Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

II. Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Như đã trình bày ở chương I, hệ thống NHTM Việt Nam xét về hình thức sở hữu gồm 5 nhóm: NHTM nhà nước, NHTMCP, NHTM liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Các văn phòng đại diện của các NHTM nước ngoài. Do các văn phòng đại diện của các NHTM nước ngoài không thực hiện hoạt động kinh doanh nên trong phạm vi nội dung nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp, thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam được xem xét giới hạn ở 4 nhóm ngân hàng đầu tiên, trong đó tập trung sâu vào các NHTM nhà nước và các NHTMCP. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Các NHTM nhà nước trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp bao gồm 5 ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank); Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV); Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB).

Các NHTMCP trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp gồm 15 NHTMCP đô thị lớn nhất (chiếm trên 86% tổng số vốn điều lệ và trên 85% thị phần hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống NHTMCP), đó là: NHTMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank); NHTMCP á Châu (ACB); NHTMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (VPbank); NHTMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank); NHTMCP nhà Hà Nội (Habubank); NHTMCP Đông á (EAB); NHTMCP Kỹ thương (Techcombank); NHTMCP Quốc tế (VIB); NHTMCP Quân đội (Militarybank); NHTMCP Đông Nam á (Seabank); NHTMCP Sài Gòn công thương (Saigonbank); NHTMCP Phương Nam (Phuongnambank); NHTMCP Phương Đông (Oricombank); NHTMCP Hàng hải (MSB); NHTMCP An Bình (ABbank).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

1. Thực trạng về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

1.1. Quy mô vốn tự có và mức độ an toàn vốn

Thực trạng về năng lực tài chính của các NHTM thể hiện trước hết ở quy mô vốn tự có của mỗi ngân hàng. Hiện nay quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam, từ các NHTM nhà nước đến các NHTMCP, đều hết sức nhỏ bé. Quy mô vốn tự có nhỏ bé này thể hiện thông qua chỉ tiêu vốn điều lệ – thành phần chính của vốn chủ sở hữu (thông thường chiếm trên dưới 90% tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các NHTM).

Mức vốn điều lệ của các NHTM nhà nước hiện nay được thể hiện ở bảng II.1. Sau nhiều đợt tăng vốn điều lệ theo đề án tái cơ cấu lại NHTM nhà nước được Chính phủ phê duyệt vào năm 2001, các NHTM nhà nước ở Việt Nam (trừ MHB) đều có số vốn điều lệ nhiều nhất trong hệ thống NHTM và nhiều hơn đáng kể so với các NHTMCP, tuy nhiên nếu so sánh với quy mô vốn điều lệ của các NHTM lớn của các nước trong khu vực ASEAN, và nhất là trong khu vực Châu Á thì chỉ tiêu này của các NHTM quốc doanh của Việt Nam thua kém rất xa: vào thời điểm cuối năm 2005, số vốn điều lệ của NHTM lớn nhất Việt Nam là Agribank quy đổi ra USD là 453 triệu USD, chỉ tương đương với số vốn điều lệ của một NHTM cỡ trung bình ở một số nước trong khu vực ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan; bằng 2,67% số vốn điều lệ của ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á là DBS Group Holdings của Singapore (16.943 triệu USD) và chỉ bằng 0,32% số vốn điều lệ của ngân hàng lớn nhất Châu Á là Mizuho Financial Group của Nhật Bản (144.322 triệu USD).

Bảng II.1: Tình hình vốn điều lệ của 5 NHTM nhà nước tính đến hết năm 2005

Ta có thể so sánh rõ hơn quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam với các NHTM trong khu vực thông qua việc tham khảo chỉ tiêu này ở bảng II.2 và bảng II.3 trên đây.

Quy mô vốn điều lệ của các NHTMCP Việt Nam (thể hiện qua các số liệu ở bảng II.4) còn nhỏ bé hơn rất nhiều so với các NHTM nhà nước mặc dù trong vòng khoảng hơn 2 năm vừa qua các NHTMCP liên tục công bố tăng vốn điều lệ. Tính đến cuối năm 2005 quy mô vốn điều lệ bình quân của một NHTMCP chưa bằng 1/10 mức bình quân của một NHTM nhà nước (361,4 tỷ VND so với 4.285,2 tỷ VND). Tính đến hết tháng 9/2006, chỉ mới có 2 ngân hàng có số vốn điều lệ trên 1.000 tỷ VND là Sacombank và ACB, tuy nhiên vốn điều lệ của Sacombank – NHTMCP lớn nhất – cũng chỉ tương đương với 1/3 số vốn điều lệ của các NHTM nhà nước lớn nhất. Trong khi nếu so sánh với số vốn điều lệ của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thì vốn điều lệ của một số NHTMCP chỉ ngang bằng với vốn điều lệ của một số chi nhánh của HSBC, Bank of Tokyo Mitsubishi, Chinfon Commercial Bank, ANZ. Điều đó có nghĩa các NHTMCP này đang phải đối phó với nguy cơ tụt hậu rất xa về quy mô vốn tự có trong hệ thống NHTM khi mà Việt Nam chính thức mở cửa thị trường tài chính ngân hàng trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Bảng II.4: Tình hình vốn điều lệ của 15 NHTMCP tính đến hết tháng 9/2006

Quy mô vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của một NHTM là thước đo sức mạnh tài chính nội tại của ngân hàng đó, là “tấm đệm” để đảm bảo cho ngân hàng đó có khả năng hoạt động kinh doanh ổn định, tăng trưởng bền vững. Vốn chủ sở hữu của một NHTM càng lớn thì khả năng chống đỡ các cú sốc trong môi trường kinh doanh càng cao. Với quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ bé như hiện nay, các NHTM Việt Nam không chỉ phải đối mặt với sự gia tăng rủi ro trong hoạt động ngân hàng trong tiến trình hội nhập quốc tế, mà còn gặp cản trở rất lớn trong quá trình mở rộng quy mô kinh doanh cũng như đầu tư phát triển công nghệ ngân hàng, bởi vì các ngân hàng chỉ có thể sử dụng vốn tự có để mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển công nghệ.

Với mức vốn tự có nhỏ bé, vấn đề tiên quyết đối với các NHTM Việt Nam trong gian đoạn hiện nay là không ngừng tăng vốn điều lệ cũng như vốn chủ sở hữu của mình. Xét một cách tổng thể, trong khoảng 5 năm gần đây các NHTM Việt Nam đều liên tục tăng vốn điều lệ với nhịp độ khá cao, nhất là các NHTMCP. Vào năm 2000, tổng số vốn tự có của các NHTM nhà nước mới chỉ đạt khoảng 5.600 tỷ và bên cạnh đó tỷ lệ an toàn vốn thấp đến mức nguy hiểm so với tiêu chuẩn quốc tế (khoảng 3%) (Nguồn: [2], [20]). Chính vì thế, vào năm 2000 ngân hàng Nhà nước đã phải trình lên Chính phủ Đề án tái cơ cấu các NHTM nhà nước, trong đó có vấn đề tăng vốn tự có của các NHTM nhà nước để tăng cường sức mạnh cho các ngân hàng này phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Theo đề án này, trong vòng 3 năm (tính đến năm 2003) các NHTM nhà nước phải đạt tổng số vốn tự có tối thiểu là 23.000 tỷ VND. Thực hiện đề án này, qua 3 đợt cấp vốn bổ sung vốn điều lệ cho các NHTM nhà nước bằng trái phiếu đặc biệt của Chính phủ, tính đến cuối năm 2003, các NHTM nhà nước đã được Chính phủ cấp bổ sung tới trên 10.000 tỷ đồng (Nguồn: [2], [20]). Tuy nhiên tính cả các nguồn vốn bổ sung khác thì cuối năm 2003 tổng số vốn tự có của các NHTM nhà nước vẫn chưa đạt 23.000 tỷ VND theo kế hoạch đề ra. Phải mãi đến cuối năm 2004, tổng số vốn tự có của 5 NHTM nhà nước mới đạt và vượt được con số này. Mặt khác, trái phiếu đặc biệt của Chính phủ chưa thể coi là nguồn vốn thực mà chỉ là nguồn vốn bổ sung mang tính hình thức trong thời gian trước mắt (hàng năm loại trái phiếu này chỉ biến dần thành vốn thực khoảng trên 3% theo cách trả lãi trái phiếu đặc biệt của Bộ tài chính). Nguồn bổ sung này chỉ có giá trị làm lành mạnh bảng cân đối tài sản của ngân hàng, đồng thời có thể coi là một sự cam kết trực tiếp của Chính phủ trong việc đảm bảo cho sự an toàn hoạt động của các ngân hàng, chứ chưa phát huy hết chức năng làm nguồn lực để đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh và tăng cường năng lực tài chính. Hiện nay nguồn vốn bổ sung này chỉ chiếm khoảng 40% tổng số vốn điều lệ của các NHTM nhà nước. Trong thời gian tới, nhu cầu bổ sung vốn tự có của các NHTM nhà nước vẫn còn rất lớn để đáp ứng đòi hỏi của mục tiêu hội nhập quốc tế là vừa giữ vững thị phần hoạt động kinh doanh trên “sân nhà”, vừa vươn ra thị trường khu vực và quốc tế. Tuy nhiên việc về lâu dài, nguồn để bổ sung vốn tự có của các NHTM nhà nước không nên trông chờ vào ngân sách nhà nước, bởi vì ngân sách nhà nước hiện nay rất hạn hẹp, trong khi Nhà nước còn phải dành ngân sách cho những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cấp thiết khác, mặt khác việc cấp vốn bổ sung cho các NHTM nhà nước từ nguồn trái phiếu hay ngân sách nhà nước sẽ làm tăng tính “ỷ lại” và làm giảm khả năng tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng này. Phương thức bổ sung vốn tự có có hiệu quả nhất chính là lấy từ nguồn dự trữ bổ sung vốn điều lệ, lợi nhuận để lại của các ngân hàng và nhất là thông qua tiến hành cổ phần hoá các NHTM nhà nước.

Về phía các NHTMCP, trong khoảng 2 năm qua các NHTMCP cũng liên tục tăng vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu với quy mô và nhịp độ tăng khá lớn, đặc biệt là trong năm 2006. Các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ cao nhất phải kể đến là Habubank (tăng từ 200 tỷ VND đầu năm 2005 lên 300 tỷ VND vào đầu năm 2006 và hết tháng 9/2006 đạt 900 tỷ VND), Sacombank (tăng từ 740 tỷ đầu năm 2005 lên 1.711 tỷ đầu năm 2006 và hết tháng 9/2006 đạt 1.900 tỷ), VPBank (tăng từ 198 tỷ đầu năm 2005 lên 460 tỷ đầu năm 2006 và hết tháng 9/2006 đạt 750 tỷ), ACB (tăng từ 481 tỷ đầu năm 2005 lên 948 tỷ đầu năm 2006 và hết tháng 9/2006 đạt 1.100 tỷ). Nhịp độ tăng vốn điều lệ của các NHTMCP cũng khá liên tục. Chỉ tính từ đầu năm 2005 đến tháng 9/2006 các NHTMCP đã công bố tăng vốn điều lệ từ 3 đến 6 lần, cá biệt như Habubank 7 lần công bố tăng vốn điều lệ trong đó tính riêng từ đầu năm 2006 đến nay đã 4 lần. Không chỉ dừng lại ở đó, các NHTMCP đều có kế hoạch tiếp tục tăng vốn điều lệ từ nay đến cuối năm 2006: Sacombank và ACB dự định sẽ tăng vốn điều lệ lên tương ứng 2.100 và 2.000 tỷ VND, Techcombank và Phuongnambank cũng có kế hoạch tăng gấp đôi số vốn điều lệ hiện nay lên tương ứng 1.687,5 và 1.430 tỷ VND, VPBank sau khi bán thêm 10% cổ phần cho ngân hàng OCBC (Singapore) cuối tháng 8 vừa qua đã công bố sẽ tăng vốn điều lệ lên 1.100 tỷ VND, Eximbank, VIB, EAB, ABBank và Habubank cũng phấn đấu đạt trên 1.000 tỷ VND để lọt vào “Top1000”, các ngân hàng nhỏ hơn như Seabank, MSB, Saigonbank cũng có kế hoạch tăng vốn điều lệ lên gần ngưỡng 1.000 tỷ VND… Nếu như các NHTMCP thực hiện được mục tiêu tăng vốn điều lệ trong năm nay thì đến hết năm nay Việt Nam sẽ có ít nhất 2 NHTMCP có số vốn điều lệ trên 2.000 tỷ VND và 8 NHTMCP khác có số vốn điều lệ trên 1.000 tỷ VND, trong khi tính đến hết năm 2005 mới chỉ có duy nhất Sacombank vượt ngưỡng 1.000 tỷ VND (Nguồn: [20], [26]-[39], [47]-[49]).

Dù các NHTMCP liên tục tăng vốn tự có trong thời gian vừa qua với mức tăng khá lớn, nhưng mức tăng đó chỉ lớn so với quy mô của các ngân hàng này chứ không thể so sánh với mức tăng của các NHTM nhà nước và cũng chưa tương xứng với mức độ gia tăng rủi ro và yêu cầu mở rộng quy mô hoạt động. Điều đó thể hiện ở việc nhiều ngân hàng có mức độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ mở rộng chi nhánh cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng vốn tự có như ACB, VPBank, Techcombank. Hiện nay khả năng huy động thêm vốn cổ đông để bổ sung vốn điều lệ của các NHTMCP cũng còn gặp nhiều hạn chế. Thứ nhất là do đa số các NHTMCP có các cổ đông sáng lập và góp vốn lại chính là các NHTM nhà nước hay các doanh nghiệp nhà nước lớn, trong khi khả năng góp thêm vốn của các cổ đông này không phải là cao, mặt khác còn bị hạn chế về tỉ lệ vốn góp tối đa theo Quyết định số 1122/QĐ-NHNN ngày 4/9/2001 (mức vốn góp tối đa của các cổ đông là NHTM nhà nước và DNNN không vượt quá 40% vốn điều lệ của các NHTMCP). Thứ hai là do thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển nên khả năng huy động thêm vốn từ các cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài và các cổ đông đại chúng lớn còn nhiều hạn chế, trong khi bản thân các NHTMCP chưa đủ năng lực và uy tín để được NHNN cho phép được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung. Tính đến thời điểm này chỉ mới có 3 NHTMCP được phép niêm yết cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh là Sacombank, ACB và Saigonbank. Như vậy các NHTMCP đang gặp một bài toán hóc búa vì trong một nền kinh tế với nền tài chính phát triển, việc huy động vốn cổ phần thông qua thị trường chứng khoán chính là kênh huy động vốn hiệu quả và rộng rãi nhất. Thứ ba là hiện nay Nhà nước vẫn quy định giới hạn góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và các quỹ đầu tư khá chặt chẽ (một nhà đầu tư nước ngoài hay quỹ đầu tư không được góp vốn vào quá 2 ngân hàng cùng lúc, tỉ lệ góp vốn tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài vào một NHTMCP là 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó) cũng là một hạn chế lớn cho các NHTMCP trong việc huy động thêm vốn với khối lượng lớn. Theo đánh giá của các chuyên gia WB, kênh huy động vốn cổ phần chủ yếu của các NHTMCP Việt Nam hiện nay là các nhà đầu tư cá nhân, nhưng đây chưa phải là một kênh huy động hiệu quả vì quy mô nhỏ lẻ trong điều kiện nước ta hiện nay khi mà các cá nhân chưa thực sự quen với việc đầu tư cổ phiếu.

