Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về BVMT, thực trạng tại một số làng nghề chế biến thực phẩm tại Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường

2.1.1 Bảo vệ môi trường các làng nghề

Có thể nói rằng hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT đã được xây dựng một cách khá đầy đủ và toàn diện. Hiến pháp CHXHCN Việt Nam năm 2013 đã dành hẳn chương II để nói riêng về quyền con người, trong đó có quyền con người với môi trường. Đặc biệt trong Hiến pháp 2013, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, đã đưa ra những quy định về quyền con người trong lĩnh vực môi trường. Điều 43 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT”. Đồng thời Hiến pháp cũng đưa ra những quy định về điều kiện nhằm thực hiện quyền về môi trường. Thêm vào đó, Hiến pháp cũng đề cập đến quyền tiếp cận thông tin liên quan đến môi trường, cụ thể : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25).

Nhằm cụ thể hóa những quy định về quyền con người trong lĩnh vực môi trường trong Hiến pháp 2013, Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật BVMT 2014, quy định về hoạt động môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để BVMT; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong BVMT (Điều 1). Đi cùng với Luật BVMT 2014 là Luật đất đai 2013, Luật tài nguyên nước 2012, Luật đa dạng sinh học 2008…

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản dưới luật để cụ thể hóa và lồng ghép vào việc BVMT – môi trường làng nghề vào các chương trình kinh tế – xã hội như: Chiến lược BVMT quốc gia năm 2003; Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam; Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2003.

Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật về BVMT, Việt Nam cũng đã sử dụng các văn bản điều ước quốc tế về BVMT để làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành văn bản pháp luật và kết hợp vào thực thi công tác BVMT một cách hiệu quả hơn.

Cho tới thời điểm hiện tại, Quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT bao trùm chủ yếu lên các vấn đề lớn sau: Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Một là, quy hoạch làng nghề gắn với BVMT. Để vừa có thể phát triển, vừa gìn giữ và BVMT thì các làng nghề buộc phải có những quy hoạch mang tính tổng thể và có định hướng tốt. Trong trong Nghị quyết trung ương Đảng khóa IX đã vạch ra những giải pháp về quy hoạch: “Quản lý, cập nhật thông tin và kịp thời điều chỉnh quy hoạch. Chú trọng làm tốt quy quy hoạch những vùng sản xuất hàng hóa tập trung; Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng xã thị trấn… giữ gìn bản sắc dân tộc”. Quy hoạch đất đai cho làng nghề, BVMT làng nghề phát huy văn hóa là vấn đề quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết. Nhà nước đầu tư kinh phí cho các dự án quy hoạch, nâng cấp làng nghề trọng điểm. Cùng với đó là những quy phạm pháp luật quy hoạch làng nghề nông thôn được quy định trong Luật Xây dựng, Pháp lệnh làng nghề nông thôn, Luật về quy hoạch, Luật Nhà ở… đặc biệt là Nghị định số 18/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 Quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường.

Tại quyết định số 577/QĐ – TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể BVMT làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, một trong các giải pháp thực hiện quy hoạch đã được đưa ra, đó là triển khai xây dựng, thực hiện quy hoạch, di đời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất, giải pháp đó được cụ thể hóa thành hai hướng: Quy hoạch lại sản xuất và chuyển đổi ngành nghề sản xuất hoặc di dời vào khu, cụm công nghiệp tập trung.

Ngoài ra tại chỉ thị số 28/2007/CT-BNN về đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ÔNMT làng nghề (Bộ NN&PTNT), chỉ thị đã đưa ra hai việc lớn cần khải được thực hiện: về quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và về phòng chống ÔNMT làng nghề.

Ở địa phương, cụ thể là tại Hà Nội, để nâng cao nhận thức về việc BVMT làng nghề, UBND TP Hà Nội đã ban hành quyết định 14/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nghề, làng nghề thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, theo như nội dung quy hoạch phát triển tổng thể nghề, làng nghề thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Sở Công thương nghiên cứu lập quy hoạch, thành phố sẽ ưu tiên phát triển các nghề, làng nghề có giá trị truyền thống như: ngành thủ công mỹ nghệ (nghề sơn mài, khảm trai; chạm, điêu khắc đá, kim loại, gỗ, xương, sừng; dát quỳ, vàng, bạc); ngành nghề chế biến lâm sản; ngành nghề dệt lụa; ngành nghề thêu, ren; ngành nghề gốm sứ; ngành nghề da, giầy, khâu bóng… Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ tập trung quy hoạch phát triển các ngành nghề theo hướng tham gia sản xuất các sản phẩm phụ trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp bao gồm ngành nghề dệt may; ngành nghề cơ kim khí, điện, rèn dao kéo.. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Bên cạnh quyết định, UBND TP Hà Nội cũng đã đưa ra “Kế hoạch thực hiện công tác BVMT làng nghề trên địa bàn Hà Nội, giai đoạn 2016-2020”. Và trong năm 2016 UBND TP cũng phê duyệt thêm “Đề án BVMT trên thành phố Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến năm 2030”, phê duyệt quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành phố hà nội định hướng đến năm 2030 và xem xét đưa điều kiện BVMT được quy định là tiêu chí bắt buộc trong việc công nhận các làng nghề. UBND TP Hà Nội còn ban hành Chương trình số 154/UBND-CT về việc phát triển làng nghề kết hợp du lịch trong giai đoạn 2012-2015.

Hai là, xây dựng, quản lý dữ liệu thông tin về môi trường. Cho đến hiện tại, ngoài Luật BVMT 2014 ra, vẫn chưa có văn bản QPPL nào được ban hành chi tiết hơn về vấn đề xây dưng, quản lý dữ liệu thông tin về môi trường, đặc biệt là về môi trường làng nghề.

Thông tin môi trường gồm số liệu, dữ liệu về thành phần môi trường, các tác động đối với môi trường, chính sách, pháp luật về BVMT, hoạt động BVMT. Hiện tại chỉ có Bộ TN&MT, các bộ ngành và cơ quan quản lý địa phương trong nhiệm vụ, quyền hạn của mình mới có quyền thu thập và quản lý thông tin môi trường, tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia. Cụ thể, điều 129 Luật BVMT quy định về việc thu thập và quản lý thông tin môi trường như sau:

  1. Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành và địa phương thu thập và quản lý thông tin môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia.
  2. Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thu thập, quản lý thông tin môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường của Bộ, ngành, địa phương và tích hợp với cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia.
  3. Khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lập hồ sơ môi trường, quản lý thông tin về tác động đối với môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Ba là, đánh giá tác động môi trường tại khu vực làng nghề. Luật BVMT năm 2014 đã quy định khái quát 3 nhóm đối tượng cần lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Điều 18. Trong đó ở điểm c, khoản 1, Điều 18 đã được sửa đổi tiến bộ hơn Luật BVMT 2005 bằng việc thay đổi … thành “các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường”, quy định đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường đầy đủ gồm: Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội,

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử – văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; Dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Riêng đối với các khu vực làng nghề, đã một vài văn bản riêng về việc đánh giá tác động môi trường như :Thông tư 46/2011/TT-BTNMT BVMT làng nghề do Bộ TN&MT ban hành, “Đề án BVMT làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” đã được phê duyệt dựa trên Kế hoạch 235/KH-UBND công tác BVMT làng nghề Hà Nội của UBND TP Hà Nội. Nghị định 18/2015/ NĐ-CP về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT tại Phụ lục 2 đã liệt kê 113 loại dự án phải lập báo cáo ĐTM trong đó khu vực các làng nghề, các dự án về làng nghề trong khu vực này thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường như quy định tại Điều 18 Luật BVMT 2014 thì phải thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường như quy định của pháp luật.

Theo như phụ lục II về Danh sách dự án phải thực hiện đánh giá tác động môi trường kèm theo Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ thì: “Tất cả các các dự án về xây dựng hạ tần kỹ thuật làng nghề phải thực hiện đánh giá tác động môi trường”. Ngoài ra Bộ TN&MT ban hành thông tư số 27/2015/TT-BTNMT về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT để hướng dẫn thi hành Nghị định 18/2015/NĐ-CP.

Cụ thể hơn, tại Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định, đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường gồm: các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; dự án có sử dụng đất của vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển; các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại, làng nghề và các khu sản xuất kinh doanh tập trung khác; các dự án có tác động đến môi trường khác…

Nghị định quy định, quy hoạch BVMT được lập phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội với kỳ đầu cho giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo 2 cấp độ là quy hoạch BVMT cấp quốc gia và quy hoạch BVMT cấp tỉnh.

Bốn là, các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường chung. Về cơ bản, các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường đã được đưa ra tại Chương XI của Luật BVMT 2014, trong đó có đưa ra hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường: các nhóm quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh (đất, nước mặt, nước dưới đất, nước biển, không khí, âm thanh, ánh sáng, bức xạ, tiếng ồn, độ rung), các nhóm quy chuẩn kỹ thuật về chất thải (nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, nước thải sinh hoạt, phương tiện giao thông, khí thải của các nguồn di động và cố định, chất thải nguy hại…) và nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường khác. Ngoài ra chương XI còn quy định về nguyên tắc xây dựng, ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật môi trường, yêu cầu đối với quy chuẩn kỹ thuật môi trường xung quanh và chất thải, xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường.

