Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 

2.2.1. Thị phần của doanh nghiệp

a) Thị trường nội địa

Thị trường nội địa chính là nơi để DNNVV Việt Nam “tập dượt” trong cạnh tranh, là điểm tựa để vươn ra thị trường thế giới. Do đó, muốn cạnh tranh được trên thị trường quốc tế trước hết phải cạnh tranh được trên thị trường nội địa. Ở Việt Nam, cho dù mức sống chung của người dân còn khá thấp song thị trường gần 86 triệu dân, có dân số trẻ, năng động đã ẩn chứa những tiềm năng rất lớn về sức mua. Các sản phẩm động cơ nhỏ, nhựa, bánh kẹo, bia, đồ dùng văn phòng phẩm… của Việt Nam sản xuất đã chiếm lĩnh gần như thị trường trong nước. Tuy nhiên rất nhiều hàng hoá của Việt Nam như các sản phẩm linh kiện điện tử, đồ chơi…đã bị hàng hoá của Trung Quốc, Nhật Bản hay một số nước ASEAN đánh bật ngay trên sân nhà. Hơn nữa, trên nhiều lĩnh vực, hình bóng của các DNNVV trong nước trên thị trường nội địa khá nhạt nhoà. Sức cạnh tranh không chỉ về chất lượng hơn hẳn về nhiều mặt của hàng ngoại mà còn thêm tâm lý xem thường hàng nội đi vào định kiến không ít người tiêu dùng đã khiến cho hàng nội phải vượt qua rào cản lớn mới có thể chiếm lĩnh thị trường. Không những vậy, với việc gia nhập các tổ chức thương mại như WTO, AFTA càng khiến DNNVV đối mặt với những hàng hoá có sức cạnh tranh cao, hay việc DNNVV bị chèn ép bởi hàng nhập lậu, bởi thiếu thông tin và sự tư vấn hỗ trợ dẫn đến hầu hết các DNNVV Việt Nam chỉ chiếm thị phần nhỏ trên thị trường. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

b) Thị trường nước ngoài

Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, với các chính sách mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu, các DNNVV Việt Nam đã chủ động hơn trong tìm kiếm và khai thác thị trường quốc tế qua đó góp phần lớn trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước.

Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000-2009

Căn cứ vào đồ thị trên có thể thấy sự gia tăng đáng kể của kim ngạch xuất khẩu qua các năm. Đây là tín hiệu đáng mừng cho triển vọng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong những năm tới. Đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu phải kể đến sự tham gia của các DNNVV trong các lĩnh vực như dệt may, thủ công mỹ nghệ, giày dép, nông sản, thuỷ sản. Các doanh nghiệp này chủ yếu xuất khẩu theo hình thức gián tiếp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản. Tuy nhiên số liệu hiện có về DNNVV tham gia vào thương mại quốc tế dù trực tiếp hay gián tiếp đều ở mức sơ lược, ước tính số lượng các DNNVV tham gia xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp chiếm khoảng 80% tổng số doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất khẩu, đóng góp khoảng 17% tổng kim ngạch xuất khẩu trên cả nước1.

Hiện nay, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang chiếm những vị trí cao trên thế giới về số lượng như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, dệt may. Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, ngoại trừ dầu thô, than đá thuộc các doanh nghiệp lớn, các mặt hàng khác, tỷ trọng tham gia thị trường của DNNVV không hề nhỏ. Trong năm 2009, doanh nghiệp Việt Nam, trong đó chủ yếu là DNNVV xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, đứng thứ 2 trên thế giới và đã xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu2. Cũng trong năm này, Việt Nam trở thành nhà sản xuất giày lớn thứ hai thế giới – chỉ đứng sau Trung Quốc. Năm 2009, với hầu hết sản phẩm của DNNVV, Việt Nam còn xếp thứ 3 sau Indonesia và Thái Lan về tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may ASEAN với kim ngạch khoảng 2,7 tỷ USD, đồng thời nằm trong top 20 nhà xuất khẩu hàng đầu của EU với kim ngạch khoảng 1,87 tỷ USD.

Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của các DNNVV Việt Nam là thị trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và các thị trường khác như Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Australia, một số nước châu Phi. Theo điều tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), tỷ trọng về thị trường xuất khẩu một số ngành hàng của các DNNVV Việt Nam như sau:

Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng về thị trường xuất khẩu của DNNVV năm 2007

Qua một số số liệu có thể thấy rằng các DNNVV Việt Nam có tiềm năng về năng lực chiếm lĩnh thị trường trong một số ngành hàng như dệt may, da giày, nông thuỷ sản. Tuy nhiên nếu đánh giá chung, khả năng tiếp cận thị trường của các DNNVV còn nhiều hạn chế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn manh mún, thị trường xuất khẩu tuy đã mở rộng nhưng đa số là xuất khẩu gián tiếp thông qua doanh nghiệp lớn, hợp đồng ngắn hạn, theo thời vụ và thiếu ổn định.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

a) Chất lượng

Chất lượng về sản phẩm của DNNVV Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều cải thiện. Việt Nam đã giành được chỗ đứng trên thị trường nội địa với rất nhiều mặt hàng thuộc công nghiệp tiêu dùng như văn phòng phẩm, bánh kẹo, bia, nước giải khát, lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình… Tuy nhiên những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế không có nhiều.

Đặc biệt là những sản phẩm trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chất lượng sản phẩm rất thấp nên chưa chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước.

DNNVV Việt Nam xuất khẩu sang thị trường quốc tế chủ yếu là những sản phẩm do thiên nhiên ưu đãi như chè, gạo, hoa quả hay những sản phẩm mà những nước công nghiệp hoá đã mất ưu thế như công nghiệp may, sản xuất giày dép. Mặc dù những sản phẩm thuộc nhóm này đã được xuất khẩu với khối lượng lớn trên thị trường song chất lượng nói chung vẫn chỉ đạt mức độ trung bình thậm chí chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Sản phầm dệt may được coi là mũi nhọn của nền kinh tế nhưng chỉ có sản phẩm dệt kim là đạt chất lượng tương đối cao trên thế giới. Hay sản phẩm lúa gạo của Việt Nam xếp thứ hạng về xuất khẩu song chất lượng vẫn còn rất thấp. Chất lượng gạo còn thiếu ổn định, gạo cao cấp chỉ chiếm khoảng 50% trong khi gạo chất lượng thấp chiếm khoảng 31-43% nên vẫn chưa đáp ứng được những thị trường khó tính1. Mặt hàng cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 60 nước trên thế giới song cà phê xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm sơ chế một cách thô sơ nên chất lượng không cao như hạt kích cỡ không đồng đều, phơi sấy bảo quản không tốt2. Do đó cà phê Việt Nam bị định giá thấp trên thị trường. Hoặc có thể nhắc đến một số mặt hàng thuỷ sản như cá tra, cá ba sa khi xuất khẩu sang EU đã bị trả lại hoặc tiêu huỷ vì không vượt qua được hàng rào kỹ thuật do những nước này đặt ra.