Mặc dù nhu cầu tăng vốn điều lệ để bổ sung vốn tự có nhằm tăng năng lực tài chính, khả năng thanh khoản và độ an toàn trong hoạt động kinh doanh hiện nay của các NHTMCP là rất bức thiết, tuy nhiên nhịp độ tăng như thế nào và mức tăng là bao nhiêu là hiệu quả phải gắn trong tương quan với tình hình hoạt động kinh doanh cụ thể của từng ngân hàng. Việc tăng vốn tự có cần có sự theo dõi và quản lý sát sao từ phía NHNN sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền tài chính tiền tệ quốc gia, tránh sự tăng vốn ồ ạt vì mục tiêu cục bộ của các ngân hàng, gây nên tình trạng hỗn loạn không kiểm soát được và cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Trong thời gian từ đầu năm 2006 đến nay, ngoài các NHTMCP tăng vốn tự có thông qua nguồn lợi nhuận để lại và phát hành cổ phiếu huy động thêm vốn thì cũng tồn tại tình trạng tăng vốn tự có ảo, tăng vốn nóng ở một số ít ngân hàng bằng cách các cổ đông hiện tại của các ngân hàng đó đi vay vốn ở các ngân hàng khác mà mình có hay không có cổ phần để quay sang bổ sung vốn cho các ngân hàng này. Đây là một hiện tượng nguy hiểm cần được kiểm soát để tránh gây khủng hoảng cục bộ trong hệ thống NHTM. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Một chỉ tiêu quan trọng khác để đánh giá thực trạng tài chính của các NHTM trong quá trình hoạt động kinh doanh chính là mức độ an toàn vốn, được đo lường cụ thể thông qua Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio). Như đã trình bày ở trên, thông thường người ta nghiên cứu hệ số CAR loại II. Theo Uỷ ban giám sát ngân hàng BASEL, để đảm bảo an toàn trong hoạt động, các NHTM phải đạt được hệ số CAR loại II tối thiểu 8%. Đây cũng là quy định bắt buộc đối với tất cả các NHTM Việt Nam theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN của NHNN ngày 19/4/2005 về việc ban hành “Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Hệ số này đã cho ta thấy nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng nhỏ, tài sản “có” rủi ro càng lớn thì các ngân hàng càng hoạt động mất an toàn. Nếu các NHTM có quy mô vốn tự có không lớn mà vẫn mở rộng hoạt động của mình không hợp lý đến mức làm cho tỉ lệ này thấp hơn 8% thì rủi ro mà các ngân hàng này có thể gặp trong hoạt động kinh doanh là rất lớn.

Bảng II.5: Tỉ lệ an toàn vốn của các NHTM nhà nước trong giai đoạn 2001-2005

Bảng II.6: Tỉ lệ an toàn vốn của một số NHTM trong khu vực Châu Á năm 2005

Trong thời gian vừa qua, bất chấp những nỗ lực không ngừng tăng cường vốn tự có đồng thời có những chính sách biện pháp quyết liệt trong việc quản lý tài sản để hạn chế tối đa quy mô tài sản “có” rủi ro, tỉ lệ an toàn vốn của các NHTM nhà nước vẫn luôn ở mức nguy hiểm (dưới 8%, trừ trường hợp của Vietcombank trong năm 2005 vừa qua đạt tỉ lệ an toàn vốn 9,3% và MHB luôn đạt trên 8%) và luôn là một vấn đề mang tính thời sự đối với ngành ngân hàng nước ta. Tỉ lệ này không những thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, mà còn thấp hơn rất nhiều so với các NHTMCP trong nước và các NHTM trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á. Tỉ lệ an toàn vốn của các NHTM nhà nước được thể hiện trong bảng II.5 trên đây, ngoài ra ta có thể tham khảo tỉ lệ an toàn vốn của một số NHTM hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á trong năm 2005 qua các số liệu ở bảng II.6 và II.7. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Nhìn vào các số liệu về tỉ lệ an toàn vốn của các NHTM nhà nước ta có thể thấy rõ mặc dù trong thời gian vừa qua các ngân hàng này cũng có những cố gắng nhất định để nâng cao hệ số CAR, tuy nhiên chỉ số này vẫn rất thấp, ngoại trừ trường hợp của MHB và Vietcombank. Từ năm 2001 đến năm 2005 MHB luôn có tỉ lệ an toàn vốn cao và vượt xa mức 8%. Nguyên nhân của điều này bên cạnh xuất phát từ chính sách quản lý tài sản tương đối tốt của MHB còn có lý do khác là ngân hàng này không phải chịu gánh nặng nợ khó đòi, nợ xấu như các NHTM nhà nước khác, đặc biệt là nợ khó đòi của khối doanh nghiệp nhà nước (dư nợ cho vay các khách hàng là DNNN của MHB năm 2005 chỉ chiếm 6% tổng dư nợ, trong khi mức bình quân của các NHTM nhà nước khác năm 2005 là trên dưới 40%) (Nguồn: [21]-[25]) . Đối với Vietcombank, năm 2005 lần đầu tiên ngân hàng này nâng được tỉ lệ an toàn vốn cao hơn 8% (đạt 9,3%), kết quả phản ánh những thành công và nỗ lực nhất định của ngân hàng này trong việc tăng cường năng lực vốn tự có và quản lý tốt tài sản của mình trong thời gian qua. Tuy nhiên xét một cánh tổng thể thì hệ số CAR của các NHTM nhà nước vẫn còn rất thấp và không ổn định. Điều này nói lên khả năng bổ sung nguồn vốn tự có của các ngân hàng này còn rất nhiều hạn chế, trong khi khả năng và trình độ quản lý chất lượng tài sản vẫn còn tương đối yếu kém và bất hợp lý.

Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ an toàn vốn thấp của các NHTM nhà nước hiện nay bên cạnh lý do yếu kém trong công tác quản lý tài sản, còn xuất phát từ tốc độ tăng trưởng tín dụng cao của các ngân hàng này trong thời gian qua. Trong giai đoạn 2001 -2003, trong khi mức tăng vốn điều lệ không đạt theo kế hoạch như đã đề ra trong Đề án tái cơ cấu các NHTM nhà nước thì mức độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM nhà nước vẫn đạt mức rất cao (22%-24%). Trong năm 2005 vừa qua, tốc độ này đã giảm đi khá nhiều nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng vốn tự có (14% so với 10,6%) (Nguồn: [2], [48]). Rõ ràng trong tình hình mà khả năng bổ sung vốn tự có còn nhiều hạn chế thì việc các ngân hàng cho vay ồ ạt với quy mô lớn như vậy sẽ làm gia tăng lượng tài sản có rủi ro qua đó làm cho hoạt động nguồn vốn của các ngân hàng này trở nên mất an toàn hơn. Điều này lại cho thấy chính sách tín dụng rất bất cập của các NHTM nhà nước trong gian đoạn vừa qua. Với hệ số an toàn vốn thấp như vậy, các NHTM nhà nước sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro về vốn trong quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh của mình trong thời gian sắp tới.

Nếu như các NHTM nhà nước luôn gặp vấn đề nan giải trong việc đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu thì chỉ tiêu này của các NHTMCP lại rất khả quan. Hầu hết các NHTMCP đều đạt hệ số an toàn vốn cao hơn 8%, đặc biệt có một số ngân hàng trong năm 2005 vừa qua đảm bảo hệ số này ở mức rất cao như Phuongnambank (21,4%), Sacombank (15,39%), ACB (12,02%), Techcombank (11,38%). Điều này phản ánh sự thành công và những nỗ lực to lớn trong chiến lược kinh doanh của các

NHTMCP về mặt tăng cường năng lực vốn tự có và khả năng thanh khoản cũng như quản lý tốt chất lượng tài sản của mình, đặc biệt là trong hoàn cảnh khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bổ sung trong nền kinh tế của các NHTMCP còn gặp nhiều hạn chế như hiện nay. Tỉ lệ an toàn vốn của một số NHTMCP được thể hiện trong bảng II.8 dưới đây.

Bảng II.8:Tỉ lệ an toàn vốn của một số NHTMCP trong giai đoạn 2001-2005

1.2. Chất lượng tài sản “có” Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Chất lượng tài sản “có” phản ánh khả năng phát triển bền vững của một NHTM và trình độ quản lý tài sản của ngân hàng đó. Nhìn chung hiện nay chất lượng tài sản “có” thấp là một điểm yếu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.

Chất lượng tài sản “có’ thể hiện rõ nhất qua chất lượng tín dụng với các chỉ tiêu cụ thể như tỉ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên tổng dư nợ và cơ cấu tín dụng theo loại hình khách hàng. Có thể nói hiện nay chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các NHTM nhà nước là rất thấp, biểu hiện ở chỉ tiêu nợ xấu trên tổng dư nợ cao.

Vào thời điểm tháng 12/2000, các NHTM Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng nợ xấu cao chưa từng thấy và ở mức vô cùng nguy hiểm: tổng số nợ xấu của các NHTM Việt Nam lên tới trên 23.000 tỷ VND, chiếm 15% tổng dư nợ theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS và đến 25% tổng dư nợ theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS, tương đương với gần 4 lần tổng số vốn tự có của toàn hệ thống ngân hàng vào thời điểm đó, trong đó riêng nợ xấu của các NHTM nhà nước đã là 22.230 tỷ VND. Sau 3 năm thực hiện đề án tái cơ cấu, các NHTMNN đã có rất nhiều nỗ lực trong việc xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, tuy nhiên nợ xấu tính về số tuyệt đối đã giảm không nhiều (chỉ xử lý được 42% số nợ xấu cuối năm 2000) mặc dù về mặt tỉ lệ thì có giảm mạnh. Tính đến hết năm 2005, tổng số nợ xấu của các NHTM nhà nước vẫn lên đến 17.500 tỷ VND mặc dù chỉ còn chiếm trên 7% tổng dư nợ của các NHTM nhà nước (tỉ lệ này giảm chủ yếu do tổng dư nợ của các ngân hàng này trong 5 năm vừa qua tăng trưởng mạnh, bình quân trên 22%/năm). Tuy nhiên con số 7% trên là theo VAS còn nếu theo ý kiến của các chuyên gia quốc tế thì tỉ lệ này phải từ 11% – 16% thậm chí còn cao hơn nếu tính theo IAS (Nguồn: [2], [20], [42], [46], [48]). Do đâu có sự chênh lệch này? Điều khác biệt cơ bản chính là cách phân loại nợ của các NHTM Việt Nam với các NHTM và các công ty kiểm toán nước ngoài. Các ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn phân loại nợ chủ yếu dựa vào thời hạn, thiếu hẳn sự đánh giá kết hợp các yếu tố khác như tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng. Điều này dẫn đến việc phân loại nợ vào các nhóm không phản ánh đúng thực chất khoản nợ. Mặt khác, có không ít ngân hàng Việt Nam “linh hoạt” hạn chế phân loại nợ xuống nhóm 3,4,5 (nợ xấu) theo đúng quy định để đỡ “mất công” trích lập dự phòng rủi ro và tránh ảnh hưởng đến thu nhập của cán bộ nhân viên vì trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (được tính vào chi phí của ngân hàng) càng nhiều thì thu nhập cho cán bộ công nhân viên, khen thưởng thi đua càng giảm đi tương ứng. Theo một đợt thanh tra gần đây của NHNN có đến 93% các chi nhánh của các NHTM nhà nước trong diện điều tra có sai sót trong việc phân loại và gia hạn nợ (Nguồn: [20]). Rõ ràng nếu rà soát một cách đầy đủ kỹ lưỡng thì nợ nhóm 3,4,5 của các NHTMNN sẽ tăng lên đáng kể. Ngoài ra, theo một tổ chức kiểm toán quốc tế đã thực hiện kiểm toán các NHTM nhà nước theo tài trợ của WB thì ở một số ngân hàng tình trạng dư nợ được chuyển ngược lại từ nhóm 3,4 lên nhóm 1,2 diễn ra khá thường xuyên, tuỳ tiện và đạt tới cả ngàn tỷ VND (Nguồn: [42]). Tất cả những điều đó lý giải vì sao trong các báo cáo kiểm toán, các NHTM Việt Nam và các công ty kiểm toán thường không thống nhất về mặt số liệu nợ xấu. Đồng thời nó cũng cho thấy khả năng quản lý chất lượng tín dụng rất yếu kém, tuỳ tiện, thiếu minh bạch và tắc trách của các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTM nhà nước. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Tỉ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước trong những năm gần đây (tính theo VAS) được trình bày trong bảng II.9 dưới đây, trong đó tỉ lệ nợ xấu bình quân cao nhất thời gian vừa qua thuộc về BIDV (trên 11%) trong khi Vietcombank và MHB là những ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu tương đối tốt (trên dưới 5%).