Dựa trên những điều luật cơ bản được đưa ra tại Luật BVMT 2014, Bộ TN&MT đã đưa ra các văn bản cụ thể quy định chi tiết về quy chuẩn kĩ thuật môi trường chung như: Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Đối với nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đất: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất QCVN 03 : 2008/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất QCVN 15: 2008/BTNMT;

Quy định về quy chuẩn kỹ thuật với nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí được ban hành dưới các văn bản sau: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh QCVN 05: 2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh QCVN 06: 2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ QCVN 2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ QCVN 20: 2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học QCVN 21: 2009/BTNMT;

Với nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường nước, Bộ TN&MT đã ban hảnh các văn bản quy định về quy chuẩn kỹ thuật như : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08: 2008/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09 : 2008/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ QCVN 10: 2008/BTNMT; QCVN 38:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh; QCVN 39:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu.

Với nhóm quy chuẩn kỹ thuật tiếng ồn, Bộ TN&MT đã đưa ra Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn QCVN 26: 2010/BTNMT nhằm quy định giới hạn tối đa các mức tiếng ồn tại các khu vực có con người sinh sống, hoạt động và làm việc. hiện quy chuẩn này không áp dụng để đánh giá mức tiếng ồn bên trong các cơ sở sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ.

Về quy chuẩn kỹ thuật đối với chất thải, Bộ TN&MT đã ban hành các văn bản như: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản QCVN 2008/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy QCVN 12: 2008/BTNMT; QCVN 38:2011/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại QCVN 07: 2009/BTNMT;…

Bên cạnh các quy chuẩn kỹ thuật đối với môi trường chung và chất thải, Bộ TN&MT còn ban hành quy chuẩn kỹ thuật đối với nguyên liệu nhập khẩu như : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu QCVN 31: 2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhựa nhập khẩu QCVN 32: 2010/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu giấy nhập khẩu QCVN 33: 2010/BTNMT;…

2.1.2 Thực thi pháp luật bảo vệ môi trường các làng nghề Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Sự phát triển của các làng nghề trong những thời gian qua còn mang tính tự phát cao, chưa có quy hoạch cụ thể, tập trung trong các hộ gia đình nhỏ lẻ. Cùng với những trang thiết bị công nghệ thấp, giản đơn, kinh nghiệm truyền miệng từ người này sang người khác (như những dẫn chứng trong phần hiện trạng môi trường làng nghề). Với việc 100% các làng nghề vi phạm quy định về BVMT, như việc không xây hệ thống xử lý chất thải, các loại khí thải, chất thải rắn, xả thẳng nước thải ra môi trường. Vậy ai sẽ là chủ thể phải chịu trách nhiệm gây ÔNMT và truy cứu như thế nào? Đây sẽ là trách nhiệm của những hộ gia đình xả thải hay là cả làng nghề đó? Chính những vướng mắc khó giải quyết này đã tạo ra những tác động xấu không chỉ tới sự phát triển chung của các làng nghề mà còn ảnh hưởng đặc biệt lớn đến môi trường và cuộc sống của người dân.

Để đảm bảo việc thực hiện áp dụng pháp luật BVMT một cách có hiệu quả hơn, Quốc hội và các cơ quan lập pháp đã ban hành những văn bản quy định về các vấn đề sau:

Một là, quy định về quản lý chất thải trong khu vực làng nghề. Chương VII, Luật BVMT 2014 đã quy định về việc làng nghề phải có kết cấu hạ tầng bảo đảm thu gom, phân loại, xử lý, thải bỏ chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Xét về mặt định hướng thì Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Quyết định 2149/QĐ-TTg Chiến lược Quốc gia về chất thải rắn đến 2025, ảnh hướng đến 2050 qua đó với mục tiêu cụ thể trong giai đoạn từ 2015 đến 2025 thì có thể thu gom, xử lý được 50% đến 100%

Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 13/08/2013 chất thải rắn tại các làng nghề. Để hỗ trợ cho việc quản lý chất thải tại làng nghề thì Chính phủ đã ban hành những nghị định như: Nghị định số 59/2007/NĐ-CP Về quản lý chất thải rắn và được bổ sung trong Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Tại các làng nghề chế biến thực phẩm như làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến NSTP, các hộ sản xuất đã xả thẳng nước thải trực tiếp ra cống rãnh, kênh mương, sông ngòi khiến nguồn nước chuyển màu đen và bốc mùi nồng nặc. Đứng trước vấn nạn ÔNMT các làng nghề Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án tổng thể BVMT lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy đến năm 2020 để quản lý nước thải từ khu vực làng nghề thải vào hai con sông Nhuệ và sông Đáy. Kế hoạch này xác định các nhiệm vụ, dự án, làm cơ sở cho các bộ, ngành liên quan và các địa phương trên lưu vực sông triển khai nhằm đạt được các chỉ tiêu của Đề án tổng thể BVMT lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy đến năm 2020 tại Quyết định 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008.

Bên cạnh đó, tại địa phương, UBND TP Hà Nội đã đưa ra đề án BVMT làng nghề đến năm 2020 định hướng đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ hoàn thành xử lý ÔNMT tại 50 làng nghề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ngoài ra UBND TP Hà Nội còn ban hành Quyết định 105/2014/QĐ-UBND về việc ban hành quy định quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để quy định về hoạt động phát thải, lưu giữ, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, quy định trách nhiệm của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có liên quan trong việc quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh.

Hai là, quy định về trách nhiệm BVMT của các chủ thể làm phát sinh ô nhiễm, phát sinh chất thải tại khu vực các làng nghề. Khi quy định về trách nhiệm BVMT của các chủ thể gây tác động tới môi trường – các chủ thể sản xuất, làm phát sinh ô nhiễm, phát sinh chất thải – nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật làm rõ trách nhiệm cũng như tạo điều kiện cho những nhà quản lý, cơ quan có thẩm quyền xác định được chủ thể gây ô nhiễm khi có sự cố môi trường xảy ra.

Luật BVMT 2014, Chương III đã đưa ra 3 điều luật quy định về trách nhiệm của chủ thể làm ô nhiễm, phát sinh chất thải (cá nhân, hộ gia đình, tổ chức) bao gồm: trách nhiệm của chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển chất thải và trách nhiệm của chủ xử lý chất thải rắn. Trong đó có điều 107, khoản 1 quy định rất rõ ràng về trách nhiệm của chủ thể gây ÔNMT trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.

Ngoài ra, luật BVMT còn quy định một vài trách nhiệm khác của các chủ thể tác động đến môi trường: trách nhiệm phân loại chất thài rắn thông thường; trách nhiệm của chủ thể có nguy cơ gây ra sự cố môi trường thực hiện các biện pháp phòng ngừa; trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường của tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường; trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường của các tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường; xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường;…

Cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ sở sản xuất làng nghề đã có Nghị định 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật BVMT 2015 do Chính phủ ban hành. Bên cạnh đó, Bộ TN&MT cũng đã ban hành Thông tư 46/2011/TT-BTNMT quy định về BVMT làng nghề. Điều 12 của thông tư đã cụ thể hóa các quy định về trách nhiệm của các cơ sở sản xuất tại làng nghề đối với môi trường Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Ba là, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước tại làng nghề. Luật BVMT 2014 đã dành hẳn một chương để đưa ra các quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT. Ngoài ra theo pháp lệnh số 10/2014/UBTVQH13 và nghị định của chính phủ số 105/2015/NĐ – CP đã quy định về quyền hạn và nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát môi trường trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và phạm hành chính về môi trường và tài nguyên, an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường.

Theo Nghị định 19/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT, điều 10 đã đưa ra trách nhiệm của các cơ quản quản lý và các đơn vị có liên quan bảo gồm: Trách nhiệm của Bộ TN&MT; . Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi tắt là Bộ, ngành); Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các trách nhiệm của các cơ quan quản lý và các đơn vị có liên quan bao gồm những công việc như: Phối hợp xây dựng và ban hành các hướng dẫn về trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận hoàn thành phương án, phương án bổ sung và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Phối hợp xây dựng và ban hành hướng dẫn kỹ thuật BVMT, thống nhất triển khai các quy định quản lý nhà nước về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận hoàn thành phương án, phương án bổ sung thuộc thẩm quyền; Kiểm tra, thanh tra công tác BVMT, cải tạo, phục hồi môi trường của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản.

Cụ thể hơn khi nói về trách nhiệm của cơ quan quản lý trong việc BVMT tại các làng nghề, Bộ TN&MT đã ban hành: Quy định về BVMT làng nghề. Trong đó, điều 13, 14, 15, 16, 17 đã quy định rất cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ UBND cấp xã, huyện, tỉnh cho đến Sở TN&MT. Đặc biệt điều 13 của thông tư đã đưa ra quy định về trách nhiệm về tổ chức tự quản về BVMT – một tổ chức có mối liên hệ mật thiết đến hoạt động của cộng đồng dân cư tại làng nghề (tổ chức tự quản về BVMT là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật BVMT 2014. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Khi quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước đối với việc quản lý chất thải tại địa phương, cụ thể là trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, UBND TP Hà Nội đã đưa ra nghị quyết 105/2014/QĐ-UBND, trong đó 3 điều quy định về trách nhiệm của các Sở, ban ngành, trách nhiệm của UBND các huyện, thị xã, thành phố và trách nhiệm của UBND xã, phường, thị trấn. Có thể nói, ngoài trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc BVMT làng nghề là không nhỏ. Tuy vậy, sự quan tâm cũng như giúp đỡ từ cộng đồng dân cư đóng góp một phần hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng môi trường làng nghề sạch đẹp.

Bốn là, quy định về chế tài xử lý đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thứ nhất, xử lý hành chính là một trong những biện pháp chính trong việc răn đe đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Ngày 14/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009. Nghị định này đã làm rõ những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định tại khoản 2 Điều 1. Nghị định 179/2013/NĐ-CP được ban hành đã khắc phục những cấp bất cập, quy định không còn phù hợp về bảo vệ môi trường, về đa dạng sinh học so với nghị định 117/2009/NĐ-CP. Đặc biệt về mức phạt tiền lớn nhất tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP tối đa là 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức. Như vậy, mức phạt tối đa theo quy định tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP cao gấp 4 lần so với mức phạt tối đa quy định tại Nghị định 117/2009/NĐ-CP đã hết hiệu lực.

Bên cạnh việc áp dụng mức phạt cao hơn mang tính rắn đe, thì nghị định 179/2013/NĐ-CP cũng đã định nghĩa về hành vi xả thải. Trước đây, việc xả thải vào môi trường được hiểu là xả ra ngoài phạm vi quản lý của cơ sở sản xuất kinh doanh, như khi xả nước thải ra ngoài tường rào. Còn trường hợp đơn vị xả thải ở trong khu đất của đơn vị vẫn được coi là chưa vi phạm. Tuy nhiên ở Nghị định 179/2013/NĐ-CP, xả thải không chỉ là “xả ra ngoài” mà còn là “xả thải vào môi trường đất, nước dưới đất, nước mặt bên trong và ngoài cơ sở….” (Khoản 1 điều 3). Như vậy có ý nghĩa là việc xả nước thải ra đất vào ao chứa, hồ chứa mà không có biện pháp lót đáy chống thấm dù bên trong hay bên ngoài diện tích đất thuộc quản lý của cơ sở đều được coi là xả thải vào môi trường. Điều này đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc kiểm soát xả thải ở các khu vực làng nghề, các hộ dân cư hay tại các khu công nghiệp. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thêm vào dó, Nghị định 179/2013/NĐ-CP cũng đã phân định rõ ràng về thẩm quyền kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm của các cơ quan Công an, Thuế, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường, Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp và Sở Tài nguyên và Môi trường.

Ngoài những biện pháp về phạt tiền và tước giấy phép, các chủ thể của hành vi gây ÔNMT có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra, buộc tháo dỡ công trình, buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ÔNMT và các biện pháp bảo vệ môi trường, buộc thu hồi sản phẩm…

Thứ hai, pháp luật Việt Nam còn quy định về trách nhiệm dân sự của những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật môi trường. BLDS 2015 đã có những bước tiến bộ trong quy định về bồi thường thiệt hại do làm ÔNMT. BLDS 1999 đang sử dụng hiện nay chỉ quy định “cá nhân, pháp nhân” mà gây ô nhiễm thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật kể cả trường hợp người gây ô nhiễm không có lỗi. Quy định của BLDS 1999 chưa bao quát hết được những đối tượng gây ÔNMT hiện nay vì vậy mà BLDS 2015 đã thay thế cụm “cá nhân, pháp nhân” thành “chủ thể”.

Chính những quy định vừa nêu trên của pháp luật đã tạo ra cơ sở pháp lý cho những người bị thiệt hại do ÔNMT có thể tự bảo vệ được quyền lợi của bản thân, đồng thời các cơ quan nhà nước có cơ sở để xem xét trách nhiệm của các tổ chức cá nhân, chủ thể khác có hành vi vi phạm pháp luật môi trường.

Thứ ba, chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự với những hành vi gây hậu quả nghiêm trọng mà xử lý hành chính và trách nhiệm dân sự không thể áp dụng đựng. Hiện nay, vi phạm pháp luật về môi trường càng trở nên phức tạp với những hậu quả không ngờ tới được. Mặc dù gây hậu quả nghiệm trọng cho xã hội nhưng trách nhiệm hình sự áp dụng cho những hành vi vi phạm môi trường lại còn quá nhẹ thậm chí nhiều trường hợp còn không thể xử lý được. Nghĩa là, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2009 nhưng Bộ Luật Hình sự hiện hành vẫn có những lỗ hổng để các đối tượng “lách luật”. BLHS hiện hành quy định tội phạm với đa số cấu thành tội phạm vật chất nghĩa là hành vi đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra. Tuy nhiên điều này lại nảy sinh một số vướng mắc trong áp dụng bởi: i/ Hành vi được thực hiện nhưng hậu quả xảy ra ở thời gian sau đó rất xa khiến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó không còn; ii/ Việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra là vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải áp dụng kỹ thuật cao, không phải địa phương nào cũng có khả năng thực hiện . Cụ thể là trong 11 tội phạm môi trường mà BLHS hiện hành quy định đã có tới 6 cấu thành tội phạm được xây dựng là cấu thành tội phạm vật chất. Có thể nói rằng các tội phạm trong BLHS hiện hành được xây dựng là những cấu thành tội phạm vật chất với dấu hiệu chung chung, không có căn cứ rõ ràng. Để khắc phục những yếu điểm BLHS 2015 đã đưa và những quy định cấu thành hình thức đối với tội phạm môi trường và đã cụ thể hóa các quy định cấu thành vật chất bằng các con số để dễ dàng đối chiếu chứng minh trong định tội.

2.2 Thực trạng môi trường và áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường tại một số làng nghề chế biến thực phẩm tại Hà Nội Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

2.2.1 Hiện trạng môi trường

Một là, về hiện trạng môi trường làng nghề: Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2008, ÔNMT làng nghề làm gia tăng người mắc bệnh đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề. Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây.

Môi trường làng nghề xấu đi đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người dân tại địa phương, gây ra các căn bệnh từ nguồn nước, từ không khí và nhiều nguồn ô nhiễm khác. Tại các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm, chế biến NSTP xuất hiện những bệnh phổ biến là bệnh ngoài da, viêm niêm mạc như nấm kẽ, nấm móng, dày sừng gan bàn chân, viêm chân tóc,… Còn tại các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da thì các bệnh thường gặp là bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh; ở làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: bệnh đặc trưng của người dân và người lao động chủ yếu là hô hấp, tiêu hóa, phụ khoa và các bệnh về mắt; ở làng tái chế phế liệu: các bệnh thường gặp là hô hấp, bệnh ngoài da, thần kinh và đặc biệt là tỷ lệ người mắc bệnh ung thư tương đối cao; ở làng nghề thủ công, mỹ nghệ, thêu ren: thường là bệnh hô hấp, ngoài da.

Ở nhiều làng nghề, tỷ lệ người mắc bệnh, nhất là nhóm người trong độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng cao. Ở một số làng nghề có mức độ ô nhiễm cao thì tuổi thọ trung bình của người dân giảm, thấp hơn đến 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc và thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với làng không làm nghề. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Qua nghiên cứu cũng như những khảo sát thống kê từ nhiều công trình lớn và nhỏ từ trước đến nay thì sự phân bố các làng nghề tại Việt Nam diễn ra không đồng đều. Sự phân bố và mật độ không đều của các làng nghề truyền thống ở các vùng miền trên phạm vi toàn quốc phản ánh những nét đặc thù của dân tộc. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2014 thì tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 4.487 làng, trong đó có 1.534 làng nghề đã được công nhận. Và hầu như các làng nghề chỉ tập trung vào ở khu vực miền Bắc và tại những vùng nông thôn, do xu thế đô thị hóa nên nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị, nhưng vẫn duy trì xét sản xuất văn hóa truyền thống nên đã tạo ra những “lỗ hổng” trong chính sách phát triển và hành lang pháp lý về quản lý làng nghề. Sự phân bố không đồng đều này, đối với các tỉnh thuộc đồng bằng song Hồng (có diện tích chật hẹp, mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất quy mô công nghiệp và bán công nghiệp gắn liền với sinh hoạt) thì hậu quả của ÔNMT là rõ rệt nhất. Với một sự nhìn nhận khách quan thì không phải tất cả các làng nghề đều gây ra ô nhiễm, trên thực tế, mức độ tác động đến môi trường do hoạt động sản xuất làng nghề rất khác nhau, phụ thuộc vào loại hình sản xuất và đặc điểm phân bố theo vùng, miền. Các tác động của con người trong hoạt động sản xuất tại các làng nghề tới môi trường có thể kể đến như: môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường tiếng ồn…

Tính đến năm 2011, cả nước có 3.355 làng nghề và tình trạng ÔNMT tại hầu hết các làng nghề này đang rất nghiêm trọng.

các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, nước mặt nhiều nơi có hàm lượng COD, BOD5, NH4+, coliform vượt hàng chục lần đến hàng trăm lần quy chuẩn. Ngoài ra, hầu hết các làng nghề đều có hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép; nồng độ khí SO2 tại các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn cho phép.

Bên cạnh đó, tại các làng nghề khí thải, nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý đã xả thẳng vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí và các nguồn nước mặt, nước dưới đất tại địa phương. Trên thực tế, ý thức BVMT của người dân tại các làng nghề còn hạn chế. Bên cạnh đó, các hộ sản xuất làm nghề nằm phân tán trong khu dân cư và chủ yếu tận dụng diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất, quy mô sản xuất nhỏ, vì vậy gây nhiều khó khăn, bất cập trong công tác BVMT.

Dựa vào những số liệu thống kê ta có thể nhận xét ÔNMT làng nghề có một số đặc điểm sau: (i) Là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi một khu vực (thôn, làng, xã…). Vì đặc điểm quy mô sản xuất của các làng nghề hầu như là nhỏ, đan xen, phân tán,với các khu sinh hoạt của dân cư và thậm chí là ngôi nhà của chính những người dân là những cơ sở sản xuất, nên việc kiểm soát và quy hoạch ô nhiễm trở nên rất khó khăn và phức tạp; (ii) Mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề sản xuất, mùa vụ sản xuất, loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi trường nước, khí, đất trong khu vực; (iii) Mức độ ô nhiễm khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động do sinh hoạt ngay trong khu vực sản xuất. Tác động của ô nhiễm là tác động cộng hưởng của nhiều nguồn ô nhiễm trong cùng một khu vực (gồm nhiều hộ sản xuất gia đình). Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ nhất, về ÔNMT nước và nước thải của làng nghề. Qua kết quả xét nghiệm các mẫu nước thải ở các làng nghề của Viện khoa học và công nghệ môi trường (trường Đại học Bách khoa Hà Nội) thì 100% các mẫu nước đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước ngầm và nước mặt đều có dấu hiệu ô nhiễm vượt mức.

Theo đặc trưng chất gây ô nhiễm trong nước thải của từng loại hình sản xuất có thể phân loại ÔNMT nước như sau: Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ. Đây là các loại hình sản xuất có nhu cầu sử dụng nước rất lớn và nước thải có đặc tính chung là giàu chất hữu cơ, dễ phân hủy sinh học và có độ ô nhiễm hữu cơ rất cao. Hàm lượng các chất ô nhiễm, vượt quy chuẩn Việt Nam (QCVN) hàng chục lần. Đặc biệt là nước thải từ khâu lọc tách bã, tách bột đen của quá trình sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng có độ chua (pH) thấp, hàm lượng nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu ôxy hóa học (COD) vượt trên lần QCCP;

Ô nhiễm chất vô cơ và hóa chất chủ yếu tập trung tại các làng nghề dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ và mây tre đan, tái chế giấy, do sản xuất có sử dụng nhiều nước, hóa chất, thuốc nhuộm nên thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải làng nghề dệt nhuộm bao gồm: các tạp chất tự nhiên tách ra từ sợi vải: chất bẩn, sáp, dầu, hợp chất chứa nitơ, pectin.. và các hóa chất rong quá trình xử lý vải như hồ tinh bột, NaOH, H2SO4, HCL, NA2CO3, các loại thuốc nhuộm, chất tẩy giặt. Khoảng 10 -30% lượng thuốc nhuộm và hóa chất sử dụng bị thải ra ngoài cùng với nước thải. Hơn nữa nước thải dệt nhuộm chứa nhiều hóa chất và có độ màu rất cao, có nơi lên tới 13.000 (Pt-Co);

Ô nhiễm kim loại nặng độc hại, dầu thải từ nước thải của các làng nghề mạ, tái chế kim loại…Quá trình mạ bạc còn tạo ra muối thủy ngân xyanua, oxit kim loại và các tạp chất khác vượt QCVN từ 1,5 -10 lần.

Thứ hai, về vấn đề ÔNMT không khí tại các làng nghề. Với đặc trưng của các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm là sự dễ phân hủy của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn và nước thải từ các cống, rãnh, mương. Quá trình trình phân hủy đã sinh ra nhiều các khí độc như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 và nhiều các loại khí ô nhiễm gây mùi tanh ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người dân làng nghề. Đặc biệt như làng Bún Phú Đô, Hà Nội hay làng Bún Vũ Hội, Thái Bình đều có hàm lượng SO2 rất cao vượt qua ngưỡng cho phép là 0.35mg/m3 không khí (theo TCVN 5937 – 2005(SO2)).

Ở các làng ươm tơ, dệt vải và thuộc da thì mức độ ô nhiễm không khí mang tính cục bộ. Các khu vực sản xuất của làng nghề dệt nhuộm ô nhiễm chủ yếu ở các thông số như bụi, SO2, NO2. Đặc biệt, các làng nghề dệt thường bị ô nhiễm tiếng ồn từ các máy dệt thủ công hoặc bán tự động, mức ồn vượt TCVN từ 4 – 14 dBA.

Đặc biệt ÔNMT không khí tại các làng nghề có nghề tái chế có mức độ nặng nhất và dạng ô nhiễm ở đây là bụi, hơi kiềm, Cl2 do dùng nước Javen để tẩy trắng và H2S. Trong công nghệ tái chế nhựa, khí ô nhiễm phát sinh từ việc nhựa cháy làm phát sinh các khí độc như HCL, HCN, CO, HC. Trong đó, ngành sản xuất có thải lượng ô nhiễm lớn nhất là tái chế kim loại, tiếp theo sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ. Ngoài ra, quá trình tái chế và gia công cũng gây phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm, oxit kim loại và ô nhiễm nhiệt. Hàm lượng bụi ở khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt QCVN là 3 – 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ ba, về chất thải rắn tại các làng nghề. Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác động xấu tới cảnh quan môi trường, gây ÔNMT không khí, nước và đất.

Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, đặc biệt là sản xuất tinh bột sắn, dong giềng tạo ra khối lượng lớn chất thải rắn. Khối lượng chất thải rắn này không được thu gom, xử lý mà xả bừa bãi ở các khu vực công cộng, đặc biệt là ao hồ, bờ đê gây tắc nghẽn hệ thống thoát nước, ô nhiễm nghiêm trọng nước mặt, nước dưới đất; bốc mùi hôi thối và mất mỹ quan khu vực nông thôn

Làng nghề tái chế kim loại, với nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phoi, rỉ sắt, lượng phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày. Làng nghề tái chế giấy, nhựa thải ra các chất thải rắn gồm: nhãn mác, bột giấy, băng ghim, băng dán, tạp chất không tái sinh được, các chi tiết bằng kim loại, cao su. Các tạp chất loại này thường chiếm 5-10% trong phế liệu.

Hai là, về thực trạng môi trường của một vài làng nghề chế biến thực phẩm là làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến NSTP Minh Khai.

Đầu tiên, về hiện trạng môi trường làng bún Phú Đô – Hà Nội. Làng bún Phú Đô (xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội) có nghề sản xuất bún truyền thống lâu đời hơn 400 năm, trung bình hằng ngày có 50 tấn bún được sản xuất để đưa đi tiêu thụ cho gần một nửa thị trường Hà Nội. Trước kia, khi quy mô sản xuất bún tại các hộ gia đình của làng Phú Đô còn nhỏ hẹp, nước thải từ quá trình sản xuất được tận dụng lại cho chăn nuôi gia súc. Tuy nhiên, quay trở lại gần chục năm trở lại đây, khi quy mô sản xuất tăng lên, nhu cầu tiêu dùng cũng đẩy mạnh thì việc sư dụng các thiết bị hóa chất cho hoạt động sản xuất bún đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Qua các bài báo và các tài liệu báo cáo thì phần lớn nước thải đều được trực tiếp đổ ra sông hồ mà không hoặc rất ít thông qua khâu xử lý nào. Đây là một trong những nguyên nhân hết sức to lớn tạo ra tình trạng ô nhiễm ngày càng nặng nề hơn. Hầu hết các kết quả phân tích mẫu nước thải, khí thải ở làng nghề cho thấy đã vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đã và đang ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân mà còn gây hại đến cả môi trường sinh thái xung quanh.

Qua khảo sát từ những người dân tham gia hoạt động sản xuất bún tại làng nghề, hầu hết những gia đình sản xuất bún đều nuôi lợn để tiện sử dụng bã gạo từ quá trình sản xuất bún vào chăn nuôi. Tuy nhiên, nước thải từ gạo ngâm chua làm bún, thêm vào đó là nước thải từ việc chăn nuôi đã bị người dân đổ thẳng trực tiếp vào hệ thống nước thải chung của thôn. Trung bình mỗi hộ sử dụng 50 mét khối nước cho việc sản xuất bún mỗi ngày, lượng nước thải gần như tương đương sau khi đã qua sử dụng đều được thải trực tiếp vào cống thoát nước ra sông Nhuệ, gây tác động xấu trực tiếp đến các sinh vật dưới vùng sông, nước. Đặc biệt nguồn nước thải này không chỉ gây ra ô nhiễm nước mà nó còn thấm vào đất gây ô nhiễm đất và cả nguồn nước ngầm. Năm 2005 phường Phú Đô đã được đầu tư xây dựng một trạm xử lý nước thải rộng 6 ha nằm tại phường. Trạm xử lý nước thải công suất 84.000 m3/ngày đêm này nằm trong chương trình cải thiện môi trường Hà Nội. Nguồn vốn vay ODA và vốn đối ứng của Việt Nam. Theo lời người dân sinh sống và làm việc tại địa phương, trạm xử lý nước thải với công suất nhỏ hoạt động không hiệu quả. Bởi toàn bộ nước thải sinh hoạt, sản xuất đều chỉ qua trạm, dẫn tới quá tải. Và một điều vô cùng bất cập, là hiện tại trạm xử lý nước thải Phú Đô không hoạt động và có dấu hiệu sử dụng sai mục đích. Nguồn nước ngay tại khu vực làng nghề bị ô nhiễm bởi chính quá trình sản xuất đó. Cho tới hiện nay, làng nghề bún Phú Đô, cứ trong 10.200 tấn sản phẩm mỗi năm đã thải các chất ô nhiễm 76,9 tấn COD; 53,14 tấn BOD5; 9,38 tấn SS gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Và chính nó lại đang “đầu độc” thẳng con sông Nhuệ ngang qua khu vực. Ở tầm vi mô là chính sức khỏe người dân khu vực, ở tầm vĩ mô là ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường nước khu vực Hà Nội.

Có thể thấy được các chất thải của việc sản xuất bún đa phần là chất thải hữu cơ, tuy nhiên khi thấm vào đất, những chất thải này (bao gồm cả vô cơ và hữu cơ) đều làm thay dổi môi trường sống của các sinh vật trong long đất, ảnh hưởng đến quá trình phân hủy, trao đổi chất của các loại vi sinh vật, làm cho cây cối không phát triển được, phát triển và chống chịu kém hoặc chết mòn.

Ô nhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng tới con người và các loài sinh vật thông qua đất nước mà còn qua đường không khí. Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại trong nước thải thông qua vòng tuần hoàn nước, theo hơi nước vào không khí làm cho mật độ bụi bẩn trong khống khí tăng lên. Không chỉ vậy, các hơi nước này còn làm giá bám cho các vi sinh vật và các loại khí bẩn công nghiệp độc hại khác. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Đối với không khí, nguồn gây ô nhiễm đặc trưng nhất của làng nghề là mùi hôi thối do quá trình phân hủy của các chất hữu cơ, quá trình ủ, lên men của bún. Quá trình này tạo ra các khí độc gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thêm vào đó còn có một điểm đáng chú ý đó là việc sử dụng than củi. Với nhu cầu sử dụng rất lớn thì bùi, khí thải do đốt nhiên liệu than củi cũng là nguồn gây ô nhiễm đối với môi trường không khí.

Báo cáo MT quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề, tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng. Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề. Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, bênh phụ khoa chiếm chủ yếu (13-18%), bệnh về đường tiêu hóa (8-30%), bệnh viêm da (4,5 – 23%), bệnh đường hô hấp (6-18%), bệnh đau mắt (9-15%). Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp ở làng bún Phú Đô hiện đang ở mức 50%. Tác hại của ô nhiễm MT qua các chỉ số là hết sức lo ngại. Dòng sông chảy qua thông nước trong xanh, nhưng giờ đây vì bị ô nhiễm mà trở nên đen kịt. Vào những ngày hè nắng nóng, nước bốc mùi nồng nặc khiến người dân xung quanh không thể thở nổi.

Thứ hai, về hiện trạng làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (NSTP)Minh Khai – Hà Nội. Huyện Thanh Trì, huyện Hoài Đức hiện có 51 trên 53 làng có nghề, trong số đó có 3 làng chế biến nông sản gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (gồm Dương Liễu, Cát Quế và Minh Khai) và đặc biệt phải kể đến làng nghề chế biến NSTP Minh Khai.

Làng chế biến NSTP Minh Khai một làng nghề truyền thống với đa dạng các mặt hàng mỳ, miến được bán và xuất khẩu đi trong, ngoài nước. Nghề làm miến xuất hiện ở xã Minh Khai từ nhưng năm 60 của thế kỷ 20. Khi đó, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế, một số hộ gia đình thông qua nghiên cứu thực tiễn, từ việc chỉ làm ra tinh bột bán ra thị trường, các hộ đã thí nghiệm lấy bột tinh ra hấp nóng để chế biến thành sợi miến. Từ đó trở đi, nghề sản xuất miến dong được hình thành và phát triển. Cho đến cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20, xã có thêm nghề mới là nghề chế biến bún, phở khô từ gạo tẻ. Trước đây, việc làm mỳ, miến chủ yếu là làm thủ công, sử dụng sức lao động của con người là chính song đến nay, các hộ sản xuất đã áp dụng công nghệ tiên tiến. Những chiếc máy mỳ bỏ bột tự động, máy sản xuất miến dong liên hoàn đã hoàn toàn thay thế những loại máy móc cũ đã giúp giảm bớt sức lao động, tạo ra năng suất cao. Hiện nay, toàn xã Minh Khai có 48 hộ làm miến, và 183 hộ làm bún, phở khô. Cơ cấu kinh tế chuyển dần sang hướng phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp. Tổng giá trị sản xuất kinh doanh năm 2015 đạt 996,5 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người là 41,2 triệu đồng. Với sự nỗ lực thi đua của toàn Đảng, toàn dân, Minh Khai đang ngày càng thay đổi rõ rệt, đời sống kinh tế của nhân dân ổn định, thu nhập cao so với mặt bằng chung của huyện, chủ yếu từ nghề chế biến nông sản, thực phẩm. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Đặc thù của làng nghề này là chế biến tinh bột nên lượng nước thải rất lớn tới 3.155.000m3/năm. Nước thải phát sinh do quá trình tẩy rửa các nguyên liệu, các khâu chế biến trong sản xuất, lượng nước sử dụng lớn, có nơi lên tới 7.000 m3/ngày, thường không được xử lý đã xả thải trực tiếp ra môi trường. Kết quả phân tích mẫu nước cho thấy nguồn nước mặt có màu đen xám, cao hơn mức độ màu trung bình 2,12 lần, hàm lượng chất ô nhiễm cao Coliform (một nhóm vi khuẩn rất phổ biến) cao hơn vài nghìn lần so với mức trung bình, lượng oxy hòa tan trong nước thấp hơn tiêu chuẩn 2mg/l, lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước cao hơn tiêu chuẩn 18,23 lần, lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ theo phản ứng cũng cao hơn tiêu chuẩn 12,3 lần… Toàn bộ lượng nước thải trên chưa qua xử lý được xả thải vào hệ thống kênh tiêu và chảy vào sông Nhuệ, sông Đáy, chất lượng nước thải các làng nghề chế biến nông sản có đặc điểm là nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ cao hơn tiêu chuẩn nước thải công nghiệp từ vài chục đến hàng trăm lần. Vì vậy, đã gây ảnh hưởng suy thoái, ÔNMT nghiêm trọng, nhất là vào vụ sản xuất từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm, gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đời sống của nhân dân; làm suy thoái môi trường nước sông Nhuệ, sông Đáy Việc làng nghề đã bị ô nhiễm môi trường ở mức báo động đã ảnh hưởng đến sức khỏe như các bệnh tiêu hóa, bệnh ngoài da, mắt chiếm hơn 30%, bệnh hô hấp 20% và các bệnh khác như các bệnh tai, mũi họng, thần kinh..

Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Quan trắc – Phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội và điều tra của Chi cục BVMT Hà Nội tại hơn 40 làng nghề trên địa bàn thành phố trong đó có làng nghề Minh Khai (Hoài Đức) cho thấy, môi trường nước, không khí, đất đai bị ô nhiễm nặng bởi các chất hóa học độc hại. Nguồn nước ngầm bị nhiễm nặng COD, NH4, phenol; hàm lượng Ecoli, coliform, kim loại nặng như As, Hg “vượt ngưỡng” cho phép nhiều lần. Hầu hết ao, hồ, kênh mương thủy lợi bị nhiễm độc bởi các chất như SS, BOD5, NH4, NO2¸PO4, Hg, phenol, dầu mỡ, coliform. Còn môi trường đất bị nhiễm các kim loại nặng như đồng, kẽm… Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ÔNMT làng nghề là do ý thức người dân. Nhiều người biết rõ mức độ nguy hiểm của việc gây ô nhiễm nhưng vẫn vi phạm, trong khi đó cơ quan quản lý nhà nước lại chưa chú trọng việc kiểm tra, xử lý. Một nguyên nhân khác là nguồn kinh phí đầu tư cho công tác khắc phục ÔNMT làng nghề còn hạn chế, đa phần cơ sở sản xuất, hộ gia đình không có kinh phí đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải, khí thải, thu gom phân loại chất thải rắn… Bên cạnh đó, thiết bị, công nghệ sản xuất ở các làng nghề vẫn lạc hậu, mặt bằng thì chật hẹp… Một nguyên nhân nữa có thể nói tuy là nhỏ, nhưng lại có tác động hết sức to lớn dẫn đến những nguyên nhân trên, đó là sự quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm từ chính quyền địa phương, việc áp dụng pháp luật và xử lý vi phạm hời hợt đã khiến cho ý thức người dân, sự quan tâm của các nhà đầu tư…không những không có tiến triển mà còn có xu hướng “lách luật”, phá luật. Một lần nữa, chúng ta lại phải đặt ra câu hỏi về tính khả thi của các văn bản pháp luật cũng như khả năng áp dụng các văn bản pháp luật đến đâu.

Trong khi tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên bức xúc thì nhiều chương trình, dự án nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn lại không phát huy hiệu quả. Cụ thể, từ năm 1995-2001, huyện Hoài Đức đã đầu tư xây dựng công trình sản xuất phân hữu cơ từ bã sắn, đót và xử lý nước thải ở xã Dương Liễu trị giá gần 5 tỷ đồng, sau khi hoàn thành, công trình đã bàn giao cho Công ty TNHH Mặt Trời Xanh sử dụng nhưng không phát huy được hiệu quả. Mặt khác, công ty này cũng không tìm ra được thị trường cho sản phẩm phân bón hữu cơ nên sản xuất bị đình đốn. Ngoài dự án trên, năm 2002, được sự giúp đỡ của Viện Công nghệ sinh học (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam), xã Minh Khai cũng hoàn thành công trình xử lý nước thải với công suất 120m3/ngày với tổng số tiền đầu tư 100 triệu đồng. Nhưng sau khi đưa vào sử dụng một thời gian ngắn, công trình đã phải “đắp chiếu” do đặt sai vị trí.