Hơn nữa, sản phẩm của DNNVV nói chung vẫn chưa có tính độc đáo. Chỉ một số ít sản phẩm truyền thống mang đậm bản sắc tự nhiên và văn hoá như hàng thủ công mỹ nghệ tính độc đáo tương đối cao, đáp ứng được một số thị trường khó tính như Nhật Bản. Còn các sản phẩm khác hầu như đi sau các nước về kiểu dáng, tính năng, đặc biệt là những sản phẩm đòi hỏi công nghệ cao. Theo kết quả đăng ký công nghệ tại Việt Nam năm 2002, số bằng sáng chế cấp cho người Việt Nam là 9 trong khi cấp cho người nước ngoài là 734 đã cho thấy hạn chế trong tính sáng tạo để tạo ra sản phẩm mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và DNNVV nói riêng1.

Chất lượng hàng hoá chưa cao chủ yếu là do công nghệ sản xuất lạc hậu và thiếu đồng bộ; DNNVV Việt Nam chưa quan tâm đầu tư vào việc nghiên cứu cải tiến mẫu mã, thiết kế; trình độ tay nghề còn yếu kém và việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng đối với các DNNVV Việt Nam vẫn còn là điều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

b) Giá cả

Để chiếm lĩnh thị trường, giá cả tương xứng với chất lượng của nó là điều rất quan trọng. Giá cả của một số mặt hàng Việt Nam thấp hơn so với giá cả của nhiều nước khác. Thực tế các vụ kiện bán phá giá đối với hàng hoá của Việt Nam vào các nước như: giày dép và mì chính vào EU; cá tra, cá basa, tôm vào Mỹ; bật lửa vào Balan… đã minh chứng cho sự cạnh tranh về giá trên thị trường.

Tuy nhiên, chủ yếu các mặt hàng của Việt Nam có giá cả cao hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh. Chẳng hạn, trong năm 2009, giá thép trong nước cao hơn thép của ASEAN và Trung Quốc khoảng 700.000 đồng/tấn. Thuế nhập khẩu đối với thép của các nước ASEAN khi vào Việt Nam là 0%, còn Trung Quốc có chính sách thoái thu thuế từ 9-13% đối với thép xuất khẩu, do đó giá cả của họ rẻ hơn giá của ta2. Đây chính là thách thức cạnh tranh lớn cho các DNNVV Việt Nam. Hay đường của Việt Nam có giá bán cao hơn giá thế giới từ 4.000-5.000 đồng/kg nên khiến nhiều người lo ngại nhất là các đơn vị sản xuất bánh kẹo, sữa3. DNNVV Việt Nam cũng chưa thể cạnh tranh với doanh nghiệp Trung Quốc về giày dép với kiểu dáng, mẫu mã phong phú mà giá rẻ. Chi phí sản xuất một đôi giày tại Việt Nam bình quân cao gấp 1,5 lần so với Trung Quốc. Nói tóm lại, với mức giá chênh lệch như vậy, nhiều DNNVV Việt Nam đã phải đứng trước nhiều thách thức khi hàng hoá từ nước ngoài ồ ạt vào hay cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Các nguyên nhân hàng hoá của DNNVV Việt Nam có giá cao là do phải gánh chịu chi phí đầu vào cao như chủ yếu nhập khẩu nguyên vật liệu giá cao từ nước ngoài, thiết bị công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp… Bên cạnh đó ngành than tăng giá bán trong năm 2009 với mức tăng tới 70% so với trước đó và từ ngày 1/3/2010 giá bán điện tiếp tục được điều chỉnh tăng khiến cho chi phí đầu vào của nhiều DNNVV liên quan tăng mạnh.

2.2.3. Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện kết quả của doanh nghiệp so với chi phí bỏ ra và được đo bằng một số chỉ tiêu như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận.

Bảng 2.1: Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp Việt Nam năm 2007

Qua bảng trên có thể nhận thấy khu vực DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, CTCP có vốn Nhà nước tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp lớn. Xét về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, doanh nghiệp liên doanh có tỷ suất cao nhất. Với 100 đồng doanh thu, doanh nghiệp liên doanh thu được 25,285 đồng lợi nhuận; khu vực doanh nghiệp Nhà nước thu được 7,039 đồng; CTCP có vốn Nhà nước 6,817 đồng. Trong khi đó các loại hình doanh nghiệp chủ yếu tập trung các DNNVV như công ty TNNH với 100 đồng doanh thu chỉ thu được 1,395 đồng lợi nhuận, thậm chí doanh nghiệp tư nhân chỉ thu được 0,295 đồng lợi nhuận.

Xet về tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh cũng tương tự. Doanh nghiệp liên doanh có tỷ suất cao nhất. Với 100 đồng vốn sản xuất kinh doanh, đối với loại hình chủ yếu tập trung doanh nghiệp lớn như doanh nghiệp liên doanh thu được 26,966 đồng, DNNN thu được 3,487 đồng, CTCP có vốn Nhà nước thu được 3,879 đồng, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thu được 3,554 đồng lợi nhuận. Còn đối với các loại hình doanh nghiệp chủ yếu là DNNVV như doanh nghiệp tư nhân thu được 2,011 đồng, công ty TNHH chỉ thu được 1,828 đồng lợi nhuận.

Từ những phân tích kể trên có thể thấy rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV Việt Nam nhìn chung thấp hơn rất nhiều so với hiệu quả của các doanh nghiệp lớn. Qua đó cho thấy, chỉ riêng trong nước, khả năng cạnh tranh của các DNNVV còn rất yếu so với các doanh nghiệp lớn.

