Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây chúng ta đã quan tâm và nhận thức được tầm quan trọng của DNNVV. Trước năm 1998 chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào đưa ra khái niệm về DNNVV. Theo tổ chức UNIDO của Việt Nam đưa ra tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng số vốn hoặc doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Còn ở thành phố Hồ chí Minh, các doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người, doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, còn dưới giới hạn trên là doanh nghiệp nhỏ. Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV thì “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.

Đây là văn bản đầu tiên chính thức qui định về DNNVV, là cơ sở để Nhà nước cũng như các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các chính sách và biện pháp hỗ trợ bộ phận doanh nghiệp này. Theo đó, căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Cũng theo Nghị định này, đối tượng được xác định là DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nước; các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.

Tuy nhiên, so với định nghĩa về DNNVV của các nước trong khu vực và trên thế giới, định nghĩa DNNVV của Việt Nam có những hạn chế sau:

  • Định nghĩa mang tính tổng quát, không đi sâu vào chi tiết loại hình, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và chưa phản ánh được thực chất về qui mô doanh nghiệp đối với các ngành và lĩnh vực khác nhau.
  • Vốn đăng ký chỉ phản ánh trách nhiệm pháp lý của các thành viên của doanh nghiệp đối với các khoản nợ, lãi phát sinh trong quá trình hoạt động và trên thực tế có sự chênh lệch lớn so với vốn hoạt động của doanh nghiệp.
  • Chỉ tiêu về lao động bình quân trong năm chỉ mang tính dự kiến và không bắt buộc phải kê khai.
  • Việc áp dụng một trong hai chỉ tiêu (vốn đăng ký và bình quân lao động) khiến cho việc xác định DNNVV đôi khi khó khăn khi lựa chọn doanh nghiệp nào thuộc đối tượng của chương trình trợ giúp.

Nhằm khắc phục phần nào những hạn chế về định nghĩa DNNVV nói trên, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, DNNVV được định nghĩa:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.

Có thể thấy định nghĩa này cụ thể, chi tiết hơn về cách phân biệt DNNVV, tuy nhiên còn khá mới mẻ và chưa có số liệu thống kê. Trong phạm vi bài luận văn chỉ sử dụng các số liệu phân biệt DNNVV theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP để phân tích năng lực cạnh tranh của DNNVV.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.1.2. Quá trình phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Về qui mô doanh nghiệp

Việt Nam là một đất nước đang phát triển và gắn với quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam đã diễn ra được hơn hai thập kỷ trên nhiều khía cạnh, trong đó có vấn đề tự do hóa kinh doanh. Trong mô hình kinh tế cũ, các DNNVV chủ yếu là xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã, một khu vực doanh nghiệp trước đây chủ yếu được đóng góp bởi khoảng 12.000 doanh nghiệp Nhà nước nay đã trở thành một cộng đồng kinh doanh đa dạng, tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau. Ngoài DNNN, doanh nghiệp có vốn ĐTNN, còn có một cộng đồng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang lớn mạnh bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập thể, công ty TNHH, công ty hợp danh và công ty cổ phần.  Chính việc ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990) cùng với việc thừa nhận sở hữu tư nhân trong Hiến pháp 1992 và việc ban hành các luật như Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Luật Doanh nghiệp Nhà nước (1995) đã tạo điều kiện cho DNNVV phát triển. Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nhanh hiện nay, cần phải nhận thức rõ tầm quan trọng sự phát triển của DNNVV. Trên thực tế, khu vực DNNVV có thể được coi là đang hoạt động tiên phong trong quá trình phát triển kinh tế và tự do hóa kinh doanh kể từ năm 2000 khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực1.

Có thể thấy DNNVV đã có sự phát triển đáng kể về mặt số lượng so với toàn bộ khu vực trong cả nước. Nếu số lượng DNNVV trong năm 2000 chỉ là 42.228 doanh nghiệp thì đến năm 2005 số lượng doanh nghiệp lên tới 112.950 doanh nghiệp và đến năm 2009 có 460.000 doanh nghiệp. Với tốc độ tăng trưởng như vậy, đến năm 2010, dự kiến Việt Nam sẽ có khoảng 540.000 doanh nghiệp, vượt 8% so với kế hoạch đề ra. Trong những năm gần đây, nếu xét theo tiêu chí lao động thì DNNVV chiếm khoảng 97% còn nếu xét theo tiêu chí vốn thì DNNVV chiếm khoảng 86% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc, nhưng dù tồn tại dưới hình thức sở hữu nào thì các DNNVV cũng chiếm đại đa số trong khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội và TPHCM vẫn luôn là hai địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp thành lập và đăng ký kinh doanh với trên 3000 doanh nghiệp/năm trong những năm gần đây.