Có thể thấy, mặc cho những nỗ lực “sửa đổi” của các nhà đầu tư nhằm thay đổi môi trường, tình trạng môi trường đang ngày càng xấu đi vẫn là những vấn đề không thể chối cãi. Nếu như chỉ biết chữa mà không biết phòng tránh, thì rõ ràng sẽ không có vấn đề nào được giải quyết triệt để và thấu đáo. Các con sông, con kênh thì vẫn nằm ngoài kia, và tình trạng ÔNMT sẽ mãi không thể thay đổi khi chưa có sự can thiệp thực sự từ chính quyền địa phương, các cơ quan thi hành pháp luật và sự quan tâm đến từ những người dân đang sinh sống và làm việc tại các làng nghề chế biến thực phẩm.

2.2.2 Việc áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Các làng nghề chế biến thực phẩm ở Hà nội nói riêng và ở Việt nam nói chung đề là các cơ sở sản xuất nhỏ có quy mô hộ gia đình, mặt bằng sản xuất thì chật hẹp xen lần với khu vực sinh sống của người dân. Vậy nên trong quá trình sản xuất không thể không tránh khỏi làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân nơi đây. Đồng nghĩa với việc sản xuất ở các khu vực làng nghề này càng phát triển thì nguy cơ phát thải ô nhiễm tới các khu dân cư càng cao hơn. Các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường chọn quy trình sản xuất thô sơ, tận dụng sức lao động với trình độ thấp để tiết kiệm chi phí những cũng gián tiếp thực hiện hành vi phá hoại môi trường sống đối với những người dân quanh khu vực này. Thậm chí một số cơ sở còn sử dụng những nguyên nhiên liệu rẻ tiền nhưng lại mang rất nhiều chất độc hại trong đó có cả các loại chất cấm sử dụng nhằm tăng năng suất, tăng tính cạnh tranh với các làng nghề trong khu vực. Nhận thấy ÔNMT đang trở thành vấn nạn tại các làng nghề thì các cơ quan Nhà nước đã có những chính sách để hạn chế, khắc phục tình trạng ÔNMT ở các làng nghề. Thế nhưng, trên thực tế, khi những biện pháp pháp luật BVMT được áp dụng lên các làng nghề thì lại gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng.

Tình hình thực thi pháp luật làng nghề còn yếu kém. Số vụ thanh tra kiểm tra đối với làng nghề rất hạn chế, công tác quy hoạch phát triển, di dời còn nhiều bất cập.

Quan trắc môi trường còn bị bỏ ngỏ, đầu tư ngân sách hạn hẹp… Làng nghề không có kết cấu hạ tầng BVMT. Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ÔNMT hiện nay là do người dân chưa có ý thức trong việc BVMT.

Thứ nhất, đối với vấn đề quy hoạch tại các làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến NSTP Minh Khai. Hiện tại vẫn chưa có văn bản nào chính thức từ UBND TP Hà Nội về việc triển khai quy hoạch làng nghề Phú Đô. Còn tại làng nghề chế biến NSTP Minh Khai, theo thống kê của UBND huyện Hoài Đức, toàn huyện hiện có 51 làng nghề với hàng vạn hộ sản xuất, kinh doanh, nên vấn đề xử lý môi trường gặp nhiều khó khăn. Quy hoạch tiêu thoát nước chung của huyện đã được phê duyệt nhưng chưa được đầu tư. Đặc biệt, tiến độ xây dựng CCN làng nghề, trạm xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu. Để khắc phục những bất cập đang tồn tại, huyện Hoài Đức đã tập trung hoàn thành Quy hoạch BVMT đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Đồng thời, tổ chức nhiều hội nghị để tham khảo ý kiến của các nhà khoa học về xử lý môi trường tại các làng nghề một cách triệt để, tránh chồng chéo, đảm bảo hiệu quả đầu tư. Việc quy hoạch và triển khai quy hoạch xây dựng làng nghề, cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề còn khá chậm. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ hai, đối với vấn đề áp dụng pháp luật ĐTM tại làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến thực phẩm thì công tác quản lý tại các làng nghề này còn lỏng lẻo. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thiếu tính đặc thì mỗi loại ngành nghề truyền thống. Ở các cơ sở tại làng nghề Vạn Phúc thì quá trình chế biến, tẩy rửa, sử dụng hóa chất bảo quản là nguyên nhân chính gây ra ÔNMT. Chính vì vậy mà cần phải có hoạt động phân tích, dự báo các tác động đến môi trường khi vận hành các cơ sở này. Tuy nhiên, đa số cơ sở sản xuất kinh doanh ở làng nghề chế biến thực phẩm không thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Nguyên nhân là phần lớn các chủ cơ sở ở đây chưa hiểu biết hết về trách nhiệm BVMT của mình nên họ không biết cần phải thực hiện ĐTM. Hơn thế, khi hỏi các chủ hộ sản xuất là tại sao không đánh giá tác động môi trường thì hầu hết cầu trả lời đều là: “Không làm vì các nhà khác cũng không thấy làm”. Thậm chí có những nhà đã xây dựng hệ thống nước thải rồi bỏ dở không vận hành vì hàng xóm không làm như vậy. Cũng có nhiều trường hợp chủ cở sở khai giảm công suất của cơ sở mình để chỉ cần lập Cam kết BVMT để trốn tránh việc lập ĐTM. Trên thực tế việc phê duyệt báo cáo ĐTM còn lỏng lẻo bởi cơ quan địa phương còn chưa đủ nhân lực, tranh thiết bị, chuyên môn để phê duyệt. Pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm những bên liên quan trong phê duyệt để bảo đảm hiệu quả trong quá trình làm việc. Điều đáng quan ngại hơn nữa là hiện nay có một số công ty mọc lên chuyên nhận làm những báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các công ty kinh doanh cần phải lập ĐTM. Những công ty này vô hình chung tạo ra những ĐTM giả để đối phó với cơ quan môi trường làm công tác kiểm tra. Đây cũng là nguyên nhân cho hai con sông Nhuệ, Đáy sau bao nỗ lực cải tạo tình trạng hai con sông vẫn xuống cấp trầm trọng như vậy có thể nó công tác ĐTM tại các làng nghề chế biến thực phẩm không hiệu quả và trở nên vô nghĩa.

Thứ ba, về việc quản lý chất thải trong khu vực làng nghề chế biến thực phẩm tại Hà nội, cùng với sự phát triển nhanh chóng của làng nghề khối lượng rác thải càng ngày càng lớn, các địa điểm tập kết rác càng lúc càng ô nhiễm. Các tổ thu gom rác tự quản tại các làng nghề chế biến thực phẩm đã được thành lập để thu gom rác thải sinh hoạt trong thôn. Tuy nhiên, lượng rác thải càng lúc càng nhiều hơn, UBND các phường đã ký hợp đồng với các Công ty Môi trường để di dời rác từ những nơi tập kết, giữ gìn cảnh quan thôn xóm. Chất thải sinh hoạt và chất thải rắn đã được xử lý thế nhưng nước thải chứa hóa chất trong quá trình dệt lụa vẫn được thải trực tiếp cùng với nước sinh hoạt đổ ra sông Nhuệ. Trong quá trình sản xuất thực phẩm tại làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến NSTP Minh Khai, người dân vẫn sử dụng phương pháp thủ công, xả thải trực tiếp. Tuy rằng, các địa phương đã cố gắng triển khai thực hiện tốt công tác thu gom chất thải rắn và chất thải sinh hoạt xong các chất thải khí, nước, tiếng ồn thì lại không có biện pháp để xử lý. Hay nói cách khác công tác quản lý nước thải, khí thải trong quá trình sản xuất thực phẩm còn yếu và kém hiệu quả. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Bên cạnh đó, có một vấn đề khá thật mà hầu như hiện nay chúng ta đang cố gắng không nhắc đến vì tính nhạy cảm đó là môi quan hệ giữa cán bộ trong hệ thống chính quyền tại địa phương và giữa các cán bộ không sản xuất và sản xuất tại các làng nghề có gắn bó về mặt tình cảm. Tại làng nghề Phú Đô cũng như làng nghề chế biến NSTP, một số cán bộ lại vì việc này mà e ngại áp dụng các biện pháp chính quyền và luật pháp đối với chủ các cở sở sản xuất làng nghề ô nhiễm có các cán bộ kinh doanh hay là người nhà cán bộ đó kinh doanh. Việc ngại xung đột do quan hệ hàng xóm láng giềng tư duy sai lầm có thể dẫn đến nhiều tổn hại hơn nữa cho hiện tại và tương lai vẫn còn đang tồn tại giữa các cán bộ thực hiện nhiệm vụ trong ngành với nhau. Hầu như các cán bộ ở địa phương nhất là nơi có các làng nghề đang hoạt động họ bỏ qua cho những cơ sở sản xuất có chủ là các cán bộ khác hoặc là người nhà của các cán bộ đó. Bởi những bất cập trên mà công tác quản lý, kiểm soát vấn đề ô nhiễm tại các làng nghề thực sự chưa hiệu quả và còn quá nhiều những hạn chế mà khó có thể xử lý trong ngày một ngày hai. Đây là vấn đề mang tính thời sự vì nó không chỉ đang trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường mà còn gián tiếp ảnh hưởng lên sức khỏe con người với một lối sống vô trách nhiệm với môi trường.