2.3. Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

2.3.1. Năng lực tổ chức, quản lý và trình độ của đội ngũ lao động

Năng lực tổ chức, quản lý

Năng lực tổ chức, quản lý được thể hiện tập trung ở năng lực của người đứng đầu doanh nghiệp và xuất phát từ trình độ học vấn và quá trình đào tạo của các cán bộ quản lý. Trình độ giám đốc DNNVV Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2: Trình độ giám đốc của DNNVV Việt Nam năm 2005

Như vậy có thể thấy tỷ lệ giám đốc không được đào tạo chính thức, không có bằng cấp chuyên môn cao chiếm khoảng 31,4%. Số DNNVV Việt Nam có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 40,83%. Tỷ lệ đào tạo bậc sau đại học thấp, chỉ chiếm 0,53%, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hơn nữa số chủ doanh nghiệp được đào tạo về quản trị kinh doanh và kiến thức kinh tế chiếm tỷ lệ rất thấp. Vì vậy các chương trình trợ giúp của Nhà nước cho doanh nghiệp cần hướng mạnh vào việc đào tạo kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp cho chủ doanh nghiệp.

DNNVV Việt Nam cũng chưa chú trọng việc đào tạo nhân lực cho hoạt động nghiên cứu và triển khai. Theo điều tra của Cục Phát triển DNNVV (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tiến hành với sự tham gia của hơn 63.000 doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc năm 2005, chỉ có 5,65% doanh nghiệp được điều tra có nhu cầu về đào tạo nhân lực công nghệ, rất ít doanh nghiệp đầu tư áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng (ISO, HACCP…)1 .

Mặt khác, đại bộ phận DNNVV Việt Nam qui mô còn nhỏ, mang tính gia đình, người chủ sở hữu thường cùng một lúc thực hiện các chức năng và vai trò khác nhau trong tổ chức kinh doanh nên trình độ chuyên môn quản lý không cao. Thậm chí, nhiều chủ quản lý doanh nghiệp tập trung vào chuyên môn kỹ thuật về kinh doanh hơn là quản lý. Bên cạnh đó, công tác ghi chép, cập nhật, lưu trữ sổ sách của DNNVV còn rất yếu kém chủ yếu dùng để đối phó với cơ quan thu thuế chứ chưa phải để theo dõi phục vụ cho công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

b) Trình độ của đội ngũ lao động

Trước hết phải nhắc đến tỷ lệ lao động được đào tạo ở các DNNVV Việt Nam còn rất thấp. Theo điều tra thị trường lao động của Tổng cục dạy nghề năm 2007, trong các doanh nghiệp được điều tra, số lao động được gọi là có trình độ cao và lao động lành nghề ở các DNNVV chỉ chiếm khoảng 25%. Cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hiện tượng “thừa thầy thiếu thợ” ở các DNNVV Việt Nam nói riêng và doanh nghiệp Việt Nam nói chung. Tỷ lệ đào tạo đại học và trên đại học – trung học chuyên nghiệp – công nhân kỹ thuật là 1 – 1,16 – 0,92 so với thông lệ quốc tế là 1 – 4 – 101. Điều này dẫn đến số lượng công nhân kỹ thuật lành nghề rất ít so với nhu cầu thực tế.

Khả năng thích ứng và khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm của người lao động trong các DNNVV cũng rất thấp. Người lao động lành nghề và cả lao động quản lý, khả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ còn yếu, nên gặp nhiều khó khăn trong hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài. Hơn nữa, nhiều lao động được coi là lành nghề ở Việt Nam nhưng khi sang nước ngoài làm việc vẫn phải đào tạo lại hoàn toàn.

Bên cạnh đó, chủ yếu người lao động của các DNNVV có nguồn gốc từ nông thôn, chưa được rèn luyện về kỷ luật lao động công nghiệp nên tác phong còn chậm chạp, tuỳ tiện về giờ giấc và hành vi, chưa có kinh nghiệm.

Họ thường chọn DNNVV là bước đệm để rèn luyện kinh nghiệm và kỹ năng trước khi tìm một công việc ở các công ty lớn, có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy có thể thấy rằng, tình trạng thiếu lao động có tay nghề và chất lượng nguồn lực, nhân lực quản lý vẫn còn là vấn đề lớn cần phải giải quyết trong lâu dài đối với các DNNVV Việt Nam.

2.3.2. Năng lực tài chính

a) Qui mô vốn

Theo số liệu thống kê, qui mô vốn của DNNVV qua các năm được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.3: Số lượng DNNVV theo tiêu chí về vốn giai đoạn 2000-2007

Căn cứ vào bảng trên nhận thấy, xét theo vốn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng giảm từ 62,8% (năm 2000) xuống 32,6% (năm 2007). Tỷ trọng các DNNVV chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp có số vốn 1-5 tỷ đồng từ 29,63% (năm 2000) lên đến 54,85% (năm 2007) đã cho thấy một bộ phận các DNNVV lớn hơn đang hình thành nhưng doanh nghiệp từ 5-10 tỷ đồng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), tỷ lệ vốn bình quân của doanh nghiệp tăng dần, từ 962 triệu đồng/DN năm 2000 đến 3,14 tỷ đồng/DN năm 2006 và 8,14 tỷ đồng/DN năm 2007. Điều này chỉ ra rằng mặc dù Việt Nam đã thành công trong việc gia tăng số lượng các DNNVV và bắt đầu mở rộng qui mô về vốn nhưng qui mô vốn của DNNVV Việt Nam vẫn còn quá nhỏ. Qui mô vốn lớn chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Cụ thể các doanh nghiệp thuộc các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày số vốn trung bình chỉ là 6,5 tỷ đồng, công nghiệp chế biến nông sản khoảng 3,8 tỷ đồng, chế biến lâm sản, hải sản khoảng 1,62 tỷ đồng1.

Với qui mô vốn nhỏ bé như vậy chính là nguyên nhân khiến DNNVV Việt Nam bị hạn chế khả năng mở rộng sản xuất, khó đổi mới trang thiết bị công nghệ cũng như đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới. Điều này làm cho năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam thấp do chi phí sản xuất cao, không có lợi thế kinh tế nhờ qui mô.

Bảng 2.4: Vốn bình quân của doanh nghiệp phân theo loại hình và ngành nghề năm 2005

Khả năng huy động vốn

Khả năng huy động vốn thể hiện năng lực bảo đảm các yếu tố cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Các kênh huy động vốn hiện nay của DNNVV Việt Nam chủ yếu từ các ngân hàng thương mại, Quỹ hỗ trợ phát triển, từ nước ngoài và từ người thân. Theo kết quả điều tra hơn 63.000 doanh nghiệp thuộc 30 tỉnh thành phía Bắc của Cục Phát triển DNNVV năm 2005, có đến 66,95% DNNVV được hỏi cho biết thường gặp khó khăn về tài chính. Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp cũng không khả quan, chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận được nguồn vốn Nhà nước; 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không tiếp cận được.

