Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ qua thực tiễn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào xã hội, là tổ ấm thân yêu của mỗi con người, như Bác Hồ đã từng nói: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”[3].
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong Tuyên ngôn Người đã đặt ra vấn đề quan tâm hàng đầu là “Nam nữ bình quyền”.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay tiềm ẩn trong mọi gia đình là vấn nạn vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hết sức cần thiết. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề mang tính lịch sử toàn cầu, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ. Bước sang thế kỷ XXI, phòng, chống bạo lực giới đang là một trong những mục tiêu của thiên niên kỷ. Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki Moon đã tuyên bố: “Bạo lực đối với phụ nữ là không bao giờ được chấp nhận, không bao giờ được khoan dung, tha thứ .” [16]. Chúng ta những con người của thế kỷ 21 cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và lên án nạn bạo lực với phụ nữ góp phần vào nâng cao địa vị và quyền con người chính đáng của phụ nữ ở trong gia đình và ngoài xã hội. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 1992, việc bảo vệ phụ nữ khỏi các hình thức bạo lực gia đình được quy định cụ thể, chi tiết trong nhiều văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân gia đình; Bộ Luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc PCBLGĐ, để các quy định pháp luật về PCBLGĐ được thực thi trong đời sống xã hội nhưng trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật về PCBLGĐ vẫn diễn ra thường xuyên ở nhiều nơi. Thống kê của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch, Tổng cục thống kê và Quỹ nhi đồng LHQ công bố ngày 26/6/2020 với điều tra của 93 ngàn hộ gia đình trên khắp mọi miền đất nước thì có tới 21,2% cặp vợ chồng đã trải qua một hình thức bạo lực gia đình như đánh, mắng, nhục mạ, ép quan hệ tình dục và như vậy cứ 5 cặp vợ chồng thì đã có một cặp đã có hình thức bạo lực gia đình.
Chúng ta đều biết bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một hiện tượng xã hội không mới, nhưng lại nổi lên như một căn bệnh xã hội hết sức nan giải trong giai đoạn hiện nay. Qua các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp 3 lần so với khả năng bị người khác lạm dụng. Bạo lực gia đình đình đối với phụ nữ đã gây hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với thể chất và tinh thần của người phụ nữ.
Nông Sơn là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Nam. Đây là một huyện nghèo, 4/7 xã được xét là đặc biệt khó khăn. Mặc dù dân số ít nhưng địa bàn phức tạp, trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Đời sống nhân dân còn duy trì những phong tục tập quán lạc hậu. Đó chính là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng bạo lực ở vùng cao. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những công trình chuyên sâu để tìm hiểu rõ hơn về việc PCBLGĐ đối với phụ nữ miền núi.
Trong những năm qua Đảng và nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác đấu tranh PCBLGĐ đối với phụ nữ . Từ năm 1980, chính phủ Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về loại bỏ các tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã được Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua vào tháng 11/2019 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2020. Quá trình thực hiện đã đạt đươc những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ vẫn diễn biến phức tạp cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng, và việc PCBLGĐ đối với phụ nữ và vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết.
Với những lí do nêu trên, mà em đã mạnh dạn chọn đề tài “Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ qua thực tiễn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Đề tài hướng đến những mục đích như sau:
- Nâng cao nhận thức sâu sắc hơn về pháp luật PCBLGĐ đối với phụ nữ.
- Đánh giá thực trạng PCBLGĐ đối với phụ nữ ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Tìm ra những hạn chế trong việc PCBLGĐ đối với phụ nữ huyện Nông Sơn.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả PCBLGĐ đối với phụ nữ huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Từ những mục đích trên đề tài hướng tới những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng rõ khái niệm đặc điểm của bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Chỉ ra và phân tích các đặc điểm các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ .
- Nêu lên các hình thức và phương pháp đấu tranh PCBLGĐ đối với phụ nữ.
- Chỉ rõ những hậu quả mà bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã để lại cho phụ nữ, cho trẻ em và cho cả toàn xã hội.
- Đề xuất những kiến nghị và giải pháp để nâng cao hiệu quả đấu tranh PCBLGĐ đối với phụ nữ tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá và xem xét về thực tiễn PCBLGĐ đối với phụ nữ địa bàn huyện Nông Sơn nói riêng, Tỉnh Quảng Nam nói chung.
Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ có hạn của một bài Khóa Luận, em chỉ đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ và thực tiễn thực hiện pháp luật PCBLGĐ đối với phụ nữ huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài “Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ qua thực tiễn tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam”. Em đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử. Ngoài ra em còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phân tích, giải thích, thống kê, tổng hợp, khảo sát thực tế.
5. Cơ cấu của đề tài.
Lời mở đầu: Nêu lên tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu.
Nội dung: Gồm có 2 chương. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Chương 1: Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm.
- Chương 2: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NHỮNG VI PHẠM
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm gia đình
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào xã hội. Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa…những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rễ…Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cái vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội. Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát.
Theo đó gia đình được định nghĩa “là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội thu nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con người bởi tính cộng đồng về sinh hoạt trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của thành viên cũng như để thể hiện tính tất yếu của xã hội về phát triển sản xuất con người”.
Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này (Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012).
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…
Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia tách thành nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống, gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ.
1.1.2. Khái niệm bạo lực gia đình Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, lấn áp hoặc lật đổ”[3]. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau, tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với trẻ em…
Còn theo chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau, kể cả sự tác động bằng vũ trang, đối với giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) khác nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị những quyền hay đặc quyền khác nhau” [4].
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình). Nói cách khác, đó là việc “ các thành viên trong gia đình vân dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”.
Theo định nghĩa của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như các nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi. Theo đó, bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở một giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tỳ tiện sự tự do, dù xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Như vậy, bạo lực gia đình bao gồm các yếu tố bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành tình dục và cả bạo hành về kinh tế. Những hành vi bạo lực gia đình gây ra để lại nhiều tổn hại đối với cộng đồng xã hội, đối với con người, đặc biệt đối với phụ nữ- đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bạo lực gia đình.
1.1.3. Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Tuyên bố của Liên hợp quốc về việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ, ngày 20/12/1993, đã định nghĩa: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lý, kể cả những lời đe doạ hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư”. Theo định nghĩa trên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm: các hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình.
Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình: Quan hệ giới trong gia đình là một trong những quan hệ cơ bản tạo nên sự tồn tại của một gia đình. Về thực chất nó là mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong gia đình mà trung tâm là mối quan hệ vợ chồng. Trong mối quan hệ về giới, mặc dù thủ phạm của hành vi bạo lực gia đình có thể bao gồm cả phụ nữ và nạn nhân của nó có thể bao gồm cả đàn ông. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này cho phép kết luận rằng, bạo lực gia đình về cơ bản là bạo lực chống lại phụ nữ và thủ phạm cơ bản là đàn ông. Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là nam giới, thường là chồng, người tình, hoặc chồng cũ, người tình cũ, hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ.
“Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ thường là nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ vì họ là phái yếu hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm, những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe doạ, gây đau khổ, cưỡng bức, hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng, nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực do Nhà nước gây ra hoặc bỏ qua “[15].
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngoài những đặc điểm của bạo lực gia đình nói chung còn mang một đặc điểm rất quan trọng để chúng ta nhận biết và phân biệt với bạo lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là nữ giới (nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là tất cả đối tượng: nữ giới, nam giới, trẻ em, người già, người tàn tật…). Chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường là nam giới và thường là người chồng trong hôn nhân, chồng cũ hay bạn tình.
1.1.4. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó khăn và lâu dài. Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc PCBLGĐ đối với người phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về PCBLGĐ đặc biệt, lần đầu tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã ra đời. Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo hành gia đình.
Chính phủ Việt Nam đã tham gia rất mạnh mẽ phong trào quốc tế trong việc bảo vệ người phụ nữ và đẩy lùi bạo lực gia đình. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cai-rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995. Với tư cách là quốc gia thành viên của công ước CEDAW, Việt Nam đã có những tiếp cận theo đúng cách tiếp cận của công ước đối với bình đẳng và bình đẳng giới. Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, từ đạo luật gốc là Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản pháp luật khác đều khẳng định một nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không có bất kỳ sự phân biệt nào trên cơ sở giới trên mọi lĩnh vực.
Từ những phân tích trên, phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực PCBLGĐ mà nạn nhân của bạo hành gia đình là người phụ nữ.
Như vậy, PCBLGĐ đối với phụ nữ là phòng ngừa các hành vi bạo hành gia đình đối với phụ nữ mà trong đó nạn nhân là người phụ nữ, người gây ra bạo hành chủ yếu là nam giới. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, trong xu thế gia đình ở Việt Nam là gia đình mở, người phụ nữ không chỉ bị bạo hành từ phía người chồng mà còn bị bạo hành từ phía gia đình nhà chồng, bố, mẹ chồng, anh em của chồng. Mặt khác, trong thực tế cũng có nhiều người chồng cũng phải chịu bạo lực gia đình như phụ nữ nhưng trong khuôn khổ khóa luận này, tác giả nghiên cứu việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ trái với pháp luật PCBLGĐ và là nội dung cơ bản tác giả đề cập tới việc PCBLGĐ đối với phụ nữ.