Bảng II.9: Tỉ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước trong giai đoạn 2003-2005

Có nhiều nguyên nhân sâu xa dẫn đến thực trạng tỉ lệ nợ xấu rất cao của các NHTM nhà nước hiện nay. Thứ nhất là do sự can thiệp, khuyến khích và bảo trợ quá mức cần thiết của Chính phủ và chính quyền địa phương vào việc cho vay của các ngân hàng, nhất là trong việc cấp các khoản vay cho các DNNN. Không thể phủ nhận rằng những biện pháp cải cách hệ thống NHTM nhà nước của Chính phủ trong những năm gần đây đã mang lại những hiệu quả nhất định như giảm tỉ lệ cho vay chính sách, tăng chất lượng cho vay thương mại đi đôi với việc nâng cao hiệu quả của các DNNN, tuy nhiên vẫn tồn tại thực tế là Chính phủ vẫn can thiệp vào việc cho vay của các NHTM nhà nước trước và sau khi quyết định cho vay diễn ra. Với việc Chính phủ can thiệp trước khi quyết định cho vay, các NHTM nhà nước cho đến gần đây vẫn phải thực hiện các khoản cho vay chính sách đối với các DNNN, các tổng công ty nhà nước, các công trình dự án trọng điểm quốc gia theo các chỉ thị, quyết định của Trung ương nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội hay vì lý do chính trị. Tỉ lệ của các khoản cho vay chính sách này trên tổng dư nợ của các NHTM nhà nước là không hề nhỏ (chiếm gần 1/3 tính đến tháng 6/2006), trong khi các khoản cho vay chính sách thường bao giờ cũng có chất lượng thấp hơn, thời hạn dài hơn và đương nhiên là rủi ro cao hơn các khoản cho vay thương mại (Nguồn: [46]). Chính phủ còn can thiệp vào hoạt động tín dụng sau khi sự cho vay đã diễn ra bằng cách ra tay “cứu vớt” các DNNN và chính các NHTM nhà nước gặp khó khăn, bằng cách tái cơ cấu các DNNN bị thua lỗ, gia hạn đối với các khoản vay không kịp trả hay không có khả năng trả, cấp vốn bổ sung cho các NHTM nhà nước khi lâm vào tình trạng nợ xấu trầm trọng. Điều này đã tạo ra tiền lệ xấu cho các NHTM và các DNNN tiếp tục theo đuổi các khoản tín dụng đầy rủi ro và kém chất lượng, đồng thời cũng lý giải tại sao đa số các con nợ mất khả năng thanh toán của các NHTM nhà nước lại chính là các DNNN chứ không phải là các doanh nghiệp hay cá nhân ở khu vực khác.

Chính vì lý do đó, việc hạn chế và giảm thiểu nợ xấu của các NHTM nhà nước trong những năm qua đã không có nhiều đột phá. Thay vì sự can thiệp thái quá của Chính phủ tới mức làm mất quyền tự chủ và tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cho vay nói riêng và các hoạt động kinh doanh nói chung của các NHTM nhà nước như thời gian qua, một sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ nhằm giảm bao cấp, thắt chặt kỷ luật tài chính và hỗ trợ nâng cao khả năng tự chủ đối với các NHTM nhà nước và các DNNN sẽ là điều thiết yếu và hợp lý để ngăn chặn kịp thời sự lặp lại vòng luẩn quẩn phát sinh và tích tụ nợ xấu, như là ý kiến phát biểu của Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Đức Thuý với giới báo chí mới đây: “Phải cắt phao, giảm tài trợ bao cấp cho khu vực DNNN. Hoạt động cho doanh nghiệp mà vốn thì nhà nước cấp, gần như là không chịu trách nhiệm gì về hiệu quả sử dụng đồng vốn đó. Lãi suất thì nhiều loại lãi suất ưu đãi, gặp khó khăn tài chính thì lại xin khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ,… trong khi chưa có một doanh nghiệp thuộc khu vực liên doanh nào lại đến xin khoanh nợ, xoá nợ(Nguồn: [48]).

Lý do thứ hai dẫn đến tỉ lệ nợ xấu cao của các NHTM nhà nước xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý và điều hành hoạt động tín dụng cũng như từ cách làm việc tắc trách, thiếu tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhân viên các ngân hàng này. ở nhiều ngân hàng, khả năng hiễu rõ và nắm bắt của nhân viên cán bộ tín dụng về các thông tin tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khách hàng là rất mơ hồ nhưng vẫn thực hiện cho vay. Mặt khác, những người quản lý của các ngân hàng này được giao quyền tự chủ trong việc ra quyết định cho vay nhưng lại không hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượng của các khoản vay theo quyết định của họ.

Vì thế chừng nào mà trình độ nghiệp vụ, tinh thần làm việc của các cán bộ nhân viên tín dụng chưa được cải thiện, các nhà quản lý còn chưa bị ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm trong các quyết định cho vay của mình thì thì các khoản cho vay khó đòi sẽ tiếp tục phát sinh và ứ đọng dần lên trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng.

Lý do thứ ba làm cho nợ xấu, nợ khó đòi gia tăng là do hậu quả của cuộc đua lãi suất trong hệ thống NHTM trong thời gian gần đây và ảnh hưởng “bong bóng” của những tài sản thế chấp. Hiện nay đây không chỉ là vấn đề của riêng các NHTM nhà nước mà của cả các NHTMCP. Kể từ sau năm 2003 đến nay thị trường ngân hàng liên tục chứng kiến các cuộc đua lãi suất giữa các NHTM với tốc độ tăng chóng mặt. Hiện nay lãi suất huy động (cả VND và USD) của các NHTM đã và đang tăng, khiến cho lãi suất cho vay với các khách hàng phải tăng theo tương ứng, kéo theo chi phí vốn của doanh nghiệp bị đội lên, khả năng trả nợ do đó giảm sút. Trên thực tế nếu lãi suất cho vay ở dưới mức 12%/năm thì chi phí vốn được coi là bình thường, nhưng nếu lên đến 15% hay cao hơn nữa thì sẽ nảy sinh những vấn đề rất đáng lo ngại, không chỉ là vấn đề nợ xấu. Thực tế đã chứng minh điều đó qua cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Khi đó lãi suất huy động ở Indonesia, Thái Lan tăng mạnh và khi vượt quá 30% thì các ngân hàng bắt đầu phá sản hàng loạt (Nguồn: [1], [40], [48]).

Vấn đề nợ xấu tăng cao do ảnh hưởng “bong bóng” của những tài sản thế chấp thể hiện rõ ràng trong hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam trong thời gian vừa qua, nhất là trong hoạt động cho vay đầu tư vào bất động sản. Chiếm phần lớn trong danh mục tài sản thế chấp vay vốn hiện nay là bất động sản. Khi thị trường bất động sản lên cơn sốt, giá nhà đất tăng cao vượt quá giá trị thực thì các ngân hàng cũng cho các nhà đầu tư thế chấp để vay ồ ạt. Nhưng khi thị trường đóng băng, bất động sản tụt giá không phanh, khả năng trả nợ của nhiều nhà đầu tư gặp khủng hoảng, còn các ngân hàng lúc này lại nắm trong tay một tài sản có giá thị thị trường nhỏ hơn khoản cho vay rất nhiều.

Theo thông lệ quốc tế và quy định hiện nay của NHNN (Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN) tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phải dưới 5%. Như vậy thì với tỉ lệ nợ xấu vẫn còn rất cao như hiện nay, các ngân NHTM nhà nước vẫn sẽ còn phải đối mặt với vấn đề nợ xấu trầm trọng trong thời gian sắp tới. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Trong khi các NHTM nhà nước đang phải “vật lộn” với vấn đề nợ xấu thì trong thời gian vừa qua, tỉ lệ nợ xấu của các NHTMCP không ngừng được cải thiện và hầu hết nằm trong ngưỡng an toàn theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế (dưới 5%), trong đó nhiêu ngân hàng (như Habubank, Sacombank, EAB, ACB) liên tục duy trì được tỉ lệ nợ xấu rất thấp so với ngay cả các NHTM lớn trong khu vực và trên thế giới. Điều này phản ánh những nỗ lực đáng khen và những thành công đáng kể của các NHTMCP trong công tác quản lý hiệu quả hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tài sản “có”.

Bảng II.10: Tỉ lệ nợ xấu của một số NHTMCP trong giai đoạn 2003-2005

Mặc dù các NHTM Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định trong việc kiểm soát và giảm thiểu nợ xấu để tăng chất lượng tài sản, đảm bảo mức độ an toàn và khả năng thanh khoản trong hoạt động kinh doanh nhưng nhìn chung nợ xấu vẫn là một vấn đề đáng lo ngại của các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các NHTM nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang dần mở cửa thị trường tài chính ngân hàng theo lộ trình hội nhập quốc tế như hiện nay, rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng và khả năng phát sinh, gia tăng nợ xấu sẽ vẫn còn rất lớn. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Thực trạng chất lượng tài sản “có” của các NHTM còn được thể hiện qua cơ cấu tín dụng theo loại hình khách hàng. Hiện nay, chất lượng tài sản “có” của các NHTM nhà nước xét về khía cạnh này là rất yếu kém và tồn tại nhiều rủi ro, thể hiện mức độ tập trung quá lớn của danh mục tín dụng cho các DNNN, trong khi nhóm khách hàng là các DNNN chính là các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nhất và khả năng trả nợ thấp nhất. Trong những năm gần đây, mặc dù mức độ tập trung tín dụng của các NHTM nhà nước (được thể hiện trong bảng II.11 dưới đây) tuy có giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao: dư nợ vay các DNNN bình quân của các NHTM nhà nước năm 2005 vẫn chiếm gần 40% tổng dư nợ tín dụng của các ngân hàng này, còn nếu tính thêm các khoản cho vay các DNNN của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam thì theo WB tỉ lệ này lên tới trên 45% (Nguồn: [42]).

Bảng II.11: Tỉ trọng dư nợ cho vay các DNNN trên tổng dư nợ của các NHTM nhà nước giai đoạn 2003-2005

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng, hiện nay vốn đầu tư cho các công trình, dự án trong điểm cấp quốc gia như các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, giao thông, các dự án cung cấp nước sạch, xây các chung cư,… phần lớn vẫn đang phải trông chờ vào vốn vay các NHTM nhà nước. Hầu hết đây đều là những dự án có như cầu vốn lớn, nhưng lại có thời gian thực hiện dài, chậm thu hồi vốn và rủi ro cao đối với các ngân hàng. Chưa kể đến là hiệu quả của các dự án đầu tư trong thực tế triển khai so với lúc thẩm định và phê duyệt có khoảng cách nhất định, bởi vậy các NHTM không thể thu hồi được lãi và nợ đúng hạn, thậm chí không thu hồi được nợ gốc nếu các dự án đó bị đổ vỡ. Thực tế đã chứng minh điều đó qua việc trong thời gian gần đây một loạt các dự án lớn của các công ty nhà nước có sử dụng vốn vay ngân hàng trong các ngành mía đường, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản ở Thanh Hoá, Khánh Hoà, Cà Mau bị đổ bể hoặc rơi vào tình trạng “dự án treo” đã khiến cho các NHTM nhà nước nhiều phen lao đao vì không thu hồi được nợ. Các tổng công ty nhà nước đều đang nợ các NHTM rất nhiều, vượt xa so với số vốn tự có của các doanh nghiệp này, cũng như lớn hơn cả quy định của Luật các tổ chức tín dụng (dư nợ cho vay một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của NHTM đó). Các DNNN nhà nước trong các ngành mía đường, xi măng, sắt thép, phân bón, giấy là những doanh nghiệp có số nợ đọng nhiều nhất đối với các NHTM, cụ thể đến hết năm 2005 các DNNN trong ngành mía đường nợ trên 3.900 tỷ, xi măng trên 4.100 tỷ, sắt thép trên 2.000 tỷ, phân bón trên 1.900 tỷ, giấy gần 1.800 tỷ (Nguồn: [1], [20], [48]). Khả năng trả nợ của các doanh nghiệp này trong thời gian sắp tới còn rất hạn chế, do đó gánh nặng nợ của khu vực DNNN vẫn sẽ là một mối lo lớn của các NHTM nhà nước. Việc tiếp tục giảm mức độ tập trung tín dụng cho các DNNN vì thế vẫn là một nhiệm vụ không hề đơn giản đối với các ngân hàng này.

So với các NHTM nhà nước, mức độ tập trung tín dụng của các NHTMCP Việt Nam cho các DNNN thấp hơn nhiều, phần vì các NHTMCP đều có quy mô tài sản không đủ lớn đến mức đủ tiềm lực để thực hiện cho vay quy mô lớn đối với các DNNN, phần vì hầu hết các NHTMCP đều không tập trung vào khai thác nhóm khách hàng này mà chủ yếu tập trung vào nhóm khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng hoạt động có hiệu quả và nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Trong cơ cấu tín dụng theo danh mục khách hàng của các NHTMCP hiện nay, nhóm khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế đang chiếm tỉ trọng chủ yếu (từ 50% đến 65% tổng dư nợ) và tỉ trọng này có xu hướng ổn định trong những năm vừa qua. Tỉ trọng dư nợ của nhóm khách hàng là các cá nhân hộ gia đình ngày càng có xu hướng tăng lên với tốc độ khá cao và hiện chiếm từ 20% đến 30% tổng dư nợ. Các NHTMCP có tỉ trọng cho vay nhóm khách hàng là cá nhân hộ gia đình cao có thể kể đến là ACB, Habubank, VIB. Trong khi đó, tỉ trọng cho vay đối với nhóm khách hàng là các DNNN tính trên tổng dư nợ của các NHTMCP ngày càng có xu hướng giảm và hiện chỉ ở mức dưới 20%, cá biệt ở một số ngân hàng như Habubank, EAB vào năm 2005 tỉ trọng này chưa đến 10% (Nguồn: [26], [39], [48]). Nhìn chung cơ cấu tín dụng theo khách hàng của các NHTMCP ngày càng chuyển biến theo xu hướng tốt hơn, vừa đảm bảo sự đa dạng hoá trong hoạt động kinh doanh, vừa nâng cao từng bước chất lượng tín dụng và chất lượng tài sản của các ngân hàng này.

Như vậy, những nghiên cứu trên đã chứng tỏ thực trạng năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam trước thềm hội nhập còn nhiều hạn chế: quy mô vốn tự có nhỏ bé, khả năng huy động và bổ sung vốn không cao, chất lượng tài sản “có” thấp do tỉ lệ nợ xấu, nợ không sinh lời cao và sự tập trung dang mục tín dụng quá mức vào nhóm DNNN. Trong thời gian tới, các ngân hàng cần áp dụng những chính sách, biện pháp hiệu quả để nâng cao sức mạnh tài chính, đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh cũng như mức độ cạnh tranh khi bước vào hội nhập.

2. Thực trạng về mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Theo đánh giá của ông C.Michael Armstrong, Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn tài chính-ngân hàng CitiGroup (Hoa Kỳ), trong bối cảnh lĩnh vực dịch vụ ngân hàng phát triển sâu rộng như hiện nay, một NHTM đa doanh được coi là có danh mục sản phẩm dịch vụ đa dạng khi ngân hàng đó có khả năng cung cấp cho khách hàng trên 1.000 loại sản phẩm dịch vụ và thu nhập từ các hoạt động dịch vụ ngân hàng chiếm không dưới 30% tổng thu nhập trong năm của ngân hàng đó. Thậm chí hiện nay đối với một số tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu thế giới như HSBC, Bank of America, BNP Paribas,… họ có khả năng cung cấp trên 6.000 loại sản phẩm dịch vụ, và thu nhập từ dịch vụ chiếm tỉ trọng trên dưới 50% hoặc cũng có khi lên tới 60% tổng thu nhập như Citibank (Nguồn: [42]-[45], [48]).

