Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ và tác động đến xuất nhập khẩu Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam những năm gần đây

2.2.1.1 Xuất khẩu

Năm 2001, tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 3.7% . Chỉ số này được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong giai đoạn 2004-2008. Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm đạt 20.5% (xem hình dưới)

Hình 6: Kim ngạch xuất khẩu 2000-2008

Các thị trường xuất khẩu

Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Trong giai đoạn 2000-2008, kim ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng ấn tượng: xuất khẩu vào ASEAN tăng 3.67 lần, vào EU tăng 3.38 lần và vào Nhật tăng hơn 3 lần. Đáng chú ý nhất la việc gia tăng xuất khẩu vào Mỹ. Nếu năm 2001, giá trị xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1,06 tỷ USD, thì đến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 11.6 tỷ USD, xấp xỉ 11 lần. Kết quả này có được là nhờ Hiệp định thưong mại Việt Mỹ ký năm 2000, có hiệu lực năm 2001.

Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khấu sang các nước châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á

Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu

Tốc độ tăng trưởng xuất khâu bình quân giai đoạn 2001-2006 của nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông lâm thủy sản lần lượt là 18.4%, 22,2% và 15,2%. Như vậy, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá trị và chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia. Vai trò nông lâm thủy sản giảm đáng kể. Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Đặc biệt, tình hình xuất khẩu của dệt may, da giày của Việt Nam 7 năm qua luôn ổn định. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dệt may là 23%, da giày là 15,3%. Hai ngành này có chung đặc điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam. Năm 2008 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê43.

Những thành tựu của xuất khẩu

Qui mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục được duy trì ở mức cao.

Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là các mặt hàng gạo, rau quả, hạt điều, than đá, hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm nhựa, túi xách và li và ô dù… Xuất khẩu hàng hoá tăng còn có sự đóng góp của nhiều mặt hàng mới ví dụ như sản phẩm từ cao su, sản phẩm chế tạo từ gang, thép, máy biến thế, động cơ điện, tàu thuyền các loại…

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô. Những hàng hoá có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và giá trị xuất khẩu lớn là nhóm hàng công nghiệp và chế biến như: thuỷ sản, hàng điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa, túi xách va li, mũ và ô dù…

Bên cạnh việc tập trung khai thác tối đa các thị trường trọng điểm, năm qua chúng ta tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, nhiều chủng loại hàng hoá xuất khẩu đã vào được các thị trường mới, điển hình là các thị trườn tại khu vựcChâu Phi-Tây Nam Á, Châu Á, và Châu Đại Dương .

Những hạn chế của xuất khẩu

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực gặp khó khăn do phải đối mặt với những rào cản thương mại mới ngày càng nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn. Việc tăng giá trị xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá thế giới và những thị trường xuất khẩu lớn, khi những thị trường này có biến động thì KNXK bị ảnh hưởng.

Nhu cầu của thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các đơn hàng xuất khẩu dệt may, đồ gỗ, một số nông sản vào Mỹ và EU đều giảm do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; Trong khi thị trường xuất khẩu gặp khó khăn thì các chi phí đầu vào không giảm, thậm chí còn tăng cao như lương công nhân, lãi suất ngân hàng, khiến nhiều doanh nghiệp dệt may phải chuyển từ sản xuất mua nguyên liệu bán thành phẩm sang gia công để bảo toàn vốn, vì vậy giá trị gia tăng trên sản phẩm dệt may ngày càng thấp là lợi nhuận giảm.

Xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản; các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công; Các mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú, số lượng các mặt hàng xuất khẩu mới có kim ngạch lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh chưa nhiều. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.

Vẫn chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc.

Việc tiếp cận nguồn vốn vay bằng VNĐ cho sản xuất kinh doanh vẫn còn bất cập, nhất là đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, trong khi đó lãi suất cho vay mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao , điều này đã làm chi phí tăng cao ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2.2.1.2 Nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Hình 7: Kim ngạch nhập khẩu 2000-2008

Các thị trường nhập khẩu

Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông. Năm 2001, Việt Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến năm 2008, con số nàylà 76,3%. Trong chính sách về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm tỷ trọng nhập khẩu từ các nước châu Á xuống còn 55% vào năm 2010. Chiến lược phát triển nhập khẩu thời kì 2001-2010 còn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010. Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi.