1.2. Các hình thức của bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.2.1. Bạo lực thể xác
Người phụ nữ đã phải chịu đựng nhiều hình thức bạo lực gia đình. Bạo lực thân thể là hình thức khá phổ biến trong các dạng bạo lực gia đình trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Bạo lực thể chất là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra thương tích cho phụ nữ. Người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình dưới hình thức bạo lực thân thể, họ phải chịu sự đánh đập của người chồng, người bạn tình ở nhiều mức độ khác nhau, có trường hợp người chồng đấm, đá, tát, xô ngã vợ; có trường hợp dùng cả vũ khí để hành hung vợ để lại những hậu quả nghiêm trọng như để lại thương tích trên thân thể, xảy thai, thậm chí tử vong…
Theo luật mẫu của Liên hợp quốc bạo lực thể xác bao gồm bất cứ hành vi nào gây ra thương tích về mặt thể chất hoặc tổn thương thân thể ở bất kỳ mức độ nào.
Theo tài liệu của Viện Khoa học xã hội: Bạo lực thể xác là hành vi cưỡng bức thân thể, đánh đập nhằm gây thương tích cho nạn nhân hoặc ngăn cấm phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như ngăn ngừa họ không được tiếp cận các nhu cầu vật chất thiết yếu như: ăn uống, nghĩ ngơi,… Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2019 của Việt Nam cũng đã nêu: Hành vi “hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng” được xem là hành vi bạo lực gia đình về mặt thể xác.
Những hành vi bạo lực về thể xác thường sử dụng sức mạnh cơ bắp hoặc công cụ (thậm chí cả vũ khí ) để gây ra sự đau đớn về thân thể đối với nạn nhân và mức độ có thể từ nhẹ tới nặng: thờ ơ; đánh đau, gây thương tích ở khu vực khó phát hiện; đấm đá; gây thương tích nặng không cho nạn nhân đi chữa trị; dùng phương tiện có dự định( dao, súng…)…;giết.
Phụ nữ bị tát, xô, đẩy (không có những hành vi nghiêm trọng hơn) được xếp vào nhóm bị bạo lực ở mức độ nhẹ và những người bị đấm đá kéo lê hoặc đe dọa dùng vũ khí được coi là bị bạo lực ở mức độ nghiêm trọng. Thường thì phụ nữ phải gánh chịu nhiều hành vi bạo lực thể xác chứ không phải đơn thuần một hành vi.
Trên thực tế không chỉ có những người trình độ văn hóa thấp mà cả những người có trình độ văn hóa tương đối cao, có địa vị trong xã hội cũng là nạn nhân của bạo lực trong gia đình. Trong đó bạo lực thể xác đối với người phụ nữ là rõ nhất. Mặt khác, bạo lực về thể xác đối với phụ nữ ở nông thôn cao hơn so với thành thị và phần lớn là tập trung vào các gia đình có chồng trình độ học vấn thấp, làm nông nghiệp.
Bạo lực thể xác để lại hậu quả rất nghiêm trọng, nó không chỉ tác động trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của người phụ nữ mà còn gây ảnh hưởng đến sự phát triển tình cảm của trẻ con trong gia đình. Gia đình không hòa thuận, cha mẹ đánh đập nhau sẽ tác động không không tốt đến tư tưởng, làm mất niềm tin của con trẻ vào cha mẹ của mình.
Như vậy, có thể thấy rằng bạo lực thể xác là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ly hôn hiện nay, đẩy nhiều gia đình đến bờ vực khủng hoảng và tan vỡ, trẻ em thì xa vào con đường tội phạm.
1.2.2. Bạo lực tinh thần Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Bạo lực về tinh thần đối với phụ nữ là loại hình bạo lực không sử dụng đến vũ lực để tác động lên thể xác của nạn nhân mà chỉ tác động lên tinh thần của nạn nhân như: chì chiết, mắng chửi, lăng mạ, xỉ nhục, tỏ thái độ lạnh lùng, không nói chuyện, không quan tâm.
Cùng với bạo lực về thân thể, bạo lực về tinh thần đối với phụ nữ là hình thức bạo lực đối với phụ nữ ngày càng phổ biến ở nước ta. Những vết thương về thân thể của người phụ nữ, với thời gian có thể lành lại nhưng những vết thương về tinh thần do bạo lực gia đình gây ra cho người phụ nữ sẽ rất khó lành. Bạo lực về tinh thần đã gây cho người phụ nữ những chấn động mạnh và lâu dài về tâm lý, họ phải chịu đựng những chấn thương tâm lý mà không dễ gì chữa khỏi. Nạn nhân bị bạo lực tinh thần thường tự dằn vặt mình, trầm cảm và sợ sệt, ăn không ngon, ngủ không yên, nóng giận vô cớ, luôn bị ám ảnh về bạo lực, có trường hợp bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, thần kinh suốt đời, có trường hợp thì tự tử.
Bạo lực về tinh thần cũng là một loại hình bạo lực không kém phần nghiêm trọng so với bạo lực về thể xác, số động phụ nữ đếu cho rằng: ảnh hưởng của bạo lực tinh thần thường nặng nề hơn bạo lực thể xác. Liên quan đến vấn đề này thì Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có nêu lên một số hành vi bạo lực tinh thần như:
“Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý và gây hậu quả nghiêm trọng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm…”
- Một số những hành vi bạo lực tinh thần:
- Dùng lời nói để mắng nhiếc nạn nhân;
- Chửi mắng, lăng mạ, chì chiết;
Xúc phạm nhân phẩm, hạ thấp uy tín ( tiết lộ đời tư, phát tán tờ rơi làm ảnh hưởng đến danh dự, cưỡng ép lột bỏ quần áo trước mặt người khác…). Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Cấm đoán ( quyền được chăm sóc con cái, người thân,dược làm việc, được tham gia vào công tác xã hội, quyền được giao tiếp, quyền được quyết định…).
- Xua đuổi, quấy rối hoặc gây áp lực thường xuyên về mặt tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Buộc tội, nghi ngờ, theo dõi;
- Phớt lờ cảm xúc của người khác, không quan tâm, đối xử lạnh nhạt;
- Chê bai, chế nhạo, hạ thấp giá trị trước mặt người khác…
Với bạo lực thể xác, nỗi đau đớn thể hiện rõ ràng trên cơ thể người phụ nữ nhưng với bạo lực về tinh thần thì vết thương ấy nông sâu như thế nào không ai có thể đo đếm được. Bạo lực tinh thần từng ngày từng giờ gặm nhấm ý chí, tâm can của người phụ nữ khiến những nạn nhân này luôn trong tình trạng căng thẳng dẫn đến “stress”, tâm thần ở thể nhẹ hoặc thần kinh và hậu quả đau lòng nhất là nhiều người do quá bế tắc đã phải tìm đến cái chết để giải tỏa.
Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ đang dần làm mai một đi bản chất tốt đẹp vốn có của mỗi một thành viên trong gia đình, gây tan vỡ hạnh phúc lứa đôi của các cặp vợ chồng, gây đỗ vỡ cuộc sống gia đình.
Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ trong gia đình là hình thức bạo lực không nhìn thấy được. Trong nhiều trường hợp, nó là nguyên nhân trực tiếp cướp đi sinh mạng của người phụ nữ. Rất nhiều phụ nữ không chịu nổi bạo hành tinh thần đã tìm đến với cái chết. Một trường hợp vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới hình thức bạo hành tinh thần đăng trên báo VnExpress ngày 23/10/2020 đã nói lên nỗi đau của mà người phụ nữ phải chịu đựng khi bị bạo lực tinh thần: Một người chồng đã không đánh đập vợ khi bắt gặp vợ ngoại tình và chỉ xin 10 nghìn của người tình vợ, sau đó, cứ mỗi lần đến bữa ăn, người chồng lại đặt 10 nghìn lên mâm cơm và giải thích với con đó là số tiền mà mẹ khó nhọc kiếm được. Ba tháng sau, không chịu nổi áp lực về mặt tâm lý, người vợ đã tự vẫn chết.
Có rất nhiều lý do dẫn đến bạo lực tinh thần đối với phụ nữ, một trong những lý do khá nổi bật là ngoại tình. Phần lớn những người chồng khi ngoại tình về thường bỏ rơi, chửi mắng, ngược đãi vợ con. Cùng với sự tra tấn dã man đó là mục đích mong cho vợ chết mòn, chết dần. Trong những hoàn cảnh như vậy, người phụ nữ thật đau khổ và nhiều khi họ đã không làm chủ được bản thân mình nữa, mắc phải những sang chấn tâm lý ám ảnh suốt cuộc đời họ.
1.2.3. Bạo lực tình dục Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Một hình thức bạo lực gia đình đối với người phụ nữ hiện nay làm ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người phụ nữ là bạo lực tình dục. Hình thức bạo lực này rất khó phát hiện bởi tất cả các nạn nhân rất ít khi nói ra. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bạo lực tình dục được xem là vấn đề ưu tiên trong các vấn đề sức khoẻ cộng đồng và quyền con người bởi vì vấn đề này tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và gây ảnh hưởng đến sức khoẻ phụ nữ. Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một hình thức bạo lực đối với phụ nữ, là hành vi vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, đây là điều mà bấy lâu nay nhiều người không nhận thức được. Ở nước ta, theo quan niệm truyền thống, việc người vợ đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là việc bình thường như là một bổn phận của người vợ để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Nhiều người chồng coi đó là trách nhiệm đương nhiên của người vợ, người vợ không có quyền kháng cự và đã có rất nhiều người được hỏi đã khẳng định rằng đây không phải là việc bạo hành vợ, vì thế không phải là vi phạm pháp luật. Chính vì vậy mà hình thức bạo lực này bị xem nhẹ. Điều này dẫn đến tình trạng bạo lực tình dục trong gia đình đối với vợ còn xảy ra nhiều với con số khá cao mà trong thực tế, con số đó còn nhiều hơn rất nhiều.