Nếu căn cứ vào những tiêu chí đó thì có thế nói mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam còn rất thấp. Tính đến hết năm 2005, thu nhập từ hoạt động tín dụng và huy động vốn vẫn là nguồn thu nhập chính của các ngân hàng (chiếm trên 70% tổng thu nhập), trong khi thu nhập từ phí dịch vụ chỉ chiếm tỉ lệ tương đối nhỏ (khoảng 15% đến 22% tổng thu nhập). Cụ thể, trong khối NHTM nhà nước, Vietcombank là một trong những ngân hàng cung cấp nhiều loại sản phẩm dịch vụ nhất trên thị trường ngân hàng (gần 200 sản phẩm dịch vụ) và có tỉ trọng thu nhập từ dịch vụ trên tổng thu nhập cao nhất (22%). Tỉ trọng này của BIDV và Agribank tương ứng là 16% và 17%. Trong khi đó, ở khối NHTMCP, ngoại trừ ACB, Techcombank và Sacombank là những ngân hàng cung cấp nhiều loại sản phẩm dịch vụ nhất trên thị trường (ACB có trên 250 sản phẩm dịch vụ, Techcombank và Sacombank có gần 200) nhìn chung danh mục sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng nghèo nàn hơn so với các NHTM nhà nước. Một số ngân hàng có tỉ trọng thu nhập đem lại từ các hoạt động dịch vụ cao hơn mức trung bình có thể kể đến là Eximbank, Habubank, Sacombank (từ 20% đến 25%) (Nguồn: [21]-[39], [49]). Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Sự kém đa dạng trong danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp hiện nay là một bất lợi của các NHTM Việt Nam so với các NHTM nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế, không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay ở thị trường trong nước. Sản phẩm dịch vụ chủ yếu của các NHTM Việt Nam hiện nay vẫn chỉ là các sản phẩm dịch vụ truyền thống như huy động vốn, cho vay, kinh doanh ngoại hối, thanh toán nội địa và quốc tế,… và một số sản phẩm mới hơn như bảo lãnh, chuyển tiền, chi trả kiều hối, phát hành thẻ ghi nợ và thẻ thanh toán nội địa, cho thuê tài chính. Rất nhiều loại hình dịch vụ phát triển, là thế mạnh của các ngân hàng nước ngoài với truyền thống hàng chục năm hiện vẫn là những dịch vụ còn hết sức mới mẻ, thậm chí là chưa từng tiếp cận, đối với các ngân hàng Việt Nam như đầu tư dự án, môi giới tiền tệ, đầu tư và môi giới đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tài trợ thương mại, tín dụng forfaiting, tín dụng factoring, kinh doanh các sản phẩm giao dịch phái sinh (forwards, futures, swaps, options), tư vấn tài chính, phát hành thẻ tín dụng quốc tế, quản lý tài sản, dịch vụ giao nhận,… và các giao dịch ngân hàng hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số tiên tiến như PhoneBanking, MobileBanking, InternetBanking, E-Banking.

Trước thực trạng ấy, hầu hết các NHTM Việt Nam đang nỗ lực mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ, tăng cường ứng dụng các dịch vụ với công nghệ và tiện ích hiện đại bên cạnh việc nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ truyền thống. Sôi động nhất là lĩnh vực dịch vụ thẻ. Đến nay đã có 4 NHTM nhà nước và 18 NHTMCP cung cấp dịch vụ phát hành thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng nội địa, 3 NHTM nhà nước và 5 NHTMCP phát hành thẻ tín dụng quốc tế với nhiều tiện ích như gửi tiền một nơi rút tiền nhiều nơi, thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ,… kèm theo một hệ thống hơn 2.200 máy ATM và trên 14.000 POS (Điểm chấp nhận thanh toán thẻ) trên phạm vi cả nước (Nguồn: [13]). Hầu hết các ngân hàng thành lập các công ty chứng khoán trực thuộc để kinh doanh đầu tư chứng khoán, môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành, quản lý và lưu ký chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư. Các NHTM nhà nước như Vietcombank, BIDV, Incombank, Agribank và một số NHTMCP đã được NHNN cho kinh doanh các nghiệp vụ về giao dịch các sản phẩm phái sinh như forward, futures, swaps, options về lãi suất và ngoại tệ. Dịch vụ chuyển tiền cũng bắt đầu phát triển mạnh với việc một số ngân hàng thành lập các công ty trực thuộc chuyên kinh doanh dịch vụ chuyển tiền và chi trả kiều hối. Bốn NHTM nhà nước và Sacombank đã thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) trực thuộc để kinh doanh dịch vụ quản lý tài sản và quản lý mua bán nợ. Hầu hết các NHTM nhà nước và các NHTMCP đều đã và đang đầu tư công nghệ để cung cấp các dịch vụ hiện đại là HomeBanking, PhoneBanking và SMSBanking. Một số sản phẩm dịch vụ hiện đại và mới mẻ nữa vẫn chưa được áp dụng hoặc đang trong giai đoạn triển khai thí điểm: hiện nay mới chỉ có 10 ngân hàng Vietcombank, BIDV, ACB, Techcombank, Sacombank, Habubank, MilitaryBank, EAB, VPBank, VIB triển khai dịch vụ InternetBanking nhưng ứng dụng giao dịch còn hạn chế, chủ yếu là truy vấn thông tin; hiện cũng mới chỉ có Vietcombank, EAB triển khai dịch vụ E-Banking. Một số ngân hàng đang bước đầu triển khai các dịch vụ mới như kinh doanh địa ốc, đại lý bảo hiểm, dịch vụ cho thuê két sắt giữ hộ (Nguồn: [20]-[39], [49]).

Ngay cả các dịch vụ truyền thống cũng được đa dạng hoá. Các NHTM nhà nước và NHTMCP đều cung cấp nhiều loại hình huy động tiết kiệm đa dạng như Tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm điện tử; Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, EAB, Techcombank và một số ngân hàng khác cung cấp dịch vụ cho vay du học, cho vay đầu tư chứng khoán, cho vay tiêu dùng (mua nhà, mua ô tô,…), cho vay cổ phần hoá,… ; Eximbank cung cấp dịch vụ hỗ trợ XNK trọn gói (bảo hiểm, giao nhận) bên cạnh dịch vụ thanh toán quốc tế từ tháng 6/2006; Techcombank sẽ tung ra gói sản phẩm tiện ích “4 trong 1” gắn với việc phát hành L/C nhập khẩu kể từ tháng 10/2006.

Việc danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp của các NHTM Việt Nam chưa thực sự đa dạng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ quan là do năng lực tài chính của các ngân hàng còn rất hạn chế dẫn đến khả năng đầu tư nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ mới cũng như phát triển công nghệ hiện đại gặp rất nhiều khó khăn, bên cạnh đó trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực thấp chưa cho phép các ngân hàng có khả năng triển khai nhiều loại hình dịch vụ đòi hỏi trình độ cao. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng hiện nay nền kinh tế nước ta vẫn là một nền kinh tế chậm phát triển, lĩnh vực tài chính ngân hàng chỉ mới đang phát triển ở mức độ sơ khai (trong đó hệ thống NHTM mới chỉ ra đời và phát triển gần 20 năm nay), thu nhập và mức sống của phần lớn nhân dân còn rất thấp, hạ tầng cơ sở, trang thiết bị và công nghệ (nhất là công nghệ thông tin) trong lĩnh vực ngân hàng còn nghèo nàn lạc hậu, trình độ nhận thức, nhu cầu và khả năng tiếp cận nhiều dịch vụ ngân hàng hiện đại của đại bộ phận doanh nghiệp và người dân còn rất hạn chế,… chưa cho phép các NHTM Việt Nam triển khai cung ứng nhiều loại sản phẩm dịch vụ quá tiên tiến hiện đại, đòi hỏi chi phí đầu tư và vận hành quá cao ngay cả khi các ngân hàng này có khả năng làm điều đó. Việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ chỉ có thể coi là hiệu quả và hợp lý trong mối tương quan hài hoà với trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với quy mô các nguồn lực hiện có của các ngân hàng, với mức thu nhập và trình độ nhận thức của người dân, nhu cầu và khả năng tiếp cận sản phẩm dịch vụ của người tiêu dùng trên thị trường, nếu không việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ không những không đem lại lợi nhuận và giúp phân tán rủi ro trong kinh doanh nhờ lời thế về quy mô cho các ngân hàng mà ngược lại có thể khiến các NHTM Việt Nam rơi vào tình trạng đầu tư dàn trải kém hiệu quả, gây tình trạng lãng phí các nguồn lực và gia tăng rủi ro, tồi tệ hơn có thể dẫn đến nguy cơ thua lỗ và phá sản. Bởi vậy, các ngân hàng cần nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi xây dựng được một chiến lược đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ thực sự hợp lý và có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Bên cạnh thực trạng là danh mục sản phẩm dịch vụ còn tương đối nghèo nàn thì chất lượng sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam cũng là một vấn đề đáng lưu tâm, mặc dù trong những năm vừa qua các ngân hàng đã có nhiều nỗ lực để cải thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Tồn tại một thực tế là phương thức cung ứng dịch vụ của nhiều NHTM nhà nước và NHTMCP hiện nay vẫn còn trì trệ, mang nhiều tàn dư của thời bao cấp. Điều đó thể hiện trước hết qua tốc độ giao dịch còn chậm, phải qua nhiều cửa, nặng về thủ tục hành chính, gây phiền hà và mất thời gian của khách hàng. Cụ thể như trong giao dịch chuyển tiền của các NHTM Việt Nam hiện nay. Hai ngân hàng chỉ cách nhau chừng 200m mà việc chuyển tiền có khi phải mất đến một ngày, trong khi đối với các ngân hàng nước ngoài có khi ở cách xa nhau nửa vòng trái đất thì chỉ mất có 10 phút. Nguyên nhân là do hiện nay giao dịch chuyển tiền giữa các ngân hàng vẫn phải thông qua Hệ thống thanh toán bù trừ của NHNN, mà mỗi ngày chỉ có 2 phiên thanh toán bù trừ vào lúc 10h sáng và 15h chiều, do đó những lệnh chuyển tiền đến sau 15h ngày hôm trước buộc phải để đến 10h ngày hôm sau mới có thể thực hiện được. Số lượng phiên thanh toán bù trừ ít ỏi như vậy hiện không đáp ứng được nhu cầu chuyển tiền hiện nay của các ngân hàng (trung bình trên 2.000 lệnh/ngày) (Nguồn: [47]).

Chất lượng sản phẩm dịch vụ thấp của các NHTM Việt Nam còn thể hiện qua thái độ phục vụ khách hàng của nhân viên giao dịch nhiều khi vẫn còn quan liêu, tác phong chậm chạp, thậm chí nhiều khi tỏ ra hách dịch với khách hàng. Hơn nữa, thời gian hoạt động của phần lớn các chi nhánh ngân hàng vẫn theo cơ chế hành chính 8 tiếng/ngày. Cơ chế này dã không còn phù hợp trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta hiện nay, khi mà nền kinh tế đang phát triển năng động và các giao dịch ngân hàng trở thành giao dịch toàn cầu, không phụ thuộc vào thời gian. ở các nước có ngành ngân hàng phát triển, các chi nhánh và phòng giao dịch của các ngân hàng nhiều khi hoạt động 24/24h cho phù hợp với nhu cầu giao dịch của khách hàng có thể phát sinh bất kể lúc nào, nhất là ở các thành phố, đô thị lớn. Công tác quản lý và chăm sóc khách hàng tuy đã có những đổi mới nhất định thông qua việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức hướng theo từng khối, nhóm khách hàng, nhưng do hầu hết các ngân hàng Việt Nam chưa xây dựng được một chiến lược khách hàng hiệu quả, cho nên dẫn đến tình trạng ngân hàng không nắm rõ được thông tin liên quan về khách hàng tiềm năng và thông tin phản hồi của những khách hàng đã và đang có quan hệ giao dịch với ngân hàng, do đó công tác cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ, chăm sóc khách hàng để xây dựng và duy trì sự trung thành của khách hàng hầu như bị bỏ ngỏ. Đây là một thực trạng đáng báo động cho các NHTM Việt Nam mà nếu không có những cải tổ kịp thời, các ngân hàng sẽ mất uy tín, mất khách hàng. Theo kết quả một cuộc khảo sát do UNDP phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện đầu năm 2006, có 42% doanh nghiệp, 50% dân chúng được hỏi đều cho rằng họ sẽ chọn vay ở các ngân hàng nước ngoài và 50% doanh nghiệp, 62% dân chúng sẽ lựa chọn các ngân hàng nước ngoài để gửi tiền khi chúng ta hội nhập đầy đủ với thị trường ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, do họ không thực sự tin tưởng vào uy tín và chất lượng của các NHTM Việt Nam (Nguồn: [48]).

Như vậy, thực trạng danh mục sản phẩm dịch vụ kém đa dạng và chất lượng sản phẩm dịch vụ chưa cao là một cản trở lớn đối với các NHTM Việt Nam hiện nay khi lĩnh vực tài chính, ngân hàng đang dần mở cửa. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có những chính sách, biện pháp để đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng phù hợp, kịp thời.

3. Thực trạng trình độ quản lý, cơ cấu tổ chức và mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Thực trạng về trình độ quản lý của các NHTM Việt Nam hiện nay thể hiện trước hết ở trình độ, nhận thức và kinh nghiệm quản lý của đội ngũ lãnh đạo quản lý của các ngân hàng này. Xét về trình độ học vấn và kinh nghiệm quản lý, phần đông trong số đội ngũ lãnh đạo quản lý của các NHTM Việt Nam đều là những người có trình độ trên đại học (thạc sỹ, tiến sỹ), được đào tạo ở trong và ngoài nước và có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên do lịch sử còn non trẻ cũng như mức độ kém phát triển của ngành NHTM ở nước ta, trình độ và kinh nghiệm quản lý của đội ngũ lãnh đạo các NHTM Việt Nam vẫn còn hạn chế nhiều so với các NTHM trong khu vực và trên thế giới vốn có lịch sử phát triển và truyền thống kinh doanh hàng chục thậm chí hàng trăm năm và phạm vi kinh doanh trên toàn cầu. Về mặt nhận thức, đội ngũ lãnh đạo quản lý của các NHTM Việt Nam hiện nay, nhất là các NHTMCP, đã có ý thức rõ ràng về áp lực của cạnh tranh cũng như tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh khi ngành ngân hàng bước vào hội nhập. Tư tưởng trì trệ, thụ động, tác phong lãnh đạo quan liêu trước kia đang từng bước được thay thế bằng những nỗ lực chủ động cải tổ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng kinh doanh của mỗi ngân hàng. Những quyết định về đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý, đầu tư công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ mở rộng hoạt động kinh doanh là minh chứng rõ nét cho sự cải tổ này.

