pháp lý và phân loại doanh nghiệp xã hội.
Hiện nay, phân tích quy định về doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp truyền thống, cũng như cách phân loại về doanh nghiệp xã hội cũng đã cho thấy những bất cập nhất định. Theo đó, việc quy định doanh nghiệp xã hội phải là doanh nghiệp là sự mâu thuẫn về bản chất của loại hình doanh nghiệp này. Doanh nghiệp được hiểu là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo quy định của Luật Thương mại thì doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh, tức chuyên thực hiện nhiệm vụ kinh doanh để mang về lợi nhuận cho thương nhân. Khái niệm kinh doanh trong kinh tế học được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tự, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, mục đích sinh lợi là đặc điểm nổi bật để phân biệt giữa doanh nghiệp và tổ chức nói chung. Mục đích này đã được đặt ra khi các nhà đầu tư có ý tưởng thành lập doanh nghiệp. Như vậy, đã coi là doanh nghiệp thì mục đích kinh doanh, mục tiêu thu lợi nhuận là yêu cầu bắt buộc. Doanh nghiệp xã hội cũng là tổ chức nhưng được thành lập nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng và doanh nghiệp phải duy trì mục tiêu ày trong suốt quá trình hoạt động. Điều này có nghĩa là mục tiêu lợi nhuận không phải là mục tiêu trực tiếp của doanh nghiệp xã hội hay nói cách khác, doanh nghiệp xã hội là tổ chức kinh doanh nhưng phi lợi nhuận. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp truyền thống, yếu tố không tối ưu hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư là một đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp xã hội. Do đó, một doanh nghiệp thông thường dù thực hiện trách nhiệm xã hội cao đến đâu cũng không thể là doanh nghiệp xã hội bởi sự khác biệt rất rõ ràng về bản chất và mục đích của chủ sở hữu doanh nghiệp khi thành lập. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một phạm trù tiếp cận hoàn toàn khác. Theo đó, thì đối với bất kỳ doanh nghiệp cho dù là doanh nghiệp truyền thống, có mục đích tối ưu hóa lợi nhuận cũng đều có thể có trách nhiệm xã hội ít hay nhiều. Quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tạo ra sự mâu thuẫn trong nội hàm khái niệm doanh nghiệp xã hội, tính chất quan trọng nhất của doanh nghiệp xã hội là phi lợi nhuận không được làm nổi bật bởi bản thân khái niệm doanh nghiệp đã chứa đựng tính chất lợi nhuận. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Bên cạnh đó, về loại hình doanh nghiệp mà doanh nghiệp xã hội lựa chọn chỉ có thể là các loại hình được Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định. Theo đó, tất cả các doanh nghiệp xã hội đều phải đăng ký hoạt động dưới một trong các hình thức công ty hoặc doanh nghiệp tư nhân. Tức là các mô hình doanh nghiệp tương tự như các doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận khác. Nói cách khác, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ công nhận loại hình doanh nghiệp xã hội “không vì mục tiêu lợi nhuận” ở Việt Nam. Doanh nghiệp này có những điểm rất đặc thù về tổ chức và hoạt động, do đó, nếu áp dụng nguyên mẫu mô hình doanh nghiệp nói chung sẽ rất khó khăn trên thực tế. Bở vì việc tổ chức và quản trị của các doanh nghiệp truyền thống được nhà làm luật thiết kế cho để đả bảo yếu tố tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư. Còn đối với doanh nghiệp xã hội thì phải cần yếu tố về hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên cách thiết kế mô hình hoạt động như vậy sẽ rất khó khăn trong việc bảo đảm tính chất căn bản của doanh nghiệp xã hội. Việc quy định như tại Luật Doanh nghiệp tuy tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất quản lý Nhà nước về doanh nghiệp, nhưng lại gây ra một sự xáo trộn lớn trong cộng đồng doanh nghiệp xã hội bởi lẽ có một số lượng các doanh nghiệp xã hội thực tế đang tồn tại dưới hình thức linh hoạt có tính tương tác cao như các HTX, các tổ chức NGO, trung tâm, hiệp hội, câu lạc bộ, quỹ… sẽ phải giải quyết rất nhiều vấn đề về vốn, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động để chuyển đổi thành các công ty. Qúa trình này có thể gây gián đoạn cho các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp xã hội dẫn đến thiếu hụt về nguồn thu, đặc biệt là các khoản viện trợ. Tác động rõ nét nhất là việc các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xã hội đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều đơn vị không chuyển đổi được đã phải giải thể hoạt động. Cũng chính vì vậy, các tổ chức hoạt động như các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay thường được tổ chức và hoạt động theo các quỹ, các trung tâm hơn là các loại hình doanh nghiệp được quy định trong luật doanh nghiệp.