Quan hệ tình dục giữa vợ và chồng là quan hệ tình dục đồng thuận, nhưng không phải lúc nào cũng là quan hệ tình dục được mong muốn. Vì vậy, không phải cứ là vợ chồng thì đương nhiên chồng được quan hệ và vợ phải chiều chồng, mà cần có sự mong muốn và đồng thuận của đôi bên. Hành vi ép buộc tình dục có thể xảy ra trong hôn nhân giữa vợ và chồng, kể cả khi ly thân, ly hôn và ngay cả trong tình yêu giữa bạn tình với nhau.
Bạo lực tình dục được định nghĩa là: hành vi sử dụng vũ lực, cưỡng bức hoặc chấn áp về tâm lý nhằm ép buộc một người phụ nữ quan hệ tình dục ngoài ý muốn cho dù có đạt mục đích hay không. Bạo lực tình dục bao gồm hiếp dâm, quấy rối tình dục và các hình thức bạo lực tình dục khác trong hôn nhân mà đối tượng gây ra là các thành viên trong gia đình, người quen, cưỡng ép kết hôn, cưỡng ép làm nghề mại dâm, chủ thể của hành vi bạo lực tình dục thường xử dụng vũ lực để ép buộc người kia có quan hệ tình dục, hoặc hành vi cố lôi kéo họ vào hoạt động tình dục ngay cả khi họ không có khả năng tử chối bởi các lý do như: sức khỏe, bị ảnh hưởng của chất kích thích, chưa đủ năng lực để hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục đó, hoặc sự hăm doa, quấy rối tình dục. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2019 của Việt Nam cũng có nêu rõ “…cưỡng ép quan hệ tình dục” cũng là một trong những hành vi bạo lực gia đình. Chúng ta có thể xác định bạo lực tinh dục qua một số hành vi cụ thể sau:
- Đùa cợt về phụ nữ và về tình dục trước mặt nạn nhân;
- Xem phụ nữ như một đồ vật để thỏa mãn;
- Làm mất cảm xúc và nhu cầu sinh lý của nạn nhân;
- Sờ mó bộ phận sinh dục của nạn nhân khi nạn nhân không đồng ý;
- Sử dụng những hình thức quan hệ tình dục gây đau đớn;
- Sử dụng những lời lẽ liên quan tới dục tính gây khó chịu về tâm lý;
- Cưỡng ép thực hiện hành vi khiêu dâm, các thuốc kích dục;
- Ép buộc quan hệ tình để làm nhục, gây đau;
- Buộc cởi bỏ y phục trước mặt con cái, công chúng…
Trong đời sống vợ chồng ở nhiều gia đình, hôn nhân được hiểu như là sự cho phép người đàn ông có quyền tiếp cận tình dục với người vợ vô điều kiện và họ có sức mạnh để củng cố sự tiếp cận này thông qua cưỡng bức nếu thấy cần thiết. Không ít phụ nữ khi không đồng ý quan hệ với chồng đã bị chồng chì chiết, chửi mắng thậm tệ. Bị bạo hành về tình dục khiến cho người phụ nữ cảm giác như mình chỉ là công cụ giải quyết sinh lý của chồng nên họ cảm thấy sợ mỗi khi gần gũi chồng. Trong quan hệ “phòng the” lẽ ra người phụ nữ có quyền được trân trọng thì trái lại bị tước đi quyền làm vợ, quyền được nâng niu chiều chuộng và được yêu thương, nhưng trái lại họ chỉ có một nhiêm vụ duy nhất là phục vụ.
Các hành vi bạo lực tình dục chủ yếu là dùng sức mạnh thể lực để ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn, đa phần người phụ nữ phải quan hệ tình dục vì sợ rằng nếu không đáp ứng nhu cầu sinh ý cho chồng thì sẽ có điều xấu xảy ra và bị ép làm những việc có liên quan đến tình dục mà người vợ cảm thấy bị nhục nhã hoặc hạ thấp nhân phẩm. Một số phụ nữ khác cho rằng: họ bị ép quan hệ tình dục vì họ sợ, vì họ nghĩ tới lần quan hệ sau những chuyện như này sẽ tiếp diễn. Tình dục cưỡng ép không chỉ xảy ra một lần mà có thể tiếp tục lặp đi lặp lại nhiều lần. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Như vậy, có thể nói nạn bạo lực tình dục đã và đang trở thành vấn nạn của các gia đình và toàn xã hội. Bạo lực tình dục không chỉ gây đau đớn về mặt thể xác đối với phụ nữ mà còn gây ra hậu quả về mặt tinh thần hết sức nghiêm trọng, là nỗi kinh hoàng trong đêm của nhiều phụ nữ. Sự lạm dụng về tình dục có thể gây ra các căn bệnh có thể liên quan đến sức khỏe sinh sản khó điều trị như: HIV, mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục hay những tai biến chứng thai sản…Do bạo lực tình dục có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề đạo đức và được ngụy trang một cách kính đáo bởi “quan hệ tình cảm” giữa hai vợ chồng. Mặt khác, vì nó là vấn đề tế nhị, nên chị em thường giấu diếm vì không muốn “ vạch áo cho người xem lưng”, “xấu chàng hổ ai”. Những điều này góp phần làm cho bạo lực tình dục ngày một phát triển, đe dọa đến tinh thần và sức khỏe của phụ nữ.
1.2.4. Bạo lực kinh tế
Cùng với bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần là bạo hành về kinh tế. Bạo hành về kinh tế là hành vi dùng sức mạnh, áp đặt hoặc lừa mị nhằm chiếm giữ và kiểm soát tài chính của người phụ nữ trong gia đình nhằm tạo ra sự phụ thuộc về mặt kinh tế. Cho đến nay, chưa có nhiều số liệu thống kê về bạo lực kinh tế trong gia đình đối với phụ nữ, tuy nhiên trên thực tế, bạo lực kinh tế đối với phụ nữ thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: không đóng góp kinh tế (tiền bạc) cho vợ chi tiêu chung trong gia đình; quản lý hết tiền của gia đình; bắt người vợ phụ thuộc hoàn toàn vào mình; coi thường vợ không có công ăn việc làm, không kiếm được tiền; kiểm soát toàn bộ việc chi tiêu trong nhà; vay nợ nhiều để vợ gánh chịu trả nợ… Có rất nhiều người phụ nữ hoàn toàn bị phụ thuộc vào chồng về mặt kinh tế, mọi sự chi tiêu trong gia đình từ những vật dụng nhỏ nhất cũng phải xin chồng, phải xin phép chồng, chồng không đồng ý hay không cho thì không có tiền để tiêu thậm chí để phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu nhất của người phụ nữ. Như vậy, câu hỏi đặt ra người phụ nữ sinh ra để làm gì?, họ đâu còn được tôn trọng quyền con người nữa. Như vậy, bạo lực kinh tế đối với người phụ nữ trong gia đình biểu hiện rất đa dạng, nhiều vẻ với nhiều cấp độ khác nhau và phần lớn bạo lực kinh tế thường ít bộc lộ công khai. Vì thế, bạo lực kinh tế là dạng bạo lực không dễ nhận diện. Bạo lực kinh tế đã và đang ảnh hưởng sâu sắc tới người phụ nữ, vi phạm quyền tự do của người phụ nữ. Chính vì vậy, hơn ai hết, người phụ nữ phải đứng lên đấu tranh để bảo vệ quyền cho họ đồng thời những kẻ gây ra bạo lực cho người vợ của mình cần bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Bạo lực kinh tế là hành vi kiểm soát tài chính, bắt phụ thuộc vào tài chính đối với thành viên trong gia đình.Theo nghị định 110/2021/NĐ-CP ngày 10-12-2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình có quy định một số hành vi về bạo lực kinh tế trong gia đình như sau:
- Không cho thành viên trong gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng;
- Kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của thành viên gia đình hoặc nguồn tài chính chung của gia đình nhằm tạo cho thành viên gia đình sự phụ thuộc về tài chính;
- Buộc thành viên gia đình đóng góp tài chính vượt quá khả năng của họ;
- Đập phá tài sản riêng của mình nhằm gây áp lực về tâm lý đối với thành viên gia đình;
- Có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên gia đình hoặc tài sản chung của gia đình;
- Chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình;
- Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình để sử dụng vào mục đích cá nhân;
- Ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại hoặc làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động;
- Ép buộc thành viên trong gia đình đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống;
Bạo lực về kinh tế cũng là một trong những loại hình bạo lực gây nhiều sức ép cho phụ nữ, đặc biệt là sức ép về mặt tinh thần, khiến cho họ luôn luôn rơi vào tình trạng căng thẳng và mệt mỏi. Như vậy, chúng ta có thể thấy bạo hành gia đình là con sóng ngầm có sức tàn phá rất lớn hạnh phúc của mỗi gia đình, nó để lại rất nhiều hậu quả, mà dễ thấy nhất là hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, con cái thiếu sự quan tâm dễ xa ngã vào các tệ nạn xã hội…Qua những hình thức bạo lực gia đình nói trên chúng ta đã có những cách nhìn khách quan về đặc điểm cũng như tính nguy hiểm của từng loại hình. Từ đó cần phải có những giải pháp nhằm đấu tranh chống lại nạn bạo lực gia đình đối với phụ nữ đang ngày một phát triển trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Quy định của một số nước trên thế giới về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một vấn đề phổ biến trên tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, ảnh hưởng tới sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều có các văn bản quy phạm pháp luật hình sự hoặc hành chính để xử phạt các hành vi bạo lực, trong đó bao gồm cả bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ. Tuy nhiên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ có một số đặc thù mà các thủ tục hành chính, dân sự, hình sự không giải quyết được như: xảy ra trong bối cảnh riêng tư, mang tính liên tục, nạn nhân không muốn nhờ cậy sự giúp đỡ từ các cơ quan chức năng vì xấu hổ, sợ bị miệt thị, vì phụ thuộc vào người có hành vi bạo lực… Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Trên thực tế hiện nay thì Châu Á, Châu Phi hiện đang được đánh giá là khu vực đứng đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Theo số liệu đưa ra tại hội thảo khu vực ASEAN về nhạy cảm giới và các dịch vụ hỗ trợ ngăn ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ vào tháng 11 năm 2018 tại Thái Lan, riêng khu vực ASEAN có 56% phụ nữ là nạn nhân của các vụ đánh đập gây thương tích hay các vụ án mạng và 33% phụ nữ thường xuyên bị hãm hiếp hay đe doạ tình dục. Đứng trước thực trạng nhức nhối trên, các quốc gia Châu Á, đặc biệt là các nước khu vực ASEAN đã có những biện pháp tích cực để giải quyết tình hình, giúp người phụ nữ khắc phục những hậu quả nặng nề của nạn bạo lực. Đây là những bài học kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia khác. Để công tác phòng, chống vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đạt được hiệu quả cao trong thời gian tới, Việt Nam chúng ta nên học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của các nước khác trong lĩnh vực này.
Chính vì vậy, nhiều quốc gia đã ban hành văn bản pháp luật riêng về bạo lực gia đình với mục đích giải quyết có hiệu quả tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ, chỉnh sửa các thủ tục hành chính và hình sự cho phù hợp với những nhu cầu đặc biệt của các nạn nhân bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Cụ thể:
1.3.1. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia ở Châu Á có sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt và là nước có nhiều kinh nghiệm trong việc PCBLGĐ đối với phụ nữ. Điều quan trọng nhất là đến nay Nhật Bản đã xây dựng được khung pháp lý về PCBLGĐ khá hoàn thiện. Nhiều đạo luật quan trọng liên quan đến PCBLGĐ đã được thông qua như: Luật về phúc lợi cho trẻ em (1947); Luật về đảm bảo cuộc sống (1950) ; Luật về phúc lợi xã hội (1951); Luật về phúc lợi cho bà mẹ, trẻ em và người goá (1964); Luật về cảnh sát; Bộ luật Hình sự; Luật về phòng, ngừa bạo lực hôn nhân và bảo vệ nạn nhân năm 2013 và sửa đổi năm 2016 là đạo luật trụ cột, làm cơ sở quan trọng để PCBLGĐ. Đạo luật này đã quy định một cách chặt chẽ các vấn đề về bạo lực gia đình như: khái niệm về bạo lực gia đình; xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật phòng, ngừa bạo lực hôn nhân; quyền của nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của Chính phủ và chính quyền địa phương; chính sách và định hướng cơ bản của công tác PCBLGĐ…
Chính vì có hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc được áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực hôn nhân, nên nhận thức của người Nhật Bản về bạo lực gia đình rất cao, do vậy họ hiểu và thực hiện khá tốt PCBLGĐ; tình trạng vi phạm pháp luật PCBLGĐ, bạo lực hôn nhân nói chung, bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngày một giảm đi đáng kể. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Cùng với hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, Chính phủ Nhật Bản còn thành lập các Trung tâm tư vấn và hỗ trợ về bạo lực hôn nhân, các Tòa án HNGĐ. Các trung tâm và Tòa án hôn nhân gia đình này có nhiệm vụ: 1. Tư vấn cho các nạn nhân về các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của họ hoặc giới thiệu họ với các nhân viên tư vấn phụ nữ hoặc các tổ chức tư vấn thích hợp; 2. Tư vấn hướng dẫn về y tế, tâm lý hoặc các vấn đề khác giúp họ phục hồi về tinh thần và thể chất; 3. Cung cấp các biện pháp bảo vệ tạm thời cho nạn nhân và cả các thành viên khác trong gia đình trong trường hợp có các thành viên khác trong gia đình; 4. Cung cấp thông tin, tư vấn và thông tin cho các tổ chức liên quan, cùng với các hình thức hỗ trợ khác có liên quan; 5. Cung cấp thông tin, tư vấn, hợp tác, liên kết với các tổ chức liên quan, cũng như các hình thức trợ giúp khác liên quan đến các cơ sở mà nạn nhân có thể sống và được bảo vệ…
Các trung tâm tư vấn và hỗ trợ về bạo lực hôn nhân đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình và đây chính là một biện pháp rất hữu hiệu nhằm giúp người phụ nữ tránh được bạo lực hôn nhân, khắc phục được những hậu quả nặng nề do bạo lực gây ra, đem lại niềm tin trong cuộc sống cho những người phụ nữ. Như vậy, với một hệ thống pháp luật hoàn thiện cùng với các biện pháp tích cực trong đó có biện pháp thành lập các trung tâm tư vấn và hỗ trợ về bạo lực hôn nhân, Nhật Bản là một trong các nước ở khu vực Châu Á đạt được kết quả cao trong việc PCBLGĐ đối với phu nữ. Những kinh nghiệm quý báu này là bài học quý giá cho các nước khác trong đó có Việt Nam trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật PCBLGĐ đối với phụ nữ.
1.3.2. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Đông Timo Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Luật Chống bạo lực gia đình của Đông Timo có cách tiếp cận khá rộng đối với việc phòng ngừa bạo lực gia đình. Theo đó, để phòng ngừa bạo lực gia đình đối với phụ nữ xảy ra, Nhà nước phải:
Một là, tạo điều kiện để xây dựng một chương trình giáo dục về quyền con người cho cả trường tiểu học lẫn trung học;
Hai là, tạo điều kiện để biên soạn một chương trình giáo dục về quyền con người và các hình thức về bạo lực gia đình cho cảnh sát, công tố viên, thẩm phán, luật sư tham gia giải quyết những vụ việc bạo lực gia đình;
Ba là, cung cấp thông tin cho quần chúng, những người lãnh đạo theo truyền thống và trong cộng đồng về quyền con người, về bạo lực gia đình – một sự vi phạm quyền con người;
Bốn là, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng cùng nhau phối hợp nỗ lực phòng ngừa bạo lực gia đình và giải quyết những yếu tố kinh tế – xã hội làm tăng nguy cơ bạo lực gia đình.
Do sự nhạy cảm và phức tạp của các mối quan hệ gia đình, việc sử dụng các biện pháp để phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ trước khi nó xảy ra và để lại những hậu quả đáng tiếc là rất cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, việc này lại đòi hỏi một quá trình khó khăn và phức tạp. Những quy định của Đông Timo về vấn này khá cụ thể, hướng tới những chủ thể quan trọng có khả năng đem lại hiệu quả cao, rất cần được nghiên cứu và học hỏi.
Là một quốc gia còn rất trẻ nhưng Đông-ti-mo lại đặc biệt quan tâm đến vấn đề PCBLGĐ đối với phụ nữ. Đông-ti-mo đã có rất nhiều hoạt động cũng như kinh nghiệm PCBLGĐ từ đó hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật PCBLGĐ đối với phụ nữ.