Tuy nhiên, một điểm yếu trong trình độ quản lý của các NHTM Việt Nam vẫn đang tồn tại và chậm được đổi mới đó là việc thiếu những công cụ và chính sách quản lý hiện đại và hiệu quả. Điều này thể hiện rõ nhất trong hoạt động tín dụng. Hiện nay ngoại trừ Vietcombank, Incombank, BIDV đã xây dựng được những cẩm nang tín dụng với sự tư vấn của các chuyên gia nước ngoài thì phần lớn các ngân hàng chưa xây dựng được một cẩm nang tín dụng thực sự khoa học và đầy đủ theo tiêu chuẩn quốc tế và phổ biến cho các cán bộ tín dụng áp dụng nhất quán và nghiêm ngặt để thẩm định, đánh giá và ra quyết định cho vay nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, giảm nợ xấu, nợ không sinh lời, nâng cao chất lượng các khoản vay. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Hệ thống thông tin báo cáo của các NHTM Việt Nam còn chồng chéo, chưa kịp thời cung cấp cho các nhà quản trị những biến động của lãi suất, tỷ giá, của nhu cầu huy động và cho vay của toàn hệ thống trong mỗi ngân hàng, dẫn đến các nhà lãnh đạo ngân hàng không có được thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời để ra các quyết định chính xác, hiệu quả. Hiện nay mới chỉ có một số ngân hàng như Vietcombank, Agribank, BIDV, Techcombank, ACB, Sacombank cải thiện được công tác thông tin báo cáo với việc xây dựng được Hệ thống thông tin quản lý (MIS) và nối mạng hệ thống.

Hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ hoạt động chưa hiệu quả. Sự phân định hoạt động kiểm toán và kiểm soát nội bộ chưa rõ ràng theo các chuẩn mực quốc tế: kiểm soát nội bộ là một công cụ của ban giám đốc nhằm đảm bảo việc tuân thủ những chính sách và thủ tục, ngăn chặn những vi phạm quy chế và tăng cường công tác quản lý, trong khi nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ là đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính do bộ phận kế toán lập, cung cấp cho ban giám đốc theo định kỳ hay cho các đợt thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng. Theo đánh giá của các chuyên gia WB, hiện nay chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán và kiểm soát nội bộ đang có những mảng bị chồng chéo lẫn nhau, dẫn đến sự lãng phí cũng như gây phiền hà cho các đối tượng bị kiểm tra, làm giảm hiệu quả của cả 2 hoạt động này. Bên cạnh đó, nhiều quy trình, nghiệp vụ tác nghiệp cụ thể cũng chưa có nhiều hướng dẫn chi tiết. Đặc biệt là những quy trình liên quan đến giám sát và quản lý rủi ro, khiến cho việc thực hiện trên toàn hệ thống ở mỗi ngân hàng chưa được thống nhất và phát huy hiệu quả.

Công tác lập kế hoạch và xây dựng chiến lược kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay chưa thực sự bài bản, các chiến lược kinh doanh còn chung chung và chưa rõ ràng để tạo ra định hướng phát triển. Phân tích tầm nhìn và đặc biệt là chiến lược kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam được trình bày trong các báo cáo thường niên trong 5 năm gần đây, có thể thấy hầu như toàn bộ các ngân hàng đều có chiến lược và tầm nhìn chung chung, ngắn hạn, thiếu thống nhất qua từng năm, trừ các ngân hàng Techcombank, BIDV, ACB và Sacombank có những định hướng rõ ràng và nhất quán về thị trường mục tiêu và chiến lược phát triển lâu dài bằng việc cụ thể hoá đối tượng khách hàng chủ đạo, loại hình sản phẩm thế mạnh, địa bàn hoạt động cơ bản cho kế hoạch 3 đến 5 năm tới. Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều thực hiện một chiến lược kinh doanh tương đối đơn giản và giống nhau là “cái gì có lợi thì làm” trên cơ sở nắm bắt những cơ hội ngẫu nhiên của thị trường mà chưa chú trọng đến nhu cầu tiềm năng của thị trường và xây dựng một chiến lược lâu dài. Trong tương lai, khi mà thị trường ngân hàng Việt Nam phải bước vào cạnh tranh khốc liệt, các ngân hàng cần phải xây dựng được một chiến lược kinh doanh lâu dài trên cơ sở nghiên cứu thị trường bài bản và tập trung khai thác thế mạnh vốn có của mình, bởi vì thị trường khi đó sẽ trở nên rộng lớn và đa dạng hơn trong khi nguồn lực của các ngân hàng chỉ có hạn.

Công tác nghiên cứu, phân tích thị trường của các NHTM Việt Nam hiện nay chưa chuyên nghiệp mà vẫn mang tính thụ động, manh mún thông qua các thông tin, số liệu phái sinh (qua báo chí và các cơ quan khác) chứ chưa xây dựng được hệ thống thu thập thông tin riêng rẽ. Các thông tin, số liệu phái sinh này thường thiếu tính hệ thống, không đầy đủ và không có độ chính xác, độ nhất quán  cao. Do đó việc dựa trên những thông tin số liệu này để lập kế hoạch và xây dựng chiến lược kinh doanh là không có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Về cơ cấu mô hình tổ chức, các NHTM Việt Nam hiện nay đều đang có sự đổi mới mô hình cơ cấu tổ chức theo hướng hiện đại, phù hợp với hoạt động kinh doanh trong tiến trình hội nhập quốc tế. Các NHTMCP đã tổ chức theo mô hình của các NHTM trên thế giới, hướng theo khối khách hàng và sản phẩm, cho phép các ngân hàng có thể vừa phát huy được sản phẩm thế mạnh, quản lý hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn, vừa theo sát được nhu cầu của thị trường và từng nhóm khách hàng, nhanh chóng đưa ra các quyết định kinh doanh và các giải pháp đối phó với đối thủ cạnh tranh cũng như những biến động bất lợi của thị trường. Các NHTM nhà nước cũng đã dần thoát khỏi mô hình tập trung quyền lực truyền thống với việc tổ chức phân định theo các phòng ban, bộ phận theo loại hình nghiệp vụ từ thời kỳ trước cải cách. Mô hình truyền thống hiện nay đã không còn phù hợp nữa vì với sự mở rộng hoạt động kinh doanh, mở rộng mạng lưới chi nhánh và sự gia tăng khối lượng hoạt động nghiệp vụ và quy mô khách hàng thì mô hình cũ không tránh khỏi sự chia cắt, chồng chéo lẫn nhau trong việc quản lý khách hàng và cung cấp sản phẩm dịch vụ, vừa gây lãng phí các nguồn lực và cồng kềnh trong bộ máy quản lý lại vừa không chặt chẽ do không có sự phân công rõ ràng giữa các phòng ban khi cùng quản lý một đối tượng nghiệp vụ, đối tượng khách hàng. Hiện nay nhiều NHTM Việt Nam cũng đang nghiên cứu triển khai mô hình tổ chức tách bạch giữa khối quản lý và hành chính với khối kinh doanh theo mô hình Back-office và Front-office, mô hình tiên tiến được nhiều ngân hàng lớn trên thế giới hiện đang áp dụng.

Về mạng lưới chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ, trong khoảng 3 năm vừa qua có thể ghi nhận tốc độ mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch khá nhanh của các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTMCP và điều quan trọng là tốc độ mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng phù hợp và đáp ứng kịp thời với sự tăng trưởng quy mô hoạt động kinh doanh và mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng. Đây là một xu hướng tích cực, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng nội trong bối cảnh thị trường ngân hàng Việt Nam sắp tự do hoá. Các NHTM nhà nước hiện nay vẫn là các ngân hàng có ưu thế nhất về mạng lưới phân phối trong hệ thống NHTM. Tính đến hết năm 2005, Agribank là ngân hàng có mạng lưới phân phối đồ sộ nhất với 2.025 chi nhánh (từ cấp 1 đến cấp 4) và phòng giao dịch cùng với ngân hàng lưu động bằng ô tô chuyên dụng tại 64 tỉnh thành trên cả nước (bình quân cứ 4 xã có 1 điểm giao dịch), trên ngân hàng 1.000 đại lý tại 90 nước trên thế giới; Incombank có 3 sở giao dịch, 135 chi nhánh cấp 1,2 và 150 phòng giao dịch trên cả nước cùng 735 ngân hàng đại lý trên thế giới; BIDV cũng có 3 sở giao dịch, 141 chi nhánh cấp 1,2 và 112 phòng giao dịch trên toàn quốc; Vietcombank có 73 chi nhánh cấp 1,2 và 65 phòng giao dịch trên cả nước và 5 văn phòng đại diện ở nước ngoài; MHB tuy mới phát triển nhưng cũng có đến 2 phòng giao dịch và 37 chi nhánh cấp 1,2. Về phía các NHTMCP, cho đến hết năm 2005 Sacombank là ngân hàng có mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ rộng rãi nhất với 118 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả 3 miền cộng với trên 7.800 ngân hàng đại lý ở 87 quốc gia; tiếp đến là ACB với 66 chi nhánh và phòng giao dịch; Techcombank cũng đã có 60 chi nhánh và phòng giao dịch; EAB có 50 chi nhánh và phòng giao dịch bên cạnh 2.000 ngân hàng đại lý ở 65 quốc gia,… (Nguồn: [21]-[39], [49]). Nhìn chung quy mô và tốc độ mở rộng mạng lưới chi nhánh hàng năm của các NHTMCP khá đồng đều nhau và cao hơn mức bình quân của các NHTM nhà nước từ 2 đến 3 lần. Tuy nhiên khác với các NHTM nhà nước, việc mở rộng mạng lưới chi nhánh của các NHTMCP hiện nay vẫn bị hạn chế bởi các quy định hiện hành của NHNN (chỉ được mở chi nhánh ở các đô thị lớn) hoặc bởi chính khả năng về vốn, nhân lực và công nghệ của các ngân hàng này. Các NHTMCP lớn như Sacombank, ACB, Techcombank, EAB, VPBank, VIB, Eximbank hầu như đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố lớn trên cả 3 miền, nhưng các NHTMCP nhỏ như G-Bank, MSB, SHB, ABBank, SCB thì mới chỉ có chi nhánh và phòng giao dịch ở một số ít thành phố lớn nhất như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh.

Như vậy, xét một cách tổng thể, với mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ rộng rãi và có tốc độ gia tăng nhanh như hiện nay, cả nhóm NHTM nhà nước và NHTMCP đều đang nắm giữ những lợi thế đáng kể so với các NHTM nước ngoài vốn đang bị hạn chế về việc mở thêm chi nhánh trước khi thị trường ngân hàng Việt Nam hoàn toàn mở cửa, nhất là lợi thế trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ đòi hỏi sự tiếp cận trực tiếp tới quảng đại quần chúng. Tuy nhiên các cũng NHTM Việt Nam cũng cần phải nhận thức rằng đó không phải là lợi thế lâu dài và có tính quyết định trong cạnh tranh.

4. Thực trạng về nguồn nhân lực của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Ngành ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc thù của nền kinh tế bởi hoạt động kinh doanh của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi lĩnh vực tài chính, tiền tệ mà có liên quan và tác động sâu rộng tới tất cả các ngành kinh tế khác. Chính bởi vậy, các nghiệp vụ của một NHTM thường rất đa dạng, phong phú, đòi hỏi đội ngũ cán bộ nhân viên phải có trình độ kiến thức cao không chỉ đơn thuần trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bên cạnh kỹ năng nghiệp vụ thuần thục và giàu kinh nghiệm. Để có thể sở hữu một nguồn nhân lực chất lượng cao như vậy, các NHTM phải có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực khôn ngoan và hiệu quả, thể hiện ngay từ chính sách tuyển dụng, đào tạo, trả lương và đãi ngộ hợp lý. Hiện nay hầu hết các NHTM Việt Nam chưa ý thức hết và chưa xây dựng được một chiến lược phát triển nguồn nhân lực như vậy, bởi vậy thực trạng về trình độ, chất lượng nguồn nhân lực của các NHTM Việt Nam còn rất nhiều bất cập. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Qua kết quả khảo sát chất lượng nguồn nhân lực toàn ngành ngân hàng tại hai thời điểm 31/12/1997 và 31/12/2004 cho thấy chất lượng nguồn nhân lực tại các NHTM Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực: tỉ lệ cán bộ nhân viên có trình độ đại học và trên đại học tăng từ 39% lên 72%, trong khi tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn giảm từ 22% xuống còn 14%. Tuy nhiên nếu so sánh các chỉ tiêu này với các NHTM trong khu vực thì các NHTM nước ta còn thua kém khá xa. Hiện nay tỉ lệ cán bộ nhân viên có trình độ đại học và trên đại học trong ngành ngân hàng ở Singapore là trên 86%, ở Thái Lan là trên 81% trong khi tỉ lệ lao động phổ thông lần lượt là 4% và 7% (Nguồn: [1], [2], [42]).

Có thể xem xét cụ thể thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại các NHTM Việt Nam hiện nay thông qua hoạt động tín dụng, lĩnh vực hiện vẫn là chủ đạo và chiếm tỉ trọng doanh thu lớn trong hoạt động kinh doanh của phần lớn các ngân hàng. Thực tế là bản thân các NHTM và đội ngũ cán bộ nhân viên của họ đều mới chỉ trong thời kỳ đầu của việc tìm hiểu và nắm vững những chính sách luật lệ và tập quán tín dụng tiên tiến, do vậy và với tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng như những năm vừa qua, các nhân viên tín dụng đang phải chịu những sức ép của khối lượng công việc gia tăng cũng như tính chất phức tạp của công việc, điều đòi hỏi những kỹ năng và kiến thức mới vượt quá khả năng của họ. Do vậy dẫn đến thực trạng là ở các NHTM nhà nước như Agribank, Incombank, BIDV vốn có địa bàn hoạt động rộng lớn trải rộng trên khắp cả nước, mỗi cán bộ tín dụng phải trực tiếp quản lý từ 1.200 đến 1.400 món nợ, cho dù quy mô nhân lực của các ngân hàng này không hề nhỏ (từ 8.000 đến 20.000 nhân viên tín dụng mỗi ngân hàng) (Nguồn: [2]). Mức quá tải này dẫn đến tình trạng cán bộ tín dụng không hiểu được khách hàng, không theo dõi được thông tin và khả năng thanh toán của khách hàng, cho vay tuỳ tiện thiếu trách nhiệm dẫn đến gia tăng nợ quá hạn, nợ khó đòi. Đó là ở cấp độ nhân viên tác nghiệp, còn đối với các cán bộ quản lý tín dụng thì tồn tại một thực trạng là cán bộ lãnh đạo được trao toàn quyền tự chủ trong việc ra quyết định cho vay nhưng lại không hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượng các khoản vay mà họ ra quyết định, làm nợ xấu của các ngân hàng gia tăng, chất lượng tín dụng giảm sút.

