Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kinh nghiệm ở hầu hết các nước trên thế giới cho thấy dù quốc gia phát triển hay đang phát triển thì mô hình DNNVV đều giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Không những vậy, DNNVV còn góp phần tạo ra sự ổn định về chính trị xã hội thông qua giải quyết vấn đề việc làm và tạo phúc lợi xã hội. Việc phát triển DNNVV góp phần tăng trưởng, ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo; hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp lớn; khôi phục, giữ gìn và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống… một nước nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu như nước ta, DNNVV chính là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH. Loại hình doanh nghiệp này đã đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước và tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động. Từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay DNNVV đã có bước phát triển lớn về qui mô. Bên cạnh đó, nhờ chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước cũng như các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước như chính sách mở cửa hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, và các văn bản pháp luật khác như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV đã tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi cho các DNNVV và thu  Comment [m1]: được những kết quả nhất định. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hướng CNH – HĐH, ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những cơ hội còn có rất nhiều thách thức đặt ra đối với sự phát triển của các DNNVV. Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ từ phía Chính phủ cũng như bản thân các DNNVV phải nhanh chóng khắc phục những khó khăn trở ngại, phát huy những mặt mạnh của mình để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.

Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNNVV sẽ đưa ra một bức tranh khái quát về các DNNVV Việt Nam. Dựa trên cơ sở phân tích về thực trạng để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của các doanh nghiệp trong thời gian qua, từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp có ý nghĩa quan trọng giúp DNNVV nâng cao sức cạnh tranh của mình trong sân chơi chung với rất nhiều đối thủ lớn mạnh trong và ngoài nước. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và một số kiến nghị” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tình hình nghiên cứu Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của DNNVV đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, đã có một số chương trình nghiên cứu khá qui mô ở cấp Bộ, Ngành và của một số chuyên gia, nhà nghiên cứu. Tuy nhiên cách tiếp cận, đánh giá năng lực cạnh tranh có nhiều quan điểm khác nhau. Với đề tài này, tác giả đã chọn hướng đánh giá theo quan điểm tổng hợp để có cái nhìn đa chiều về năng lực cạnh tranh của các DNNVV ở Việt Nam

3. Mục đích nghiên cứu

Đánh giá năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNNVV trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hướng CNH – HĐH, ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, khoá luận có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Hệ thống hoá lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV trong giai đoạn hiện nay.

Đưa ra khái niệm DNNVV Việt Nam, phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV từ đó đưa ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của doanh nghiệp.

Đề xuất một số biện pháp đối với Chính phủ trong việc hỗ trợ các DNNVV đồng thời gợi ý một số biện pháp đối với các doanh nghiệp này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV Việt Nam.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận nghiên cứu lý luận và thực tiễn năng lực cạnh tranh của các DNNVV ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV ở Việt Nam trong những năm gần đây, cụ thể giai đoạn 2000-2010.
  • Không gian: Tất cả các doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ Việt Nam thoả mãn định nghĩa Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về DNNVV. Mặt khác, khoá luận cũng giới hạn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển ở giai đoạn nền tảng của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao.

6. Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản trên cơ sở phương pháp luận như phương pháp thống kê, phương pháp điều tra phân tích so sánh kết hợp với phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp. Bên cạnh đó, khoá luận còn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn thông qua các tài liệu và việc tìm hiểu, tham khảo ý kiến của các nhà doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia trong lĩnh vực phát triển DNNVV. Khoá luận cũng vận dụng các quan điểm, đường lối chính sách về phát triển DNNVV của Đảng và Nhà nước để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

7. Bố cục của khoá luận tốt nghiệp

Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khoá luận được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Một số lý luận chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

1.1.1. Khái niệm

Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh tế nói riêng. Khái niệm này sử dụng trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi liên quốc gia. Cạnh tranh trong kinh tế có thể hiểu là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm bao gồm hàng hoá và dịch vụ bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội1. Đây chính là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu và là một qui luật cơ bản trong kinh tế thị trường. Cạnh tranh bao giờ cũng có tính chất hai mặt: tích cực và tiêu cực. Một mặt, cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Mặt khác, cạnh tranh cũng có thể dẫn đến nguy cơ tranh giành, giành giật, khống chế lẫn nhau…thậm chí gây rối loạn, đổ vỡ. Do đó một môi trường cạnh tranh lành mạnh hợp pháp là điều vô cùng cần thiết để các doanh nghiệp phát triển trong nền kinh tế thị trường.

Trong cạnh tranh sẽ có những mức độ, khả năng cạnh tranh mạnh yếu khác nhau. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Hiện nay cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ này mà vẫn chưa có sự thống nhất.

Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại1: Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về mặt kinh tế. Tuy nhiên quan niệm này mang tính định tính, khó có thể định lượng được.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD2: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M.Porter (1990): Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, quan niệm này chưa gắn với các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

Theo Tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp quốc3: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quan niệm này lại không đề cập đến yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.

Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp nhưng đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh là không đơn giản. Có thể hiểu khái niệm năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững4. Khái niệm này có đề cập đến yếu tố sản xuất và mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp và được coi là khá phù hợp trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.

1.1.2. Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có rất nhiều phương pháp khác nhau. Trong phạm vi luận văn sẽ trình bày ba phương pháp được coi là phù hợp khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đó là phương pháp phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược, phương pháp phân tích theo quan điểm tân cổ điển và phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp1.

1.2.2.1. Phương pháp phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược

Quan điểm quản trị chiến lược được thể hiện qua các công trình của M.Porter trong những năm 1980. Phương pháp này phân tích theo cấu trúc các nguồn lực của doanh nghiệp và chính là nền tảng cho mô hình “khối kim cương” các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nội dung của phương pháp này gồm 2 công đoạn phân tích chính sau:

  • Phân tích cấu trúc ngành hàng mà doanh nghiệp đang tham gia.
  • Phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên cơ sở xác định nguồn lực riêng biệt.

a) Phân tích theo cấu trúc ngành

Theo M.Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét theo năm yếu tố của môi trường kinh doanh kinh tế vi mô:

  • Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong cùng một ngành.
  • Doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ thay thế.
  • Vị thế của các nhà cung ứng.
  • Vị thế của người mua.
  • Sự thâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới.