Các nhóm hàng nhập khẩu chính

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân của ba nhóm hàng: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng trong giai đoạn 2001-2008 lần lượt là 17,4%; 25,9% và 19,3%. Sau 5 năm 2001-2006, cơ cấu nhập khẩu đã có thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu, giảm tỉ trọng hai nhóm hàng máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng.

2.2.1.3. Tình trạng nhập siêu Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Bên cạnh kết quả xuất khẩu khả quan, thì nhập siêu tăng mạnh là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý. Nhập siêu xảy ra liên tục trong cả giai đoạn 2001-2008. Ngoại trừ năm 2005 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục, đặc biệt năm 2007 tăng gần 2,5 lần. Đây là mức tăng kỉ lục trong thời gian qua. Tỉ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 cũng cao kỉ lục: 25,82% . Tốc độ nhập siêu năm 2008 tuy co giảm nhưng nếu tính tỷ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu thì lai chiếm 27.8%, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.

Nhập siêu cả năm 2007 đã lên đến 10 tỷ USD, tăng trên 70% so với cùng kỳ năm 2006. Bộ Công thương cho biết, đây là mức nhập siêu cao nhất so với nhiều năm gần đây. Các mặt hàng nhập khẩu lớn, có mức tăng mạnh bao gồm: ô tô nguyên chiếc tăng 132%, linh kiện ôtô tăng 64%, thép tăng 56,4%, phôi thép tăng 37%, máy móc và thiết bị phụ tùng tăng 54%. Theo Bộ Công thương, nhập siêu tăng mạnh trước hết là do nhu cầu nhập khẩu để phục vụ sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển kinh tế tăng mạnh. Với một nền kinh tế tăng trưởng cao đến 8,6%, thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh thì việc nhập khẩu máy móc thiết bị là rất lớn. Bên cạnh đó là nhu cầu nhập khẩu phục vụ xây dựng các kế hoạch và công trình trọng điểm như mua máy bay, nhập khẩu để phục vụ xây dựng các công trình dầu khí, nhà máy điện, đóng tàu… Ngoài ra, giá các mặt hàng nguyên liệu nhập khẩu tăng cao cũng khiến cho kim ngạch nhập khẩu tăng lên đáng kể. Cụ thể, trong năm 2007, giá thép đã tăng thêm bình quân 93 USD/tấn, chất dẻo tăng 144 USD/tấn, sợi các loại tăng 151 USD/tấn…

Hình 8: Tình trạng nhập siêu 2000-2008

Sở dĩ nhập khẩu tăng, nhập siêu lớn có nguyên nhân sâu xa từ cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng. Sản phẩm thay thế nhập khẩu có sức cạnh tranh kém (điển hình nhất là sắt thép và ôtô) công nghiệp phụ trợ không được đầu tư phát triển, nhiều mặt hàng là vật tư nguyên liệu cho sản xuất phải nhập khẩu với khối lượng lớn, trong khi giá các mặt hàng này tăng cao.

Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế, nhu cầu tiêu dùng và sức mua trong nước tăng cao. Điều này có thể nhìn thấy rõ ở tốc độ gia tăng nhập khẩu các mặt hàng như nguyên liệu dệt may, giày dép, ô tô, điện tử… đã góp phần khiến nhập siêu tăng mạnh hơn.

Về sâu xa, nhập siêu tăng cao có nguyên nhân là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn tốc độ nhập khẩu. Trong khi nhu cầu nhập khẩu phục vụ nhu cầu sản xuất và đầu tư phát triển tăng cao thì khối lượng và giá trị xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực nhất là hàng hóa thuộc nhóm nguyên nhiên liệu lại có xu hướng giảm, các nhóm hàng công nghiệp chế tạo được kỳ vọng lại chưa có sự tăng trưởng bứt phá. Điều này cũng thể hiện một thực tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.

2.2.2. Nguyên nhân khủng hoảng tài chính tác động đến xuất nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan ra toàn cầu, gây tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy, xuất nhập khẩu Việt Nam cũng chịu những tác động tiêu cực

Trước hết, cuộc khủng hoảng tài chính làm giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam do các nguyên nhân chính:

Thứ nhất, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu : Mỹ, EU, Nhật Bản đều phải gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề. Xét riêng về lĩnh vực sản xuất, hàng loạt xí nghiệp của Mỹ, EU,Nhật Bản, ASEAN… phải đóng cửa, tạm ngừng sản xuất, giảm tiến độ kinh doanh, giảm nhân công… Nhu cầu hàng tư liệu sản xuất, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu sẽ giảm trong khi đó hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam lại là hàng sơ chế, nguyên nhiên vật liệu…(chiếm 60-70% tổng kim ngạch xuất khẩu). Như vậy, xuất khẩu của Việt Nam phục vụ cho sản xuất khu vực sẽ giảm mạnh.

Thứ hai, theo dự báo của ILO, năm 2009 toàn thế giới sẽ có 230 triệu người thất nghiệp. Mất việc đồng nghĩa không có thu nhập để chi trả dịch vụ. Bên cạnh đó, những lo ngại về sự xấu đi của nền kinh tế và khả năng mất việc làm trong tương lai gần đã buộc người dân phải cắt giảm mạnh mẽ chi tiêu mà trước hết là mặt hàng cao cấp. Đây là nguyên nhân khiến thị trường bán lẻ ảm đạm và các hệ thống bán lẻ bị đóng cửa hàng loạt. Hậu quả của nó là xuất khẩu hàng tiêu dùng của Việt Nam sang khu vực sẽ giảm.

Thứ ba, do tác động của khủng hoảng tới thương mại và cán cân thương mại khu vực, các quốc gia bị khủng hoảng đều tích cực dựa vào xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, hạn chế nhập khẩu để tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm của họ để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế. Khi các chính sách này được thực hiện trên thực tế sẽ gây ra một rào cản trực tiếp đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam vào các quốc gia, khu vực.

Thứ tư, tỷ giá EURO/USD biến động giảm (xem hình 9) sẽ là bất lợi cho xuất khẩu Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là gia công. Nếu xuất khẩu sang EU, các doanh nghiệp thường nhập khẩu bằng USD, trả các chi phí khác bằng VND và bán vào thị trường sử dụng EURO. Hiện đồng USD đang tăng giá so với EURO, sức ép giảm giá EURO càng lớn. Như vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng trong khi doanh thu thì khó tăng. Hơn nữa, tỷ giá USD/VND đã tăng khoảng 9%44, vượt xa mức thay đổi quanh 1% những năm gần đây, trong khi đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trong thanh toán quốc tế (khoảng 70%).

Hình 9: Biểu đồ giá EURO/USD từ 26/05/08 đến 12/05/09

Hình 10: Biểu đồ giá USD/VND từ 26/05/08 đến 12/05/09

Mức tăng vượt trội này đẩy chi phí nhập khẩu, chi phí sản xuất kinh doanh của những ngành hàng có đầu vào lớn từ nguyên liệu nhập khẩu, chi phí vay nợ ngoại tệ tăng cao. Đây cũng là năm nổi bật khi trong báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp chi phí của tỷ giá tăng đột biến.

Về nhập khẩu, các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn thuộc nhóm thiết bị máy móc, nguyên nhiên, vật liệu, phụ liệu (không kể xăng dầu), chủ yếu phục vụ sản xuất, gia công. Do tác động của khủng hoảng tài chính, sản xuất giảm sút là nguyên nhân chính khiến nhập khẩu của Việt Nam sụt giảm. Nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2009 bị sụt giảm quá mạnh. Tháng 1 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 ước giảm 49%, tính chung 3 tháng ước giảm 45% so với cùng kỳ.45

2.2.3 Tác động khủng hoảng tài chính đến hoạt động tài trợ thương mại của các ngân hàng thương mại

Năm 2008, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không chỉ chịu ảnh hưởng khá lớn do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, đồng USD tăng giá mạnh, mà còn do hoạt động tín dụng bị thắt chặt, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn ngân hàng… Hoạt động thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro về thị trường xuất nhập khẩu, về thanh toán, ngoại hối, … Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Khủng hoảng tài chính Mỹ làm các nguồn huy động vốn của ngân hàng thương mại đều trở nên khan hiếm hơn do hoạt động sản xuất kinh doanh, mà kéo theo đó là thu nhập của các cá nhân và các bộ phận của nền kinh tế bị sụt giảm. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu càng khó tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Việc vay vốn hỗ trợ lãi suất từ các ngân hàng thương mại luôn gặp nhiều khó khăn vì hết tài sản để thế chấp và không được phép vay đảo nợ.

Không chỉ khó vay vốn, lãi suất ngân hàng cuối năm 2008 quá cao khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ đang đứng trước nguy cơ phá sản. Theo ông Nguyễn Hùng Dũng (Phó Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản ), không một doanh nghiệp thủy sản nào lại có mức lãi tới 20% đủ để trả ngân hàng. Đối với ngành dệt may, có tới 70% các dự án đầu tư của Vinatex, trong đó có nhiều dự án sản xuất nguyên phụ liệu không thể triển khai được do thiếu vốn. Đơn cử như dự án sản xuất xơ polyeste lớn nhất hiện nay cũng gặp khó khăn do ngân hàng không cho vay và lãi suất quá cao khiến việc đầu tư không hiệu quả. Hiện nay, Vinatex đang phải tìm vay vốn tín dụng của Pháp để thay thế nguồn vốn trong nước.

Ngày 23/1/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/QĐ-NHNN về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng (khách hàng vay) để sản suất – kinh doanh. Nếu trừ mức lãi suất hỗ trợ 4%/năm, thì khách hàng vay chỉ đóng lãi suất 6,5%/năm. Theo Thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước thì thời hạn vay chỉ áp dụng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân từ ngày 1-2 đến 31-12-2009. Các khoản vay có thời hạn vượt quá năm 2009, thì chỉ được hỗ trợ lãi suất đối với khoản thời gian vay của năm 2009. Các khoản vay quá hạn trả nợ được gia hạn nợ vay, thì không được tính hỗ trợ lãi suất đối với khoản thời gian quá hạn trả nợ và gia hạn nợ vay. Đối với hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 1-2-2009, trong đó có thỏa thuận việc giải ngân nhiều lần thông qua các khế ước, giấy nhận nợ từng lần, thì các khoản cho vay được giải ngân theo khế ước, giấy nhận nợ phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày 1-2 đến 31-12-2009 sẽ được hỗ trợ lãi suất. Như vậy, nhiều doanh nghiệp vay cách nay một tháng, tuy có phương án kinh doanh của năm 2009, có đủ điều kiện về ngành, nghề nhưng vẫn không được hỗ trợ lãi suất. Phía ngân hàng lại cho rằng, muốn được hỗ trợ lãi suất vay, thì doanh nghiệp phải trả nợ cũ rồi làm thủ tục vay mới. Năm 2008 doanh nghiệp rất mệt mỏi với áp lực lãi suất và nếu phải thu hồi vốn để trả nợ cũ để vay mới thì rất khó. Được giảm và hỗ trợ lãi suất thì doanh nghiệp rất mừng, tuy nhiên, những ràng buộc của ngân hàng hiện nay sẽ có nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận được vốn.

2.2.4 Tác động khủng hoảng tài chính đến giá hàng xuất nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Trong nửa đầu năm, giá hàng hóa trên thị trường thế giới leo thang, gây áp lực tăng chi phí nhập khẩu và đẩy nhập siêu lên cao; lạm phát trong nước cũng có một phần nguyên nhân từ diễn biến này.

Giá dầu giảm mạnh do nhu cầu suy yếu trước bối cảnh kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, đồng USD hồi phục so với các đồng tiền chủ chốt khác, hoạt động đầu cơ cũng phần nào giảm trước bối cảnh không sáng sủa của kinh tế thế giới. Mức thấp nhất của giá dầu trong thời gian qua là 30,28USD/thùng vào ngày 23/12/2008, tình hình suy giảm nghiêm trọng kéo theo đó là hàng loạt các mặt hàng khác cũng sụt giảm theo. Chỉ riêng giá vàng có diễn biến tăng trong thời kỳ trên là do tâm lý của nhà đầu tư lựa chọn chuyển đổi sang kênh đầu tư an toàn hơn.

Xuất khẩu giảm một mặt do quan hệ cung- cầu về hàng hóa trên thị trường thế giới không còn mất cân đối lớn như vừa qua, trong đó Việt Nam có ba nhóm mặt hàng bị tác động lớn là năng lượng (gồm dầu thô, than), lương thực, thực phẩm (gồm thuỷ sản, chè, cà phê,…). Cụ thể, như cà phê từ đầu năm khi chưa xảy ra cuộc khủng hoảng, giá lên trên 2.500 USD/tấn, thì nay chỉ còn 1.600 USD/tấn; hoặc gạo xuất khẩu có khi lên trên 1.000 USD/tấn thì nay cũng chỉ còn 390-400USD/tấn…Đầu năm 2009, giá xuất khẩu dầu thô của nước ta hiện đã giảm xuống còn 340 USD/thùng, chỉ bằng 40% so với giá xuất khẩu trung bình trong năm 2008; giá xuất khẩu cà phê là 1.680 USD/tấn, bằng 84%; cao su là 1.500 USD/tấn, bằng 65%; gạo là 420 USD/tấn, bằng 70%; nhân điều là 4000 USD/tấn, bằng 76%; hạt tiêu là 2.250 USD/tấn, bằng 67%…

Giá xăng đầu, lương thực và nhiều loại nông sản giảm và do khủng hoảng tài chính diễn ra trên phạm vi toàn cầu, nhất là các thị trường nhập khẩu chính của nước ta, nhu cầu nhập khẩu giảm nên xuất khẩu tăng chậm lại, trong 4 tháng cuối năm 2008 kim ngạch xuất khẩu giảm bình quân 400 triệu USD/tháng so với mức bình quân 8 tháng trước đó. Tình hình này còn kéo dài sang năm 2009, với mức độ có khả năng còn nghiêm trọng hơn. Giá hàng trên thị trường thế giới bắt đầu bước vào một đợt thoái trào mạnh, khiến xuất khẩu chịu ảnh hưởng nặng. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt hàng dầu thô, nông sản, thủy sản…

2.2.5. Tác động khủng hoảng tài chính đến thị trường xuất nhập khẩu

Xuất khẩu của nước ta xấp xỉ bằng 80% GDP, điều này chứng tỏ xuất khẩu có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Song những nền kinh lớn nhất là Hoa kỳ, EU, Nhật Bản là những thị trường chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của nước ta lại đang lâm vào suy thoái, trên 40% là châu Á và châu Đại Dương, cũng là những khu vực chịu tác động mạnh của khủng hoảng, số còn lại là khu vực châu Phi và Trung Đông, khu vực chịu tác động ít hơn nhưng kim ngách xuất khẩu của ta vào khu vực thị trương này còn nhỏ.

Trước khó khăn của những thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản…, hoạt động xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp đã chủ động đẩy mạnh sang khai thác và mở rộng những thị trường mới, hoặc đã thâm nhập trước đó. Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Bảng 2: Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

Cơ cấu thị trường hàng hoá cũng có sự chuyển dịch, tăng dần ở châu Á, châu Đại dương và châu Phi. So với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, thị trường châu Á chiếm 44,5% (năm 2007 là 41,9%), châu Âu chiếm 18,3% (năm 2007 là 18,7%), châu Mỹ 20,6% (năm 2007 là 21,9%), châu Đại dương 6,7% (năm 2007 là 6,4%), châu Phi 1,9% (năm 2007 là 1,27%). Theo báo cáo của Bộ Công thương, mức tăng trưởng của các khu vực thị trường có sự thay đổi, xuất khẩu sang thị trường châu Phi đã tăng tới 95,7%, châu Á tăng 37,8%; châu Đại dương tăng 34,9%, nhưng tăng chậm lại đối với châu Mỹ (21,9%), châu Âu (26,3%).

Các thị trường chịu tác động nhiều nhẩt từ khủng hoảng tài chính Mỹ Thị trường Mỹ

Do cầu tiêu dùng tại Mỹ đang trên đà suy giảm mạnh bởi tác động của khủng hoảng tài chính, trong 9 tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 16,7%, thấp hơn khá nhiều so với mức 26,7% của năm 2007. Tỷ trọng của thị trường Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã giảm, từ 20,7% của năm 2007 xuống còn 17,7% trong 9 tháng đầu năm nay. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nhất là may mặc, giày da, gạo, cá basa, cà phê…

Thị trường EU

Phân tích của các chuyên gia kinh tế cho thấy, do bị tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng, người tiêu dùng của các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu, nên nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ có xu hướng giảm. Tỷ trọng của thị trường EU trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cũng đã giảm, năm 2008 chỉ còn 16,5%, trong khi năm 2007 là 18%. Xuất khẩu sẽ gặp khó khăn lớn và giảm cả số lượng và giá cả… do tổng cầu thế giới giảm và cạnh tranh trên các thị trường sẽ khó khăn, giảm thu ngoại tệ cho quốc gia, giảm sản xuất trong nước, giảm GDP, thất nghiệp tăng,…

Về thị trường nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu từ Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất 75,6% và ngày càng tăng (năm 2007 chiếm 72,2%) trong đó chủ yếu là nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN, trong khi đó nhập khẩu từ thị trường Châu Âu vẫn ở mức khiêm tốn chiếm 10,3%

2.2.6 Tác động khủng hoảng tài chính đến kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

2.2.6.1. Xuất khẩu

Một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao, không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô, tivi, tủ lạnh, thực phẩm… thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Với Việt Nam cũng vậy, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu, mà Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của Việt Nam. Ngoài ra, khủng hoảng tài chính Mỹ cũng lan rộng, thành khủng hoảng kinh tế thế giới nên xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng như EU, Nhật, Đông Nam Á… đều bị ảnh hưởng nặng nề. Tác động của khủng hoảng khinh tế toàn cầu không chỉ thể hiện ở sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu mà còn ảnh hưởng đến giá hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu…

Khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh vì hai lý do hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi.

Xuất khẩu của Việt Nam đã bắt đầu gánh chịu những khó khăn từ tháng 8 năm 2008. Trị giá xuất khẩu hàng hóa giảm 4 tháng liên tiếp, mặc dù có tăng nhẹ trong tháng 12 nhưng tiếp tục giảm mạnh trong tháng 1 năm 2009. Kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm 2009 đạt 3,7 tỷ USD, giảm 19% so với tháng 12 năm 2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ 2008.

Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, dầu thô, điều, hải sản, cà phê, cơ khí, điện tử… đều có mức tăng trưởng rất thấp và đang đi xuống. Theo Bộ Công Thương, ước tính quý 1/2009, Việt Nam đã xuất siêu tới 1,647 tỷ USD. Tuy nhiên, trong 35 nhóm hàng hoá được thống kê, chỉ có 9 nhóm hàng hoá xuất khẩu tăng. Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu 3 tháng tăng nhẹ là do có sự đóng góp tăng kỷ lục của nhóm đá quý và kim loại quý. Kim ngạch tháng 3/2009 của loại hàng hóa này đạt 850 triệu USD, tăng tới 49 lần so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nguyên nhân của sự tăng đột biến này là do việc tái xuất vàng. Như vậy, nếu bóc tách kim ngạch xuất khẩu vàng thì Việt Nam vẫn trong tình trạng nhập siêu. Còn lại, xuất khẩu của đa số nhóm hàng hoá đều chững hoặc giảm.

Đáng lo ngại nhất là trong 13 mặt hàng chủ lực thì kim ngạch xuất khẩu của 12 mặt hàng đều giảm mạnh từ 10 đến 20%, như điện tử và linh kiện máy tính, giày dép, than đá, thủy sản, cà phê, nhân điều, sản phẩm chất dẻo… Trong đó, so với cùng kỳ năm 2008, dầu thô giảm mạnh nhất với mức giảm 48,6%, kế đến là dây điện và cáp điện giảm 47,3%, cao su giảm 43,9%. Nhóm hàng dệt may vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu cả nước thì trong tháng 3, kim ngạch đã giảm 4,2%.

Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đến một số nhóm hàng chính:

Nhóm hàng nông sản

Có lẽ đây là nhóm hàng ít chịu tác động của khủng hoảng nhất. Gần đây, giá một số loại nông sản xuất khẩu xuống thấp khi gặp khủng hoảng tài chính. Nhiều chuyên gia nhận định, giá nông sản giảm là bất ngờ nhưng chỉ vào thời điểm này, không đến mức quá nghiêm trọng. Rất nhiều mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam chịu tác động từ hiệu ứng domino của cơn khủng hoảng tài chính thế giới như cao su, cà phê, điều, hạt tiêu, gạo. Song, sự giảm giá này còn là do nhiều yếu tố khác, như một số sản phẩm chuẩn bị bước vào thời kỳ thu hoạch (cà phê), hoặc hết hàng do đã cuối vụ (hạt tiêu) hay mức giá giảm đã kéo dài từ trước đó (gạo). Mặt hàng chịu tác động đầu tiên, nặng nề nhất chính là cao su – khi giá liên tục giảm theo chiều thẳng đứng. 60% sản lượng cao su Việt Nam hiện xuất sang Trung Quốc, hơn 15% đi Nhật Bản… Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Các nước này lại nhập cao su chủ yếu để sản xuất lốp xe bán cho Mỹ, châu Âu nên nhiều chuyên gia lo ngại giá cao su còn xuống nữa.

Tuy nhiên, mặt hàng gạo trong nhóm hàng chủ lực này có kim ngạch xuất khẩu tăng. Tháng 3, gạo tăng 23,5% và tính chung 3 tháng, gạo tăng 76,4% so với cùng kỳ 2008. Đối với hạt điều, tuy giá nhân điều gần đây giảm từ 6.500 xuống 5.400 USD/tấn so với hồi đầu tháng 8/2008 và đây không phải là lương thực chủ lực, song người tiêu dùng (nhất là ở Mỹ), ăn quen từ lâu nên chỉ một thời gian nữa giá sẽ bình ổn trở lại.

Tóm lại, các mặt hàng nông sản tiêu dùng vẫn có cơ hội vì không nhắm tới khách hàng quá giàu và vẫn có những nước sản xuất không đủ, phải nhập để đáp ứng nhu cầu thiết yếu như thuỷ sản, rau quả, gạo… Về cơ bản, giá các mặt hàng nông sản thiết yếu sẽ theo cân đối cung cầu, vượt qua tâm lý nhất thời, và tiếp tục có cơ hội thương mại.

Nhóm hàng thủy sản

Hai thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam là Mỹ và châu Âu. Kinh tế Mỹ đang khó khăn, kéo theo thị trường châu Âu khó theo càng làm bất lợi cho DN xuất khẩu Việt Nam. Các nhà đầu tư Mỹ rút vốn đầu tư ở châu Âu, khiến đồng Euro, đồng bảng Anh có khả năng mất giá, nhà nhập khẩu châu Âu bị lỗ. Vì vậy việc xuất khẩu của Việt Nam vào châu Âu dần thêm khó. Tính đến tháng 1 năm 2009, thuỷ sản 250 triệu USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ. Bản thân các doanh nghiệp thuỷ sản cũng đã va vấp nhiều, như các vụ kiện chống bán phá giá, quy định ngặt nghèo về chất lượng… nên không quá khó để vượt qua giai đoạn này.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến

Đây là nhóm quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Và đây cũng là một trong những nhóm hàng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng tài chính Mỹ. Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy mặt hàng giam kim ngạch nhiều nhất là dệt may, giày dép và thủy sản. Tính đến tháng 1 năm 2009, dệt may 722 triệu USD, giảm 33,2% so cùng kỳ; da giày 350 triệu USD, giảm 26%; sản phẩm gỗ 197 triệu USD, giảm 31,8 %. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đơn hàng xuất khẩu dệt may từ các thị trường truyền thống như Nhật, Mỹ, châu Âu giảm sút. Đơn hàng toàn ngành đã giảm 20%, thị trường Mỹ giảm 30% – 50% đơn hàng. Theo thống kê của Bộ Công Thương, một số doanh nghiệp (DN) dệt may nước ngoài ở Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu… đã đóng cửa, sa thải hàng loạt công nhân. Ước tính lượng lao động ngành dệt may mất việc làm có thể lên đến hơn chục ngàn người.

Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề tại các thị trường chủ chốt như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản… chính là nguyên nhân khiến sức cầu sụt giảm mạnh. Rắc rối của hệ thống ngân hàng tại những thị trường lớn làm hạn chế khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu hàng từ Việt Nam.

2.2.6.2. Nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Hàng xuất khẩu chủ yếu là gia công, hàm lượng nhập khẩu trong kim ngạch xuất khẩu chiếm đến 70-80%, giá trị gia tăng rất thấp. Cũng từ tháng 8, do giá nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm mạnh (xăng dầu, sắt thép, phân bón, các loại hoá chất…) cùng với nhu cầu tiêu thụ bị thu hẹp, sản xuất và đầu tư trong nước bị cắt giảm do lãi suất cao, khả năng tiếp cận vốn bị hạn chế làm nhu cầu nhập khẩu giảm, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu có thấp hơn so với 7 tháng dầu năm

Năm 2008, kim ngạch nhập khẩu cũng giảm mạnh với mức 4,1 tỷ USD, giảm tới 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Một số mặt hàng nhập khẩu giảm đáng kể như ô tô giảm tới hơn 70%; phôi thép giảm hơn 80%; chất dẻo và hóa chất giảm hơn 50%, xăng dầu gần 75% so với cùng kỳ… Nhập khẩu giảm ngoài yếu tố giá cũng cho thấy nhu cầu trong nước, nhất là nhu cầu cho sản xuất đang giảm mạnh. cụ thể hơn, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu giảm do khó khăn về thị trường, vốn, lãi suất… doanh nghiệp và người dân cũng sẽ tiết kiệm hơn trong sản xuất, tiêu dùng.

Trong tháng 1/2009, lượng nhập khẩu tất cả các mặt hàng chủ yếu đều giảm lượng so với cùng kỳ năm 2008 như: xăng dầu giảm 43,4%, ô tô giảm 79,4%, thép các loại bằng 19,6%, phân bón bằng 34,8%, máy móc thiết bị giảm 17%, máy tính và linh kiện giảm 45%, giấy các loại giảm 43,7%, chất dẻo nguyên liệu giảm 29,2%.

Trong số 23 mặt hàng nhập khẩu chủ yếu (chiếm 75%), kim ngạch nhập khẩu tháng 1 năm 2009 giảm so với tháng 1 năm 2008 là gần 2,8 tỷ USD, trong đó giảm do giá là 300 triệu USD, giảm do lượng là gần 2,5 tỷ USD. Các mặt hàng giảm lớn về lượng: xăng dầu giảm 426 triệu USD, hóa chất 98 triệu USD, sản phẩm hóa chất 54 triệu USD, phân bón các loại 80 triệu USD, chất dẻo nguyên liệu 80 triệu USD, thép các loại 700 triệu USD, máy tính linh kiện 164 triệu USD, máy móc thiết bị 242 triệu USD, ô tô 92 triệu, linh kiện phụ tùng ô tô 117 triệu USD,…

Trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng thì kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh, trong đó tháng 1 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 giảm 47%, tổng 3 tháng giảm 45% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhiều mặt hàng giảm do giá giảm như dầu thô, chất dẻo, sắt thép và phôi thép, sợi dệt, phân bón, bông…Nhập khẩu bị sụt giảm quá mạnh. Tháng 1/2009 giảm 55,2%, tháng 2 giảm 31,7%, tháng 3 ước giảm 49%, tính chung 3 tháng ước giảm 45% so với cùng kỳ. Nhập khẩu giảm do cả yếu tố giá, do cả yếu tố lượng, nên kim ngạch giảm mạnh. Giảm mạnh gồm có xăng dầu, hoá chất, máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng, phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, bông, sợi, nguyên phụ liệu dệt may giày dép, sắt thép, điện tử máy tính… Sự sụt giảm nhập khẩu cho thấy tình hình sản xuất hàng tiêu thụ trong nước và hàng xuất khẩu vẫn đang đứng trước những khó khăn.

2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

Nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng đình trệ, tiêu thụ của Mỹ giảm thì các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ bị tác động trực tiếp. Hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang theo dõi sát sao tình hình và tìm kế hoạch đối phó. Ngay lập tức, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản đã chuẩn bị nhóm họp để tìm giải pháp. Các thị trường bị tác động mạnh của khủng hoảng tài chính như Mỹ, châu Âu, Nhật đều là những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam.

Nhu cầu trên toàn thế giới suy giảm là nguyên nhân chính của việc giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, ví dụ điển hình là dầu thô. Không chỉ giảm giá, lượng hàng hóa xuất khẩu cũng suy giảm nghiêm trọng. Chính vì vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam gỉam đáng kể, điển hình là các mặt hàng công nghiệp chế biến như dệt may, da giày…Đồng thời đây cũng là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu nước ta.

Về thị trường, 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu đều đang gặp khó, suy giảm liên tiếp là nguyên nhân chính của suy giảm xuất khẩu

Xuất khẩu sẽ chịu tác động kép trên cả ba phương diện: đơn đặt hàng sẽ ít đi do bạn hàng giảm nhập khẩu vì những khó khăn về tài chính – kinh tế ở nước họ, nhu cầu của người tiêu dùng giảm; giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta như dầu thô, lúa gạo, cao-su, cà-phê, thủy sản… đều giảm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sẽ co lại do gặp khó khăn về vốn và đầu ra.

Về nhập khẩu, một mặt có khả năng giảm bớt nhập siêu do giá cả nhiều mặt hàng nhập khẩu giảm, nhu cầu trong nước cũng ít đi, từ đó lạm phát sẽ dịu bớt. Nhưng mặt khác, lại nảy sinh khả năng nhập khẩu sẽ gia tăng do giá cả trên thị trường thế giới thuyên giảm, thuế suất hạ thấp theo các cam kết quốc tế và điều này sẽ gây sức ép mạnh lên sản xuất trong nước.

Nhập khẩu của Việt Nam phần lớn là nhập khẩu nguyên liệu thô phục vụ sản xuất. Khi thị trường bị thu hẹp, đơn đặt hàng sụt giảm khiến sản xuất đình đốn thì nhập khẩu bị suy giảm nghiêm trọng. Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp khắc phục khủng hoảng tài chính Mỹ

One thought on “Khóa luận: Thực trạng khủng tài chính Mỹ ảnh hướng đến VN

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng về tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464