Bên cạnh trình độ kiến thức còn yếu kém, nhận thức và tác phong kỷ luật lao động còn hạn chế, nguồn nhân lực của các NHTM Việt Nam hiện nay còn yếu và thiếu nhiều kỹ năng, phẩm chất không thể thiếu được khi bước vào hội nhập, đó là trình độ ngoại ngữ, trình độ am hiểu và khai thác công nghệ thông tin và các thiết bị tin học hiện đại, khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm. Ngoài ra, hoạt động ngân hàng hiện đại đòi hỏi người lao động phải am hiểu luật pháp quốc tế, có khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và thông tin mới, kỹ năng phân tích, đánh giá và dự báo tốt, trong khi đây đều là những điểm yếu của các cán bộ nhân viên ở các NHTM Việt Nam, dẫn đến sự thiếu hiểu biết thông tin về thị trường, về khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Không những vậy, theo đánh giá của các nhà tuyển dụng và chủ lao động nước ngoài, người lao động Việt Nam thường ít quan tâm chú ý tới việc tự học hỏi để hoàn thiện mình trong môi trường công việc.

Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao của các NHTM Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Bên cạnh yếu tố khách quan là do chất lượng đào tạo đại học của nước ta hiện không cao và đang tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực kém hiệu quả của các ngân hàng cũng là một lý do chủ yếu. Sự kém hiệu quả ấy thể hiện qua chính sách tuyển dụng bất cập. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, tình trạng “con ông cháu cha” vẫn còn rất nặng nề trong ngành ngân hàng, đặc biệt là tại các NHTM nhà nước, làm cho vấn đề tuyển dụng luôn trong vòng luẩn quẩn. Điều này một mặt làm cho các ngân hàng vừa không tuyển được nguồn nhân lực thực sự giỏi, một mặt gây ra tâm lý e ngại và đánh giá không tốt của những sinh viên giỏi đối với ngân hàng, làm giảm uy tín của ngân hàng. Một bộ phận không nhỏ sinh viên giỏi đã quyết định làm việc cho các NHTMCP hay các ngân hàng nước ngoài thay vì các NHTM nhà nước chính bởi lý do này.

Bên cạnh đó, việc tuyển dụng của các NHTM nhà nước vẫn theo kiểu hàng loạt, khi nào cần thì tuyển mà chưa có một chiến lược mang tính lâu dài, đặc biệt là đối với các vị trí quản lý tương lai dành cho những sinh viên xuất sắc. Các tiêu chí tuyển dụng không phải lúc nào cũng rõ ràng và khoa học, không có những quy định cụ thể về những phẩm chất kỹ năng cần thiết với từng vị trí mà vẫn còn đánh giá chung chung, nặng về cảm tính và kinh nghiệm. Các nhà tuyển dụng thường chỉ xem xét đánh giá ứng viên trên phương diện kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệm đơn thuần mà chưa chú trọng đến động lực và sự cam kết làm việc lâu dài của ứng viên với ngân hàng mình. Mặt khác, các NHTM nhà nước hiện nay vẫn rất thụ động trong công tác tuyển dụng thay vì chủ động tiếp cận với nguồn nhân lực có chất lượng cao tại các trường đại học danh tiếng thông qua các buổi gặp gỡ trao đổi với sinh viên để giới thiệu nhu cầu tuyển dụng hiện tại cũng như trong tương lai, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ tại ngân hàng,… hoặc tài trợ học bổng cho các sinh viên giỏi như cách làm của các NHTM trên thế giới hiện nay. Cách tuyển dụng chủ yếu hiện nay vẫn là đăng tuyển dụng trên các phương tiện báo chí rồi chờ người lao động đến nộp hồ sơ. Ngoại trừ Vietcombank trong thời gian gần đây được cho là có chính sách tuyển dụng rõ ràng và hiệu quả, các NHTM nhà nước khác mới bắt đầu có những cải tổ trong chính sách tuyển dụng trong một hai năm trở lại đây.

So với các NHTM nhà nước, hầu hết các NHTMCP đã có những tiến bộ đáng kể trong công tác tuyển dụng, thể hiện qua việc các ngân hàng như Sacombank, ACB, Techcombank, EAB chủ động tìm đến với các sinh viên giỏi ở các trường đại học hàng đầu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh như Đại học bách khoa, Học viện ngân hàng, Đại học ngoại thương, Đại học kinh tế quốc dân tài trợ học bổng từ năm thứ 3. Điều này giúp các ngân hàng này thực sự thu hút được nguồn nhân lực có trình độ cao và làm việc lâu dài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng này trong những năm vừa qua. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Chất lượng nguồn nhân lực không cao của các NHTM Việt Nam còn xuất phát từ chính sách trả lương và đánh giá nhân viên bất cập, chế độ đãi ngộ chưa hợp lý, gây tâm lý chán nản cho một bộ phận không nhỏ cán bộ nhân viên và làm giảm nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm đối với công việc cũng như ý định gắn bó lâu dài với ngân hàng mình làm việc. Mức lương của các cán bộ nhân viên tại các NHTM Việt Nam là tương đối cao so với mặt bằng xã hội (từ 3 đến 10 triệu đồng hoặc cao hơn), nhưng chủ yếu là đối với những nhân viên đã làm việc lâu năm. Hiện nay tại các NHTM Việt Nam, mức lương khởi điểm của các nhân viên mới thường là rất thấp (dưới 2 triệu VND/tháng) trong khi thời gian thử việc và tập sự lại tương đối dài (khoảng từ 3 đến 6 tháng, cá biệt có ngân hàng kéo dài thời gian thử việc và tập sự tới năm), gây ra sự chán nản, mất kiên nhẫn cho các nhân viên mới. Trong khi đó, tại các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, mức lương thử việc là tương đối cao (trên 3,5 triệu VND/tháng), còn thời gian thử việc thường chỉ là 2 tháng (Nguồn: [2]). Trả lương khởi điểm cao là một chiến lược hết sức khôn ngoan của các ngân hàng nước ngoài mà các NHTM Việt Nam cần học tập vì trên thực tế do tâm lý của phần lớn các sinh viên giỏi mới ra trường kỳ vọng có được một môi trường làm việc thuận lợi với thu nhập tương xứng với khả năng của họ, do vậy mà các ngân hàng này không những thu hút được nhiều nhân tài mà còn giữ chân họ ở lại trong thời gian dài. Chính sự khác biệt lớn này đã khiến cho các sinh viên mới ra trường thường có xu hướng chọn làm việc tại các ngân hàng nước ngoài, và nó cũng giải thích vì sao các NHTM Việt Nam sau khi đã mất rất nhiều thời gian, công sức và chi phí tuyển dụng cuối cùng vẫn không giữ được những nhân viên giỏi ở lại.

Tuy nhiên mức lương trả cũng chỉ có giới hạn. Tương tự như với lãi suất cho vay, cạnh tranh bằng trả lương cao chỉ là biện pháp cạnh tranh tạm thời. Điều quan trọng là các ngân hàng sau khi tuyển dụng phải tạo ra một môi trường làm việc hiệu quả, năng động, chuyên nghiệp, cùng với chế độ đánh giá nhân viên, đãi ngộ khách quan, công bằng, xứng đáng để tạo động lực cho nhân viên phấn đấu và cống hiến lâu dài cho ngân hàng. ở phần lớn các NHTM Việt Nam hiện nay, nhất là các NHTM nhà nước, sau khi trải qua những vòng tuyển dụng gắt gao, nhiều nhân viên mới phải bắt đầu từ những công việc không thực sự phù hợp với chuyên môn trong một môi trường làm việc trì trệ thiếu năng động còn ảnh hưởng nhiều từ thời bao cấp, tính chất công việc nhàm chán, nặng về thủ tục hành chính, thiếu sự sáng tạo. Tất cả những bất cập đó gây tâm lý chán nản cho người lao động, nhất là những lao động thực sự giỏi. Bên cạnh đó, các nhân viên mới này chưa được hưởng những chế độ đãi ngộ thật sự xứng đáng, ít được tạo cơ hội rèn luyện nâng cao trình độ và chứng tỏ khả năng của mình. Việc đánh giá nhân viên của các ngân hàng hiện nay vẫn còn mang tính chung chung, bình xét xuê xoa chủ yếu dựa trên thời gian thâm niên công tác chứ chưa dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể và khoa học để có chính sách thăng chức, tăng lương, thưởng, phạt công bằng và hợp lý (chẳng hạn như số lượng đầu công việc, mức độ khó và hiệu quả của công việc đã hoàn thành, mức độ tiến bộ về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của nhân viên qua từng năm, ý thức tự rèn luyện học hỏi để nâng cao khả năng,…) nên đã không thực sự động viên khuyến khích những nhân viên giỏi. Chính những điều đó đã lý giải phần nào chất lượng nguồn nhân lực chưa cao hiện nay của các NHTM Việt Nam.

Không chỉ phải đối phó với thực trạng chất lượng nguồn nhân lực không cao, các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTM nhà nước còn đang phải đứng trước hiện trạng chảy máu chất xám ngay trong nước khi bị các ngân hàng nước ngoài ngày càng lấy mất nhiều hơn những nhân viên giỏi, do điều kiện môi trường làm việc, thu nhập, cơ hội hoàn thiện bản thân và thăng tiến tại các ngân hàng nước ngoài hơn hẳn các ngân hàng trong nước. Không chỉ có được những nhân viên bản địa giỏi mà không phải mất thời gian và chi phí đào tạo lại, các ngân hàng nước ngoài còn có được từ số nhân viên này kinh nghiệm và hiểu biết về môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá của nước sở tại cũng như nguồn khách hàng mà trước đây đã từng là khách hàng của ngân hàng cũ mà họ làm việc.

Do đó, việc đổi mới chính sách xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với bối cảnh hội nhập để có thể thu hút và giữ chân các nhân viên giỏi là một nhiệm vụ cấp bách với các NHTM Việt Nam nhằm đứng vững và lớn mạnh trong cạnh tranh.

5. Thực trạng về trình độ công nghệ ngân hàng của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hoá hoạt động ngân hàng là vấn đề tối quan trọng đối với các NHTM Việt Nam hiện nay trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo tính toán và kinh nghiệm của các NHTM phát triển trên thế giới, công nghệ ngân hàng hiện đại có thể giúp các ngân hàng tiết kiệm từ 60% đến 80% chi phí hoạt động ngân hàng (Nguồn: [41]). ý thức được tầm quan trọng của công nghệ trong bối cảnh hiện nay, trong những năm vừa qua, các NHTM nhà nước và các NHTMCP không ngừng đầu tư nghiên cứu, nhận chuyển giao, ứng dụng những công nghệ ngân hàng tiên tiến hiện đại hiện đã và đang được các NHTM hàng đầu trong khu vực và trên thế giới áp dụng. Hết năm 2004, giai đoạn 1 của dự án Hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do WB tài trợ theo Hiệp định Tín dụng phát triển, áp dụng cho 6 ngân hàng (Incombank, Vietcombank, Agribank, BIDV, Eximbank và MSB) đã được thực hiện thành công (Nguồn: [2]). Dự án bao gồm việc xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ điện tử và quyết toán liên ngân hàng do NHNN Việt Nam đảm nhiệm (trong phạm vi 5 tỉnh, thành phố) và hệ thống thanh toán nội bộ và nghiệp vụ ngân hàng cốt lõi (CoreBanking) của 6 ngân hàng trên. Giai đoạn 1 của dự án bao gồm các tiểu dự án là Tiểu dự án thanh toán liên ngân hàng (bao gồm Hệ thống thanh toán giá trị cao, Hệ thống thanh toán giá trị thấp và Hệ thống bù trừ và quyết toán ròng) và các Tiểu dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán của 6 NHTM. Thông qua việc triển khai các Tiểu dự án này, 6 ngân hàng tham gia đã xây dựng được một hệ thống thanh toán và hệ thống nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, tương đương với trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Các giao dịch thanh toán, chuyển tiền đã được thực hiện an toàn và nhanh chóng hơn trước rất nhiều. Việc giao dịch bằng chứng từ điện tử thay thế hoàn toàn cho việc trao đổi trực tiếp các chứng từ giấy đã tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí cho các bên liên quan. Hiện nay, giai đoạn 2 của dự án gồm 2 phần chính (mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng IBPS và mở rộng các giải pháp ngân hàng cơ bản CBS) trị giá hơn 105 triệu USD do WB cấp vốn đang được tiếp tục thực hiện (Nguồn: [5], [9]). Giai đoạn 2 của dự án hoàn thành sẽ giúp nâng cao năng lực cho các trung tâm xử lý của hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng và các NHTM cũng được bổ sung thêm chức năng cho hệ thống thanh toán nội bộ.

Các NHTM khác không nằm trong Tiểu dự án cũng đã tích cực tự tìm kiếm nguồn vốn, nguồn tài trợ và tự đầu tư các chương trình phần mềm vi tính và các thiết bị tin học hiện đại, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và thanh toán dịch vụ của ngân hàng. Đến nay tất cả các NHTM nhà nước và hầu hết các NHTMCP đã triển khai và ứng dụng thành công Hệ thống nghiệp vụ ngân hàng cốt lõi (CoreBanking) (Nguồn: [9]). Hệ thống này cho phép các ngân hàng thay đổi căn bản các quy trình nghiệp vụ theo phương thức thủ công trước đây của các ngân hàng sang chuẩn nghiệp vụ tự động hoá của khu vực và quốc tế, góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh.

Ngoài ra, trên nền tảng công nghệ hiện đại, cho đến nay 4 NHTM nhà nước và NHTMCP đã triển khai hoặc thí điểm triển khai các phương thức và công cụ thanh toán hiện đại như thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng nội địa và quốc tế để gửi/rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM, chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ tại các POS (Điểm chấp nhận thanh toán thẻ), thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, nạp tiền vào tài khoản từ máy ATM,… (Nguồn: [9], [13]). Việc ứng dụng công nghệ thẻ hiện đại hiện nay góp phần tăng tính an toàn, tiện lợi và đơn giản cho khách hàng trong giao dịch và thanh toán, tạo thói quen cho người dân trong việc sự dụng các phương tiện tiền điện tử thay cho tiền mặt trong đời sống hàng ngày.