Phương pháp này có ưu điểm trong việc phân tích một ngành cụ thể nào đó. Các doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó hay không. Tuy nhiên, ở đây chỉ xét đến môi trường kinh tế vi mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ít đề cập đến ảnh hưởng của môi trường vĩ mô cũng như năng lực nội tại của bản thân doanh nghiệp. Nên nếu phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, cụ thể là phân tích năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam theo quan điểm này sẽ rất phiến diện và có thể đánh giá sai năng lực cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp. Khó a luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

b) Phân tích lợi thế cạnh tranh dựa trên các nguồn lực riêng biệt

Từ đầu những năm 1990, quan điểm quản trị chiến lược đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong việc nghiên cứu lợi thế cạnh tranh dựa trên các nguồn lực hữu hình và vô hình. Cơ sở của lý thuyết này là việc thừa nhận các doanh nghiệp trong một chiến lược thích hợp và có thể sử dụng các nguồn lực của mình để thu được các khoản lợi nhuận cao hơn mức bình quân trên thị trường trong thời gian tương đối dài. Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm: các vốn tài sản, vốn tài chính; vốn con người, tri thức, thông tin; các tài sản vô hình như danh tiếng của doanh nghiệp và địa vị thị trường; các quá trình ra quyết định… Tuy nhiên không phải mọi nguồn lực đều sẽ tạo ra được các khoản lợi nhuận cao hơn, nhất là các nguồn lực mà các đối thủ cạnh tranh cũng sử dụng rộng rãi. Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh dựa trên nguồn lực riêng biệt được duy trì nhờ bốn đặc trưng:

  • Nguồn lực phải thực giá trị, nghĩa là nó đóng góp tích cực cho việc khai thác vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
  • Nguồn lực phải hiếm hoi, các đối thủ cạnh tranh không thể có được một cách dễ dàng, rộng rãi.
  • Nguồn lực phải có tính khó bắt chước hay mô phỏng.
  • Nguồn lực không dễ bị thay thế bởi nguồn lực khác.

Tóm lại, để có được lợi thế cạnh tranh, các nguồn lực của doanh nghiệp phải khác biệt, rất khó lưu chuyển và bắt chước.

Cũng như cách phân tích ở trên, phân tích theo phương pháp này chỉ dựa vào đặc trưng của nguồn lực nên vẫn chưa toàn diện và vì vậy cần phải có phương pháp phân tích mới tốt hơn.

1.1.2.2. Phương pháp phân tích theo quan điểm tân cổ điển

Quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống xem xét lợi thế cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm qua lợi thế so sánh về chi phí và năng suất. Lợi thế so sánh theo phương pháp này là lợi thế về chi phí thấp.

Đây là phương pháp phân tích định lượng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dựa trên các số liệu điều tra thực tế. Các chỉ số về chi phí sản xuất cho biết doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh và tồn tại hay không trong môi trường giá cả thị trường và trong bối cảnh có sự thay đổi chính sách như chính sách thương mại. Ngoài ra còn có các chỉ số như giá thành sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, năng suất, chi phí nhân công… Hệ thống các chỉ số này thường được đánh giá kết hợp các chỉ số đo mức độ bảo hộ, thuế và trợ cấp, tỷ giá hối đoái… Do đó, khi phân tích định lượng các chỉ số này đòi hỏi phải điều tra mẫu các doanh nghiệp để có thể thu thập được thông tin đáng tin cậy, hơn nữa việc tính toán lại khá phức tạp. Vì vậy, việc đo lường chi phí và nhất là năng suất phải dựa trên những giả thuyết đơn giản hoá so với thực tế nên xem xét theo quan điểm này vẫn có phần phiến diện.

1.1.2.3. Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Quan điểm tổng hợp phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong trạng thái động. Theo quan điểm này, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được phân tích trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động trong đó. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sẽ bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của doanh nghiệp.

Môi trường bên trong doanh nghiệp chính là các yếu tố nội lực của doanh nghiệp như năng lực tổ chức và quản lý, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, sản phẩm hay dịch vụ do doanh nghiệp tạo ra, khả năng liên kết nội bộ hay liên kết bên ngoài, khả năng nghiên cứu và triển khai nội bộ (R&D)… có vai trò quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Môi trường bên ngoài doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh tế vi mô và môi trường kinh tế vĩ mô. Đối với hoạt động kinh tế vi mô, doanh nghiệp có quan hệ tương tác với các lực lượng khác trong môi trường như áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng, vị thế của người bán và người mua thậm chí sản phẩm, dịch vụ có thể thay thế được. Còn đối với hoạt động kinh tế vĩ mô như những thể chế, chính sách của Nhà nước; cơ sở hạ tầng… doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát mà chỉ có thể tìm cách thích nghi.

Các nhân tố ảnh hưởng đó sẽ tác động đến doanh nghiệp và được đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu như thị phần, hiệu quả hoạt động kinh doanh, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, năng suất các yếu tố sản xuất…

Như vậy, có thể nói phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp thể hiện đầy đủ những phân tích định tính, định lượng và trong cả quá trình vận động của doanh nghiệp. Do đó, phương pháp này được coi là phù hợp và được sử dụng khá rộng rãi khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cụ thể là DNNVV Việt Nam. Trong luận văn cũng sử dụng phương pháp theo quan điểm tổng hợp để phân tích. Tuy nhiên trên thực tế để nghiên cứu đầy đủ theo phương pháp này không phải là điều dễ dàng. Phạm luận văn chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu chính đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như các nhân tố chính bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Để đánh giá được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải sử dụng tổng hợp nhiều chỉ tiêu khác nhau. Các chỉ tiêu như thị phần của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất các yếu tố sản xuất, khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp, cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua đó thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Dưới đây là một số chỉ tiêu quan trọng chủ yếu nhằm phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

1.1.3.1. Thị phần của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển. Doanh nghiệp có thị phần lớn và bền vững thì năng lực cạnh tranh càng cao và ngược lại. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tiêu chí này phải được thể hiện cả ở thị trường nội địa và trên thị trường quốc tế.