Thêm nữa, doanh nghiệp xã hội chịu ảnh hưởng rất lớn bởi xu hướng hoạt động xã hội của cá nhân sáng lập (các doanh nhân xã hội), việc gò bó doanh nghiệp xã hội dưới hình thức công ty sẽ giảm tính linh hoạt và khả năng sáng tạo, khả năng nắm bắt các nhu cầu của cộng đồng của các doanh nhân tâm huyết với việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Hệ quả của quy định này là làm hạn chế các sáng kiến xã hội, khả năng đóng góp cho xã hội và hạn chế quyền tự do lựa chọn phương thức kinh doanh của các Doanh nhân xã hội trong quá trình thực hiện mục tiêu phục vụ lợi ích cộng đồng. [17]
Thứ hai, về hệ thống cơ quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp xã hội. Hiện tại, các doanh nghiệp xã hội được thành lập, quản lý bởi cơ quan đăng ký doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Mọi thủ tục hành chính đều được giải chung như các doanh nghiệp thông thường mà chưa có một cơ quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp xã hội. Trong bối cảnh hiện tại ở Việt Nam, cần có một cơ quan chuyên trách về quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp xã hội thống nhất từ Trung ương tới địa phương. Cơ quan chuyên trách đó có thể đặt ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Cơ quan này có chức năng vừa hỗ trợ chính sách, vừa làm cầu nối giữa doanh nghiệp với chính quyền, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đầy đủ thông tin để tiếp cận các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước để thực hiện các mục tiêu xã hội và phát triển doanh nghiệp. Đồng thời, đây cũng chính là cơ quan thực hiện các nghiên cứu, điều tra để tham mưu cho Chính phủ trong việc đưa ra những quy định pháp lý phù hợp cho sự phát triển của hệ sinh thái doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
Thứ ba, về khung pháp lý cho doanh nghiệp xã hội. Hiện tại, các quy định về doanh nghiệp xã hội mới được đề cập trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, Nghị định 78/2015/NĐ-CP Về đăng ký doanh nghiệp, Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT Hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội. Mà chưa có một khung khổ pháp lý đồng bộ, quy định chi tiết về các hình thức pháp lý đa dạng, các điều kiện thành lập, hoạt động chuyển đổi các mô hình kinh doanh khác thành doanh nghiệp xã hội. Cũng chưa có những quy định liên hệ giữa Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Các tổ chức tín dụng… để tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, thống nhất cho doanh nghiệp xã hội phát triển. Một khung pháp lý riêng cho doanh nghiệp xã hội sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đặc thù cho doanh nghiệp xã hội để đảm bảo cho doanh nghiệp xã hội luôn thực hiện mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp đã đặt ra.
Thứ tư, về các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xã hội. Các doanh nghiệp xã hội phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác, trong khi nhiều doanh nghiệp xã hội lại tuyển dụng những người lao động kém may mắn, đối tượng khuyết tật… nên chất lượng lao động thấp, do các điều kiện về học vấn, tinh thần và sức khỏe. Chi phí bồi dưỡng, đào tạo và huấn luyện kỹ năng làm việc, chăm sóc cho nhóm đối tượng này của doanh nghiệp xã hội cao hơn so với chi phí đầu tư cho nhân sự của các doanh nghiệp khác, khiến mức lợi nhuận thấp hơn so mức trung bình của ngành. Tuy nhiên, Nhà nước chưa có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xã hội trong khi doanh nghiệp xã hội góp phần chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng xã hội với nhà nước bằng các con đường riêng đầy sáng tạo, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả, đồng thời giúp bù đắp được một khiếm khuyết khó khắc phục của cơ chế thị trường là vận hành bởi động cơ lợi nhuận.
Tiểu kết Chương 2
Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, ra đời vì mục tiêu và sứ mệnh cộng đồng, doanh nghiệp xã hội chính là cầu nối trong việc chia sẻ chức năng bảo đảm an sinh xã hội của Nhà nước với các thành phần kinh tế, góp phần giảm tải gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Luật Doanh nghiệp 2014 bước đầu ghi nhận sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp xã hội nói riêng và xã hội nói chung.
Để phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh của doanh nghiệp xã hội cần phải có một khung pháp lý chi tiết, thống nhất cho tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp xã hội. Những hạn chế của quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội hiện nay làm cho doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam phát triển chậm hơn so với hệ sinh thái doanh nghiệp xã hội trên thế giới, vì vậy, việc ban hành những đạo luật, khung khổ pháp lý và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xã hội là vô cùng cần thiết. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp lý về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay