Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của một NHTM

Với sự phát triển của lĩnh vực tài chính nói chung và của dịch vụ ngân hàng hiện nay, các hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại ngày càng trở nên đa dạng và sâu rộng hơn. Bởi vậy, việc đánh giá một cách toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh của một NHTM là rất khó khăn và phức tạp. Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM không chỉ đơn thuần thể hiện ở những con số, những chỉ tiêu về nguồn lực và kết quả kinh doanh mà còn được biểu thị thông qua cách thức tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh, các chiến lược kinh doanh hiện tại và trong dài hạn, các tác động về mặt kinh tế, tài chính và xã hội cũng như tiềm năng, triển vọng phát triển trong tương lai. Do đó việc nghiên cứu để đưa ra một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể, có trọng tâm để đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM là rất cần thiết. Trong khuôn khổ hạn hẹp của khoá luận tốt nghiệp, hệ thống chỉ tiêu được xây dựng để đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam bao gồm các yếu tố sau đây: Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

1. Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của một NHTM thể hiện sức mạnh của ngân hàng đó tại một thời điểm nhất định. Việc đánh giá thực trạng về năng lực tài chính của các NHTM trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp dựa trên Hệ thống đánh giá ngân hàng CAMELS của Hoa Kỳ, theo đó thực trạng về năng lực tài chính được thể hiện qua các chỉ tiêu chính sau:

Quy mô vốn và mức độ an toàn vốn (Capital and Capital Adequacy Ratio): Quy mô về vốn, cụ thể là quy mô vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của một NHTM là thước đo sức mạnh tài chính nội tại của ngân hàng đó, tốc độ tăng quy mô về vốn phản ánh phần nào tốc độ tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh. Mức độ an toàn vốn được thể hiện ở Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio), nói lên khả năng chống đỡ và hoạt động an toàn của ngân hàng trước các rủi ro biến động về vốn. Hệ số CAR theo Uỷ ban giám sát ngân hàng BASEL được tính bằng tỉ lệ Vốn chủ sở hữu/Tài sản “có” rủi ro, trong đó Vốn chủ sở hữu bao gồm Vốn điều lệ và các quỹ, còn tài sản “có” rủi ro bao gồm tài sản nội bảng và ngoại bảng được điều chỉnh theo hệ số rủi ro tương ứng. Có 2 loại hệ số CAR tương ứng với 2 cách tính Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên thông thường người ta nghiên cứu hệ số CAR loại II, tức là hệ số CAR trong đó Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cơ sở (gồm điều lệ và các quỹ bổ sung vốn điều lệ) và các nguồn vốn bổ sung (các quỹ dự phòng, các công cụ nợ lưỡng tính,…). Trong phạm vi bài viết, hệ số CAR được hiểu là hệ số CAR loại II.

Chất lượng tài sản “có” (Asset quality):

Tài sản “có” của một NHTM bao gồm các khoản tiền mặt, tiền gửi tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác, các khoản cho vay các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, các khoản đầu tư vào chứng khoán, các khoản góp vốn liên doanh, mua cổ phần và các tài sản “có” khác, trong đó các khoản cho vay các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước thường chiếm tỉ trọng chủ yếu. Do đó, chất lượng tài sản “có” được phản ánh rõ nhất qua chất lượng các khoản tín dụng (gồm tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, cơ cấu dư nợ theo nhóm khách hàng). Chỉ tiêu này cho biết mức độ hoạt động kinh doanh hiệu quả và bền vững của một NHTM.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch vụ Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Khi đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM trong tiến trình hội nhập kinh tế hiện nay không thể bỏ qua một yếu tố rất quan trọng, đó là mức độ đa dạng về sản phẩm dịch vụ cung cấp. Các NHTM Việt Nam, cũng giống như các NHTM trên thế giới, là các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành. Bên cạnh những hoạt động truyền thống thì cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, các ngân hàng cũng không ngừng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho nhu cầu ngày một đa dạng hơn của khác hàng, đồng thời phân tán rủi ro trong kinh doanh. Ở các nước phát triển, các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng đa dạng hơn và tỉ trọng thu nhập đem lại từ các sản phẩm dịch vụ mới đó tính trên tổng thu nhập ngày một lớn hơn cho các NHTM. Như vậy, sự đa dạng về danh mục sản phẩm dịch vụ cung cấp vừa tạo ra sự phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu, vừa giúp cho các NHTM phát huy lợi thế nhờ quy mô. Tuy nhiên, mức độ đa dạng sản phẩm dịch vụ chỉ có hiệu quả và hợp lý trong tương quan với quy mô và chất lượng các nguồn lực hiện có và nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường mà ngân hàng đó hoạt động kinh doanh, nếu không việc cung cấp quá nhiều sản phẩm dịch vụ so với mức cần thiết sẽ khiến cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả do dàn trải không hợp lý các nguồn lực và gia tăng độ rủi ro.