So với thời gian trước, các DNNVV tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Các ngân hàng hiện nay đã sẵn sàng hơn trong việc cho các DNNVV vay và tăng trưởng tín dụng ngân hàng đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn đối với các DNNVV vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội DNNVV Việt Nam năm 2009, ở một số ngân hàng chỉ có khoảng 40% hồ sơ vay vốn của DNNVV là đang chấp nhận cho vay vì đáp ứng đủ các điều kiện. Đối với các doanh nghiệp lớn, huy động vốn có thể thông qua nhiều kênh như: Chương trình chứng khoán, phát hành trái phiếu chuyển đổi, tín phiếu… trong khi đó các DNNVV rất khó huy động vốn thông qua các kênh này. Bản thân các doanh nghiệp này có vốn chủ sở hữu thấp, ít có tài sản thế chấp, cầm cố, không có người bảo lãnh, nhiều doanh nghiệp không lập được phương án kinh doanh có sức thuyết phục để thu hút đầu tư. Do đó các DNNVV khi không tiếp cận được vốn từ các tổ chức tài chính như ngân hàng, chỉ có thể vay vốn qua người thân, hoặc kênh phi chính thức như: vay vốn lãi suất cao, vay nóng…

Theo số liệu báo cáo năm 2008 của Ngân hàng Nhà nước, hiện tổng số DNNVV đang có quan hệ tín dụng với ngân hàng thương mại là 163.673 doanh nghiệp (chiếm trên 50% tổng số) với tổng nguồn vốn kinh doanh là 482.092 tỷ, trong đó vốn tự có chiếm tỷ trọng là 36,25%, vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng 45,31%, còn lại vốn khác chiếm 18,44%. Vốn tự có bình quân doanh nghiệp đến 31/7/2008 là 1,33 tỷ đồng; bình quân vốn vay ngân hàng của 1 doanh nghiệp là 1,79 tỷ đồng. Như vậy có thể thấy khả năng tài chính của DNNVV chưa cao. Hơn nữa số doanh nghiệp đạt hiệu quả sử dụng vốn cũng không nhiều. Theo số liệu thống kê kết quả hoạt động kinh doanh, trả nợ ngân hàng đúng hạn của các doanh nghiệp nhóm này, chỉ có 23% số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả, 73,2% doanh nghiệp hoạt động trung bình và 3,8% doanh nghiệp gặp khó khăn – trong đó có 1,42% doanh nghiệp có khả năng mất vốn1.

Như vậy, DNNVV Việt Nam qui mô vốn không những nhỏ mà việc tiếp cận vốn cũng khó khăn dẫn đến chi phí huy động nguồn vốn cao. Số doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả cũng không nhiều đã khiến DNNVV Việt Nam dễ mất cơ hội kinh doanh, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất và đầu tư, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.

2.3.3. Trình độ công nghệ Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Trình độ công nghệ của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng suất, chất lượng của hàng hoá, dịch vụ. Nhờ sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nên một số lượng DNNVV Việt Nam đã được tiếp cận công nghệ mới, áp dụng CNTT vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Trung tâm nghiên cứu và phát triển DNNVV Đại học Wollonggong (Australia), hầu hết các DNNVV Việt Nam đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 3 đến 4 thế hệ, còn chưa kể những doanh nghiệp hoàn toàn không sử dụng máy móc, chỉ áp dụng lao động cơ bắp1. Hiện nay, có khoảng 8% DNNVV có trình độ công nghệ tiên tiến (phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI), 57% có trình độ công nghệ trung bình, số doanh nghiệp còn lại đang sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến chi phí cho sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không tốt, làm giảm sức cạnh tranh.

Thực trạng phổ biến trong các DNNVV là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 15-20 năm trong ngành điện tử, 20 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt may đã sử dụng được 20 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30-50% so với các nước ASEAN, đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp2. Nói chung, nhiều DNVVVN do quy mô vốn hạn chế nên thường đầu tư vào thiết bị công nghệ đã qua sử dụng, đầu tư chuyên sâu vào kỹ thuật công nghệ có xu hướng giảm.

Trong thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức cùng với toàn cầu hoá như hiện nay, việc ứng dụng CNTT cũng là một tiêu chí quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nó gần như đang là khâu yếu nhất của các DNNVV Việt Nam. Theo kết quả điều tra khảo sát 1.613 doanh nghiệp trên 6 tỉnh thành nước ta của VCCI, đến cuối năm 2008 có đến 81,87% số doanh nghiệp chưa hoặc không sử dụng dịch vụ CNTT, 72,7% doanh nghiệp chưa có website riêng. Cũng theo điều tra này, trên 80% số doanh nghiệp không có nhu cầu ứng dụng, hoặc sử dụng các phần mềm chuyên dùng1. Chính điều này đã gây ra cản trở cho DNNVV trong việc tiếp cận thông tin thị trường, đối thủ cạnh tranh, không phát huy được đặc tính vượt trội về tính tiết kiệm, tiện lợi và nhanh chóng của các giao dịch điện tử.

2.4. Các nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

2.4.1. Đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB)

WB đánh giá mức độ dễ dàng trong kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp thông qua hệ thống gồm 10 chỉ tiêu. Theo báo cáo Đánh giá môi trường kinh doanh năm 2010 của IFC thuộc WB, Việt Nam xếp thứ 93 trong tổng số 183 nền kinh tế được liệt kê, giảm hai bậc so với năm 2009. Báo cáo này lấy thời điểm từ tháng 06/2008 đến tháng 05/2009.

Bảng 2.5: Xếp hạng mức độ dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam

Comment [P7]: Mức xếp hạng dưới đây được lấy từ báo cáo Môi trường kinh doanh 2010 với thời điểm tính bắt đầu từ tháng 6/ 2008 cho đến tháng 5/ 2009.

Qua bảng trên, nhận thấy các chỉ số thành phần thể hiện mức độ dễ dàng trong kinh doanh thay đổi không đáng kể. Ở khu vực, khi đánh giá môi trường kinh doanh 2010, Việt Nam xếp sau Singapore (1), Thái Lan (12) và Malaysia (23). Các lĩnh vực kém của Việt Nam được ghi nhận là thủ tục khởi sự doanh nghiệp (116), bảo vệ nhà đầu tư (172), nộp thuế (147), đóng cửa doanh nghiệp (127). Ở Việt Nam hiện cần tới 50 ngày để bắt đầu một doanh nghiệp trong khi trung bình của khu vực là 41 ngày, của khối OECD là 11 ngày. Lĩnh vực tốt của Việt Nam được ghi nhận là tiếp cận tín dụng (30), bắt buộc thực hiện hợp đồng (32). Như vậy theo cách đánh giá này có thể thấy môi trường kinh doanh ở Việt Nam đặc biệt là các thủ tục hành chính đã gây bất lợi lớn cho các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng.