Đông-ti-mo có một hệ thống pháp luật về PCBLGĐ với các đạo luật cơ bản như: Luật Hôn nhân gia đình; Luật Dân sự; Bộ luật hình sự; Luật chống bạo lực gia đình và nhiều văn bản pháp luật khác. Bên cạnh hệ thống pháp luật, Đông-ti-mo còn có nhiều sáng kiến và kinh nghiệm trong PCBLGĐ. Đông-ti-mo đã thành lập hệ thống thông tin cho công tác PCBLGĐ. Theo hệ thống thông tin này, mỗi huyện có một đường dây điện thoại chuyên sử dụng cho các vụ bạo lực gia đình. Ngoài ra, ở nước này còn có một hệ thống Radio khẩn cấp được đặt ở những nơi cần thiết để các cơ quan chức năng có thể tiếp cận một cách nhanh nhất với các nạn nhân và thủ phạm bạo lực gia đình. Với các biện pháp như vậy, công tác PCBLGĐ sẽ đạt được hiệu quả, các vụ bạo lực gia đình sẽ được phát hiện kịp thời đồng thời các chủ thể sẽ khác sẽ sợ không thực hiện hành vi bạo lực gia đình vì có nguy cơ bị phát hiện. Các chủ thể sẽ tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.3.3. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Trung Quốc
Đây là một quốc gia phát triển mạnh về mọi mặt ở Châu Á, Trung Quốc là quốc gia có dân số đông nhất thế giới (1,4 tỉ người). Trung Quốc có, nhiều kinh nghiệm trong việc PCBLGĐ đối với phụ nữ. Mặc dù bị ảnh hưởng trong một thời gian dài tư tưởng trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có vai trò gì trong xã hội, nhưng cho đến nay, Trung Quốc đã đạt được kết quả khá cao trong lĩnh vực PCBLGĐ đối với phụ nữ. Có được kết quả tốt như vậy là do Trung Quốc đã xây dựng được khung pháp lý về PCBLGĐ khá hoàn chỉnh. Mặc dù Trung Quốc chưa có văn bản pháp luật định nghĩa thế nào là bạo hành gia đình nhưng nhiều đạo luật liên quan đến bạo lực gia đình đã được Trung Quốc thông qua như: Luật bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ; Luật bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; Luật hình sự; Luật hôn nhân và gia đình cùng nhiều văn bản pháp luật khác. Đặc biệt, từ sau khi là nước chủ nhà Hội nghị thế giới lần thứ tư của LHQ năm 1995, xã hội Trung Quốc đã có sự thay đổi về nhận thức về bạo lực gia đình. Đây là một mốc đánh dấu sự thay đổi quan trọng của Trung Quốc trong việc PCBLGĐ đối với phụ nữ. Rất nhiều đạo luật liên quan đến bạo lực gia đình đã được bổ sung, sửa đổi. Đến nay, Trung Quốc đã có hơn 10 tỉnh, thành phố và khu tự trị ban hành các Nghị định điều chỉnh nạn bạo lực gia đình trong phạm vi địa phương mình nhằm thực hiện có hiệu quả việc PCBLGĐ. Như vậy việc PCBLGĐ đối với phụ nữ ở Trung Quốc là vấn đề được các cấp chính quyền và cả xã hội đặc biệt quan tâm, chung tay, góp sức nhằm đẩy lùi nạn bạo lực gia đình cũng như tình trạng vi phạm pháp luật PCBLGĐ.
Bên cạnh hệ thống pháp luật, Trung Quốc đặc biệt chú trọng tới công tác tuyên truyền về PCBLGĐ. Một biện pháp rất tích cực là Hội Liên hiệp phụ nữ Trung Quốc đã thiết lập một đường dây nóng, treo và dán áp phích trên khắp các đường phố để kêu gọi những nạn nhân của bạo lực gia đình đến trình báo với các cơ quan chức năng, khuyến khích nạn nhân bạo lực gia đình tự bảo vệ mình trong khuôn khổ pháp luật. Đặc biệt đài truyền hình Trung Quốc cũng mở một chương trình truyền hình riêng chuyên cung cấp thông tin và tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân về nạn bạo lực gia đình. Mục đích của chương trình là tuyên truyền những kiến thức cơ bản để giúp người phụ nữ tự bảo vệ mình khỏi bạo lực gia đình thông qua các tình huống được thể hiện dưới các hình thức các vở kịch. Biện pháp này có tác dụng rất lớn bởi vì muốn PCBLGĐ, vi phạm pháp luật PCBLGĐ trước hết cần nâng cao nhận thức và trình độ pháp luật của người dân trong lĩnh vực này. Khi họ có kiến thức về pháp luật PCBLGĐ, họ sẽ không vi phạm đồng thời chủ động phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể khác.
Cũng là việc phát huy sức mạnh của công tác tuyên truyền, hiện nay Trung Quốc đang thông qua giới báo chí và các phương tiện truyền thông để đẩy mạnh công tác tuyên truyền về PCBLGĐ đối với phụ nữ. Tờ Trung Quốc Nhật báo đã tổ chức tập huấn về vai trò của phương tiện thông tin đại chúng đối với việc PCBLGĐ. Các chủ đề chính được thảo luận trong chương trình tập huấn là nhận thức về giới, bạo lực gia đình và vai trò của báo chí trong việc tìm hiểu, can thiệp và ngăn chặn bạo lực xảy ra. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn thành lập các Trung tâm dịch vụ pháp lý phục vụ cho hoạt động PCBLGĐ như Trung tâm tư vấn tâm lý phụ nữ. Hoạt động của các trung tâm này cũng nhằm nâng cao nhận thức của chị em phụ nữ để họ biết cách bảo vệ mình trước tình trạng bạo lực gia đình. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Như vậy, mặc dù những năm trước đây, rất nhiều phụ nữ Trung Quốc phải chịu đựng nạn bạo lực gia đình và tình trạng vi phạm pháp luật PCBLGĐ còn xảy ra nhiều nhưng với sự thay đổi về nhận thức từ năm 1995, cùng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân Trung Quốc, việc PCBLGĐ đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực PCBLGĐ đã giảm đáng kể mà một trong những biện pháp hữu hiệu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho mọi người dân trong xã hội.
1.3.4. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Philipphin
Phi – lip -pin là một quốc gia đặc biệt quan tâm đến vấn đề PCBLGĐ. Yếu tố quyết định đến việc PCBLGĐ hiệu quả chính là Phi-lip-pin đã xây dựng được một hệ thống pháp luật và quy định khá đầy đủ về PCBLGĐ đối với phụ nữ. Theo pháp luật của Philipin thì đối tượng của nạn bạo lực gia đình không chỉ là phụ nữ mà luôn gắn liền với một đối tượng yếu thế của xã hội là trẻ em. Các văn bản pháp luật quan trọng trong lĩnh vực này như: Luật Gia đình; Luật hình sự và đặc biệt là Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2016… Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em được Nghị viện Phi-lip-pin thông qua tại kỳ họp thứ 3, khoá 12, năm 2016 đã chỉ ra một cách chi tiết thế nào là “bạo hành đối với phụ nữ và trẻ em”; các hình thức bạo hành như: bạo hành về thể chất, bạo hành tình dục, bạo hành tâm lý và lạm dụng kinh tế… (điều 3); quy định về các hành vi bạo hành với phụ nữ và trẻ em (điều 5). Luật còn quy định các quyền của nạn nhân bạo hành gia đình của phụ nữ và trẻ em như: được đối xử với sự tôn trọng về phẩm giá; được trợ giúp miễn phí; được hưởng các dịch vụ hỗ trợ của Bộ phúc lợi và các cơ quan địa phương; được hưởng mọi sự bồi thường pháp lý và hỗ trợ theo quy định của bộ luật gia đình; được thông báo về các quyền và dịch vụ dành cho mình bao gồm cả quyền được nộp đơn đề nghị ra quyết định bảo vệ; quyền được tạm nghỉ việc…Như vậy, người phụ nữ khi bị là nạn nhân của bạo lực gia đình, họ có rất nhiều quyền và có nhiều cơ chế đảm bảo thực hiện quyền này. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước Phi-lip-pin đối với nạn nhân bạo lực gia đình cũng như đối với vấn đề bạo lực gia đình. Để công tác PCBLGĐ có hiệu quả, Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em của Phi-lip-pin còn quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước nhất là cơ quan công an và cán bộ y tế trong việc giúp đỡ các nạn nhân cũng như xử lý các vụ vi phạm pháp luật chống bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em. Họ phải giúp đỡ nạn nhân về mọi mặt và dưới nhiều hình thức, cả hỗ trợ ngay tức thì cũng như các biện pháp hỗ trợ lâu dài. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Điều đặc biệt, Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em đã quy định về việc hình thành cơ quan có trách nhiệm trong việc chống bạo hành gia đình đối với phụ nữ và trẻ em. Tại điều 39 của Luật quy định việc hình thành Hội đồng liên ngành về chống bạo hành với phụ nữ và trẻ em gồm: 1. Cơ quan phúc lợi và phát triển xã hội; Uỷ ban quốc gia về quyền của phụ nữ; 3. Uỷ ban dịch vụ dân sự; 4. Hội đồng chăm sóc trẻ em; 5. Bộ Tư pháp; 6. Bộ Nội vụ và chính quyền địa phương; 7. Cảnh sát quốc gia; 8. Bộ Y tế; 9. Bộ Giáo dục; 10. Bộ Lao động và việc làm; 11. Cục điều tra quốc gia . Các cơ quan này có nhiệm vụ đưa ra các chương trình và dự án ngăn chặn nạn bạo hành theo thẩm quyền của từng cơ quan, đồng thời thực hiện các chương trình nâng cao năng lực cho nhân viên của họ thích ứng nhanh hơn với nhu cầu của các đối tượng mà họ phục vụ. Hội đồng có nhiệm vụ sẽ giám sát việc thực hiện công tác của các cơ quan nói trên.
Tại Phi-lip-pin, theo quy định của Luật Chống bạo hành phụ nữ và trẻ em, một Uỷ ban liên ngành về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em đẫ được thành lập. ủy ban liên ngành này được tổ chức và hoạt động nhằm đáp ứng một cách nhanh nhất các biện pháp bảo đảm cho việc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em, đồng thời ngăn chặn tối đa những thiệt hại về tính mạng, tinh thần và sức khỏe cũng như các thiệt hại khác của nạn nhân nữ.