Bên cạnh đó, các NHTM Việt Nam trong thời gian vừa qua cũng không ngừng đầu tư tìm tòi nghiên cứu, triển khai các phần mềm ứng dụng, tiện ích hiện đại đã và đang được các NHTM hàng đầu trong khu vực và trên thế giới áp dụng. Vietcombank sau khi nối mạng nội bộ cho toàn hệ thống đã xây dựng được và áp dụng phần mềm Hệ thống thông tin quản lý (MIS) từ năm 2004, giúp cho việc quản lý, chỉ đạo và điều hành của toàn hệ thống được nhanh nhạy, thông suốt, chính xác và kịp thời hơn. Sacombank và VIB đã áp dụng Hệ thống CoreBanking phiên bản mới T24 tại hầu hết các chi nhánh trong hệ thống cho phép thực hiện các giao dịch với tốc độ cao hơn 24/24h. ACB đã triển khai và ứng dụng Hệ quản trị nghiệp vụ Ngân hàng bán lẻ TCBS (The Complete Banking Solution) để trực tuyến hoá các giao dịch. VIB trong năm 2005 vừa qua bắt đầu triển khai Hệ thống ngân hàng đa năng SYMBOLS do System Access cung cấp (đây là giải pháp ngân hàng đa năng trọn gói cung cấp chức năng cho các hệ thống nghiệp vụ Ngân hàng bán lẻ, Ngân hàng bán buôn, Ngân hàng Internet và Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng, có khả năng đáp ứng cho mọi ngân hàng có quy mô từ 7 đến 1.200 chi nhánh) và ký hợp đồng mua Hệ thống chuyển mạch tài chính và quản lý thẻ từ Công ty Card Tech Limited của Anh để phát triển đột phá lĩnh vực hoạt động thẻ trong thời gian tới. Techcombank trong năm vừa qua đã mua phần mềm chuyển mạch (Switching) và quản lý thẻ (CMS) của tập đoàn Compass Plus (Nga). Seabank và Techcombank kể từ năm 2005 đã triển khai phần mềm ứng dụng tiên tiến nhất tại Việt Nam hiện nay là phần mềm Temenos T24 R5 do hãng Temenos (Thụy Sỹ) cung cấp, cho phép thực hiện trên 1.000 giao dịch/giây, cùng một lúc đáp ứng 110.000 người truy cập hệ thống trong suốt 24h trong ngày. Đầu năm 2006 vừa qua, EAB đã bắt tay với tập đoàn ngân hàng GRG (Trung Quốc) – nhà sản xuất máy ATM hàng đầu thế giới – để mua 420 máy ATM thuộc thế hệ 2 đầu tiên trên toàn thế giới trước khi nó được bán rộng rãi trên thị trường thế giới. Trên nền tảng công nghệ ngân hàng hiện đại, hầu hết các NHTM Việt Nam đã cung cấp các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại trên thế giới hiện nay là PhoneBanking, HomeBanking, SMSBanking để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

NHTM đã triển khai ứng dụng dịch vụ phương thức giao dịch hiện đại hơn là InternetBanking và 2 ngân hàng (Vietcombank và EAB) đã triển khai thí điểm phương thức giao dịch ngân hàng tiên tiến nhất thế giới hiện nay là E-Banking

Nhìn chung với những sự đầu tư mạnh tay trong thời gian vừa qua, trình độ công nghệ ngân hàng hiện nay của các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTM nhà nước và các NHTMCP lớn, đã được nâng lên đáng kể. Các ngân hàng đã có một nền tảng khá vững chắc và nhiều triển vọng cho một hệ thống thanh toán hiện đại, dần phù hợp và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, sẵn sàng cho các giai đoạn phát triển tiếp theo phù hợp với xu thế phát triển các NHTM trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là trong tiến trình tự do hoá và hội nhập quốc tế lĩnh vực ngân hàng.

Nền tảng công nghệ của các NHTM Việt Nam hiện nay khá vững chắc, tuy nhiên năng lực sử dụng và khai thác trang thiết bị công nghệ hiện đại còn nhiều hạn chế. Điều đó thể hiện ở việc công tác xây dựng, chỉnh sửa và ban hành các văn bản pháp lý của các ngân hàng chưa theo kịp với những đòi hỏi của việc ứng dụng và phát triển công nghệ ngân hàng. Các khoá đào tạo nâng cao nghiệp vụ, các văn bản hướng dẫn quy trình nghiệp vụ mới phù hợp với các công nghệ ngân hàng tiên tiến hiện đại còn thiếu sót và ít ỏi đã làm cho việc ứng dụng và khai thác triệt để công nghệ mới gặp nhiều chậm trễ và hạn chế. Hơn nữa, tỷ lệ nhân viên cao tuổi tại các NHTM Việt Nam, nhất là các NHTM nhà nước là khá cao, trong khi thế hệ nhân viên này thường chậm nắm bắt và thích nghi với công nghệ ngân hàng hiện đại cũng đã làm cho việc ứng dụng các công nghệ này thêm phần khó khăn. Sự hợp tác giữa các NHTM Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ ngân hàng hiện đại hiện nay còn thiếu gắn kết và có nhiều bất cập, gây ra sự lãng phí chung trong toàn ngành, chẳng hạn như trong việc khai thác hệ thống máy ATM hiện nay. Do việc trang bị không đồng bộ và thiếu liên kết giữa các ngân hàng nên thường chủ thẻ của một ngân hàng chỉ có thể rút tiền hay thanh toán tại chính máy ATM của ngân hàng đó chứ không thể rút tiền hay thanh toán thông qua các máy ATM của các ngân hàng khác, dẫn đến số lượng máy ATM mà mỗi ngân hàng phải lắp đặt là rất lớn. Về mặt khách quan, mức thu nhập của xã hội còn thấp cộng với trình độ hiểu biết, nắm bắt và khả năng tiếp cận, sử dụng các công nghệ hiện đại vẫn còn nhiều hạn chế của người dân và các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng là những nguyên nhân khiến cho các NHTM Việt Nam không thể triển khai và khai thác tối đa hiệu quả các công nghệ ngân hàng hiện đại. Tất cả những hạn chế đó đã dẫn đến thực trạng công nghệ ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn tụt hậu đáng kể so với khu vực và thế giới.

6. Thực trạng về thị phần trong nước của các NHTM Việt Nam trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

6.1. Hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng

Như đã trình bày ở trên, trong bối cảnh danh mục sản phẩm dịch vụ mà các NHTM Việt Nam cung cấp trên thị trường ngân hàng hiện nay vẫn còn kém đa dạng, lĩnh vực huy động vốn và cho vay vẫn là những dịch vụ đóng vai trò chủ đạo, đem lại trên 70% tổng thu nhập cho các NHTM Việt Nam. Vì vậy, tính chất, mức độ cạnh tranh và cơ cấu thị phần giữa các ngân hàng trong lĩnh vực này cũng phản ánh tương đối chính xác tính chất, mức độ cạnh tranh và cơ cấu thị phần giữa các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung ở nước ta hiện nay.

Trong giai đoạn khoảng 3 năm vừa qua, lĩnh vực huy động vốn và cho vay trên thị trường ngân hàng Việt Nam ghi nhận sự chuyển biến đáng kể trong cơ cấu thị phần giữa các nhóm ngân hàng theo hướng thị phần của các NHTM nhà nước sụt giảm rõ rệt trong khi thị phần của các NHTMCP, NHTM liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng dần. Tuy nhiên có một điều không thay đổi là hiện nay các NHTM nhà nước vẫn đang chiếm thị phần tuyệt đối trong cả 2 lĩnh vực này, trong khi thị phần của 2 nhóm NHTM còn lại là tương đối cân bằng nhau. Thị phần huy động vốn và cho vay của các nhóm NHTM tại Việt nam tại thời điểm năm 2003 và hết tháng 9/2006 được trình bày cụ thể trong bảng II.12 dưới đây. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Bảng II.12: Thị phần huy động vốn và cho vay của các nhóm ngân hàng trên thị trường Việt Nam vào năm 2003 và tháng 9/2006

Căn cứ vào các số liệu trên ta có thể thấy hiện nay thị phần huy động vốn và nhất là thị phần cho vay của các NHTM nhà nước đã sụt giảm đáng kể so với cách đây 3 năm trong khi thị phần của khối NHTMCP trong 2 lĩnh vực này lại tăng khá mạnh. Về lĩnh vực huy động vốn, hiện nay thị phần của các NHTM chỉ còn chiếm 71,71% toàn thị trường, trong đó Vietcombank là ngân hàng dẫn đầu toàn hệ thống NHTM Việt Nam về thị phần huy động với 20,5%, tiếp theo là Agribank với 20,2%, BIDV với 14,6% và Incombank với 14,3%. Thị phần huy động của toàn khối NHTMCP hiện đạt 14,21%, trong đó các ngân hàng có thị phần huy động vốn so với toàn hệ thống NHTM lớn nhất có thể kể tới là Sacombank (2,2%), ACB (2,0%), Techcombank (1,6%) Eximbank (1,4%), VPBank (1,2%), EAB (1,0%). Nhìn chung thị phần huy động vốn hiện nay của mỗi NHTMCP là rất nhỏ, thường là dưới 1% (Nguồn: [5], [47]-[49]).

Về hoạt động tín dụng, hiện nay thị phần của các NHTM nhà nước tuy vẫn giữ tỉ lệ áp đảo so với các nhóm NHTM khác nhưng chỉ còn đạt 67,02%, trong đó BIDV đã vươn lên dẫn đầu toàn khối NHTM nhà nước nói riêng và toàn hệ thống NHTM Việt Nam nói chung về thị phần cho vay với 20,9%, tiếp đó là Agribank với 18,4% và Incombank với 15,1%. Hoạt động tín dụng hiện nay không phải là thế mạnh của Vietcombank khi thị phần cho vay của Vietcombank đang có xu hướng giảm và hiện chỉ chiếm 8,56% toàn thị trường. Thị phần cho vay của khối NHTMCP đang tăng mạnh trong thời gian gần đây và hiện nay chiếm 16,34% toàn ngành, trong đó một số NHTMCP có thị phần cho vay cao trong khối này là ACB (2,6%), Sacombank (2,1%), Eximbank (1,6%), Techcombank (1,7%), VIB (1,2%), EAB (1,1%)Những diễn biến hiện nay về cơ cấu thị phần huy động vốn và cho vay trên thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay báo hiệu sự cạnh tranh khốc liệt trong các lĩnh vực này khi thị trường ngân hàng Việt Nam mở cửa và hội nhập. Các NHTM nhà nước vẫn đang nắm giữ thị phần tuyệt đối do có được nhiều lợi thế về quy mô vốn, quy mô tài sản, mạng lưới chi nhánh so với các nhóm ngân hàng khác, tuy nhiên thị phần này đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi các NHTMCP và các NHTM nước ngoài. Tiềm năng của thị trường vẫn còn rất nhiều cho các NHTMCP và nhất là các NHTM nước ngoài.

6.2. Hoạt động thanh toán quốc tế và chi trả kiều hối Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các hoạt động XNK của nước ta ngày càng sôi động hơn, kéo theo nhu cầu thanh toán quốc tế hàng hoá dịch vụ qua hệ thống ngân hàng ngày càng gia tăng mạnh hơn. Lĩnh vực thanh toán quốc tế đang có sự tăng trưởng mạnh, không chỉ về mặt doanh số mà còn về mặt số lượng các NHTM tham gia vào thị trường và ngày càng trở thành một hoạt động dịch vụ đem lại tỉ trọng thu nhập cao cho các NHTM Việt Nam. Thị phần thanh toán quốc tế của các NHTM nhà nước trong thời gian vừa qua xét về mặt doanh số đã giảm mạnh do sự tham gia mạnh mẽ vào thị trường này của các NHTMCP, NHTM liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong năm 2005 vừa qua, tổng doanh số thanh toán quốc tế qua hệ thống NHTM đạt xấp xỉ 69 tỷ USD, trong đó thị phần doanh số thanh toán quốc tế của các NHTM nhà nước đạt trên 55,4% (tương đương với 38,2 tỷ USD), thị phần của các NHTMCP vào khoảng 27,6% (tương đương với 19,1 tỷ USD), thị phần của các NHTMLD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 17% (tương đương với 11,7 tỷ USD). Trong khối NHTM nhà nước, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu toàn ngành ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế năm vừa qua với tổng doanh số đạt trên 20,73 tỷ USD, chiếm thị phần tuyệt đối (30%) so với các ngân hàng khác trong hệ thống NHTM Việt Nam. Các ngân hàng BIDV, Agribank và Incombank lần lượt ở các vị trí tiếp theo với thị phần tương ứng là 9,42% (tương đương 6,5 tỷ USD), 8,55% (tương đương 5,9 tỷ USD) và 7,39% (tương đương 5,1 tỷ USD) (Nguồn: [5], [10], [21]-[25]).

Về phía các NHTMCP, từ chỗ chỉ có chưa đầy 10 ngân hàng tham gia vào lĩnh vực thanh toán quốc tế vào năm 2000 thì hiện nay gần như tất cả các NHTM đã gia nhập thị trường đầy tiềm năng này. Trong số các NHTMCP cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, EAB, Eximbank, Sacombank, ACB và Techcombank là những ngân hàng có doanh số thanh toán cao nhất trong năm vừa qua: Eximbank đạt 1,7 tỷ USD (chiếm thị phần 2,46%), EAB đạt 1,2 tỷ USD (chiếm thị phần 1,74%), Sacombank đạt 1,4 tỷ USD (chiếm thị phần 2,03%), ACB đạt gần 1 tỷ (chiếm thị phần 1,45%), Techcombank đạt 1,3 tỷ USD (chiếm thị phần 1,88%). Lĩnh vực thanh toán quốc tế là một trong những lĩnh vực dịch vụ phát triển với nhịp độ nhanh nhất của các NHTMCP và ngày càng đem lại tỉ trọng thu nhập lớn hơn cho các ngân hàng này trong thời gian vừa qua (Nguồn: [5], [10], [26]-[39]). Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Bên cạnh dịch vụ thanh toán quốc tế, lĩnh vực chi trả kiều hối hiện nay cũng là một dịch vụ thu hút sự quan tâm của rất nhiều ngân hàng do lượng kiều hối do người Việt Nam đang làm việc, sinh sống ở nước ngoài gửi về nước ngày càng tăng mạnh. Năm 2005 vừa qua, tổng lượng kiều hối đạt mức kỷ lục là trên 4 tỷ USD, trong đó lượng kiều hối chuyển về nước qua hệ thống NHTM ước đạt 3,8 tỷ USD. Trong số các NHTM Việt Nam, Vietcombank cũng vẫn là ngân hàng dẫn đầu về doanh số chi trả kiều hối với gần 1,5 tỷ USD (chiếm thị phần áp đảo là 31,25%), tiếp đến là các NHTM nhà nước khác như Agribank đạt 401 triệu USD (chiếm thị phần 10,53%), BIDV đạt 386 triệu USD (chiếm thị phần 10,16%), Incombank đạt 370 triệu USD (chiếm thị phần 9,74%). Trong số gần 20 NHTMCP tham gia lĩnh vực chi trả kiều hối năm 2005, EAB là ngân hàng dẫn đầu về doanh số chi trả kiều hối với 681 triệu USD (chiếm thị phần 17,92%), tiếp theo là Eximbank với 348 triệu USD (chiếm thị phần 9,16%) và Techcombank với 285 triệu USD (chiếm thị phần 7,5%) (Nguồn: [5], [10], [21]-[39]).