2.4.2. Đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)

Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009-2010 của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam đang có vị thế ngày càng nổi bật nhưng cũng đang bị cạnh tranh rất gay gắt. Với dân số đứng thứ 13 thế giới và thứ 3 của khu vực ASEAN, sau Indonesia và  Philippines, Việt Nam thực sự là  một thị trường lớn để tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Việt Nam đang sản xuất qui mô GDP thực tế đứng thứ 59/133, còn theo sức mua tương đương (loại trừ các yếu tố giá cả và tỷ giá), kinh tế Việt Nam đứng thứ 44/133. Tuy nhiên, GDP thực tế bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 1.040,4 USD/người, chỉ đứng thứ 109/133. Với mức này, Việt Nam bị xếp loại nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức cũng là dựa vào các nhân tố tăng trưởng trong giai đoạn khởi động nền kinh tế như thể chế kinh tế được đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao số lượng và chất lượng cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế và giáo dục phổ thông.

Comment [P8]: Báo cáo thường niên này của WEF được tính dựa trên các số liệu thống kê công khai, cùng thăm dò hơn 13.000 lãnh đạo của các tập đoàn kinh tế.

Comment [P9]: sức mua tương đương là gì?

Qua các số liệu trên có thể thấy rằng, thứ nhất, Việt Nam đã có những tiến bộ và được đánh giá cao hơn so với đánh giá chung (75) trong đánh giá về quy mô thị trường (38) và hiệu quả thị trường lao động (38), hiệu quả thị trường hàng hóa (67) thuộc Nhóm trụ cột thứ hai. Đổi mới công nghệ (44) thuộc Nhóm trụ cột thứ ba cũng có những bước tiến đáng khích lệ, tuy các yếu tố của trụ cột sẵn sàng về công nghệ còn ở mức trung bình (73).

Thứ hai, trong cả 12 chỉ tiêu mà WEF sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia, các yếu tố như thể chế, cơ sở hạ tầng, giáo dục y tế … chủ yếu tăng hạng, duy chỉ có chỉ tiêu ổn định kinh tế vĩ mô sụt mạnh từ 70 xuống 112. Rõ ràng đây là nguyên nhân chính làm Việt Nam tụt hạng năng lực cạnh tranh từ 70 xuống 75.

Thứ ba, nước ta là nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào các nhân tố tăng trưởng trong giai đoạn khởi động của nền kinh tế nhưng Nhóm trụ cột thứ nhất (các trụ cột 1-4) lại khá khiêm tốn khi có thể chế được đánh giá mức (63), cao hơn mức đánh giá chung, cho thấy cần có những nỗ lực xây dựng nền tảng ban đầu là các vấn đề xã hội (76), cơ sở hạ tầng (94) và ổn định kinh tế vĩ mô (112) đóng góp vào sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh toàn cầu.

Trên cơ sở đó, khoá luận sẽ đi sâu phân tích các nhân tố thuộc Nhóm trụ cột thứ nhất ảnh huởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

2.4.2.1. Môi trường thể chế Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Môi trường thể chế ở Việt Nam xếp thứ 63/133, được đánh giá cao hơn mức đánh giá chung (75/133) theo đánh giá của WEF 2009. Trong những năm qua, Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc cải thiện môi trường thể chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV phát triển. Từ năm 1986 và đặc biệt là từ khi chuyển sang cơ chế thị trường (1989) đến nay, thể chế chung về kinh doanh, tài chính, đầu tư, đất đai… đã từng bước được hoàn thiện. Việc ban hành và thực thi Luật doanh nghiệp kể từ năm 2000 là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển khu vực DNNVV. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Hợp tác xã (2003), Luật Đầu tư (2005), Luật Đất đai (2003), Luật Các tổ chức tín dụng (2003), Bộ Luật Lao động, Nghị định 90/2001/NĐ-CP về hỗ trợ phát triển DNNVV, các chính sách liên quan đến khuyến khích đầu tư, mặt bằng sản xuất kinh doanh, thị trường và tăng cường khả năng cạnh tranh, xúc tiến xuất khẩu, trợ giúp về thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn lực… đối với DNNVV đang được triển khai. Có thể khẳng định những thể chế, chính sách của Chính phủ cùng nhiều cơ chế ưu đãi dành cho DNNVV trong thời gian qua đã trợ giúp kịp thời, có hiệu quả cho DNNVV vượt qua nhiều khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới để duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. DNNVV tin tưởng vào chính sách của Chính phủ và lạc quan nhìn về tương lai. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2009-2010 của WEF, sự ủng hộ của doanh nghiệp Việt Nam trong các chính sách của Nhà nước khá cao (57/133), đặc biệt là niềm tin của người dân đối với các chính trị gia (36/133).

Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập trong thể chế, chính sách đối với các DNNVV Việt Nam. Một trong những hạn chế lớn mà WEF đưa ra năm 2009 là các chuẩn mực về báo cáo và kiểm toán (108/133). Chẳng hạn, một số qui định trong chế độ kế toán, đặc biệt đối với DNNVV quá phức tạp và trở thành gánh nặng như việc đòi hỏi báo cáo hầu như cùng mức độ với báo cáo tài chính của doanh nghiệp lớn. Một số qui định về thuế vẫn còn phức tạp, tồn tại nhiều mâu thuẫn, thiếu rõ ràng trong các hướng dẫn, thiếu thủ tục khuyến khích thuế có hiệu quả phù hợp với DNNVV. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp đã được cải thiện trong những năm qua song so với các quốc gia trên thế giới còn quá rườm rà và xếp thứ 106/133 theo WEF năm 2009. Chẳng hạn, để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập bình quân đầu người. Một bộ phận lớn các DNNVV cho rằng thủ tục thuê hoặc xin cấp đất cần được thông thoáng hơn. Hay trong công tác hải quan, hiện nay cơ quan thuế và cơ quan hải quan đã áp dụng chung 1 mã số thuế cho doanh nghiệp, song thời gian cấp mã số thuế vẫn còn dài (15-20 ngày).

Như vậy, môi trường thể chế của nước ta đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để DNNVV tồn tại và phát triển. Môi trường kinh doanh ngày càng cải thiện giúp doanh doanh nghiệp cạnh tranh công bằng hơn và không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên bất cập tồn tại vẫn còn là những khó khăn nan giải cản trở cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp cần phải được giải quyết một cách kịp thời.