Thứ tư, về việc áp dụng các chế tài xử lý về mặt hành chính, dân sự, hình sự, quy trách nhiệm của các tổ chức cá nhân khi vi phạm pháp luật về BVMT, hiện tại pháp luật BVMT đang ngày càng chặt chẽ và bao quát hết các đối tượng gây ÔNMT. Bên cạnh đó thì vẫn còn những hạn chế khi áp dụng chính sách pháp luật đối với các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm, trong đó có làng bún Phú Đô và làng nghề chế biến NSTP Minh Khai. Về mặt xử lý hành chính, mặc dù Nghị định 179/2013/NĐ-CP đã quy định những chế tài xử phạt đối với những hành vi gây ÔNMT. Trên thực tế, việc kiểm tra và xử lý các hành vi xả thải còn là một nhiệm vụ rất khó khăn, bởi bản chất của các hành vi vi phạm về môi trường đều là hành vi lén lút, ngụy trang, luôn tìm cơ hội để che dấu và một trong những biện pháp xả thải trong phạm vi đất của doanh nghiệp, hộ gia đình, làng nghề là một hiện tượng rất phổ biến. Chính điều này đã tạo nên những khó khăn rất lớn cho lực lượng công an môi trường, cả về thẩm quyền và nghiệp vụ. Đối với bồi thường thiệt hại do gây ÔNMT thì pháp luật dân sự đã có những sửa đổi bổ sung bao quát, chặt chẽ trong Bộ luật Dân sự 2015. Việc xác định bồi thường thiệt hại của các bên còn khó khăn khi Bộ luật Dân sự hiện hành và Luật BVMT 2014 nội dung dẫn chiếu chưa đi vào cụ thể. Hơn nữa, pháp luật Dân sự còn chưa thể hiện những quy định đặc thù về quy trình và thủ tục trong trách nhiệm đòi bồi thường thiệt hại do gây ÔNMT. Trên thực tế ở các làng nghề thì người thực hiện quyền bồi thường này gặp không ít khó khăn trong trường hợp họ không thoả thuận được với đối tượng gây thiệt hại mà phải kiện ra Tòa án. Thế nhưng những người bị thiệt hại lại không có chứng cớ chứng minh thiệt hại đó là do đối tượng vi phạm gây ra. Hơn nữa, người bị thiệt hại do ÔNMT chủ yếu là người dân vùng nông thôn trình độ hiểu biết còn hạn chế. Họ chưa tự mình đứng lên đòi bồi thường thiệt hại do ÔNMT gây ra. Và đối các tội phạm môi trường pháp luật Hình sự cũng có những sửa đổi đáng kể trong Bộ luật Hình sự 2015 khi mà cụ thể hóa tội phạm cấu thành vật chất bằng những con số và thêm vào những tội phạm cấu thành hình thức cải thiện những bất cập trước đây. Đối với vấn đề làng nghề những quy định về trách nhiệm hình sự còn tỏ ra kém hiệu quả. Hiện nay vẫn chưa có vụ án nghiêm trọng nào về môi trường tại các cơ sở sản xuất ở làng bún Phú Đô cũng như làng nghề chế biến NSTP. Bởi các cơ sở ở đây đều có quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình hành vi gây ô nhiễm không phải chỉ do một người gây ra nên việc xác định chủ thể vi phạm rất khó khăn trên thực tế. BLHS 2015 đã đưa pháp nhân thương mại là chủ thể của hành vi phạm tội trong lĩnh vực môi trường. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu chuyên môn, GS.TS Đặng Kim Chi, Hội Bảo vệ thiên nhiên Việt Nam lý giải, hiện nay thiếu chế tài xử phạt các hành vi vi phạm BVMT làng nghề. Thẩm quyền của địa phương còn hạn chế, nguồn tài chính, trợ giúp kỹ thuật và cung cấp thông tin về kĩ thuật công nghệ mới thân thiện môi trường còn ít. Nhận thức và sự tham gia của các hộ sản xuất làng nghề trong BVMT còn hạn chế. Việc xử lý ÔNMT làng nghề hiện nay cần phải tiến hành đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, Bộ, ngành và sự tham gia đồng bộ của các tổ chức, đoàn thể và các tổ chức nghề nghiệp.

Tóm lại, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật tại các cơ sở trong làng nghề thực hiện chưa thường xuyên, xử lý chưa thực sự nghiêm minh, ý thức chấp hành pháp luật về BVMT của một số chính quyền các cấp, các cơ sở, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại làng nghề chưa cao

2.3 Kết quả đạt được và một số tồn tại Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

  • Một là, về các kết quả đạt được.

Thứ nhất, về các quy định pháp luật BVMT: hệ thống VBQPPL đối với làng nghề từng bước được quan tâm hoàn chỉnh. Hệ thống VBQPPL về BVMT nói chung, các văn bản pháp luật khác có liên quan đến làng nghề tương đối đầy đủ và nhiều văn bản riêng về quy hoạch, quản lý, BVMT tại các làng nghề cũng đã được ban hành; đặc biệt là các địa phương đã ban hành rất nhiều văn bản có liên quan cho sự phát triển bền vững của làng nghề.

Thứ hai, về thực trạng áp dụng pháp luật BVMT các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm: Công tác chỉ đạo, điều hành các cấp, các ngành đối với hoạt động của làng nghề đã được quan tâm. Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BVMT làng nghề; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT làng nghề.

Hệ thống VBQPPL về BVMT nói chung, các văn bản pháp luật khác có liên quan đến làng nghề tương đối đầy đủ và nhiều văn bản riêng về quy hoạch, quản lý, BVMT tại các làng nghề cũng đã được ban hành; đặc biệt là các địa phương đã ban hành rất nhiều văn bản có liên quan cho sự phát triển bền vững của làng nghề.

Công tác chỉ đạo, điều hành các cấp, các ngành đối với hoạt động của làng nghề đã được quan tâm. Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về BVMT làng nghề; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT làng nghề.

  • Hai là, về một số tồn tại. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ nhất, về các quy định pháp luật BVMT. Hệ thống VBQPPL về BVMT, đặc biệt là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường tương đối đầy đủ nhưng nhiều quy định thiếu khả thi đối với làng nghề nên việc tổ chức thực hiện pháp luật của chính quyền địa phương các cấp còn có nhiều hạn chế. Giữa các văn bản luật còn có sự chồng chéo lẫn nhau gây nên khó khăn trong việc áp dụng. Tuy đã thể hiện được tính khái quát lên gần hết các vấn đề của BVMT, quy định của pháp luật BVMT tại Việt Nam vẫn còn mang những thiếu sót.

Về quy hoạch làng nghề với BVMT: Theo kế hoạch triển khai công tác quy hoạch làng nghề đã được ban hành bởi các cấp hiện nay, có thể nói rằng công tác quy hoạch làng nghề về cơ bản đang dần được hoàn thiện. Vấn đề của quy hoạch hiện nay là phải làm thế nào để kết nối được các vùng với nhau, tạo mảng liên kết cộng đồng thông thương, tạo ra được các vùng sản xuất chuyên canh mang lại giá trị cao cho các vùng. Các đô thị bùng nổ quá nhanh trong khi các đề xuất quy hoạch các vùng (trong đó có làng nghề) mới cũng ồ ạt chạy theo, nhưng lại thiếu những quy hoạch tổng quát có tính chiến lược, bền vững. Thêm vào đó, việc thiếu những cơ sở pháp lý đồng bộ, không kiểm soát được việc quản lý xây dựng hoặc không kịp xây dựng đồng bộ các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khiến nhiều giá trị của các quĩ đất đô thị bị mai một, nhiều giá trị văn hoá tại các vùng bị phá vỡ.

Các kế hoạch quy hoạch làng nghề hiện nay vẫn chưa thật sự kết hợp sâu sắc với các tổ chức chuyên ngành trong việc đánh giá và nhận diện đầy đủ những giá trị của quỹ di sản làng nghề, phân loại đặc điểm của từng nhóm làng nghề, hơn nữa chúng ta cũng đang bị thiếu những tổ chức như thế này để thực hiện công việc một cách thống nhất và đầy đủ. Việc Quy hoạch các Làng đòi hỏi sự xem xét cụ thể và cân nhắc cẩn trọng trên nhiều mặt, bắt đầu bằng việc điều tra, phân loại, và xác định những đặc thù của từng Làng, những giá trị văn hoá cần được bảo tồn, những khu vực cần cải tạo, và những khu vực cần giải toả, xây dựng lại để phát triển; trên cơ sở đó tiến hành bước nghiên cứu các khả năng xử lý không gian.

