Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Tài sản chung của vợ chồng
2.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung như sau:
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung. Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là sự kế thừa Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về xác định tài sản chung của vợ chồng căn cứ vào thời kỳ hôn nhân (tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân); nguồn gốc tài sản; thoả thuận của vợ chồng và nguyên tắc suy đoán. Trong đó khái niệm “thời kỳ hôn nhân” được định nghĩa tài khoản 13 Điều 3: “thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”. Nghĩa là từ thời điểm việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận (thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật) cho đến ngày chấm dứt hôn nhân (một bên vợ chồng chết hoặc có quyết định của Toàn án tuyên bố vợ, chồng chết, vợ chồng ly hôn) là thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Vậy căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
2.1.1.1. Tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là những tài sản do vợ và chồng cùng trực tiếp lao động, hoặc do một trong hai bên trực tiếp lao động để tạo ra sản phẩm (ví dụ như: xây nhà, trồng cây, chăn nuôi,…). Tài sản do vợ chồng tạo ra cũng có thể là do vợ chồng sử dụng tiền bạc của mình thuê người khác trực tiếp tạp ra tài sản hoặc mua sắm tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản từ người khác sang quyền sở hữu tài sản của vợ chồng (ví dụ như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sử hữu nhà, mua sắm bàn ghế, tivi, tủ lạnh, xe máy, oto,…)
2.1.1.2. Thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Thu nhập là thu được, kiếm được tiền bạc, của cải vạt chất từ một công việc nào đó để chi dùng cho cuộc sống”. Theo đó, thu nhập của vợ chồng do lao động, sản xuất, kinh doanh là tiền bạc, của cải vật chất do vợ chồng lao động, sản xuất, kinh doanh có được. Hay nói cách khác, vợ chồng bằng hành vi lao động, hoạt động sản xuất hoặc hoạt động kinh doanh tạo ra thu nhập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Thu nhập chủ yếu là tiền lương, tiền công lao động của vợ chồng; tiền bạc của cải vật chất thu được khi bán sản phẩm do vợ chồng tạo ra như chăn nuôi, trồng trọt…; lợi nhuận thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại.
Ngoài các thành phần nêu trên trong khối tài sản chung của vợ chồng còn có các khoản thu nhập khác được quy định cụ thể tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP:
- Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của nghị định này.
- Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
- Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Trước đây việc xác định thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/ NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán toàn ánh nhân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau:
Khoản 1 Điều 27 đã quy định đã quy định tài sản chung của vợ chồng và hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng. “Những thu nhập hợp pháp khác” của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là tiền thưởng tiền trợ cấp tiền trúng xổ số mà vợ chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại các Điều 247, 248, 249, 250, 251 và 252 Bộ luật dân sự… trong thời kỳ hôn nhân. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, trên cơ sở kế thừa quy định tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP, khái niệm về thu nhập hợp pháp khác đã được ghi nhận trong Nghị định, có hiệu lực pháp lý cao hơn, đồng thời cũng được mở rộng hơn với quy định “thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”.
2.1.1.3. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân
Nếu chỉ căn cứ vào BLDS thì chủ sở hữu tài sản đương nhiên có quyền sở hữu đối với hoai lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản của mình. Điều này có nghĩa là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên do tính chất đặc biệt và mục đích của quan hệ hôn nhân gia đình là trong kỳ hôn nhân vợ chồng cùng chung sức, đồng lòng tạo dựng tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình, phát triển gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con cái nên Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng( là một phần trong khối tài sản chung của vợ chồng). Điều 175 BLDS năm 2005 định nghĩa về hoa lợi, lợi tức như sau: “Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”.