Thị phần được đo bằng tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định so với tổng số doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường.

Như vậy thị phần thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp hay nói cách khác là thể hiện năng lực cạnh tranh về yếu tố đầu ra.

1.1.3.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả hoạt động cũng như phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm có sức cạnh tranh cao thì doanh nghiệp đó mới có sức cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố cơ bản như chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý, mẫu mã hợp thời đáp ứng nhu cầu khách hàng.

a) Chất lượng và chủng loại sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là mức độ của một tập hợp các đặc tính sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp gồm các chỉ tiêu kỹ thuật và chỉ tiêu kinh tế. Chỉ tiêu kỹ thuật thể hiện qua chỉ tiêu công dụng, thẩm mỹ, an toàn – vệ sinh, tiện dụng. Chỉ tiêu kinh tế thể hiện qua chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi phí sử dụng và chi phí môi trường. Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh theo tiêu chuẩn của ngành, quốc gia hay quốc tế.

Sản xuất sản phẩm có chất lượng cao sẽ đem lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp. Thực tiễn trên thế giới các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ…lấy chất lượng là mục tiêu hàng đầu đã có những bước phát triển thần kỳ. Trước hết, sản phẩm chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều. Chất lượng gắn với tỷ lệ phế phẩm nhỏ do đó sẽ không gây hoặc ít lãng phí nguồn lực, nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm đó. Hơn nữa sản phẩm chất lượng cao, không khuyết tật sẽ giúp doanh nghiệp không phải bỏ chi phí lao động, thời gian, nguyên liệu, hao mòn máy móc để khắc phục những lỗi hư hỏng góp phần làm giảm chi phí sản xuất. Không những vậy, sản phẩm có chất lượng tốt làm cho chi phí sử dụng và chi phí môi trường giảm. Với việc chuyên biệt hoá, khác biệt hoá sản phẩm với chất lượng cũng như tính năng vượt trội, doanh nghiệp vẫn có thể đặt giá sản phẩm cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh nhằm thu được lợi nhuận lớn. Bên cạnh đó, chất lượng là yếu tố quan trọng khiến người tiêu dùng trong và ngoài nước tin tưởng, ấn tượng tốt về sản phẩm, về con người, đất nước, nền văn hoá tạo ra sản phẩm đó, góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp thậm chí quốc gia hay nền văn hoá trên trường quốc tế. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Bên cạnh nâng cao chất lượng sản phẩm, việc đa dạng hoá sản phẩm cũng là công cụ hữu ích nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Để sản phẩm duy trì và chiếm thị phần lớn, việc nghiên cứu sản phẩm mới, đưa ra thị trường các sản phẩm khác nhau sẽ kịp thời đáp ứng nhu cầu phong phú của người tiêu dùng. Như vậy, doanh nghiệp có chất lượng sản phẩm tốt và đa dạng hoá sản phẩm sẽ có vị thế cạnh tranh cao trên thị trường.

b) Giá cả sản phẩm

Giá cả sản phẩm là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu các sản phẩm cùng loại có chất lượng tương tự nhau, dịch vụ khách hàng được cung cấp như nhau thì tiêu chí về giá sẽ là tiêu chí quyết định sự lựa chọn của người tiêu dùng. Giá cả cũng ảnh hưởng lớn đến thị phần của doanh nghiệp. Trung Quốc cũng là một ví dụ điển hình cho sự thành công trong việc cạnh tranh giá thấp. Các mặt hàng của Trung Quốc như dệt may, da giày, điện tử đã có mặt trên hầu khắp các quốc gia trên thế giới và được người tiêu dùng đón nhận. Sức cạnh tranh này chủ yếu do sản phẩm của Trung Quốc có giá thấp hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh.

Ngoài chất lượng và giá cả còn có rất nhiều yếu tố như thời gian cung cấp hàng hoá và dịch vụ đi kèm… tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Khi cung cấp sản phẩm kịp thời sẽ giúp đối tác thực hiện đúng kế hoạch đồng thời nắm bắt được thời cơ. Cung cấp nhanh cũng chính là yếu tố thu hút các đơn hàng. Mặt khác, các dịch vụ đi kèm trong hệ thống phục vụ khách hàng trong và sau khi bán hàng như việc hướng dẫn sử dụng, theo dõi sử dụng, bảo trì, bảo hành…cũng góp phần củng cố niềm tin, mối quan hệ với khách hàng, nhờ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

1.1.3.3. Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện kết quả thu được của doanh nghiệp so với chi phí bỏ ra và được đo bằng rất nhiều tiêu chí như tỷ suất lợi nhuận, chi phí trên đơn vị sản phẩm, chỉ số hiệu quả kỹ thuật… Trong phạm vi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, chỉ tiêu hiệu quả được thể hiện bằng lợi nhuận hay tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện mức độ đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng trị số tuyệt đối (lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn kinh doanh hoặc lợi nhuận thu được trên một đơn vị doanh thu) hoặc số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị trường). Chỉ tiêu này sẽ cho thấy rõ hơn mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.4. Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố. Trong bối cảnh môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc xây dựng, đầu tư và phát triển các nhân tố để có thể trở thành lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Theo quan điểm tổng hợp khi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các nhân tố bên trong doanh nghiệp và các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

1.1.4.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm các yếu tố doanh nghiệp có khả năng kiểm soát và khống chế được. Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

a) Năng lực tổ chức, quản lý và trình độ của đội ngũ lao động

Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động được đều phải có đội ngũ lãnh đạo. Người lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc vạch ra phương hướng, đường lối; quản lý và điều hành; thực hiện các công việc đối nội, đối ngoại của doanh nghiệp. Do đó, năng lực tổ chức, quản lý là yếu tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung. Năng lực tổ chức, quản lý của đội ngũ lãnh đạo thể hiện ở văn hoá, trình độ học vấn, có khả năng quan sát, phân tích nắm bắt cơ hội kinh doanh, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, am hiểu kiến thức về pháp luật trong hoạt động kinh doanh…

Bên cạnh đó, trình độ lực lượng lao động cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trình độ lực lượng lao động có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp. Do đó, một doanh nghiệp có đội ngũ lao động lành nghề, trình độ học vấn cao sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

b) Năng lực tài chính

Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có năng lực về tài chính. Năng lực tài chính bao gồm nguồn vốn kinh doanh, khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn…

Trước hết, vốn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất. Doanh nghiệp huy động vốn kịp thời thì quá trình kinh doanh mới diễn ra liên tục và thuận lợi. Hơn nữa, việc sử dụng vốn hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm. Do đó, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là điều kiện bắt buộc phải có để doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh.

c) Trình độ công nghệ

Công nghệ phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Năng lực công nghệ trước hết thể hiện trình độ công nghệ của máy móc, thiết bị và kỹ thuật sản xuất mà doanh nghiệp đang sử dụng. Việc áp dụng công nghệ hiện đại có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng ít nhân lực, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và không gây ô nhiễm môi trường.

Trong thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá, năng lực công nghệ còn được thể hiện qua việc ứng dụng CNTT vào doanh nghiệp. Năng lực CNTT cao sẽ giúp doanh nghiệp cập nhật kịp thời thông tin thị trường trong và ngoài nước về nguồn nguyên liệu, đối thủ cạnh tranh để đưa ra phương án sản xuất tối ưu và phản ứng nhanh nhạy trước những biến đổi của thị trường. Hơn nữa, với sự bùng nổ CNTT như hiện nay thì đây chính là công cụ hữu hiệu để quản lý, thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, tiện lợi đồng thời tăng cường khả năng kết nối doanh nghiệp với thị trường tiêu thụ sản phẩm.

1.1.4.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp bao gồm các nhân tố vi mô và vĩ mô doanh nghiệp không có khả năng kiểm soát nhưng có ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong phạm vi phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, khoá luận chỉ đề cập đến các nhân tố vĩ mô mà không đề cập đến các nhân tố vi mô như đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh tốt sẽ là chỗ dựa cho các doanh nghiệp tạo lập được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường trong và ngoài nước. Do đó có thể đánh giá các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp đánh giá, tuy nhiên có hai phương pháp được sử dụng phổ biến, đó là:

Đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB)1

WB đánh giá môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu xếp hạng về mức độ dễ dàng trong kinh doanh. Chỉ tiêu này được tính dựa trên bình quân các mức xếp hạng của 10 lĩnh vực và mỗi lĩnh vực đều có vai trò quan trọng như nhau. Các lĩnh vực đó là:

Đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)2

WEF xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp, bao gồm chỉ số của 3 nhóm trụ cột và các trụ cột thành phần. Chỉ số này được xác định và công bố hàng năm trên cơ sở lấy kiến bình chọn từ hàng nghìn nhà lãnh đạo doanh nghiệp trên toàn cầu cho các nền kinh tế. 3 nhóm trụ cột và các trụ cột thành phần bao gồm:

Nhóm trụ cột nhu cầu cơ bản

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp phản ánh một cách khá tổng hợp về hiện trạng của các nền kinh tế và được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều tài liệu, nhiều nghiên cứu hàn lâm cũng như nhiều bài báo trên các tạp chí uy tín.

1.2. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thực chất DNNVV đã nhận được sự quan tâm của các quốc gia từ những năm đầu của thế kỉ XX và thực sự nở rộ vào những năm 1970 trong lòng châu Âu cũng như các nước Đông Á. Tuy nhiên cho đến nay thế nào là DNVVV vẫn còn là vấn đề đang tranh luận và có nhiều quan điểm khác nhau. Nguyên nhân là có nhiều yếu tố tác động đến việc phân loại DNNVV. Trước hết phải kể đến trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước. Thông thường trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng thêm. Ngoài ra, việc phân loại còn chịu ảnh hưởng bởi tính chất ngành nghề, vùng lãnh thổ hay tính chất lịch sử nên các quốc gia đưa ra các tiêu chí khác nhau khi xác định DNNVV. Mặc dù không có sự thống nhất về tiêu thức phân loại nhưng có thể đưa ra khái niệm chung nhất về DNNVV như sau: “DNNVV là những cơ sở sản xuất, kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có qui mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định trong từng thời kỳ theo qui định của từng quốc gia”1. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Có hai nhóm tiêu thức phổ biến dùng để phân loại DNNVV: Tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng2.

Tiêu chí định tính: Dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như khả năng chuyên môn hoá, số đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, đây chỉ là cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được làm cơ sở để phân loại.

Tiêu chí định lượng: Có thể sử dụng các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó:

Số lao động được tính có thể là lao động trung bình trong danh sách lao động thường xuyên, lao động thực tế.

  • Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (hay vốn) cố định.
  • Doanh thu có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm.

Việc áp dụng một hay nhiều tiêu chí cùng một lúc được thể hiện ở từng quốc gia, từng khu vực.

Theo tiêu chuẩn chung của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổng công ty Tài chính Quốc tế (IFC), DNNVV được giới hạn bởi số lao động dưới 300 người, tổng giá trị tài sản dưới 15 triệu USD hoặc doanh thu dưới 15 triệu USD.

Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ của WB/IFC

Theo EU, DNNVV được xác định theo ba tiêu chí: số lao động thường xuyên, giá trị bảng tổng kết tài sản và doanh thu hàng năm. Những doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ là những doanh nghiệp có số lao động thường xuyên không quá 250 người, doanh thu dưới 50 triệu Euro hoặc giá trị bảng tổng kết tài sản dưới 43 triệu Euro.

Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ của EU

Một số nước như Nhật Bản, Thái Lan căn cứ vào tính chất ngành nghề để phân loại DNNVV. Đây là cách phân loại khoa học vì mỗi ngành có mức độ sử dụng vốn và lao động khác nhau. Theo Cục phát triển DNNVV, Bộ Công thương Nhật Bản và Thái Lan, việc phân loại DNNVV dựa trên các ngành nghề bao gồm ngành sản xuất; thương mại bán buôn; thương mại bán lẻ và ngành dịch vụ. Tuy nhiên, có rất nhiều nước trên thế giới phân loại qui mô doanh nghiệp mà không sử dụng căn cứ này. Dưới đây là tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia trên thế giới.

Bảng 1.3: Tiêu chí xác định DNNVV của một số quốc gia

Việt Nam, tiêu chí vốn và lao động được sử dụng để phân loại DNNVV. Cụ thể sẽ được đề cập ở chương 2 luận văn.

1.2.2. Ưu, nhược điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Các DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển. Một số đặc điểm cơ bản của DNNVV được thể hiện qua những ưu điểm và nhược điểm sau:

1.2.2.1. Ưu điểm

Dễ dàng khởi sự với vốn đầu tư ban đầu thấp: Hầu hết vốn đầu tư ban đầu cho việc xây dựng nhà xưởng, chi phí quản lý, đào tạo… của DNNVV không lớn, thậm chí doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn sẵn có để tham gia hoạt động kinh doanh. Đây chính là lợi thế để các doanh nghiệp dễ dàng thực hiện ý tưởng kinh doanh của mình hơn doanh nghiệp lớn.

Linh hoạt trong xử lý tình huống: DNNVV có qui mô gọn nhẹ nên rất nhạy cảm khi có những biến động đột ngột trong thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội hoặc những biến đổi của thị trường. Trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, doanh nghiệp có thể nhanh chóng thay đổi quyết định, kế hoạch đầu tư thậm chí chuyển đổi mặt hàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Doanh nghiệp cũng có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị mà không tốn nhiều chi phí so với các doanh nghiệp lớn; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao. Hơn nữa, nhờ tính năng động vốn có, DNNVV dễ dàng tìm kiếm, len lỏi, xâm nhập vào thị trường ngách tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng miền trong lãnh thổ quốc gia. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn thường chỉ chú trọng đến những cơ hội lớn mà đôi khi bỏ qua những cơ hội nhỏ, vốn được các DNNVV quan tâm và tận dụng.

Dễ dàng quản lý, điều hành: DNNVV có số lượng lao động không lớn nên việc quản lý, điều hành lao động dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp có điều kiện để quan tâm, gần gũi, động viên khuyến khích người lao động hơn so với các doanh nghiệp lớn.

1.2.2.2. Nhược điểm

Khó khăn về năng lực tài chính: DNNVV có qui mô nhỏ, vốn ít nên hay lâm vào tình trạng thiếu vốn khi muốn mở rộng thị trường hoặc nâng cấp trang thiết bị, công nghệ. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các thủ tục của ngân hàng cũng như gặp khó khăn khi huy động vốn trên thị trường hay các tổ chức tín dụng khác. Do đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.

Thiếu thông tin tư vấn: Các thông tin tư vấn từ các trung tâm thông tin tư vấn, hiệp hội, ngành nghề, dịch vụ hỗ trợ thương mại dành cho DNNVV thường ít cập nhật và chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Do đó khả năng tiếp cận thông tin, tiến bộ khoa học công nghệ, tìm kiếm đối tác… của các DNNVV hạn chế hơn so với các doanh nghiệp lớn. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến DNNVV bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh và dễ bị phá sản vì nắm bắt thiếu hoặc sai thông tin.

Hạn chế về qui mô có thể tạo nên chi phí lớn: DNNVV hạn chế về qui mô kinh tế nên có thể tốn nhiều chi phí khi tạo ra sản phẩm dẫn đến thu được lợi nhuận ít hơn so với các doanh nghiệp lớn khác. Doanh nghiệp có qui mô lớn thường cần đến lợi thế của các loại máy móc mới, hiện đại, với các mức sản lượng cao thì chi phí khấu hao máy móc có thể rải đều cho một số lượng lớn sản phẩm và với kỹ thuật sản xuất đó có thể tạo ra nhiều sản phẩm đến mức làm cho chi phí bình quân giảm. Hơn nữa, với qui mô lớn doanh nghiệp lớn có thể thực hiện chuyên môn hoá góp phần giải quyết công việc hiệu quả hơn, giảm chi phí bình quân hơn so với các DNNVV.

Hạn chế trong công tác quản lý: Phần lớn các DNNVV hoạt động dựa trên mối quan hệ bạn bè, gia đình nên không qui định rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa vụ dẫn đến chuyên môn hoá không cao. Hơn nữa, các DNNVV thường thiếu kinh nghiệm về quản lý, yếu kém trong phân tích và xử lý thông tin nên ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, DNNVV có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Với những ưu điểm như trên, DNNVV chiếm tỷ trọng lớn về việc làm và tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế các nước. DNNVV cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hoá và dịch vụ làm tăng GDP góp phần tăng trưởng kinh tế; tạo ra nhiều việc làm cho người lao động làm giảm tỷ lệ thất nghiệp; nâng cao thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo và đặc biệt làm giảm bớt sự chênh lệch thu nhập trong xã hội… Ý nghĩa kinh tế to lớn này không chỉ các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng thừa nhận. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, DNNVV đã có những vai trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của cuộc khủng hoảng, đóng góp đáng kể vào sự ổn định kinh tế – xã hội và từng bước khôi phục nền kinh tế.

Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế được thể hiện ở sức thu hút lao động, vốn đầu tư và tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Theo thống kê của các nước, tỷ trọng này của các DNNVV rất đáng kể. Riêng tại khu vực châu Thái Bình Dương, khối này chiếm 30-60% GDP, đóng góp 35% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho 40-80% lao động1. Ở quốc gia phát triển như Nhật Bản, trong năm 2008, các DNNVV phát triển nở rộ với khoảng 3.720.000 đơn vị, chiếm 96% tổng số doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực chế tạo, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ. Các doanh nghiệp này đóng góp vào 30% tổng GDP của nền kinh tế2. Còn đối với nước đang phát triển như Thái Lan,

DNNVV đóng góp 38% vào GDP (khoảng hơn 100 tỷ USD) năm 2009 trong tổng GDP của nước này khoảng 275 tỷ USD. Trung bình hàng năm ở Thái

Lan có thêm từ 30 đến 40 nghìn DNNVV đăng ký hoạt động. Hiện tại, Thái Lan có gần 3 triệu DNNVV đã đăng ký và đang hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, thu hút số lao động khoảng 9 triệu người trên tổng số 38 triệu người trong lực lượng lao động của Thái Lan1. DNNVV cũng chiếm tỷ trọng rất lớn và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nước có nền kinh tế sản xuất nhỏ lẻ như Việt Nam. Điều đó được thể hiện2:

a) Đóng góp vào việc tăng trưởng, ổn định nền kinh tế

DNNVV Việt Nam chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc (theo tiêu chí lao động), trong đó phần lớn là doanh nghiệp tư nhân đã cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá, dịch vụ rất phong phú, đa dạng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Theo số liệu thống kê trong những năm vừa qua DNNVV đã đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, 78% mức bán lẻ, 33% giá trị sản lượng công nghiệp. Ngoài ra, DNNVV còn cung cấp hầu hết các sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp truyền thống như gỗ xẻ, chiếu cói, giày dép … góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế.

Mặt khác, cũng như phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVVN có thể hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trong việc cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường để phân phối sản phẩm cho doanh nghiệp lớn. Vì thế, DNNVV được ví như thanh giảm sốc cho nền kinh tế.

b) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

DNNVV có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước hết đối với cơ cấu vùng kinh tế, các doanh nghiệp do có qui mô nhỏ nên dễ dàng thâm nhập vào thị trường ngách và phân bổ đều hơn về lãnh thổ: cả nông thôn, thành thị; miền núi và đồng bằng. Điều này có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn, xoá dần tình trạng thuần nông và độc canh góp phần xoá đói giảm nghèo. Sự phát triển của DNNVV cũng kéo theo cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi do có sự tăng lên nhanh chóng của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh, các DNNN được sắp xếp và củng cố lại. Hơn nữa. DNNVV cũng làm chuyển dịch cơ cấu ngành thông qua phát triển nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

c) Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, vấn đề việc làm là vấn đề vô cùng cấp bách. Do đặc điểm qui mô nhỏ nên DNNVV phân bố rải rác khắp các vùng miền nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động, nhiều vùng miền khác nhau đặc biệt là những lao động có trình độ thấp hay lao động ở những vùng sâu vùng xa. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư năm 2006, nước ta hàng năm có thêm khoảng 1,4-1,5 triệu người đến tuổi tham gia thị trường lao động đã gây ra áp lực xã hội đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương. Theo ước tính, DNNVV Việt Nam tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, chiếm khoảng 25- 26% lực lượng lao động cả nước. Chỉ riêng khu vực doanh nghiệp, không kể các hộ kinh doanh cá thể, mỗi năm thu hút trên dưới 45 vạn lao động với mức thu nhập bình quân gần 1,05 triệu đồng/tháng. Như vậy có thể thấy tiềm năng to lớn này đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho nền kinh tế và ổn định xã hội.

d) Thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế

Vốn là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò quan trọng trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ quản lý cho chủ doanh nghiệp và trình độ tay nghề cho người lao động, mở rộng qui mô sản xuất. Tuy nhiên, mặc dù có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng nhưng nguồn vốn nhàn rỗi tiềm ẩn trong dân vẫn chưa được khai thác có hiệu quả. DNNVV với những ưu điểm của nó như dễ dàng khởi sự với nguồn vốn thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh, dễ dàng len lỏi vào thị trường ngách chính là cơ hội để huy động các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong tầng lớp dân cư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

e) Tạo cơ sở để hình thành các doanh nghiệp lớn

DNNVV chính là khởi nguồn cho các doanh nghiệp lớn. Hầu hết các doanh nghiệp khi mới hình thành đều rất non trẻ về kinh nghiệm và chưa hiểu rõ về thị trường do đó phải đi từ qui mô vừa và nhỏ để tích luỹ dần kinh nghiệm, vốn, nắm bắt thị trường để từ đó mở rộng và phát triển với qui mô lớn hơn.

Mặt khác kinh doanh với qui mô vừa và nhỏ cũng chính là nơi gieo mầm cho các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo và rèn luyện năng lực quản trị. Nhờ vậy, nhiều nhà doanh nghiệp sẽ trở thành những nhà doanh nghiệp lớn tài ba đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển.

Góp phần khôi phục, giữ gìn và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống

Hiện nay còn rất nhiều tiềm năng phong phú trong dân chưa được khai thác, đó là những tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề, kinh nghiệm dân gian, làng nghề truyền thống… Đặc biệt những ngành nghề truyền thống thường không tập trung ở vùng nào mà hình thành và phát triển ở nhiều địa phương khác nhau. Sản phẩm truyền thống thường lại không được sản xuất hàng loạt mà chủ yếu là qui mô nhỏ, thậm chí có những sản phẩm chỉ có thể được tạo ra từ các nghệ nhân bàn tay vàng mang tính “cha truyền con nối” nên DNNVV không những thích hợp trong việc giữ gìn và phát huy làng nghề truyền thống mà còn phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế.

Như vậy, cũng như các nước trên thế giới, DNNVV Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nắm bắt được tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này sẽ có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao nhận thức phát huy tốt những tiềm năng của DNNVV.

1.3. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước điển hình thành công trong kinh nghiệm phát triển DNNVV. Một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh đã tìm ra được giải pháp hữu hiệu nhanh chóng phục hồi nền kinh tế dựa trên các DNNVV. Hình thức tổ chức doanh nghiệp của Nhật Bản ra đời cách đây hơn 100 năm với hai loại hình chủ yếu: (i) Hình thức tổ chức kiểu “cái ô” trong đó công ty mẹ có một hệ thống các công ty con có mối quan hệ với nhau theo hình cái ô, mỗi công ty con chịu trách nhiệm sản xuất một số bộ phận phụ tùng rồi chuyển về cho công ty mẹ lắp ráp hoàn chỉnh. (ii) Hình thức tổ chức kiểu “mắt xích” theo đó tập đoàn sản xuất bao gồm nhiều công ty liên kết với nhau theo mắt xích. Hai hình thức tổ chức này phù hợp với loại hình DNNVV nên DNNVV đã xuất hiện, phát triển từ rất sớm và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đóng góp vào thành công này không chỉ các doanh nghiệp mà phải kể đến những chính sách phát triển DNNVV của Nhật Bản. Sau đây là một số chính sách chủ yếu:

Tạo môi trường pháp lý thuận lợi

Trong những năm qua, hàng loạt các luật về DNNVV được ban hành nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này. Đặc biệt, trong những năm gần đây, môi trường pháp lý là một trong những ưu tiên hàng đầu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Luật Cơ bản về DNNVV mới được ban hành năm 1999 trên cơ sở sửa đổi và bổ sung Luật năm 1963 nhằm phù hợp với sự phát triển của đất nước. Mục tiêu chính của Luật là thúc đẩy cải tiến doanh nghiệp và khuyến khích thành lập các doanh nghiệp mới (hoặc đẩy mạnh các doanh nghiệp tự lực); tăng cường cơ sở quản lý các DNNVV (hoặc nâng cao chất lượng các nguồn lực kinh doanh); và tạo điều kiện thuận lợi cho sự thích nghi với những thay đổi môi trường kinh tế xã hội (hoặc lập ra mạng lưới an toàn). Luật Hỗ trợ DNNVV giúp khuyến khích việc thành lập, sáng tạo, đổi mới kinh doanh doanh nghiệp. Luật thúc đẩy cải tiến công nghệ sản xuất cho DNNVV năm 2006 nhằm hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp để đạt được tiến bộ trong công nghệ sản xuất “monodzukuri”… Ngoài ra còn rất  nhiều đạo luật khác đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh khuyến khích các DNNVV phát triển.

Hỗ trợ về vốn

Để tạo điều kiện về nguồn vốn cho các DNNVV, Nhà nước củng cố các chức năng của các tổ chức tài chính thuộc Chính phủ, phát triển các dự án tăng cường tín dụng, chỉ đạo các tổ chức tài chính tư nhân tiến hành các phương thức cho vay phù hợp đối với các DNNVV, và áp dụng các biện pháp cần thiết khác.

  • Ba tổ chức tài chính thuộc chính phủ: Tập đoàn tài chính Nhật bản đối với các DNNVV, Tập đoàn tài chính đời sống quốc gia và Ngân hàng Shoko Chukin vì thế đã ra đời và đưa ra các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp cho các DNNVV theo mục đích sử dụng vốn của họ.
  • Chính phủ bổ sung năng lực tín dụng của các DNNVV với hệ thống bảo hiểm tín dụng và hệ thống bảo lãnh tín dụng. Cả hai hệ thống đều nhằm góp phần tạo vốn cho các DNNVV thông qua bảo lãnh và bảo hiểm đối với các khoản vay vốn kinh doanh của mình từ các tổ chức tài chính. Hơn nữa

Tập đoàn tài chính Nhật Bản còn giúp hỗ trợ rủi ro cho Tập đoàn bảo hiểm tín dụng trên toàn quốc thông qua hình thức tái bảo hiểm.

  • Hệ thống cho vay “Marukei” của các quỹ nâng cấp quản lý doanh nghiệp nhỏ còn cung cấp các khoản vay không cần thế chấp hoặc bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ trong ít nhất 6 tháng theo nguyên tắc.
  • Mặt khác, sự ra đời của thị trường vốn trên thị trường tài chính Nhật Bản có tên gọi là “Mothers” từ tháng 11/1999 và thị trường “Nasdaq Japan” từ tháng 6/2000 cũng đã góp phần mở rộng việc huy động vốn cho các DNNVV.

Tăng cường cơ sở quản lý của DNNVV

Chính phủ thành lập ba loại hình trung tâm hỗ trợ DNNVV: Trung tâm hỗ trợ DNNVV trong khu vực, các trung tâm hỗ trợ DNNVV địa phương và các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh/DNNVV. Các trung tâm này hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật và các dịch vụ tư vấn cao cấp của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, tài chính và các vấn đề pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của những người dự định và đã thành lập doanh nghiệp. Ngoài ra, Nhật Bản còn có nhiều hệ thống tư vấn DNNVV có đăng ký hành nghề theo Luật Hỗ trợ DNNVV. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Tổ chức đổi mới khu vực và DNNVV Nhật Bản, các cơ quan chính quyền địa phương, các Hiệp hội Công nghiệp và Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp còn tổ chức nhiều hội thảo để củng cố nhân sự hỗ trợ các DNNVV, nâng cao năng lực của các DNNVV và nhân viên về quản lý và công nghệ, và tăng cường năng lực quản lý chung của họ để đáp ứng với các thay đổi của môi trường xã hội.

Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật bản còn tận dụng những người đã về hưu để tư vấn cho các công ty kinh doanh/DNNVV về chiến lược kinh doanh dựa trên kiến thức, kinh nghiệm và bí quyết của họ.

Hỗ trợ về công nghệ

Nhật Bản đã nhận thức rõ rằng để xúc tiến việc tạo ra doanh nghiệp mới và việc làm và để tiếp nhựa sống cho nền kinh tế thì các công nghệ mới phục vụ cho ngành công nghiệp cốt lõi phải được tạo ra và phải thúc đẩy các sáng kiến kỹ thuật. Do đó, ngoài các dịch vụ tư vấn về áp dụng công nghệ, Nhật Bản còn có nhiều chương trình hỗ trợ các sáng kiến kỹ thuật.