6.3. Hoạt động kinh doanh ngoại hối

Bên cạnh các hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán và chi trả kiều hối thì kinh doanh ngoại hối cũng là một hoạt động chủ đạo và là hoạt động truyền thống, có mặt trong danh mục sản phẩm dịch vụ của hầu hết các NHTM Việt Nam. Năm 2005, doanh số mua bán ngoại tệ của toàn hệ thống NHTM Việt Nam ước đạt gần 70 tỷ USD, trong đó doanh số mua bán ngoại tệ của khối NHTM nhà nước đạt trên 50 tỷ USD, chiếm thị phần chủ đạo so với toàn ngành (trên 71,4%). Vietcombank tiếp tục phát huy truyền thống và chứng tỏ vị trí số một trên thị trường giao dịch ngoại hối xét cả về mặt doanh số giao dịch và lợi nhuận thu được. Năm 2005, tổng doanh số mua bán ngoại tệ của Vietcombank đạt trên 16,1 tỷ USD (chiếm 23% doanh số mua bán ngoại tệ của toàn thị trường ngân hàng Việt Nam) và chỉ riêng lợi nhuận thu được từ hoạt động này cũng đem lại cho ngân hàng này gần tỷ VND. Các NHTM nhà nước khác cũng có doanh số mua bán ngoại tệ khá cao trong năm vừa qua: doanh số giao dịch ngoại tệ của BIDV đạt 13,8 tỷ USD (chiếm thị phần 19,71%), Agribank đạt 10,8 tỷ USD (chiếm thị phần 15,43%) và Incombank đạt 9,2 tỷ USD (chiếm thị phần 13,14%) (Nguồn: [5], [10], [21]-[25]). Những con số này khẳng định thế mạnh tuyệt đối của các NHTM nhà nước so với các nhóm ngân hàng khác trên thị trường ngân hàng Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ hiện nay.

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện nay không phải là thế mạnh của hầu hết các NHTMCP, tuy nhiên một số ngân hàng lớn cũng đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực này. Trong năm vừa qua, Eximbank chính là ngân hàng có doanh số mua bán ngoại tệ cao nhất trong khối NHTMCP với 6,4 tỷ USD (chiếm 9,14% doanh số giao dịch ngoại tệ của toàn hệ thống) và thu được khoản lợi nhuận gần 35,4 tỷ VND. Có thể nói đây chính là hoạt động thế mạnh của Eximbank hiện nay vì chỉ riêng lợi nhuận từ hoạt động này đã chiếm 14,69% tổng lợi nhuận trước thuế của toàn bộ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng này trong năm vừa qua. Sacombank, ACB và Habubank cũng là những ngân hàng có doanh số mua bán ngoại tệ nhiều nhất trong số các NHTMCP trong năm 2005 với doanh số lần lượt là 3,8 tỷ USD (chiếm thị phần 5,43%), 3,7 tỷ USD (chiếm thị phần 5,29%) và 1,9 tỷ USD (chiếm thị phần 2,71%) (Nguồn: [5], [10], [26]-[39]).

6.4. Hoạt động thẻ Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Lĩnh vực dịch vụ thẻ chính là lĩnh vực dịch vụ mới đầy tiềm năng và có sức hút to lớn nhất đối với các NHTM trên thị trường ngân hàng Việt Nam, đồng thời cũng là lĩnh vực ghi nhận những bước phát triển mạnh mẽ và vượt bậc nhất của các NHTM Việt Nam. Dịch vụ thẻ chỉ mới ra đời ở nước ta từ những năm 1995, 1996 với việc Vietcombank phát hành thẻ ATM ra thị trường, nhưng đã thực sự bùng nổ kể từ năm 2002 khi nhiều NHTM nhà nước, NHTMCP, NHTM liên doanh rồi đến các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đồng loạt phát hành các thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng quốc tế và lắp đặt hệ thống máy giao dịch tự động ATM trên phạm vi rộng. Trong giai đoạn 2002-2005, thị trường thẻ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 300%/năm. Tính đến hết tháng 8/2006, các NHTM tại Việt Nam đã phát hành gần 3,5 triệu thẻ các loại, trong đó có 3 triệu thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng nội địa và 0,5 triệu thẻ quốc tế, hơn 2.200 máy ATM và hơn 14.000 đơn vị chấp nhận thẻ. Với tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực thẻ như hiện nay, theo ước tính của Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, tính đến cuối năm 2006 cả nước sẽ có gần 3,8 triệu thẻ các loại, trong đó thẻ quốc tế là 0,6 triệu. Doanh số thanh toán thẻ nội địa và thẻ quốc tế trong năm 2005 đạt gần 618 triệu USD. Doanh số sử dụng thẻ quốc tế cuối năm sẽ đạt 200 triệu USD, tăng 50 lần so với cuối năm 2002 (Nguồn: [2], [10], [13], [49]). Thẻ nội địa và thẻ quốc tế không chỉ tăng về mặt số lượng và chủng loại mà còn về cả chất lượng. Từ chức năng đầu tiên chỉ cho phép chủ thẻ rút tiền, chuyển khoản, xem số dư từ máy ATM, hiện nay các loại thẻ còn cho phép nạp tiền vào tài khoản từ máy ATM, “chi tiêu trước, trả tiền sau”, thanh toán tiền điện thoại, điện, nước, tiền hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ,…

Trong số các NHTM Việt Nam tham gia thị trường thẻ hiện nay, Vietcombank là ngân hàng dẫn đầu thị trường về cả về số lượng thẻ nội địa, thẻ quốc tế, doanh số thanh toán thẻ và hệ thống máy ATM. Chỉ tính đến hết tháng 8/2006, Vietcombank đã phát hành trên 1 triệu thẻ nội địa Connect 24 (chiếm 34% số lượng thẻ nội địa trên thị trường Việt Nam), trên 53.000 thẻ tín dụng quốc tế mang các thương hiệu Master, Visa, VCB-Amex, VCB-MTV (chiếm trên 10,6% tổng số thẻ quốc tế), hệ thống máy ATM bao gồm 596 máy (chiếm gần 27% tổng số máy ATM của toàn hệ thống ngân hàng). Doanh số thanh toán thẻ nội địa và thẻ quốc tế của Vietcombank trong năm 2005 đạt 315 triệu USD (chiếm 51% doanh số thanh toán thẻ cuả toàn thị trường). Mặc dù gia nhập thị trường thẻ muộn hơn Vietcombank, các NHTM nhà nước khác cũng có sự tăng trưởng mạnh trong hoạt động thẻ thời gian vừa qua. Hiện nay, Incombank hiện nay đã phát hành trên 500.000 thẻ nội địa và thẻ quốc tế (chiếm 14,29% thị phần) và có 352 máy ATM (chiếm 15,91% tổng số máy ATM). BIDV đã phát hành trên 400.000 thẻ các loại và có 400 máy ATM (chiếm 11,4% số lượng thẻ và 18,2% số lượng máy ATM). Agribank cũng đã cung cấp trên 380.000 thẻ cho khách hàng cùng với mạng lưới gần 300 máy ATM (chiếm 10,9% thị phần thẻ và 13,6% thị phần máy ATM). Về phía các NHTMCP, hiện nay đã có 18 NHTMCP phát hành thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng (trong đó có 5 ngân hàng phát hành thẻ tín dụng quốc tế). Tổng số thẻ các loại được phát hành của các NHTMCP hiện nay là xấp xỉ 1,1 triệu thẻ (chiếm 31,43% thị phần) và tổng số máy ATM là trên 500 máy ATM (chiếm 22,7% thị phần), trong đó các ngân hàng dẫn đầu về số thẻ phát hành và số lượng máy ATM là Sacombank, EAB, ACB,Techcombank và VIB (Nguồn: [2], [10], [13], [21]-[39], [49]).

7. Thực trạng về kết quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định là một chỉ tiêu rất quan trọng vì nó phản ánh tương đối rõ nét, chính xác tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả hay không. Kết quả kinh doanh được đo lường qua chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế và các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời như Tỉ suất sinh lời của Tổng tài sản ROA (Return on Asset) và Tỉ suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity).

Các chỉ tiêu về lợi nhuận trước thuế và khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam trong thời gian gần đây (năm 2004 và 2005) được thể hiện cụ thể trong Bảng II.13 và II.14 dưới đây. Kết quả của những chỉ tiêu này nói lên rằng hai năm vừa qua có thể coi là hai năm kinh doanh khá thành công của các NHTM Việt Nam, đặc biệt là khối NHTMCP, thể hiện trước hết ở việc các ngân hàng đều hoạt động có lãi với mức lợi nhuận năm sau cao hơn khá nhiều so với năm trước, ngoại trừ trường hợp của BIDV (lợi nhuận của BIDV trong năm 2005 giảm 70,6 tỷ VND so với năm 2004). Vietcombank tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu trong khối NHTM nhà nước và toàn ngành ngân hàng về số lợi nhuận tuyệt đối với nhiều năm liên tục đạt mức lợi nhuận trước thuế cao và bỏ xa các ngân hàng khác (năm 2004 là 1.275,1 tỷ VND và năm 2005 là 3.154,7 tỷ VND). Các NHTM nhà nước khác cũng đạt được mức lợi nhuận tương đối cao trong 2 năm qua: Agribank lẫn lượt lãi 572,9 và 781,7 tỷ VND; BIDV là 811,5 và 740,9 tỷ VND; Incombank là 351,8 và 719,7 tỷ VND; riêng MHB do quy mô nhỏ hơn hẳn nên mức lãi chỉ là 57,8 và 83,1 tỷ VND.  Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

Bảng II.13: Tình hình lợi nhuận và khả năng sinh lời của các NHTMNN năm 2004 và 2005

Về phía các NHTMCP, 2 năm vừa qua ghi nhận những thành công vượt bậc trong kết quả hoạt động kinh của các ngân hàng này. Đặc biệt năm 2005 có thể coi là năm bội thu của khối NHTMCP với việc nhiều ngân hàng đạt mức lợi nhuận kỷ lục trong lịch sử hình thành và phát triển của mình: ACB lãi trên 385,3 tỷ (cao nhất trong khối NHTMCP); Sacombank lãi 306,1 tỷ (đứng thứ 2); Techcombank lãi 286 tỷ (đứng thứ 3); Eximbank sau nhiều năm thua lỗ và phải đặt trong tình trạng kiểm soát chặt chẽ của NHNN cũng đã hoạt động có lãi 241 tỷ VND trong năm vừa qua; tiếp theo lần lượt là EAB với 138,5 tỷ, Saigonbank với 111,1 tỷ và Habubank với 103,2

Lợi nhuận trước thuế phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng về mặt số tuyệt đối, còn hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng được đo lường chính xác hơn thông qua các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời ROE và ROA. Xét về những chỉ tiêu này thì có thể nhận ra một thực tế là mặc dù cả khối NHTM nhà nước và khối NHTMCP đều kinh doanh có lãi trong thời gian vừa qua nhưng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM nhà nước đang có sự thua kém đáng kể so với các NHTMCP. Hiện nay nhìn chung các NHTM nhà nước, ngoại trừ Vietcombank, hoạt động kinh doanh tương đối kém hiệu quả, thể hiện ở mức tỷ suất sinh lời của tổng tài sản và tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu thấp hơn khá nhiều so với mức bình quân của các NHTM trong khu vực và trên thế giới: tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu của các NHTM nhà nước mới chỉ đạt từ 5% đến 11%, tỷ suất sinh lời của tổng tài sản mới chỉ đạt từ 0,3% đến 0,7% trong khi mức bình quân của các NHTM trong khu vực và trên thế giới hiện nay lần lượt là trên 15% với ROE và trên 1% với ROA. Chỉ có Vietcombank được xem là hoạt động kinh doanh tương đối hiệu quả với các chỉ tiêu về khả năng sinh lời tiếp cận được với chuẩn mực khu vực và thế giới: ROE đạt trên 14% và ROA trên 1%. Mức sinh lời kém phản ánh hoạt động kinh doanh kém hiệu quả và khả năng kiểm soát chi phí không tốt của các NHTM nhà nước. Đây là một thách thức đáng kể đối với các ngân hàng này trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong khi đó, hầu hết các NHTMCP Việt Nam hiện nay đều kiểm soát khá tốt chi phí và hoạt động kinh doanh tương đối hiệu quả, biểu hiện ở việc các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và của tổng tài sản đã đạt và vượt mức bình quân của các NHTM trong khu vực và trên thế giới: chỉ tiêu ROE hiện nay của phần lớn các NHTMCP Việt Nam đã đạt từ 15% đến 20% (cá biệt các ngân hàng như ACB, Saigonbank, Sacombank, Techcombank, Eximbank đạt trên 20%) còn chỉ tiêu ROA cũng ở mức từ 1% đến trên 1,5% hoặc thậm chí một số ngân hàng như ACB, Sacombank, Techcombank, Saigonbank còn đạt mức cao hơn.

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời ở mức cao của các NHTMCP hiện nay là kết quả của những nỗ lực đáng ghi nhận của các ngân hàng này cũng như phản ánh khá trung thực và chính xác tình hình hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng này trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên về lâu dài mức độ bền vững của những chỉ tiêu này đến đâu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc các NHTMCP tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trên thực tế kết quả tích cực này của các NHTMCP có được phần nào là do sự bảo hộ của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, bởi vậy nó chưa phản ánh đầy đủ khả năng cạnh tranh thực sự của các ngân hàng này so với các NHTM nước ngoài. Xét trên bình diện quốc tế, những kết quả mà các NHTMCP đạt được vẫn còn rất khiêm tốn. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Giải pháp đẩy mạnh HĐKD của ngân hàng VCB

One thought on “Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464