Dưới góc độ pháp lý mối quan hệ giữa tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức là mối quan hệ giữa vật chính và vật phụ, hoa lợi, lợi tức sinh ra từ tài sản gốc nhưng không làm giảm sút (ở mức có thể nhận thấy được) chất liệu của tài sản gốc. Trong đó:
Hoa lợi là các sản vật tự nhiên do tài sản mang lại. Ví dụ hoa quả từ cây trồng, trứng do gia cầm đẻ…
Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản, thường được tính thành một số tiền nhất định. Ví dụ: khoản tiền có được do thuê nhà, khoản lãi vay có được từ việc cho vay tài sản…
Hoa lợi, lợi tức không phải là sản phẩm. Việc phân biết giữa sản phẩm và hoa lợi, lợi tức được xác định như sau: Một lợi ích vật chất từ tài sản gốc thu được mà không phải tạo ra bằng cách khai thác khả năng sinh lợi của tài sản gốc hoặc chỉ sử dụng chất liệu của tài sản gốc để làm ra một tài sản khác, thì lợi tích vật chất thu được đó là sản phẩm, không phải là hoa lợi, lợi tức. Ví dụ như một mảnh vải được may thành một chiếc áo thì chiếc áo không phải hoa lợi, lợi tức được sinh ra từ mảnh vải mà là sản phẩm được tạo ra từ mảnh vải. Như vậy, sản phẩm là một hình thức tồn tại khác của tài sản gốc là sự thay đổi hình thức tồn tài của tài sản gốc. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.1.1.4. Tài sản vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể được tặng cho chung hoặc thừa kế chung tài sản, khi đó dựa trên quyền định đoạt của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế, vợ chồng đương nhiên có quyền sở hữu chung đối với tài sản đó. Vì vậy, tài sản vợ chồng được tặng cho chung thừa kế chung thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Tuy nhiên cần phân biệt hai trường hợp trong việc xác định tài sản vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ, chồng. Cụ thể là nếu trong hợp đồng tặng cho hoặc trong di chúc người tặng cho tài sản hoặc người để lại di sản thừa kế tuyên bố tặng cho chung hoặc để lại thừa kế chung, không phân biệt ký phần của người vợ và chồng thì tài sản được tặng cho chung hoặc thừa kế chung đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Còn nếu trong hợp đồng tặng cho hoặc trong di chúc, người tặng cho tài sản hoặc người để lại di sản thừa kế tuyên bố tặng cho hoặc để lại thừa kế cho vợ, chồng trong đó xác định rõ kỳ phần nhất định cho mỗi bên vợ, chồng thì phần tài sản đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng.
Đối với trường hợp vợ, chồng cùng hàng thừa kế thì sản được thừa kế là tài sản riêng của vợ, chồng.
2.1.1.5 Quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Khoản 2 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”.
Căn cứ Điều 33, 34 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. Ngoài ra theo khoản 4 Điều 98 Luật đất đai 2013 thì: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thoả thuận ghi tên một người”.
Như vậy, nếu đất đai, nhà cửa… là tài sản chung của vợ chồng thì về nguyên tắc trên sổ đỏ sẽ ghi tên cả vợ và chồng, trừ khi hai bên có thoả thuận ghi tên một người. Trường hợp sổ đỏ đã cấp cho tài sản chung của vợ và chồng mà chỉ ghi một người thì được đổi cấp sang sổ mới để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.
2.1.1.6 Tài sản được suy đoán là tài sản chung
Nguyên tắc suy đoán tài sản chung được quy định lần đầu tiên tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục kế thừa. Các nhà làm luật sử dụng nguyên tắc này để xác định tất cả các tài sản không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của vợ, chồng được coi là tài sản chung của vợ chồng. Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bởi trong rất nhiều trường hợp khi thời kỳ hôn nhân đã tồn tại trong một thời gian dài, vợ chồng thực hiện nhiều giao dịch liên quan đến tài sản, làm cho tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng có thể lẫn lộn nhau, các căn cứ xác định tài sản chung tài sản riêng không thể áp dụng để giải quyết được tranh chấp.
Nội dung của nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng là khi cho tằng tài sản là tài sản riêng của mình vợ, chồng phải có căn cứ chứng minh trong trường hợp không có căn cứ chứng minh thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng. Chính vì là một nguyên tắc suy đoán nên nó không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng mà tạo ra nghĩa vụ chứng minh tài sản riêng cho vợ chồng hoặc người thứ ba trong việc yêu cầu kê biên tài sản riêng của vợ chồng.
Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong thực tiễn, khi mà việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do tính chất phức tạp quan hệ tài sản giữa vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.1.2.1 Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Vợ, chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung mà không phân biết giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.
Theo đó, với tư cách là đồng chủ sở hữu đối với tài sản chung, vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Quy định không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, tức là đối với những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình cũng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân, về tài sản ngang bằng với người lao động có thu nhập.
Khi quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản, khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định: “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Việc bổ sung quy định “không phân biệt giữa lao đọng trong gia đình và lao động có thu nhập” là một điểm mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định này đã thể hiện rõ ràng cụ thể quan điểm của nhà nước ta là bảo vệ những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng giữa vợ và chồng. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thoả thuận.
- Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng trong trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
- Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
- Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Đối với trường hợp vợ, chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được mặc nhiên là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp việc định đoạt tài sản chung phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng.
Như vậy, một bên vợ, chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản chung đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Nếu một bên vợ, chồng định đoạt các tài sản chung nêu trên mà không có thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
- Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định đối với tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác (Điều 34). Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là một thủ tục đăng ký nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng có tài sản chung trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và dùng tài sản để tham gia các quan hệ dân sự thương mại… Điều 167 BLDS năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Trong đó, bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định (khoản 1 Đièu 174 BLDS).
Việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với bất động sản được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người đc giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu”.
Ngoài các bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng pháp luật còn quy định các động sản phải đăng ký như: tàu biển, tàu bay, tàu, thuyền theo quy định tại Bộ luật hàng hải Việt nam năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2014 và Thông tư số 75/2014/TT-BGTVT ngày 19/12/2014 của Bộ Giao thông vận tải về đăng ký phương tiện thuỷ nội địa.
Để đảm bảo quyền lợi của các cặp vợ chồng đã đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định: “Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng”.
Trong trường hợp vợ, chồng không yêu cầu đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng mà vẫn để giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một người thì giao dịch liên quan đến tài sản chung đó được thực hiện theo quy định sau:
Vợ, chồng uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định phải có sự đồng ý của hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có thoả thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thoả thuận này phải lập thành văn bản.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.
Khi có tranh chấp đối với tài sản mà trên giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu, giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng thì người có tên trên giấy chứng nhận đó phải có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình như được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có được từ nguồn tài sản riêng, trường hợp không chứng minh được thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa quy định bắt buộc vợ, chồng phải ghi tên của vợ chồng, và thay vào đó là quy định mở hơn, tôn trọng việc tự do thoả thuận của vợ chồng: “Giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”.
2.1.2.2. Nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản
Tài sản chung của vợ chồng phải được đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết của gia đình. Với mục đích là yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, quan hệ hôn nhân được thành lập, khi đó vợ chồng cùng nhau tạo dựng tài sản chung và khối tài sản chung đó trước hết được sử dụng để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình. Gia đình chỉ tồn tại khi được đáp ứng những nhu cầu thiết yếu. Nhu cầu thiết yếu của gia đình bao gồm nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần như ăn, ở, mặc, chữa bệnh, học hành, vui chơi, giải trí… của các thành viên trong gia đình.
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thoả thuận xác lập. Đối với những giao dịch vợ chồng cùng thoả thuận xác lập, vợ chồng đương nhiên có nghĩa vụ chung đối với giao dịch đó. Giao dịch do vợ chồng cùng thoả thuận xác lập có thể là mua bán, thuê tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hoặc trong thực tế, cuộc sống gia đình luôn tồn tại những khó khăn liên quan đến tài sản. Đối với nhiều gia đình, tài sản không đủ để đáp ứng được hết những nhu cầu của gia đình. Do đó, vợ chồng phải vay mượn tài sản của những người khác. Những khoản nợ này vợ chồng phải cùng nhau thanh toán cho người nợ. Nói chung đối với những giao dịch do vợ chồng cùng nhau xác lập thì khối tài sản chung của vợ chồng phải dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ chung phát sinh từ những giao dịch đó. – Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm. Đối với trường hợp vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nghĩa vụ bồi thường thiệt hại này được đảm bảo bằng khối tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ như khi vợ chồng mua bán hàng hoá, có xảy ra việc hàng hoá bị mất mát, hư hỏng thì vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật và khối tài sản chung của vợ chồng được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này.
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khi thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung của vợ chồng, đôi khi vợ chồng phải thực hiện việc sửa chữa, bảo dưỡng tài sản. Khi đó những nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung phải được đảm bảo bằng khối tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ ngôi nhà gia đình đang ở là tài sản chung của vợ chồng, việc thuê người, mua vật liệu để sửa chữa nhà sẽ dùng tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Những nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình ví dụ như chiếc xe máy là tài sản riêng của chồng được đưa vào sử dụng để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình thì việc sửa chữa, bảo dưỡng xe máy sẽ được đảm bảo bằng khối tài sản chung của vợ chồng.
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của BLDS thì cha mẹ phải bồi thường. BLDS quy định: Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tàu sản để bồi thường thiệt hại do con gây ra được đảm bảo bằng khối tài sản chung của vợ chồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích của hôn nhân là cùng nhau tạo dựng tài sản chung nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình và chăm sóc, nuôi dạy con cái.