Hệ thống Nghiên cứu sáng kiến cho các doanh nghiệp nhỏ (SBIR) được thành lập để các DNNVV hoạt động với khả năng phát triển công nghệ và hỗ trợ các hoạt động kinh doanh sáng tạo.

Chương trình xúc tiến bắt đầu việc kinh doanh có tác động lớn nhất đến các sáng kiến kỹ thuật. Chương trình này trợ cấp các DNNVV trả các chi phí cho việc giới thiệu công nghệ mới, chi phí cho việc cung cấp nguồn tài chính cho nghiên cứu và triển khai, chi phí đánh giá và công nhận tại trung tâm thẩm tra công khi họ thử bắt đầu một công việc kinh doanh mới với các công nghệ nổi bật của mình.

Tổ chức các hội thảo và hội nghị chuyên đề về đào tạo và sự cải tiến hạ tầng chung của các DNNVV để có thể chủ động sử dụng CNTT và tăng cường việc đổi mới kinh doanh để đối phó với cách mạng CNTT đã và đang phát triển nhanh chóng.

Xúc tiến xuất khẩu

Chính phủ Nhật Bản cung cấp hướng dẫn và thông tin thị trường nước ngoài cho DNNVV nhằm tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Chương trình môi giới và tư vấn kinh doanh cũng hỗ trợ DNNVV Nhật Bản và nước ngoài đăng ký thông tin và cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng.

Như vậy, có thể nói tỷ trọng của khu vực DNNVV ở Nhật Bản tương đối cao và đóng góp lớn vào nền kinh tế. Nhận thức rõ vai trò của loại hình doanh nghiệp này, Nhật Bản đã đưa ra những chính sách nhằm khuyến khích sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV. Một siêu cường kinh tế xây dựng từ những tế bào sống nhỏ bé là một hình mẫu lý tưởng mà các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cần tham khảo học hỏi.

1.3.2. Kinh nghiệm của Thái Lan Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997-1998 đã khiến nền kinh tế Thái Lan rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng. Để đương đầu với những khó khăn đó, khu vực DNNVV đương nhiên trở thành hạt nhân của quá trình phục hồi nền kinh tế. Thái Lan đã đưa ra những biện pháp áp dụng và thu được hiệu quả cao như:

Tạo môi trường pháp lý thuận lợi

Thái Lan thành lập Uỷ ban Khuyến khích DNNVV, là cơ quan độc lập trực thuộc Thủ tướng chính phủ với nhiệm vụ đề xuất các chính sách và biện pháp khuyến khích DNNVV và quản lý Quỹ Phát triển DNNVV. Quỹ Phát triển DNNVV được Chính phủ cấp vốn hàng năm nhằm mục đích phát triển các DNNVV. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng thành lập Viện Nghiên cứu phát triển DNNVV, Tập đoàn bảo lãnh tín dụng kinh doanh nhỏ, Tập đoàn tài chính kinh doanh nhỏ… với những chính sách tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho doanh nghiệp.

Các luật hỗ trợ DNNVV như Đạo luật Ngân hàng phát triển DNNVV Thái Lan năm 2002, Đạo luật xúc tiến DNNVV năm 2000… được thành lập nhằm củng cố thêm khung pháp lý cho các DNNVV.

Hỗ trợ về vốn

Năm 1999, chính phủ Thái Lan đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn cho các DNNVV. Trước hết là việc cải thiện hoạt động của Tổng công ty tài chính dành cho DNNVV (nay là Ngân hàng phát triển DNNVV Thái Lan) và Công ty bảo lãnh tín dụng dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời, Quỹ DNNVV cũng được thành lập và sự ra đời của Cơ quan Tư vấn quản lý DNNVV đã hỗ trợ nguồn vốn đáng kể cho các DNNVV. Ngân hàng phát triển DNNVV cũng đóng góp lớn vào sự thành công của loại hình doanh nghiệp này ở Thái Lan. Các tổ chức này hoạt động với mục tiêu phát triển, xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thành lập, vận hành, mở rộng và nâng cấp hoạt động kinh doanh thông qua việc cung cấp các khoản vay lãi suất thấp, bảo lãnh tín dụng, tư vấn và nhiều dịch vụ khác theo qui định trong Đạo luật Ngân hàng phát triển DNNVV Thái Lan năm 2002, Đạo luật xúc tiến DNNVV năm 2000.

Hỗ trợ về công nghệ

Một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 ở Thái Lan là việc phụ thuộc quá nhiều vào vốn của nước ngoài mà không tham gia vào phát triển công nghệ cơ bản trong suốt 3 thập kỷ. Thêm vào đó, khoản tiền nợ nước ngoài khổng lồ và mức nợ xấu cao của các doanh nghiệp lớn. Do đó, Chính phủ đã nhấn mạnh việc đổi mới các DNNVV là một động lực cho việc phục hồi và phát triển kinh tế bền vững. Như một cách để đổi mới các doanh nghiệp, Chính phủ đã và đang tập trung vào việc phát triển năng lực công nghệ cơ bản trong những lĩnh vực cụ thể như tự động hóa, thực phẩm, du lịch và phần mềm. Về việc xây dựng năng lực công nghệ cơ bản, một trong những chính sách chính là chương trình hỗ trợ công nghệ công nghiệp. Những nội dung chính của chương trình bao gồm tư vấn công nghệ công nghiệp và dịch vụ sáp nhập công nghệ qua đó gắn kết chuyên gia công nghệ với các DNNVV; mang lại cho các DNNVV cơ hội có được thông tin thực tế về những tiến bộ công nghệ thông qua việc tổ chức những chuyến đi học tập công nghệ ở nước ngoài. Chính sách đổi mới về DNNVV ở Thái Lan chỉ ra rằng việc phát triển công nghệ cơ bản chủ yếu dựa trên việc chuyển đổi mô hình vai trò của các Viện nghiên cứu Nhà nước từ nơi cung cấp nguồn tri thức thành nơi trung gian tri thức, mang lại cho DNNVV các dịch vụ trực tiếp giúp tăng cường năng lực công nghệ. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp ở Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp nâng cao cạng tranh doanh nghiệp ở VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464