1.3.5. Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Lan
Một trong những nước khác ở Đông Nam Á có nhiều kinh nghiệm trong việc PCBLGĐ là Thái Lan. Cùng với việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện để điều chỉnh hết và kịp thời các hành vi bạo lực gia đình, quy định trách nhiệm, việc xử lý các vụ vi phạm pháp luật bạo lực gia đình, Thái Lan còn sử dụng các biện pháp rất hiệu quả. Một trong những biện pháp đó là xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ các nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ (OSCC). Trung tâm này có chức năng điều trị, tư vấn về luật pháp và tâm lý cho các nạn nhân này. Tại Thái Lan, Trung tâm OSCC được thành lập lần đầu tiên ở các Bệnh viện từ năm 1998, sau đó mở rộng dần từ Trung ương xuống cấp huyện. Đến năm 2017, đã có 109 trung tâm được thành lập trên khắp đất nước. Đây là thành công lớn của Thái Lan trong việc kết hợp thêm chức năng tư vấn và hỗ trợ các nạn nhân của bạo lực gia đình cho các cơ sở y tế.
1.4. Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có PCBLGĐ đối với phụ nữ đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật của nước ta như: Hiến pháp 1992, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012, Bộ luật Dân sự năm 2017, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh người cao tuổi…. Những văn bản pháp luật trên đã có rất nhiều quy định về phòng, chống bạo lực gia đình, góp phần quan trọng trong bảo vệ người phụ nữ khỏi bạo lực gia đình. Để công tác PCBLGĐ có hiệu quả hơn nữa, ngày 21 tháng 11 năm 2019, Quốc hội khoá XII của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ra đời là một bước tiến tích cực, có ý nghĩa rất lớn để chúng ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCBLGĐ, bảo vệ quyền con người, bảo vệ người phụ nữ, tiếp tục sự nghiệp giải phóng người phụ nữ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình lần đầu tiên ra đời như tiếng chuông lớn cảnh tỉnh những ai đang có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ, gửi đến tất cả các chủ thể trong xã hội một thông điệp rõ ràng rằng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ là trái với đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trái với ý chí chung của xã hội, là vi phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực chung của xã hội và phải chịu sự trừng phạt của xã hội, của pháp luật.
Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992, nội dung PCBLGĐ đối với phụ nữ được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác. Tiêu biểu là những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là một trong những văn bản đó. Bộ luật Hình sự là căn cứ để xác định hành vi bạo lực gia đình nào là hành vi phạm tội. Điều 130, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ: “người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”. Cùng với Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Chính phủ cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: “thực hiện chính sách và biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và thực hiện quyền trẻ em; giúp đỡ người già, người khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; có biện pháp ngăn ngừa và chống mọi hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ và trẻ em”. (Khoản 4, điều 12, Luật Tổ chức Chính phủ).
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2012 là một trong những văn bản pháp luật quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam còn là phương tiện hữu hiệu trong việc PCBLGĐ. Luật đã có nhiều điều khoản quy định trực tiếp và gián tiếp đến việc PCBLGĐ. Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, những quy định đó vẫn còn sơ sài, tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu tính cụ thể và chưa có những quy định pháp lý đặc thù.
Ngoài ra, Bộ luật hình sự Việt Nam đã hình sự hoá nhiều hành vi bạo lực gia đình, quy định thành nhiều tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình. Tuy nhiên, những điều luật đó mới chỉ quy định gián tiếp về hành vi bạo lực gia đình, chưa có nhiều quy định trực tiếp về PCBLGĐ trong đó có PCBLGĐ đối với phụ nữ. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.4.1. Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên tắc của phòng, chống bạo lực gia đình bao gồm:
Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đây là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ bởi nhiều lý do. Xuất phát từ thực tế quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen vào. Vì thế, những vụ việc bạo hành gia đình đối với phụ nữ thường khó phát hiện, khi bị phát hiện cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân là phụ nữ và cả những người biết chuyện, và thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn chặn phù hợp là không dễ. Các quy định pháp luật khó vươn tới từng gia đình, bởi nhận thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế, sự can thiệp thô bạo của pháp luật có thể dẫn tới phá hủy các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải trong vấn đề này là rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: nạn nhân được trang bị kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực thì nhận thức được tính chất, hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người xung quanh biết được trách nhiệm tham gia PCBLGĐ và có ứng xử phù hợp.
Việc tuyên truyền giáo dục nếu kết hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc thì sẽ càng được phát huy tốt hơn nữa, bởi vì người Việt Nam nói chung chịu tác động khá lớn từ những tư tưởng này. Đặc biệt, ở những nơi mà quan niệm “phép vua thua lệ làng”, trình độ dân trí thấp thì việc giáo dục người dân thông qua các phong tục, tập quán mói có thể phát huy hiệu quả tốt nhất. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật. Riêng trong lĩnh vực bạo lực gia đình đối với phụ nữ, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi càng có ý nghĩa quan trọng, nếu không thì có thể trở thành “thói quen”, được chấp nhận với cả nạn nhân, người vi phạm và những người xung quanh. Thực tế cho thấy: nếp sống, nếp nghĩ của người Việt Nam nói chung vẫn cho rằng những hành vi bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ là bình thường, thậm chí đôi khi là cần thiết. Vì thế, những hành vi bạo lực mà luật quy định thường không được nhìn nhận, từ đó khó phát hiện, và càng khó ngăn chặn, xử lý. Do đó, quy định về nguyên tắc này là cần thiết nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi công dân trong lĩnh vực này.
Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
Giúp đỡ các nạn nhân, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ là điều cần thiết và đã được pháp luật ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng, mọi người đều phải tuân theo. Như đã phân tích ở trên, những vấn đề về gia đình, trong đó có bạo lực gia đình thường không nhận được sự quan tâm sâu sắc và đúng đắn của những người xung quanh, bởi vì họ coi đấy là chuyện riêng, chuyện nội bộ của mỗi nhà. Từ đó, việc giúp đỡ nạn nhân trở nên hạn chế, nhất là khi họ còn phải lo sợ sự trả thù của người có hành vi bạo lực. Ngoài ra, việc giúp nạn nhân như thế nào, bằng những phương tiện gì cũng gây cho họ những lúng túng nhất định, do đó pháp luật cho phép họ tùy khả năng, tình hình mà đưa ra những xử sự hợp lý nhất, ưu tiên những đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, người già…
Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình. [Điều 3]
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội, do đó việc PCBLGĐ đối với phụ nữ là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là của nhà nước và những người có liên quan. Bên cạnh đó, công tác PCBLGĐ đối với phụ nữ vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nên rất cần sự quan tâm phối hợp của tất cả các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, hiện nay không có nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này do nhận thức không đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của nó. Việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong PCBLGĐ đối với phụ nữ.
1.4.2. Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.4.2.1. Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân
Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Điều 5, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, bao gồm:
“1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
- Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.”
Nạn nhân trong việc BLGĐ đối với phụ nữ chính là người phụ nữ, những người đã bị chính người thân của mình gây ra những thương tổn nhất định, rất cần nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Khi hành vi BLGĐ với phụ nữ đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối liên hệ với người thực hiện hành vi bạo lực sẽ rất khó có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân. Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền để bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của minh. Việc quy định đây là quyền của nạn nhân, tức là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải thực hiện là hoàn toàn đúng đắn. Bởi vì thực tế cho thấy ở rất nhiều nơi, việc can thiệp bảo vệ phụ nữ trong nạn bạo lực gia đình còn rất e dè vì quan niệm đấy là “chuyện riêng”, là vấn đề tế nhị của các gia đình.
1.4.2.2. Quyền và nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Người có hành vi BLGĐ đối với phụ nữ là người đã gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình. Trong lĩnh vực PCBLGĐ, nghĩa vụ của họ được ghi nhận ở Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:
- Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.
- Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
- Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.”
Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ và bị phát hiện, người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực. Cộng đồng ở đây là chỉ chung những người biết được về hành vi, có thể là thành viên khác trong gia đình, hành xóm, tổ dân phố, người chứng kiến… Sự can thiệp ở đây phải là can thiệp hợp pháp, tức là chỉ được thực hiện những điều pháp luật cho phép (buộc chấm dứt hành vi, cấp cứu nạn nhân…). Mọi sự can thiệp trái pháp luật (sử dụng vũ lực với người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ, tiếp tay cho hành vi bạo lực…) đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tôn trọng sự can thiệp nghĩa là người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ phải lắng nghe, thực hiện theo những yêu cầu chính đáng của cộng đồng, không được có thái độ hung hãn, thù địch, chống đối hay có ý định trả thù sự can thiệp đó. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng là nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư; cấm tiếp xúc; áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn… Việc bị xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt Nam, vì rất nhiều người vẫn nghĩ đó là quyền của họ. Do đó, quy định người có hành vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, đảm bảo hiệu quả của công tác PCBLGĐ đối với phụ nữ.
Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối. Đây tưởng chừng là điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực. Người thực hiện hành vi khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi hành vi là bột phát, họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị. Chính vì vậy, pháp luật cần quy định đây là nghĩa vụ, bắt buộc họ phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi về sức khỏe cho nạn nhân. Trong trường hợp nạn nhân từ chối sự chăm sóc của người đã gây tổn thương cho mình, điều này là hoàn toàn phù hợp về tâm lý, thì người có hành vi bạo lực cũng phải tôn trọng và thực hiện điều đó.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng. Điều này trước hết có lẽ bởi vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không được hưởng sự bảo vệ của pháp luật trong lĩnh vực này.
