Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật BVMT dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường

Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, BVMT luôn luôn là vấn đề được mọi người quan tâm, đặc biệt là Đảng và Nhà nước. Công tác BVMT ở nước ta trong thời gian vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác BVMT. Ý thức BVMT trong mỗi con người ngày một nâng cao; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những thành quả có ý nghĩa tích cực.

Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn đang có xu hướng xuống cấp nhanh, điển hình ở các hiện tượng như: đất bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng nguồn nước suy giảm mạnh; không khí các khu đô thị- dân cư, khu kinh tế – làng nghề bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường và vấn đề cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không được bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số chóng mặt mặc dù mật độ dân số tại nhiều vùng đã quá cao, khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu đi của khí hậu toàn cầu gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường. Trước tình hình này, mới đây Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết này đã đưa ra các quan điểm sau:

“BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

BVMT vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế – xã hội mà coi nhẹ BVMT. Đầu tư cho BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững.

BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta.

BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Như vậy, BVMT vừa là nghĩa vụ, vừa là lợi ích của từng cá nhân và là trách nhiệm của toàn xã hội. Môi trường càng đi xuống đồng nghĩa với việc cơ hội được sống trong môi trường trong sạch của con cháu chúng ta đang trở nên hết sức hạn hẹp. Trước tình hình này, con người cần đặt vấn đề BVMT lên thành mối quan tâm hàng đầu và để có thể biến những quan tâm thành hành động, việc đầu tiên chúng ta phải làm đó chính là đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật BVMT.

Pháp luật Việt Nam về BVMT đã chú ý đến tính hội nhập, sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế – xã hội và luôn cố gắng tương thích với sự phát triển của nước ta.

Việc tham gia vào những sân chơi lớn sẽ khiến cho đời sống văn hóa – kinh tế – xã hội và đặc biệt là pháp luật có những thay đổi đáng kể và chúng ta buộc phải thay đổi để có thể được chấp nhận như là một thành viên tham gia vào cộng đồng thế giới, hưởng các quyền lợi ưu việt hơn. Việt Nam đã tham gia rất nhiều điều ước quốc tế, mà mới nhất đây Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) cùng với 11 nước thành viên Hiệp định tại New Zealand ngày 4/2/2016. Như vậy, chúng ta đã chính thức gia nhập Hiệp định TPP và hiệp định này sẽ có hiệu lực vào năm 2018, đây là dấu mốc quan trọng cho hội nhập kinh tế khu vực. Các chuẩn mực được thiết lập bởi TPP sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư tự do giữa 12 nước thành viên. Đây là hiệp định thương mại tự do đa phương đầu tiên đưa các nội dung về môi trường thành một chương trong các cam kết. Điều này một lần nữa khẳng định, vị trí quan trọng của môi trường trong các hoạt động thương mại, cũng như những đóng góp của thương mại đối với phát triển bền vững. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Việc tham gia ký kết Hiệp định TPP đã mở ra cho chúng ta rất nhiều cơ hội trong việc cải thiện, BVMT, phát triển bền vững. Những cơ hội này bao gồm: Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường sẽ góp phần hỗ trợ Việt nam giảm thiểu ô nhiễm với chi phí thấp hơn, gia tăng các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp và tạo thêm nhiều việc làm; Việc chuyển đổi sang nền kinh tế các bon thấp của Việt nam với các hoạt động về thúc đẩy phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, cũng như thúc đẩy các hoạt động về hiệu quả năng lượng sẽ được thuận lợi hơn; Các vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học, buôn bán trái phép các loại động thực vật quý hiếm sẽ được ngăn chặn; Cộng đồng và các tổ chức NGOs sẽ có vai trò quan trọng hơn trong việc tham gia vào các họa động ngăn chặn thương mại kém bền vững và được góp tiếng nói, được cung cấp thông tin; Việt Nam được tham gia vào các hoạt động và sẽ có tiếng nói hơn trong các hoạt động thúc đẩy thương mại bền vững do cơ chế tổ chức luân phiên về vị trí Chủ tịch của Ủy ban môi trường TPP; Việt nam sẽ được hưởng các lợi ích và có cơ hội nhận được các tài trợ cho thực hiện các hoạt động thương mại bền vững do cơ chế trợ hợp tác và trợ giúp của các nước phát triển trong khối.