Mặc khác, tỷ trọng loại hình doanh nghiệp có sự thay đổi theo chiều hướng giảm rõ rệt của loại hình DNNVV thuộc Nhà nước và có sự tăng lên nhanh chóng của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), trong số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các nhà đầu tư ngày càng ít lựa chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân để thành lập nhưng loại hình công ty TNHH, CTCP ngày càng được lựa chọn nhiều hơn như là một hình thức để gia nhập thị trường. Nếu như trong năm 2000, loại hình doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 36%, công ty TNHH chiếm 56% và CTCP chiếm 8% trên tổng số doanh nghiệp thành lập và đăng ký kinh doanh thì trong năm 2006, tỷ lệ này lần lượt là 22%, 55,3%, 20,7% và trong năm 2007 là 17,2%, 43,8%, 25%.

Như vậy, DNNVV Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng và có chiều hướng tăng tỷ trọng loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh đặc biệt kể từ khi Luật doanh nghiệp 2000 được ban hành và có hiệu lực.

Về lĩnh vực hoạt động

Việt Nam, nhiều doanh nghiệp bao gồm cả DNNVV có xu hướng đăng ký rất nhiều ngành nghề kinh doanh. Khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp thường đăng ký một danh sách rất dài các lĩnh vực hoạt động, do đó rất khó có thể thống kê chính xác về DNNVN theo ngành nghề kinh doanh. Theo ước tính của Tổng cục thống kê (2009), về lĩnh vực hoạt động năm 2007, số lượng DNNVN theo qui mô vốn tập trung nhiều vào lĩnh vực thương mại chiếm khoảng 35,79%, công nghiệp chế biến chiếm khoảng 14,78%, xây dựng chiếm khoảng 10,77%.

Biểu đồ 2.2: Lĩnh vực hoạt động của DNNVV Việt Nam năm 2007

2.1.3. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng. Điều này được thể hiện:

Thứ nhất, DNNVV chiếm phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội. DNNVV góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động; khai thác tiềm năng phong phú trong dân; giúp tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Do đó, DNNVV đóng góp phần lớn không chỉ đối với nước đang phát triển như Việt Nam mà đối với nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, DNNVV chính là nền tảng vững chắc để giảm bớt những chấn động của nền kinh tế mỗi khi có suy thoái. Do đó việc nâng cao sức cạnh tranh của DNNVV có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế.

Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, các DNNVV tham gia vào sân chơi ngày càng mở rộng, cơ hội nhiều nhưng thách thức đặt ra cũng hết sức to lớn. DNNVV phải đối mặt với các đối thủ mạnh hơn nhiều về kinh nghiệm, tiềm lực tài chính, tri thức kinh doanh cho đến trình độ công nghệ. Trong khi đó DNNVV Việt Nam có đặc điểm vốn ít, năng lực quản lý và trình độ lao động yếu kém, công nghệ lạc hậu… Hơn nữa, khi tham gia vào các tổ chức quốc tế như WTO, APEC, AFTA, ASEAN… Việt Nam phải cam kết dần dần cắt giảm thuế, xoá bỏ hàng rào phi thuế, áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia đối với các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa. Do đó, DNNVV Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với hàng hoá và dịch vụ nước ngoài ồ ạt vào thị trường với giá rẻ; chất lượng tốt; hình thức đa dạng, phong phú. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mà điều kiện cạnh tranh của DNNVV Việt Nam yếu kém như vậy thì việc nâng cao sức cạnh tranh là điều tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

Thứ ba, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến các nền kinh tế phụ thuộc vào nhau và trở nên nhạy cảm với những biến động của thị trường thế giới. Do đó khi có những tác động tiêu cực mà toàn cầu hoá đem lại như khủng hoảng tài chính toàn cầu, nếu doanh nghiệp không tích luỹ được khả năng kháng cự thì khó có thể tồn tại và dễ bị dòng xoáy của toàn cầu hoá cuốn đi.

Do vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464