1.4.3. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.4.3.1. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình
Điều 32, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về trách nhiệm gia đình và các thành viên gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình:
- Giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình.
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình.
- Thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này.
Phải khẳng định rằng gia đình và các thành viên gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng. Bất cứ thành viên nào trong gia đình cũng có thể có hành vi của bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng: mẹ chồng ruồng rẫy nàng dâu, chị dâu em chồng xích mích với nhau..; đồng thời chính họ cũng dễ dàng trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Tuy nhiên, ở đây chúng chỉ đề cập tới họ dưới khía cạnh là người chứng kiến bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Cùng chung sống dưới một mái nhà, họ là người chịu tác động trực tiếp của hành vi, có khả năng phát hiện nhanh chóng cũng như tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, mức độ của hành vi bạo lực; họ cũng là người có khả năng thành công trong việc giáo dục, thuyết phục người có hành vi bạo lực thay đổi hành vi bởi vì hai bên có sự hiểu biết về nhau, có mối quan hệ thân thiết với nhau…
Chính vì vậy, pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải có những trách nhiệm, phải có sự chủ động nhất định trong PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẫn giữa các thành viên, can ngăn người có hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân… Đây là những việc họ hoàn toàn có khả năng thực hiện, nhưng việc có thực hiện không, thực hiện như thế nào thì lại phụ thuộc vào mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh, Nhà nước không quy định đây là nghĩa vụ mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên. Tuy nhiên, nếu có những hành vi bị cấm trong PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng thì họ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Cụ thể: một số hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, được quy định tại Điều 8, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình:
- Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
- Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
- Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.
- Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
- Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật.
- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.
Với tâm lý hiếu thắng, coi trọng sỹ diện vốn rất phổ biến ở Việt Nam, rất nhiều hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng xuất phát từ sự xúi giục, kích động, khích bác… của những người xung quanh. Những hành vi đó có thể chỉ là lời nói đùa vô ý, sự trêu chọc lẫn nhau, thậm chí là những lời khuyên bảo sai lầm; nhưng đó cũng có thể là ác tâm muốn phá hủy hạnh phúc gia đình người khác, muốn trục lợi hoặc thực hiện ý đồ xấu khác. Khi hành vi bạo lực xảy ra, người thực hiện hành vi và những người có liên quan đương nhiên muốn trốn tránh, cản trở việc phát hiện và xử lý; nếu không được thì sẽ có tâm lý muốn trả thù người đã phát hiện, khai báo, giúp đỡ nạn nhân… Trong một số trường hợp, những hành vi này đã nhận được sự dung túng, bao che của những người có thẩm quyền. Kết quả là bạo lực gia đình không ngừng gia tăng và tiếp tục để lại những hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy, những hành vi này cần phải bị nghiêm cấm và phải chịu những chế tài phù hợp.
Những hành vi bị cấm này không chỉ áp dụng với thành viên gia đình mà còn áp dụng cả những các nhân không phải là thành viên gia đình. Bên cạnh đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân là: “1. Thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; 2. Kịp thời ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền” (Điều 31). Những quy định này nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của các những cá nhân trong xã hội trong việc tham PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng cũng như giúp đỡ nạn nhân. Đây đều là những việc không quá khó khăn, chỉ đòi hỏi trách nhiệm với cộng đồng của mỗi công dân nên việc thực hiện như thế nào là hoàn toàn dựa trên ý chí của từng cá nhân. Những nghĩa vụ cụ thể của công dân được quy định trong những điều luật khác của Luật này.
1.4.3.2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã nêu lên trách nhiệm của rất nhiều cơ quan, tổ chức trong việc PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng, trong đó có thể kể tới Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, bao gồm:
- Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
- Kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. (Điều 33)
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, một thành viên của Mặt trận cũng được giao một số trách nhiệm cụ thể:
- Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 33 của Luật này. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. (Điều 34)
Ngoài ra, Luật cũng quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về PCBLGĐ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PCBLGĐ; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về PCBLGĐ; Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về PCBLGĐ tại địa phương. Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được cụ thể hóa tại các quy định của Luật này (từ Điều 36 tới Điều 41).
1.4.4. Các biện pháp cơ bản ngăn chặn hành vi bạo lực và bảo vệ nạn nhân trong việc bạo lực gia đình đối với phụ nữ
1.4.4.1. Buộc chấm dứt hành vi bạo lực và cấp cứu nạn nhân
Đây là một trong những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được quy định tại Điều 19, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với mục đích bảo vệ nạn nhân, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gây ra.
Buộc chấm dứt hành vi bạo lực là hành động hướng tới người có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng, yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ của mình để giải thoát nạn nhân là phụ nữ khỏi tình trạng bạo lực. Đây là nguyên tắc không thể thay đổi để bảo vệ người phụ, bởi vì PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng trước hết phải là ngăn chặn không để cho hành vi bạo lực xảy ra. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này không phải là dễ: người có hành vi bạo lực rất ít khi tự nguyện chấm dứt hành vi vì nghĩ đến lợi ích của người phụ nữ; còn những người có mặt tại nơi xảy ra bạo lực cũng không thường có hành động cụ thể để buộc chấm dứt hành vi bạo lực, bởi vì điều này không đem lại lợi ích gì cho họ mà còn khiến họ đứng trước nguy cơ bị trả thù, bị cho là “xen vào chuyện nhà người khác”, có khi còn bị hiểu lầm là có ý đồ xấu… , chỉ khi những hành động bạo lực quá dã man, gây ra quá nhiều bức xúc thì mới có người can thiệp.
Tương tự, cấp cứu người phụ nữ cũng là việc rất cần thiết khi mà họ đang lâm vào tình trạng sức khỏe nguy kịch do hành vi bạo lực gây nên. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi cũng rất ít khi thực hiện nghĩa vụ này; còn những người xung quanh nếu không phải có quan hệ thân thiết với nạn nhân thì không có lý do gì can thiệp vào “chuyện gia đình” người khác, đưa nạn nhân đi cấp cứu. Dù đó là việc làm tốt thì họ cũng sẽ phải gánh chịu những lời dị nghị của dư luận xã hội, gặp phải sự phản đối của gia đình nạn nhân cũng như gia đình mình, thậm chí có thể chính người thực hiện hành vi bạo lực ngăn chặn, trả thù.
Tuy nhiên, nếu chỉ quy định chung chung như vậy thì việc triển khai trên thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ hơn về vấn đề này. Cụ thể: Điều 20, Nghị định số 110/2021/NĐ-CP ngày 10-12-2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCBLGĐ (sau đây gọi là Nghị định 110) đã quy định mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với với một trong các hành vi sau:
- a) Biết hành vi bạo lực gia đình, có điều kiện ngăn chặn mà không ngăn chặn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng;
- b) Biết hành vi bạo lực gia đình mà không báo tin cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
- c) Có hành vi cản trở người khác phát hiện, khai báo hành vi bạo lực gia đình.
Ngược lại, những người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình sẽ được hưởng các chế độ quy định tại Điều 5, Nghị định số 08/2021/NĐ-CP ngày 04/02/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 08) như sau: Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
- Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà có thành tích thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;
- Người có hành vi dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân khi trực tiếp thực hiện việc ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình, nếu bị chết thì được xem xét để công nhận là liệt sĩ, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được xem xét để được hưởng chính sách như thương binh theo quy định của pháp luật;
- Người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình mà bị thiệt hại về tài sản thì được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra bạo lực gia đình hoàn trả thiệt hại trong trường hợp người gây thiệt hại không có khả năng bồi thường thiệt hại; kinh phí hoàn trả được lấy từ ngân sách của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dành cho thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương.
Như vậy, những quy định này một mặt đã đưa ra những hình thức khen thưởng, kỷ luật phù hợp, có tác dụng động viên, khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của mỗi công dân trong PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng. Tuy nhiên, mức xử phạt với hành vi cố ý không ngăn chặn, báo tin và cản trở việc ngăn chặn, báo tin, xử lý hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng còn thấp, chưa có tính răn đe, giáo dục, nhất là với những trường hợp tái phạm nhiều lần.
1.4.4.2. Cấm tiếp xúc
Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây: Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m, trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân; Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân (Điều 8, Nghị định 08)
Thẩm quyền áp dụng biện pháp này thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng và Toà án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng và người có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Điều kiện để áp dụng biện pháp này bao gồm: Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình; Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của người phụ nữ là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình; Người có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc (Nơi ở này bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân bạo lực gia đình tự nguyện chuyển đến ở).
Người có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng vi phạm quyết định cấm tiếp xúc có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong các trường hợp: Có đơn đề nghị của nạn nhân bạo lực gia đình; Người vi phạm quyết định cấm tiếp xúc đã bị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhắc nhở nhưng vẫn cố tình vi phạm.
Biện pháp cấm tiếp xúc được hủy bỏ trong các trường hợp sau đây: Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình; Biện pháp này không còn cần thiết; Phát hiện những thông tin sai lệch làm căn cứ ra quyết định. Quyết định hủy bỏ biện pháp cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký.