2.4.2.2. Cơ sở hạ tầng

Trong thời gian qua, Nhà nước đã rất chú trọng đến việc đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng. Giai đoạn 2001-2010, Chính phủ Việt Nam đã đầu tư 8-9% GDP (phần lớn từ vốn vay ODA) xây dựng cơ sở hạ tầng1.

Về hạ tầng giao thông vận tải: Các tuyến đường quốc gia nối các thành phố chính và các trục giao thông chính của mạng lưới giao thông đường bộ Việt Nam đã được đầu tư, nâng cấp, cải tạo. Hiện nay nước ta cũng gia tăng một số cảng biển lớn, nâng cao năng lực thông qua cảng biển. Đồng thời tiến hành đầu tư, nâng cấp sân bay quốc tế, mở rộng đường bay nội địa giúp tăng cường khả năng lưu thông, vận chuyển. Tuy nhiên, nhìn chung hạ tầng giao thông vận tải của nước ta vẫn còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ. Các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ có bề rộng hẹp và nhiều tuyến đã quá tải, không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở, hạn chế việc phát triển kinh tế, còn nhiều tuyến đường bộ chủ yếu chưa được đầu tư. Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng không chưa đáp ứng yêu cầu dẫn đến năng suất vận chuyển thấp, khả năng kho bãi hạn chế, chi phí cao. WEF xếp hạng về chất lượng cơ sở hạ tầng nói chung của nước ta năm 2009 ở mức “đội sổ” là 111/113, chất lượng đường sá là 102/113.

Về hạ tầng ngành điện: các công trình lưới điện đã được mở rộng đầu tư trong suốt thời gian qua. Tuy nhiên. hệ thống điện vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, nhất là trong những giờ cao điểm, những thời điểm nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh. Hiện tại nước ta vẫn phải mua điện từ nước ngoài như Trung Quốc nên ảnh hưởng nhiều đến giá bán điện. Giá bán điện bình quân năm 2010 sẽ tăng lên 6,8% so với giá bình quân thực hiện năm 2009 và áp dụng từ ngày 1/3/2010 sẽ khiến chi phí đầu vào của các DNNVV Việt Nam tăng cao làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. WEF đánh giá chất lượng nguồn cung cấp điện của nước ta năm 2009 rất thấp, xếp thứ 103/133.

Về hạ tầng bưu chính, viễn thông: Việt Nam đã từng bước cải thiện hệ thống thông tin liên lạc trong suốt thời gian qua và được WEF đánh giá cao về mức độ thuận lợi (36/183).

Như vậy, trong thời gian qua, Nhà nước đã rất chú trọng đến việc phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên vẫn có nhiều hạn chế chưa được giải quyết làm tăng chi phí đầu vào và giảm sức cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV Việt Nam.

2.4.2.3. Kinh tế vĩ mô Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Sự ổn đinh kinh tế vĩ mô có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo lập nền tài chính quốc gia ổn định, ổn định tiền tệ, lạm phát ở mức kiểm soát được. Kinh tế phát triển thúc đẩy quá trình tích tụ, tăng nguồn vốn đầu tư phát triển… Sự phát triển kinh tế kéo theo khả năng thanh toán và nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng lên, đây là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 98 USD/người năm 1990 đã lên đến 640 USD/người năm 2005 và 1040,4 USD/người năm 20091. Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP ở mức khá cao so với các nước trong khu vực nhưng vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp nhất trên thế giới (GDP bình quân đầu người của Thái Lan là 4.115,3USD/người). Điều này ảnh hưởng đến thị trường đầu ra của các doanh nghiệp Việt Nam.

Theo WEF năm 2009, chỉ số năng lực cạnh tranh của nước ta bị tụt 5 bậc so với năm 2008. Nguyên nhân chính là vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã có bước tụt hậu từ vị trí 70 xuống 112 đã gây tác động mạnh tới nền kinh tế và khả năng cạnh tranh của DNNVV. Thâm hụt thương mại tăng (xếp thứ 110/113), lạm phát cao (xếp thứ 126/113), đồng tiền mất giá làm giảm mạnh niềm tin của giới đầu tư. Báo cáo của WEF cho rằng Việt Nam cần ổn định lại các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế để tận dụng các lợi thế khác của Việt Nam, từ đó tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng.

2.4.2.3. Y tế và giáo dục phổ thông

Y tế và giáo dục phổ thông là một trong những nhân tố bên ngoài có tác động qua lại nhất định ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào kinh doanh ở khu vực có cơ sở hạ tầng phát triển, dân cư đông đúc, trình độ dân trí cao, được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh. Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, nhiều trường học và bệnh viện đã được xây dựng, tuy nhiên chất lượng cơ sở vật chất và cung cấp dịch vụ vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Theo đánh giá của WEF 2009, mức độ chi cho giáo dục của Việt Nam chỉ xếp thứ 103/113 thể hiện mức đầu tư vào giáo dục của nước ta rất thấp. Trong khi đó, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của nước ta.

Các nhân tố thuộc Nhóm trụ cột nhu cầu cơ bản có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam trong giai đoạn khởi động của nền kinh tế. Bên cạnh đó, các Nhóm trụ cột nâng cao hiệu quảNhóm trụ cột các nhân tố đổi mới cũng không thể thiếu trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, Nhà nước cần phải phân bổ sự chú ý đến các trụ cột một cách hợp lý.

Mặc dù các chỉ số đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới có thể chưa phản ánh hết được năng lực cạnh tranh của Việt Nam, nhất là tiềm năng phát triển trung và dài hạn, song phần nào phản ánh được thực tế chất lượng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam còn hạn chế. Việt Nam tuy có cải thiện một số yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế như đổi mới công nghệ, hiệu quả lao động, quy mô thị trường nhưng chưa có nhiều cải thiện các yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh quốc gia như thế chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô và chất lượng nguồn nhân lực. Hơn nữa, mặc dù tiến trình cải cách, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã đi đúng hướng nhưng vẫn còn khá chậm so với nhu cầu phát triển của bản thân nền kinh tế cũng như so với tốc độ cải cách của các quốc gia đang phát triển khác.

Từ những đánh giá trên có thể thấy môi trường kinh doanh đối với DNVVVN Việt Nam so với các doanh nghiệp khác trên thế giới còn rất nhiều khó khăn và trở ngại. Để các DNNVV Việt Nam đứng vững và cạnh tranh được trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, bên cạnh sự vươn lên của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực từ Chính phủ và các cơ quan chức năng nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.