Có thể thấy tuy rằng hệ thống các văn bản pháp luật về BVMT tương đối toàn diện, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường có nhiều, nhưng lại chồng chéo, bị hiểu chưa chính xác, gây ra rất nhiều khó khăn và tạo ra nhiều lỗ hổng trong quá trình áp dụng, xử lý các tình huống và thực thi pháp luật. Việc hoàn thiện pháp luật BVMT vẫn luôn là điều cần thiết và luôn luôn phải được quan tâm một cách đúng đắn, thực hiện thường xuyên để Pháp luật Việt Nam về BVMT luôn là một chỗ dựa pháp lý vững chắc, đáng tin cậy của chúng ta trong công tác BVMT trong sạch ở thời kì đổi mới – hội nhập với bạn bè quốc tế.

3.2 Một số đề xuất và kiến nghị Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Trước thực trạng đáng báo động về sự thay đổi chóng mặt của công nghệ, sự biến đổi khí hậu một cách tiêu cực. Chúng ta phải sớm nhìn nhận vấn đề môi trường một cách hết sức nghiêm túc và đưa nó vào những quan tâm hàng đầu trong hoạt động của chính từng cá nhân con người. Vấn đề ÔNMT không thể được giải quyết một sớm một chiều, và điều có thể làm ngay bây giờ của chúng ta đó chính là đưa ra các cách giải quyết cả về mặt con người, khoa học công nghệ và cả về mặt khoa học pháp lý. Nhưng trước khi có thể đưa ra được những cách giải quyết, ta buộc phải xem xét những rào cản, thách thức chúng ta có thể đang phải đối mặt, và đưa ra những ý kiến mang tính khách quan, hợp lý nhất đề phù hợp với những thay đổi đang có hiện nay và sẽ tiếp tục biến đổi trong tương lai.

Một là, về các quy định pháp luật. Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý hoạt động của các làng nghề. Đối với hệ thống pháp luật, chính sách BVMT làng nghề hiện nay đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên việc áp dụng cho các loại hình đối tượng khác nhau vẫn chưa rõ ràng. Hiện nay có 23 quy chuẩn quốc gia được xây dựng và ban hành nhưng không thực sự khả thi đối với cơ sở sản xuất làng nghề. Bên cạnh đó, hiện vẫn còn nhiều địa phương còn quá coi trọng phát triển kinh tế đã bỏ qua nhiều trách nhiệm về BVMT.

Thứ nhất, cần ban hành các chính sách phát triển từng nhóm làng nghề như hỗ trợ kinh phí, đào tạo nhân lực, việc ban hành chính sách và lộ trình xóa bỏ “mảng tối” về ÔNMT làng nghề,… cũng cần được quan tâm hơn. Mỗi một nhóm làng nghề sẽ mang những đặc trưng khác nhau nên những vấn đề đi kèm như quy hoạch, vấn đề xã hội, vấn đề môi trường cũng sẽ khác nhau. Việc ban hành chính sách phát triển cho từng nhóm làng nghề sẽ giúp cho việc cải thiện và BVMT được thực hiện có trật tự, từng bước một chắc chắn tạo nên tổng thể hệ thống môi trường các làng nghề sạch đẹp, giữ gìn được những bản sắc văn hóa truyền thống, thu hút du lịch và thân thiện với cộng đồng dân cư. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ hai, chúng ta cần xây dựng những quy chế cụ thể về xây dựng, quản lý dữ liệu thông tin về môi trường cho nhóm các làng nghề chẳng hạn như quy chế cung cấp dữ liệu, xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác và bảo trì CSDL tài nguyên và môi trường Quốc gia về làng nghề, quy trình kỹ thuật xây dựng danh mục CSDL tài nguyên và môi trường về làng nghề, quy chế lập, thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm các dự án ứng dụng CNTT trong ngành TN&MT, quy chế thẩm định và khuyến nghị sử dụng các sản phẩm phần mềm ứng dụng trong ngành TN&MT đối với môi trường làng nghề…

Thứ ba, cần có quy định cụ thể, sát thực tế về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các giải pháp cụ thể, khả thi đối với làng nghề, làng có nghề gây nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử lý. Cần có quy chuẩn, tiêu chuẩn riêng dành cho môi trường các nhóm làng nghề, Các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường phải tiếp cận được với trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới. Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường quốc gia về môi trường làng nghề phải gần sát với hệ thống tiêu chuẩn chung của quốc gia và quốc tế. Các quy chuẩn và tiêu chuẩn môi trường làng nghề phải đáp ứng được yêu cầu của cộng đồng dân cư trong và xung quanh khu vực làng nghề trên cơ sở xác định tầm quan trọng và tính cấp thiết ở từng giai đoạn và khả năng phát triển. Quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường cần đảm bảo tính cập nhật để phù hợp với điề kiện kinh tế – xã hội.

Việc biên soạn quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường làng nghề phải có tính hợp tác, liên kết các cơ quan có thẩm quyền, nhà nghiên cứu, cộng đồng dân cư để việc trao đổi dữ liệu để được chấp nhận một cách rộng rãi, minh bạch. Ngoài ra việc xã hội hóa công tác xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn cũng rất là cần thiết. Chúng ta cần tăng cường việc tham gia xây dựng tiêu chuẩn từ hiệp hội các hộ sản xuất tại làng nghề. Bản thân người lao động và các hộ sản xuất tại làng nghề phải tham gia thực hiện quá trình xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn.

BVMT và quyền được sống trong môi trường trong lành là vấn đề toàn cầu, một quốc gia không tự mình có thể giải quyết được, do vậy cần phải có sự kết hợp phát huy nội lực với hợp tác quốc tế. Cần chủ động và tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về BVMT và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế đã ký kết; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực chuyển giao các công nghệ sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; tìm kiếm sự giúp đỡ quốc tế nhằm BVMT toàn cầu; cần tích cực tham gia các diễn đàn, hoạt động BVMT và phát triển bền vững toàn cầu, mở rộng liên kết với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong việc kiểm soát khí thải gây hiệu ứng nhà kính, hạn chế sự ô nhiễm do hoá chất và chất thải nguy hại, kiểm soát sự vận chuyển chúng xuyên biên giới, BVMT biển và đa dạng sinh học để cùng ứng phó với biến đổi khí hậu, giữ gìn, bảo tồn Trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại. Chúng ta cũng cần nội luật hóa các quy định của công ước quốc tế nói chung và công ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực BVMT, đặc biệt là các công ước quốc tế về bồi thường thiệt hại.

Thứ tư, thêm những quy định mới cụ thể về lượng giá tổn thất môi trường. ÔNMT không những ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, gây tổn thất nghiêm trọng đến các mặt khác như văn hóa, xã hội và đặc biệt là nền kinh tế. Môi trường là nơi chứa đựng và cung cấp tài nguyên cho đời sống sản xuất của con người chúng ta. Khi con xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng tăng số lượng tài nguyên được khai thác tăng lên càng cao để đáp độ phức tạp phát triển của xã hội. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

ÔNMT gây ra những thiệt hại không nhỏ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản cũng như hoạt động phát triển du lịch. Những vấn đề này không chỉ gây ảnh hưởng tới đời sống của người dân mà còn gây ra những tổn thất lớn tới vấn đề phát triển kinh tế. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng chịu nhiều tác động tiêu cực do ÔNMT đất. Việc sử dụng không đúng cách hoặc quá nhiều các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) khiến cho cây trồng không hấp thụ hết gây nên tình trạng tồn dư phân bón, thuốc BVTV trong đất, từ đó tích luỹ vào nông sản, thực phẩm, gây ra những tác động xấu không chỉ trước mắt mà còn lâu dài.

Môi trường bị ô nhiễm không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn làm cho người dân sinh sống trong và quanh khu vực ô nhiễm bị mất kế sinh nhai, cuộc sống thiếu thốn. Môi trường nước mặt (sông, hồ, kênh, mương) là nguồn tưới tiêu chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Khi chất lượng nước của hệ thống này bị ô nhiễm dẫn tới những thiệt hại không nhỏ đối với hoạt động canh tác tại các khu vực nông thôn. Theo số lượng thống kê, sản lượng nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi cá bè trên sông) đã bị giảm sút nhiều do vấn đề ô nhiễm nước mặt. Nhiều vụ cá bè chết hàng loạt trên các sông tại Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Đà Nẵng đã ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của hàng trăm hộ dân, gây không ít bức xúc, hoang mang. Hiện nay, trên các kênh thông tin thời sự đều đang đưa tin về vùng biển Vũng Áng với hiện tượng cá chết hàng loạt, không rõ hiện tượng cá chết hàng loạt này có phải chỉ do sự xả thải chui từ các nhà máy của tập đoàn Formosa hay không, nhưng chúng ta có thể thấy được Formosa sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi xả thải chất thải chưa qua xử lý chui ra biển của mình. Nhìn nhận từ vụ việc này, ta có 2 vấn đề cần xem xét và giải quyết. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Cần phải xác định người, tổ chức chịu trách nhiệm cho việc gây ra tổn thất cho môi trường vì hành vi gây ô nhiễm. Ô nhiễm môi trường là hiện tượng chỉ có thể xảy ra do nhiều cá thể thực hiện hành gây ô nhiễm trong một thời gian dài. Vì thế việc xác đinh, quy trách nhiệm cho các cá thể gây ô nhiễm là một việc không hề đơn giản.

Bên cạnh đó, cho dù có xác định được trách nhiệm quy về các cá nhân, tổ chức nào cụ thể, thì việc lượng giá tổn thất đối với môi trường, con người là rất khó khăn. Tại Việt Nam hiện nay, có hơn 30.000 tiến sĩ về môi trường có thể tham gia vào công việc lượng giá tổn thất, nhưng chúng ta lại chưa có quy định cụ thể về lượng giá tổn thất. Trên thế giới đã có nhiều quốc gia có quy định về lượng giá tổn thất và có đến 80 phương pháp lượng giá tổn thất được sử dụng. Việc học tập và đưa vào trong các quy định của pháp luật Việt Nam về lượng giá tổn thất đến môi trường là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn.

Như vậy, để giải quyết cũng như phòng chống các “án môi trường” sau này, chúng ta cần sớm có những quy định cụ thể về lượng giá tổn thất đến môi trường, con người, giúp cho môi trường và quyền con người đối với môi trường được bảo vệ toàn diện hơn.

  • Hai là, về việc thực thi pháp luật.

Thứ nhất, về vấn đề công tác thực hiện triển khai pháp luật, việc phải làm là tăng cường giám sát việc phân bổ, quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp BVMT. Hiện nay, không ít địa phương chưa thực hiện đúng việc chi 01% NSNN cho sự nghiệp môi trường, mặc dù mức kinh phí này là rất ít. Do đó, cần tăng cường giám sát việc phân bổ, quản lý, sử dụng chi cho sự nghiệp BVMT tại các bộ, ngành, địa phương. Việc đầu tư phải có trọng điểm, không dàn trải, đúng mục đích. Nghiên cứu cần tăng đầu tư từ nhiều nguồn cho công tác BVMT bằng nhiều chính sách phù hợp về đa dạng hóa nguồn đầu tư…

Thứ hai, có chính sách về đầu tư phát triển phù hợp, ban hành các chính sách cụ thể về hỗ trợ vốn và thuế, công nghệ sản xuất, đào tạo nhân lực. Có lộ trình đầu tư kinh phí nâng cấp cơ sở hạ tầng đối với các làng nghề được công nhận, đặc biệt là đối với các làng nghề truyền thống; hỗ trợ tài chính cho các hoạt động BVMT, chuyển giao công nghệ tiên tiến và công nghệ sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường; xây dựng vùng nguyên liệu. Có chính sách ưu tiên vay vốn của Quỹ BVMT Việt Nam để hỗ trợ di dời, xử lý, khắc phục ÔNMT ở những làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng.

Thứ ba, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giám sát của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH và ĐBQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật BVMT và việc ban hành VBQPPL đối với làng nghề. Trên cơ sở đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định thiếu thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với các luật đã được ban hành. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ tư, cần quy hoạch làng nghề một cách khoa học, phân loại làng nghề phải dựa vào các yếu tố làng nghề truyền thống, không truyền thống, mức độ ÔNMT, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.

Quy hoạch làng nghề phải chú ý đến loại hình nghề nghiệp và mức độ gây ÔNMT theo 3 hình thức: Quy hoạch tập trung (các nghề có mức độ ô nhiễm cao); quy hoạch phân tán (các nghề ít gây ô nhiễm) và quy hoạch vừa tập trung vừa phân tán (đỗi với các ngành nghề thích hợp).

Tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển làng nghề, cùng với đó là việc chỉ đạo xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án tổng thể xử lý ÔNMT làng nghề; phân loại làng nghề ô nhiễm. Trong quá trình đó, có lúc cũng cần thiết phải sử dụng giải pháp cứng rắn.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý làng nghề một cách hiệu lực và hiệu quả, tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động có tác động đến môi trường của con người. Việc quản lý làng nghề tại các địa phương hiện nay là không thống nhất. Có địa phương giao quản lý làng nghề là sở NN&PTNT, có nơi là sở Công Thương, có địa phương giao cho Liên minh hợp tác xã. Do đó, cần nghiên cứu mô hình quản lý làng nghề một các hiệu quả nhất, có nên tập trung quản lý làng nghề vào một đầu mối theo hệ thống thống nhất hay không Các tác động môi trường có thể đến từ những người dân bình thường, có thể đến từ các nhà máy, khu công nghiệp hoặc làng nghề, hoặc có thể đến từ sự tự động của chính những người thi hành pháp luật. Việc tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động sẽ làm cho các hành vi vi phạm pháp luật môi trường bị giảm đi, dần đi vào ý thức hệ của người dân việc gây ÔNMT là một hành vi bị cấm và làm cho họ có ý thức hơn trong việc BVMT. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Thứ sáu, cần phải có cơ quan đặc trách ứng phó cấp cao nhất khẩn cấp xử lý những vụ án môi trường, giải quyết những trường hợp gây ÔNMT. Tuy hiện tại đã có rất nhiều cơ quan quản lý về môi trường, nhưng trước các vụ án về môi trường đa phần xảy ra một cách bất ngờ, thì việc xử lý của các cơ quan có thẩm quyền lại hoàn toàn lúng túng và khi có tình huống bất ngờ xảy ra thì các cơ quan này thường lâm vào tình trạng tình trạng bị động “chờ đợi kết quả”, cảnh sát môi trường vẫn chưa thể hiện được khả năng kiểm soát của mình đối với các hoạt động gây tác động đến môi trường. Lấy vụ án cá chết ở biển Vũng Áng – Hà Tĩnh làm ví dụ. Theo các nguồn thông tin cho biết, trong hoạt động sản xuất thép của mình thì việc nhà máy Formosa thải ra biển một lượng chất thải lớn được cho rằng là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng cá chết hàng loạt tại Hà Tĩnh. Các cơ quan chức năng vào cuộc, Sở tài nguyên Môi trường đã kiểm tra các mẫu nước thải của nhà máy và đưa ra kết luận trước buổi họp báo. Điều đáng nói ở đây là Sở Tài nguyên Môi trường Hà Tĩnh chỉ dựa trên báo cáo định kỳ 3 tháng của nhà máy để kiểm tra, đánh giá và chỉ kiểm tra mẫu nước khi mà có hiện tượng bất thường về môi trường xung quanh doanh nghiệp thì Sở mới vào cuộc. Như vậy hiện nay ở Hà Tĩnh không phải chỉ có riêng nhà máy Formosa hoạt động trên địa bàn tỉnh vậy mà lúc nào có biến động bất thường về môi trường thì Sở Tài Nguyên Môi trường của tỉnh mới thực hiện công tác kiểm tra chất thải của doanh nghiệp. Liên hệ tới việc BVMT các làng nghề, để tránh xảy ra những trường hợp giống như vụ án cá chết ở biển Vũng Áng, phòng những tình huống môi trường làng nghề bị ô nhiễm nặng gây hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra chúng ta nên suy nghĩ đến việc lập ra một cơ quan đặc trách ứng phó khẩn cấp có thể kiểm tra, ngăn chặn ngay khi có sự việc xảy ra, có thể điều tra tìm nguyên nhân, chủ thể gây ô nhiễm ngay lập tức mà không bị từ chối vì “không có thẩm quyền” để kịp thời ra tay trước khi hậu quả để lại cho môi trường quá nặng nề và không thể cứu chữa.

Thứ bảy, lồng ghép việc giảng dạy quyền con người nói chung, quyền về môi trường nói riêng vào chương trình giảng dạy trong các chương trình đại học, cao học trong cả nước; đào tạo đội ngũ thẩm phán và đội ngũ cán bộ quản lý có kiến thức chuyên sâu luật trong nước và luật quốc tế, luật môi trường và các vấn đề về quyền con người, quyền môi trường, để trang bị thêm những kiến thức, kinh nghiệm trong việc giám sát và kiểm soát việc thực thi pháp luật về môi trường. Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, thì vấn đề con người là yếu quyết định trong việc thực thi các chính sách pháp luật. Hiện nay đội ngũ lãnh đạo và cán bộ trong lĩnh vực BVMT chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết khi có sự cố xảy ra, đặc biệt là tại môi trường làng nghề. Do vậy cần có sự quan tâm từ phía Nhà nước trong việc đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này. Các trường đại học ở Việt Nam hiện nay có rất ít trường mở mã ngành đào tạo chuyên sâu về môi trường, một số trường có mã ngành đào tạo, nhưng sinh viên lại không được trang bị nhiều kiến thức pháp luật về BVMT, quyền con người về môi trường, đặc biệt là những kiến thức chuyên sâu về luật quốc tế. Chính vì thế, khi có sự cố xảy ra thì những người được giao giải quyết công việc tỏ ra lúng túng, không giải quyết kịp thời, hiệu quả công việc chưa cao. Do vậy, cần đào tạo đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực BVMT nói chung, bảo vệ quyền môi trường để thực hiện quyền con người trong môi trường làng nghề. Cụ thể, cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ của cơ quan Toà án, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho các thẩm phán xét xử các vụ án tranh chấp khi có ÔNMT, đặc biệt là cần đào tạo đội ngũ thẩm phán chuyên xét xử các vụ án vi phạm pháp luật về ÔNMT. Đào tạo các cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước khác bằng việc mở các lớp đào tạo trong nước có sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài giảng dạy về luật quốc tế cũng như kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại do ÔNMT, nghiên cứu các án lệ, bản án điển hình đã xét xử và có hiệu lực của toà án các nước có kinh nghiệm xử lý khi có ÔNMT tại các làng nghề tại các quốc gia châu Á tân tiến.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường đã đưa ra quyền của con người được sống trong một môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia và luôn ở vị trí đầu tiên trong các nguyên tắc. Nguyên tắc 1 Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường con người (Tuyên bố Stockholm – năm 1972) nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau”. Tiếp đó đến Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển ( Tuyên bố Rio de Janeiro – 1992) khẳng định rằng: “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”. Từ hai Tuyên bố trên có thể thấy rằng Quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền tự nhiên của con người và là quyền rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống.

Trong Hiến pháp 2013 của nước CHXHCN Việt Nam đã quy định : “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT”, đây là một vấn đề lớn và chưa thực sự được cân nhắc một cách đúng đắn cho đến gần đây, khi môi trường và sức khỏe của con người xuống cấp một cách trầm trọng. Những vụ án về môi trường, những bài báo về sự nhiễm độc thực phẩm, những báo cáo về số lượng ca tử vong do ung thư, do ngộ độc thực phẩm hiện nay đang cho thấy quyền con người vẫn chưa được đảm bảo toàn diện; môi trường làng nghề cũng ngày một xuống cấp nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe con người về lâu dài.

BVMT và vệ sinh an toàn thực phẩm là hai vấn đề đang rất được nhà nước và xã hội quan tâm hiện nay. Việc tạo ra những thay đổi và chỉnh sửa trong pháp luật BVMT Việt Nam là vấn đề cần triển khai một cách cẩn thận và đồng thời cần phù hợp với những thay đổi lớn trong tương lai mà Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt. Để có thể tiếp tục hoàn thiện pháp luật BVMT và bảo vệ quyền con người với môi trường, việc nghiên cứu sâu hơn vào từng ngành nghề có tác động đến môi trường là hoàn toàn cần thiết. Từ những vấn đề trên trong đề tài nghiên cứu này, thiết nghĩ chúng ta phải có những giải pháp mang tính kịp thời, khẩn cấp. Bản thân tôi cho rằng việc bây giờ cần làm là ban hành các văn bản QPPL có tính chi tiết hơn (về QCMT, ĐTM,…) và phù hợp với những đặc trưng của từng nhóm làng nghề, thiết lập các cơ chế, cơ quan xử lý khẩn cấp những tình huống bất ngờ. Bởi thời gian là không chờ đợi, và môi trường một khi đã phá hủy thì sự phục hồi là rất chậm, có thể mất đến hàng thế kỉ để cứu chữa, nên con người muốn sống khỏe mạnh và tiếp tục phát triển thì chỉ còn cách chung tay BVMT và xây dựng một xã hội lành mạnh hơn, “xanh” hơn. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

2 thoughts on “Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

  1. Pingback: Khóa luận: Quy định P.luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

  2. Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề says:

    Khóa luận: Hoàn thiện PL về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464