Việc quy định về việc cấm tiếp xúc trong một thời gian giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng có thể coi là quy định mang tính đột phá để đảm bảo sự an toàn cho nạn nhân, nhất là trong trường hợp người có hành vi bạo lực có thái độ ngoan cố, hung bạo, cố tình tiếp tục hành vi, gây ra nhiều hoang mang, bức xúc cho nạn nhân và cả xã hội. Hơn nữa, đây là cơ hội để hai bên có thời gian cân nhắc, xem xét lại hành động của mình và cũng là để giáo dục người có hành vi bạo lực về tội lỗi của họ. Hiện nay, pháp luật quy định về vấn đề này cũng khá đầy đủ và rõ ràng, mang đến nhiều sự thuận lợi cho người áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về vấn đề này chưa thực sự hợp lý như: quy định về việc nạn nhân phải tìm được nơi ở khác là điều kiện để thực hiện việc cấm tiếp xúc; không có cơ chế hỗ trợ nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc; việc cấm tiếp xúc trường hợp phải có yêu cầu hoặc chấp nhận của nạn nhân hoặc người giám hộ. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.4.4.3. Xử lý vi phạm pháp luật về PCBLGĐ đối với phụ nữ
Điều 42, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình như sau:
- Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của khoản 1 Điều này thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.
- Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.”
Như vậy, người có hành vi vi phạm pháp luật về PCBLGĐ nói chung và vi phạm pháp luật về PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau, bao gồm:
1.4.4.3.1. Xử lý kỷ luật
Hình thức xử lý kỷ luật được áp dụng với những người là cán bộ, công chức theo quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2020, đã có hành vi vi phạm Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức; Bãi nhiệm. Các hình thức kỷ luật đối với công chức bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Việc áp dụng các hình thức kỷ luật với cán bộ, công chức tuân thủ theo những quy định của pháp luật. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn việc xử lý kỷ luật với cán bộ, công chức có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng; tuy nhiên các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền có thể căn cứ vào Điều 42, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Điều 78, Điều 79, Luật Cán bộ công chức để đưa ra hình thức kỷ luật hợp lý.
Cán bộ, công chức không chỉ chiếm số lượng lớn mà còn là đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng tới đời sống xã hội. Việc pháp luật quy định về việc kỷ luật cán bộ, công chức có hành vi bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng là cơ sở để thực thi công tác phòng, chống bạo lực gia đình một cách có hiệu quả. Quá trình triển khai công tác Kế hoạch hóa gia đình là một minh chứng rõ ràng cho thấy: trong lĩnh vực liên quan đến gia đình, chế tài xử lý kỷ luật có tác động rất tích cực tới ý thức của cán bộ, công chức, và từ đó có sức lan tỏa ra toàn xã hội.
1.4.4.3.2. Xử lý hành chính
Nghị định của Chính phủ số 87/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là văn bản pháp lý quy định các hình thức xử phạt về mặt hành chính đối với các hành vi bạo lực đối với phụ nữ. Sự ra đời của Nghị định đã thể hiện thái độ kiên quyết của Chính phủ Việt Nam trong việc ngăn chặn bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng. Các quy định về xử phạt hành chính đối với các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, vi phạm chế độ một vợ một chồng, vi phạm quy định về quan hệ giữa cha mẹ và con, vi phạm quy định về cấp dưỡng, đặc biệt quy định xử phạt các hành vi ngược đãi, hành hạ các thành viên trong gia đình đã khảng định quan điểm của Nhà nước không coi bạo lực gia đình là việc riêng của các gia đình.
Những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCBLGĐ đã được ghi nhận tại Nghị định 110. Nghị định này quy định rất chi tiết về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, thẩm quyền, nguyên tắc, hình thức xử phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… Theo đó:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCBLGĐ là hành vi bạo lực gia đình và các hành vi khác do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực PCBLGĐ mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực PCBLGĐ không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan; hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCBLGĐ đối với trẻ em thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Người có hành vi bạo lực gia đình có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả như sau:
“1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, cá nhân, tổ chức vi phạm bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau:
- a) Cảnh cáo;
- b) Phạt tiền.
Mức phạt tiền cụ thể đối với từng hành vi vi phạm được quy định tại Chương II Nghị định này.
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình có thể bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau:
- a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Chứng chỉ hành nghề;
- b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
- Ngoài các hình thức xử phạt được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau:
- a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;
- b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;
- c) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại;
- d) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.
- Người nước ngoài vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình trên lãnh thổ Việt Nam còn có thể bị xử phạt trục xuất. Trục xuất được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính.” (Điều 4)
1.4.4.3.3. Xử lý theo pháp luật dân sự Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Bộ luật dân sự 1995 đã quy định các biện pháp xử phạt dân sự đối với các quyền dân sự của cá nhân trong đó có các quyền được bảo vệ của người phụ nữ. Điều 12 Bộ luật dân sự quy định: khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm, thì chủ thể đó có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ bằng việc buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc bồi thường thiệt hại; phạt vi phạm…
Điều 4, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình là “Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật”(Khoản 4). Điều 42 của Luật này cũng ghi nhận: “Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình… nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Khoản 1). Những quy định này là hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 604, Bộ luật Dân sự:
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Các nguyên tắc bồi thường, xác định thiệt hại… được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trong lĩnh vực PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng, người gây ra thiệt hại phải bồi thường và người được bồi thường lại là những thành viên nữ trong cùng một gia đình với những mối liên hệ chặt chẽ về tình cảm cũng như về kinh tế, nên vấn đề bồi thường trở nên rất nhạy cảm và tế nhị, có thể đe dọa phá vỡ hạnh phúc gia đình bất cứ lúc nào.
- Trường hợp bồi thường thiệt hại phát sinh giữa cha mẹ và con: Điều 606, Bộ luật Dân sự quy định :
Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Điều 40, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012 cũng quy định: “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra”
Như vậy, thiệt hại do người chưa thành niên gây ra thì cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp nếu người con này có hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ, gây thiệt hại cho chính mẹ mình thì xử lý như thế nào? Theo quy định của pháp luật thì người con nếu không có tài sản riêng thì cha mẹ phải dùng tài sản để bồi thường thay cho con. Như vậy, người trực tiếp phải bồi thường và người được bồi thường là một, người có hành vi vi phạm không phải chịu thiệt hại gì.
Một trường hợp bồi thường trong lĩnh vực PCBLGĐ nói chung và PCBLGĐ đối với phụ nữ nói riêng cũng khá phổ biến là bồi thường thiệt hại giữa chồng cho vợ. Có những trường hợp người chồng không có thu nhập, không có tài sản riêng mà lại có hành vi bạo lực gia đình đối với vợ và phải bồi thường cho vợ mình. Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất. Nên khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường thì phải chia khối tài sản chung của vợ chồng, xác định phần tài sản tiền của mỗi người để thực hiện nghĩa vụ. Điều này có thể làm xáo trộn gia đình, ảnh hưởng tới kinh tế cũng như khả năng sản xuất kinh doanh của gia đình. Người được bồi thường lại phải gánh chịu những hậu quả bất lợi từ việc bồi thường gây ra, nên trong nhiều trường hợp họ cũng không muốn nhận, thậm chí còn phải thực hiện nghĩa vụ thay cho vợ, chồng mình để bảo toàn tài sản gia đình. Việc thi hành án trong những trường hợp này cũng rất lòng vòng và lãng phí. Đây là vấn đề vướng mắc cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
1.4.4.3.4. Xử lý theo pháp luật hình sự
Bộ luật hình sự 1995 đã quy định mức phạt hình sự cho các tội danh có liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ. Trong Chương XII của Bộ luật Hình sự, Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người đã quy định tội danh và hình phạt đối với các hành vi bạo lực đối với công dân nói chung trong đó có phụ nữ. Chương này gồm 30 điều, trong đó có 14 điều liên quan đến các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Tiêu biểu là những quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là một trong những văn bản đó. Bộ luật Hình sự là căn cứ để xác định hành vi bạo lực gia đình nào là hành vi phạm tội. Điều 130, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ: “người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”. Ngoài ra, Bộ luật hình sự Việt Nam đã hình sự hoá nhiều hành vi bạo lực gia đình, quy định thành nhiều tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình. Tuy nhiên, những điều luật đó mới chỉ quy định gián tiếp về hành vi bạo lực gia đình, chưa có nhiều quy định trực tiếp về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Hiện nay, Bộ luật Hình sự đã có phần riêng quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Chương XV), trong đó có những tội liên quan tới bạo lực gia đình gồm:
- Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Cưỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc người khác (bên nam, bên nữ hoặc cả hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trở người khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt đứt quan hệ hôn nhân đó.
Hành vi cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác.
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 1999: chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Nghĩa là trước đó người này đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong Điều 146 này, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện chính hành vi đó hoặc một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật này.
Thông thường, chủ thể của tội này là bên nam hoặc bên nữ muốn kết hôn; người có ảnh hưởng nhất định trong gia đình của bên nam hay bên nữ (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị…) người có ảnh hưởng trực tiếp đến bên nam hoặc bên nữ (người vợ cũ, chồng cũ, con sau khi ly hôn, người tình cũ…); người có ảnh hưởng trong công tác (thủ trưởng đối với nhân viên) hoặc về tín ngưỡng, tôn giáo (như: các chức sắc trong tôn giáo đối với tín đồ). Khóa luận: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình với phụ nữ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng phòng chống bạo lực gia đình với phụ nữ