Về xây dựng, quản lý dữ liệu thông tin về môi trường: Do hiện nay chưa có qui định về mẫu thông tin dữ liệu cụa thể của các cơ quan chức năng Việt Nam, các cơ quản có thẩm quyền về thu thập, quản lý dữ liệu thông tin về môi trường phải tổng hợp và phân tích nhiều mẫu thông tin về dữ liệu của các nước khác. Về cơ bản, thông tin về môi trường được liệt kê như sau sau: tên lớp thông tin, tỷ lệ, lưới chiếu, phương pháp xây dựng, dữ liệu sử dụng để xây dựng, ngày hoàn thành, người xây dựng, người biên tập, nơi lưu chữ, liên hệ chia sẻ dữ liệu. Các thông tin này được lập thành biểu bảng và được xây dựng như một công cụ xem thông tin về dữ liệu trong hệ thông cơ sở dữ liệu. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Hiện nay cơ chế chính trong xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường, dữ liệu thông tin về môi trường chỉ là báo cáo bao gồm: báo cáo lên các cơ quan có thẩm quyền quản lý và thông báo, công khai thông tin môi trường. Thêm vào đó, việc thu thập quản lý truy cập thông tin về tài nguyên đất và nước còn rất phân tán. Các dữ liệu của các cơ quan khác nhau còn chưa nhất quán và thiếu trao đổi giữa các cơ quan Nhà nước. Trên hết, chúng ta hiện vẫn đang thiếu cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu và thiếu cả các quy chế, quy định về lưu trữ, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu; các thông tin dữ liệu còn phân tán chồng chéo và thiếu sự phối hợp, trao đổi thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan ban ngành, giữa địa phương và Trung ương, việc giao nộp, lưu trữ để đưa vào khai thác, sử dụng còn rất chậm. Thông tin, dữ liệu về môi trường còn nằm rải rác ở nhiều Bộ, ngành, cơ quan khác nhau, dưới dạng tài liệu hay số liệu thô chưa chuẩn hóa và chỉnh lý theo chuẩn thống nhất Nguồn thông tin dữ liệu này rất lớn, có giá trị sử dụng cao và lâu dài. Chúng ta cần chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng khái niệm, mục đích chung của cả hệ thống thông tin dữ liệu. Cần ưu tiên xây dựng những thông tin dữ liệu đang được mọi người quan tâm, ví dụ như thông tin dữ liệu môi trường về các nhóm làng nghề, môi trường tại các khu công nghiệp…

Về đánh giá tác động môi trường, lập kế hoạch BVMT tại các làng nghề: Nhìn chung, các quy định về hoạt động ĐTM đang ngày càng được hoàn thiện, các quy định pháp luật cũng được xây dựng ngày càng chặt chẽ, có tính khả thi và khả năng thích nghi cao trong bối cảnh xã hội thay đổi từng ngày. Tuy vậy, nhìn vào hệ thống các quy định pháp luật về ĐTM ở Việt Nam nói chung và quy định về hoạt động

Cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển tỉnh Thanh Hóa ĐTM ở các khu kinh tế nói riêng vẫn còn rất sơ sài, yếu kém. Các văn bản rời rạc, không tập trung, các quy định nằm rải rác ở các văn bản khiến cho người làm luật gặp rất nhiều khó khăn. Thực trạng các quy định chồng chéo nhau vẫn còn xảy ra rất nhiều. Với đặc trưng của các khu vực như khu công nghiệp, khu vực nông thôn, khu vực làng nghề, và khu vực kinh tế, tùy từng đặc trưng của các vùng mà có cách ứng dụng các quy định về ĐTM sao cho hợp lý và đạt hiệu quả cao là điều chúng ta chưa làm được. Hơn nữa, việc các quy định của pháp luật xa rời với thực tế, khó áp dụng là một trong những nguyên nhân khiến cho ĐTM chỉ đảm bảo tính hình thức để đủ điều kiện cho hoạt động đầu tư còn về bản chất vẫn chưa được phát huy. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Về quy định các quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện nay chậm được nghiên cứu, đổi mới do được biên soạn từ lâu, chưa kịp cập nhật nên chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Điều này phần lớn là do nguồn lực hạn chế, có sự thay đổi trong phân cấp quản lý nên kéo dài thời gian biên soạn và công bố tiêu chuẩn. Nội dung quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường chậm đổi mới, chưa theo kịp với yêu cầu thực tế; một số nội dung chưa thể áp dụng trong điều kiện kinh tế- kỹ thuật hiện tại. Nội dung giữa các văn bản còn có sự chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu sự đồng bộ, thống nhất; chưa đạt được sự đồng thuận giữa các bên có liên quan.

Khi ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn riêng cho một số ngành đặc thù cũng dẫn đến sự không công bằng nhất định cho các cơ sở sản xuất ở những loại hình làng nghề khác nhau. Do chủ yếu dựa vào các quy chuẩn, tiêu chuẩn nước ngoài nên nhiều nội dung của quy chuẩn, tiêu chuẩn chưa tính đến điều kiện tự nhiên (địa hình, địa chất, thủy văn), điều kiện kinh tế- xã hội giữa các vùng miền, trình độ tư vấn, thi công ở Việt Nam. Nội dung quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường chưa đáp ứng yêu cầu và chưa đạt được sự đồng thuận của các bên tham gia: cơ quan quản lý, các hộ sản xuất, doanh nghiệp, người tiêu dùng, các nhà khoa học. Tại các làng nghề các hộ sản xuất, cá nhân lao động sản xuất ngại thay đổi những thói quen, việc sản xuất chủ yếu dựa theo kinh nghiệm truyền nghề. Việc áp dụng công nghệ mới, kỹ thuật phức tạp hơn không có tài liệu để kiểm soát, kiểm tra.

Thứ hai, về thực trạng áp dụng pháp luật BVMT các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm. Công tác BVMT tại một số làng nghề không đạt kết quả như mong muốn, còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập chưa được giải quyết. Một phần không nhỏ môi trường tại các làng nghề Việt Nam đã và đang bị ô nhiễm, có làng nghề gây ÔNMT đến mức nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và cộng đồng dân cư.

Trong bài viết “Thực trạng thực thi pháp luật BVMT tại các làng nghề ở Việt Nam” trong tạp chí Khoa học ĐHQGHN (2012), TS. Lê Kim Nguyệt đã nhận xét rằng: “Việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT tại các làng nghề ở Việt Nam hiện đang là một vấn đề hết sức khó khăn đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền giáo dục để các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực này hiểu biết cặn kẽ nội dung của pháp luật BVMT tại các làng nghề và nâng cao được ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của mình; thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi pháp luật BVMT tại các làng nghề; vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất thải; việc xác định mức độ vi phạm và các chế tài xử phạt, v.v…”. Theo thống kê hiện tại thì có khoảng trên 60 văn bản pháp luật có nội dung quy định về BVMT, một con số không hề nhỏ các văn bản, vậy điều đó có nghĩa là pháp luật sẽ đảm bảo tính chặt chẽ, khách quan hơn? “Luật BVMT năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực BVMT, trong đó có 1 điều riêng (Điều 38) quy định về vấn đề BVMT làng nghề và các điều khoản liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện luật, cần có các văn bản quy định cụ thể, nhưng mãi đến thời điểm gần đây (cuối năm 2011) tức là sau khoảng 6 năm, các quy định cụ thể về BVMT làng nghề mới được Bộ TN&MT ban hành: Thông tư 46/2011/TT-BTNMT quy định về BVMT làng nghề (sau đây viết tắt là Thông tư 46/2011/TT-BTNMT). Thông tư bao gồm 4 chương, 19 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2012. Đây được xem là cây “gậy” xử lý trách nhiệm của người gây ra ô nhiễm làng nghề. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Về công tác tổ chức, chỉ đạo và điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, UBND các địa phương về BVMT. Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về BVMT nói chung và môi trường làng nghề nói riêng hiện nay đã được tổ chức từ Trung ương đến địa phương nhưng lực lượng còn quá mỏng và hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ.

Theo báo cáo của Chính phủ và kết quả giám sát cho thấy số lượng cán bộ tham gia vào công tác quản lý môi trường ở địa phương trên phạm vi toàn quốc là trên 2.600 cán bộ. Trong đó có khoảng 95% cán bộ quản lý môi trường cấp huyện không có bằng cấp chuyên môn trực tiếp về môi trường. Đối với cấp xã, phường và thị trấn cán bộ môi trường thường là cán bộ địa chính được giao kiêm nhiệm công tác quản lý môi trường, công việc rất nặng nề, nhưng chế độ chính sách đối với đối tượng này chưa tương xứng, do đó thời gian dành cho việc thực hiện trách nhiệm về BVMT rất hạn chế. Cho đến nay, chưa có làng nghề nào (kể cả làng nghề đã được công nhận và làng nghề chưa được công nhận) có cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường. .

Về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT: Chức năng thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về BVMT nói riêng đối với các đối tượng sản xuất trong làng nghề được giao cho nhiều ngành, nhưng việc triển khai thực hiện lại rất hạn chế.

Đối với làng nghề, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, triệt để. Hình thức xử lý chủ yếu là nhắc nhở, rất ít trường hợp bị xử lý hành chính cũng như áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung khác. Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng hiện đang phải áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường hoặc dần thu hẹp quy mô hoạt động tiến tới chuyển đổi hoàn toàn ngành nghề sản xuất. Bên cạnh đó, do tâm lý họ hàng, dòng tộc, làng xã nên các hộ dân (có sản xuất và không sản xuất nghề) có tâm lý e ngại, nể nang và ngại va chạm, nên không tố giác các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật về BVMT nói riêng. Tại một số địa phương, số ít người dân còn có lúc che dấu hành vi vi phạm pháp luật BVMT của các hộ sản xuất. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

3 thoughts on “Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

  2. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề says:

    Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

  3. Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề says:

    Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464