2.5.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

2.5.1.1. Bối cảnh trong nước

Thứ nhất, sự ổn định chính trị, xã hội của nước ta trong thời gian qua đã tạo niềm tin cho toàn dân, cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chính sự ổn định này góp phần lớn tạo nên môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, trong thời gian qua, kinh tế liên tục phát triển làm cho qui mô nền kinh tế tăng nhanh. Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP khá cao qua các năm nhưng so với thế giới mức thu nhập của người dân vẫn còn thấp. Hơn nữa, với số dân gần 86 triệu người, xếp thứ 13 thế giới trong năm 2009 như nước ta thực sự là thị trường tiềm năng để tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên sức mua hàng hoá và dịch vụ chủ yếu tập trung ở thành thị và ven đô, đa phần là trong các tầng lớp dân cư có thu nhập trung bình trở lên. Do đó, các DNNVV Việt Nam cần phải tận dụng và khai thác tốt thị trường nội địa nhằm đáp ứng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, kể cả những người có thu nhập thấp. Mặt khác, trong những năm gần đây, nền kinh tế vĩ mô Việt Nam đối mặt với nhiều bất ổn như nguy cơ lạm phát, thâm hụt ngân sách Nhà nước… càng gây khó khăn cho các DNNVV.

Thứ ba, nền kinh tế thị trường đã bước đầu hình thành và vận hành có hiệu quả. Đảng và Chính phủ nhất quán chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm đổi mới kinh tế – xã hội gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, khung pháp lý dành cho doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng đang trong quá trình hoàn thiện vẫn còn thiếu đồng bộ; chính sách, luật pháp chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ tư, Việt Nam đang ngày càng mở rộng liên kết kinh tế thông qua việc gia nhập AFTA, WTO, các hiệp định song phương và đa phương khác. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước, thiết lập quan hệ kinh tế – thương mại với hơn 180 nước và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 90 hiệp định song phương, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá với trên 230 thị trường các nước và vùng lãnh thổ. Hội nhập càng sâu rộng thì cơ hội và thách thức đặt ra đối với các DNNVV càng lớn.

Thứ năm, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo chiều hướng CNH – HĐH góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Tuy nhiên so với thế giới, công nghệ của nước ta còn quá lạc hậu, tỷ trọng nhóm ngành công nghệ cao của nước ta chỉ chiếm khoảng 20% trong khi để tiến tới trình độ nước CNH – HĐH phải đạt từ 60% trở lên1. Công nghệ yếu kém cũng chính là nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của các DNNVV.

2.5.1.2. Bối cảnh quốc tế

Thứ nhất, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới là điều tất yếu và đang diễn ra mạnh mẽ. Tự do hóa thương mại diễn ra ở mọi cấp độ: song phương, khu vực, đa phương khiến cho các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhau và phát triển như một khối thống nhất. Việt Nam với nền kinh tế nhỏ bé, trình độ công nghệ lạc hậu, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước càng không thể đứng ngoài cuộc trong dòng chảy toàn cầu. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt các DNVVN càng phải không ngừng vươn lên, cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và quốc tế.

Thứ hai, các thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật mới không ngừng được phát minh, ứng dụng trong thực tế và ngày càng khẳng định vai trò là một trong những lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế thế giới. Nó tạo ra nguồn của cải khổng lồ với chất lượng cao cho nền kinh tế. Đây cũng chính là yếu tố tác động mang tính hai mặt cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ ba, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 được đánh giá là trầm trọng nhất kể từ 80 năm qua đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng đã tàn phá thị trường bất động sản, ngành công nghiệp ôtô, thương mại, vận tải, lương thực, năng lượng, công nghệ thông tin… Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến sụt giảm tài sản tiền tệ toàn cầu khiến sản xuất bị đình trệ, giao dịch buôn bán toàn cầu bị giảm mạnh và rất nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn bị phá sản. Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, tác động của cuộc khủng hoảng đối với nước ta ảnh hưởng trước hết đến xuất khẩu, thương mại, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ phát triển chính thức (ODA), vấn đề thất nghiệp… Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV đứng trước thách thức rất lớn cần phải vượt qua.

2.5.2. Cơ hội đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Bối cảnh trong nước và quốc tế đã tạo cho DNNVV Việt Nam rất nhiều cơ hội cần phải nắm bắt để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, đó là:

Thứ nhất, các DNNVV Việt Nam có cơ hội lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm với thị trường nội địa đầy tiềm năng. Thị trường nước ta khá lý tưởng với số dân đông và có tốc độ tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây. Doanh nghiệp có thể dễ dàng tìm kiếm, xâm nhập thị trường ngách để đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau về sức mua, thói quen hay văn hoá tiêu dùng.

Thứ hai, quá trình tự do hoá thương mại giúp các DNNVV được hưởng lợi từ những chính sách thuận lợi hoá thương mại và đầu tư từ Chính phủ. Khi bước vào hội nhập, việc công khai, minh bạch hoá các chính sách, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư để nhằm đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, dễ dự đoán của “luật chơi quốc tế” là điều tất yếu. Do đó, môi trường thể chế của Việt Nam như hệ thống pháp luật kinh doanh, các thủ tục hành chính, các biện pháp hỗ trợ DNNVV sẽ được đổi mới theo hướng đơn giản hoá, thuận lợi hoá, phục vụ phát triển kinh tế, phục vụ doanh nghiệp. Nhờ vậy, các DNNVV Việt Nam sẽ có môi trường kinh doanh lành mạnh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Thứ ba, cùng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các DNNVV sẽ có cơ hội lớn để mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước thành viên và được đối xử bình đẳng theo nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia. Khi có tranh chấp thương mại, các doanh nghiệp được sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả để giải quyết, nhờ đó hạn chế được tối đa sự chèn ép của các đối tác thương mại, nhất là đối tác lớn.

Thứ tư, những thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới góp phần tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất cho các DNNVV Việt Nam. Bằng cách thúc đẩy chuyển giao công nghệ, các DNNVV Việt Nam sẽ rút ngắn được khoảng cách với công nghệ hiện đại, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Đây cũng chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp gia tăng hàm lượng khoa học công nghệ trong các sản phẩm của mình, góp phần tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

2.5.3. Thách thức đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Bên cạnh những cơ hội, các DNNVV Việt Nam còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức, cụ thể:

Thứ nhất, thị trường nội địa còn kém phát triển và chưa hoàn chỉnh. Mặc dù thị trường Việt Nam rất có tiềm năng về nhu cầu tiêu thụ song thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp nên DNNVV sẽ gặp khó khăn khi tạo ra những sản phẩm với giá cả cạnh tranh để đáp ứng cả nhu cầu của những khách hàng có thu nhập thấp.