Bên cạnh sự đa dạng các sản phẩm dịch vụ cung cấp, xét về mặt Marketing chất lượng các sản phẩm dịch vụ là yếu tố quyết định sự thành công trong hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp nói chung và của các NHTM nói riêng. Chất lượng sản phẩm dịch vụ của một NHTM thể hiện ở phương thức cung cấp sản phẩm dịch vụ, mức độ đơn giản hoá và tiện lợi trong giao dịch, tốc độ thực hiện giao dịch, thái độ phục vụ và chăm sóc khách hàng của đội ngũ nhân viên để duy trì sự trung thành của khách hàng,…

3. Cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý và hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ

Trong một môi trường kinh doanh hiện đại như ngày nay, thực trạng cơ cấu tổ chức của một NHTM là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ thành công và hợp lý về mặt tổ chức và phân bổ các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó. Mỗi ngân hàng có phạm vi hoạt động kinh doanh rất sâu và rộng, bởi vậy đòi hỏi một hệ thống tổ chức nhiêu cấp gồm nhiều phòng ban chức năng, bộ phận chuyên môn,… đa dạng nhưng không quá cồng kềnh và rườm rà. Cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học và chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng phối hợp và phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống mà không lãng phí các nguồn lực. Hiệu quả của cơ cấu tổ chức không chỉ thể hiện ở số lượng phòng ban chức năng, bộ phận chuyên môn, đơn vị trực thuộc có phù hợp với quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh hay không, mà còn phụ thuộc vào sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban bộ phận và mức độ phối hợp giữa chúng có hiệu quả hay không trong việc triển khai các chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày để đạt được mục tiêu chung. Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Ngoài cơ cấu tổ chức, thực trạng trình độ quản lý điều hành của hội đồng quản trị và ban giám đốc của một ngân hàng cũng ảnh hưởng vô cùng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh. Mỗi một chính sách, quyết định chiến lược của đội ngũ quản lý điều hành đều có thể quyết định sự thành công hay thất bại của cả một hệ thống, làm cho ngân hàng đó mạnh lên hay yếu đi. Ngành ngân hàng là ngành đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ quản lý cao, phạm vi hiểu biết sâu rộng, phong cách điều hành phải mềm dẻo và linh hoạt nhưng không kém phần cứng rắn và quyết đoán.

Hệ thống chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ là một yếu tố vô cùng quan trọng, đặc biệt với các NHTM thường có quy mô và phạm vi địa lý hoạt động rất rộng. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay, việc hình thành và phát triển một mạng lưới phân phối sản phẩm dịch vụ rộng rãi và được phân bố hợp lý vừa góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh, vừa là một vũ khí vô cùng quan trọng của các NHTM trong nước để chống lại sự xâm nhập và mở rộng thị trường của các NHTM nước ngoài vốn có ưu thế vượt trội gần như toàn diện, khi mà lĩnh vực tài chính ngân hàng sẽ được mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới. Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh phân phối sản phẩm dịch vụ của một NHTM thể hiện cụ thể qua số lượng chi nhánh, sở giao dịch theo phạm vi địa lý cũng như tính hợp lý trong phân bố mạng lưới ở các vùng, miền và vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của chúng.

4. Nguồn nhân lực Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng. Ngành ngân hàng là một ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao cả về trình độ kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm. Nguồn nhân lực của một ngân hàng là nguồn lực cơ bản, có khả năng kết nối với các nguồn lực khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến. Thực trạng về chất lượng, số lượng nguồn nhân lực của một NHTM phản ánh rõ nét thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó có tính bền vững lâu dài hay không, thể hiện ở một số yếu tố như: thực trạng hiệu quả chính sách tuyển dụng đào tạo người lao động và cơ chế thù lao đối với người lao động, trình độ kiến thức và trình độ thành thạo nghiệp vụ, tác phong và tinh thần làm việc trong môi trường công việc, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp của người lao động.

5. Trình độ công nghệ ngân hàng

Đối với hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng, công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn và trở thành nguồn lực to lớn thúc đẩy hoạt động của mỗi NHTM. Hiện nay, công nghệ ngân hàng luôn luôn là lĩnh vực công nghệ cao nhất và phát triển nhanh nhất trong số các ngành kinh tế. Do đó, thực trạng trình độ công nghệ của mỗi một NHTM trong quá trình phát triển là một nhân tố quan trọng phản ánh thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó về chiều sâu. Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm các công nghệ mang tính chất tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán buôn, hệ thống ngân hàng bán lẻ, các loại thẻ, các loại máy rút tiền tự động ATM,… mà còn bao gồm các công nghệ quản lý giám sát (như hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro) và các phần mềm ứng dụng tiện ích (TelephoneBanking, MobileBanking, InternetBanking, E-Banking,…). Đánh giá thực trạng phát triển của công nghệ của các NHTM cũng không chỉ giới hạn thực trạng số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn phải xem xét mức độ đầu tư cho phát triển công nghệ và tiềm năng phát triển công nghệ trong tương lai của ngân hàng đó cả về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế.

6. Thị phần trong nước trong các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM, ngoài việc được đánh giá qua thực trạng năng lực của các nguồn lực, các yếu tố nội tại của các ngân hàng đó như thực trạng năng lực tài chính, mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý còn thể hiện qua những chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh và thị phần trên các phân đoạn thị trường mà ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ. Trong khuôn khổ hạn hẹp của khoá luận tốt nghiệp, việc nghiên cứu toàn bộ các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam là rất khó khăn và phức tạp, mặt khác trong tình hình hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, nhìn chung các sản phẩm dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp vẫn chưa thực sự đa dạng phong phú, các hoạt động kinh doanh truyền thống như hoạt động tín dụng, huy động vốn, kinh doanh ngoại tệ,… vẫn đóng vai trò chủ đạo và đem lại phần lớn trong tổng thu nhập. Chính vì những lý do trên, việc đánh giá khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị phần của các NHTM Việt Nam giới hạn trong các hoạt động kinh doanh chủ yếu cũng phản ánh tương đối chính xác thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam hiện nay. Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu được xem xét bao gồm: Hoạt động huy động vốn, Hoạt động tín dụng, Hoạt động thanh toán quốc tế và chi trả kiều hối, Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, Hoạt động thẻ.

7. Kết quả hoạt động kinh doanh

Thước đo cuối cùng và chính xác nói lên hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM chính là kết quả hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định của ngân hàng đó. Kết quả hoạt động kinh doanh được thể hiện qua một số chỉ tiêu cụ thể như lợi nhuận trước thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu lợi nhuận (cho biết tổng lợi nhuận hoạt động kinh doanh được hình thành từ hoạt động nào và tỉ trọng là bao nhiêu) và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời như tỷ suất Lợi nhuận (sau thuế)/Tổng tài sản có ROA (Return on Asset) và tỷ suất Lợi nhuận (sau thuế)/Vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity). Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Thực trạng kinh doanh của ngân hàng VCB

One thought on “Khóa luận: Khái quát về kinh doanh của các ngân hàng VCB

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng VCB

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464