Thứ hai, những bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách Nhà nước và hiện nay vẫn còn những rủi ro nguy cơ tiềm ẩn là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp. Nguy cơ lạm phát cao sẽ khiến doanh nghiệp càng phải đối mặt với rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng chi phí đầu vào, tiếp cận vốn khó khăn hơn, sức mua giảm sút.

Thứ ba, khung pháp lý đối với các DNNVV thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất và liên tục thay đổi trong cơ chế, chính sách; thủ tục hành chính rườm rà đã gây cản trở lớn đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc ra quyết định sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trong môi trường còn chưa thực sự lành mạnh. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Thứ tư, toàn cầu hoá ở mức cao thì sự phụ thuộc giữa các nền kinh tế càng gia tăng. Do đó, khi có những bất ổn từ phía bên ngoài dù nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua đã gây ra thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp. Mặc dù kinh tế Việt Nam chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế thế giới nhưng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng này. Do đó, khi hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì các DNNVV càng đứng trước nguy cơ phá sản nếu thị trường gặp rủi ro, biến động.

Thứ năm, khi hội nhập kinh tế quốc tế, sức ép cạnh tranh giành giật thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ sẽ ngày càng quyết liệt hơn. Trên thị trường nội địa, Nhà nước phải cắt giảm những chính sách bảo hộ sản xuất trong nước như giảm thuế, mở cửa cho hàng hoá nhập khẩu. Trong khi đó, các DNNVV Việt Nam còn có những hạn chế về năng lực quản lý, năng lực tài chính, cơ sở vật chất. Nên nếu hàng hoá từ thị trường nước ngoài ồ ạt tràn vào với mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt, giá cả hợp lý mà doanh nghiệp không nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì có thể thua ngay trên sân nhà.

Thứ sáu, các doanh nghiệp phải đương đầu với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch tăng lên ở các nước, đặc biệt là các nước phát triển, với hàng rào kỹ thuật hiện đại, tinh vi như tiêu chuẩn sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường. Đây chính là thách thức lớn đối với các DNNVV khi xuất khẩu sản phẩm và cạnh tranh quốc tế trong điều kiện năng lực cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ còn thấp, hiểu biết và khả năng vận dụng các qui định nghiêm ngặt này còn yếu kém.

Thứ bảy, sự phát triển của khoa học công nghệ và xu hướng chuyển giao công nghệ sang các nước đang phát triển như Việt Nam khiến các DNNVV đứng trước thách thức lựa chọn công nghệ phù hợp nếu không sẽ trở thành bãi thải công nghệ cho các nước phát triển. Do đó, đối với các DNNVV vốn đầu tư cho khoa học công nghệ rất thấp, cơ sở vật chất còn lạc hậu thì bên cạnh cơ hội được chuyển giao công nghệ hiện đại, thách thức đặt ra cũng hết sức to lớn.

2.6. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Từ thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV trong thời gian qua, đối chiếu với lý thuyết đã nêu trên có thể thấy rằng DNNVV Việt Nam đã bộc lộ khá nhiều mặt mạnh cũng như mặt yếu của mình.

2.6.1. Thành tựu

Phần lớn các DNNVV ra đời trong công cuộc đổi mới. Họ ngày càng có vai trò quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước, hội nhập quốc tế, giữ vững an sinh xã hội, thu hút và sử dụng được nhiều lao động, đóng góp cho ngân sách, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm các yếu tố bền vững cho phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Trong những năm qua, năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam đã từng bước được cải thiện. Cụ thể:

Thứ nhất, các DNNVV đã ngày càng gia tăng thị phần của mình trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Các mặt hàng thuộc công nghiệp tiêu dùng như bánh kẹo, nước giải khát, lương thực, thực phầm, đồ dùng gia đình… chiếm lĩnh gần như thị trường trong nước. DNNVV cũng đã đóng góp phần không nhỏ trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như hàng nông thuỷ sản, hàng dệt may, giày da, thủ công mỹ nghệ đã được xếp thứ hạng trên thế giới về khả năng chiếm lĩnh thị phần.

Thứ hai, một số sản phẩm của DNNVV Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường về chất lượng và giá cả. Người tiêu dùng Việt Nam đã tin tưởng hơn vào các mặt hàng Việt Nam chất lượng cao. Thêm vào đó, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ không ngừng cải thiện mẫu mã, gia tăng tính độc đáo đáp ứng được nhiều thị trường khó tính như Nhật Bản.

2.6.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

Mặc dù có được những thành tựu trên, nhưng nói chung năng lực cạnh tranh của các DNNVV trên thị trường trong và ngoài nước vẫn chưa cao, thể hiện:

Thứ nhất, khả năng tiếp cận thị trường của DNNVV Việt Nam còn nhiều hạn chế, thị trường xuất khẩu của đa số các DNNVV hạn hẹp. DNNVV chủ yếu xuất khẩu gián tiếp qua các doanh nghiệp lớn.

Thứ hai, phần lớn năng lực quản lý của DNNVV còn yếu kém, doanh nghiệp chưa có chiến lược tầm nhìn dài hạn để phát triển. Hiểu biết về pháp luật trong kinh doanh hay khả năng nắm bắt thị trường, kỹ năng đàm phán chưa cao nên DNNVV dễ gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, các DNNVV Việt Nam thường gặp khó khăn về nguồn vốn và khả năng huy động vốn, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư vào trang thiết bị hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Thứ tư, các DNNVV Việt Nam chủ yếu có trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị lạc hậu, tay nghề đội ngũ lao động thấp nên chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ chưa cao, tỷ lệ phế phẩm nhiều dẫn đến hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thứ năm, môi trường kinh doanh như thể chế, chính sách còn bộc lộ nhiều bất cập. Cơ sở hạ tầng chưa phát triển dẫn đến gia tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp. Có nhiều nhân tố bên ngoài chưa thực sự tạo môi trường thuận lợi để DNNVV Việt Nam phát triển.

Như vậy, để tháo gỡ và hỗ trợ có hiệu quả các DNNVV vượt qua khó khăn thách thức, nâng cao sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tập trung vào nội dung quản lý vĩ mô và năng lực hoạt động của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp, những khó khăn vừa qua là dịp mỗi doanh nghiệp nhìn lại mình một cách kỹ lưỡng, rút ra những mặt mạnh, mặt yếu để tự phát huy những ưu điểm, tự sửa chữa những khuyết điểm để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong thời kỳ hội nhập. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao cạng tranh doanh nghiệp ở VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464