2.1.3. Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
Kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; khi một bên vợ, chồng chết khi bị Toàn án tuyên bố là đã chết, khi vợ chồng ly hôn
2.1.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trong thực tiễn, không phải chỉ khi vợ chồng ly hôn hoặc một bên vợ chồng chết trước hoặc bị Toàn án tuyên bố là đã chết, vợ chồng mới thực hiện việc phân chia tài sản mà vì rất nhiều lý do vợ chồng có thể thực hiện việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Lý do vợ chồng chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân có thể là khi vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc nhưng lại không muốn ly hôn mà chỉ muốn ly thân và độc lập về tài chính, họ thực hiện việc phân chia tài sản để tự mình sở hữu tài sản đó, hoặc vợ chồng phân chia tài sản vì lý do kinh doanh, đôi khi vợ chồng không cùng nhau đồng ý đem tài sản chung vào đầu tư kinh doanh, do đó vợ chồng phân chia tài sản để mỗi bên có quyền tự định đoạt tài sản vào đầu tư kinh doanh, hoặc vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nhưng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ, do đó vợ chồng phân chia tài sản chung để người này có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ của mình…
Để giải quyết những vấn đề nêu trên, Luật Hôn nhân và gia đình đã dự liệu các quy định nhằm giải quyết việc phân chia tài sản của vợ chồng thời kỳ hôn nhân như sau: Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Thứ nhất, điều kiện phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Vợ chồng có quyền thoả thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền lợi hợp pháp của con chưa thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ thanh toán khi Toà án tuyên bố phá sản, nghĩa vụ trả nợ cho các nhân tổ chức, nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khách đối với Nhà nước.
Nếu vợ chồng không thoả thuận được việc phân chia tài sản chung thì có thể chuyển sang cho Toà án phân chia tài sản. Nếu trong trường hợp Toà án phân chia tài sản chung của vợ chồng thì sẽ giống như trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Thứ hai, quyền phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân : Vợ chồng có quyền tự mình thoả thuận về việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Trong trường hợp không thể tự mình thoả thuận được thì có thể yêu cầu Toà án giải quyết.
Yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân: có thể yêu cầu Tòa án chia trong các trường hợp sau:
Vợ hoặc chồng đơn phương yêu cầu Tòa án chia tài sản trong thời kì hôn nhân.
Cả hai vợ chồng cùng yêu cầu Tòa án chia tài sản trong thời kì hôn nhân. Chỉ vợ và chồng mới có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, người thứ ba không có quyền yêu cầu.
Ví dụ trong trường hợp sau: anh A cho anh B vay 20 triệu để anh B sử dụng số tiền này vào mục đích riêng của cá nhân anh B. Khi vay, chị C – vợ của anh B có biết về việc vay mượn này. Hết thời hạn vay anh B không trả được nợ cho anh A và anh A đến đòi tiền chị C. Vì anh B không có tài sản riêng nên anh A muốn yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng anh B để anh B thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Anh A không có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng anh B.
Lưu ý:
- Đối với thỏa thuận chia tài sản trong thời kì hôn nhân này cần được lập thành văn bản; có công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật
- Nội dung văn bản: cần ghi rõ tài sản chia cho mỗi bên, phần tài sản còn lại không chia ( nếu có ), thời điểm có hiệu lực của việc chia…
- Lý do chia tài sản:
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, lý do chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân là: khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đều tự kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ di sản riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; nếu không thỏa thuận được có thể yêu cầu tòa án giải quyết.
Đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: đã bác bỏ quy định về lý do chia tài sản, tôn trọng ý chí tự định đoạt của chủ thể.
Thứ ba, thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Căn cứ Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thời điểm có hiệu lực của thoả thuận vợ chồng được xác định như sau: “Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản; Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định; Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.” Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, có thể chia là hai trường hợp để xác định thoả thuận có hiệu lực:
- Trường hợp do vợ chồng thoả thuận:
- Do vợ chồng thoả thuận và được ghi trong văn bản
- Văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì ngày có hiệu lực chính là ngày lập văn bản.
Trường hợp vợ chồng chia tài sản mà theo quy định của pháp luật giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản có hiệu lực từ thời điểm việc thoả thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
Đối với trường hợp vợ chồng yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì thời điểm có hiệu lực cũng là ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Việc quy định cụ thể cách xác định thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa quan trọng không những bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba vì quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực thì vẫn có giá trị pháp lý (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác).
Thứ tư, hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Sau khi thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chế độ tài sản vợ chồng pháp định vẫn tồn tại. Nếu vợ chồng không có thoả thuận nào khác, tài sản đã được chia là tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời hoa lợi, lơi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực cũng là tài sản riêng của vợ chồng. Trương hợp vợ chồng mới chỉ chia một phần tài sản chung thì tài sản chưa chia rẽ vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm mất đi nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba đối với những giao dịch được xác lập trước thời điểm chia tài sản chung có hiệu lực. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Thứ năm, chấm dứt hiệu của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Bên cạnh việc dự liệu quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn dự liệu trường hợp sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực, có nhiều cặp vợ chồng vì lý do nào đó lại muốn chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Điều 41 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có quyền thoả thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Thoả thuận giữa hai vợ chồng về việc chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong trường hợp tài sản được chấm dứt hiệu lực là tài sản mà theo quy định của pháp luật giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chấm đó có hiệu lực từ thời điểm việc thoả thuận tuân thủ hình thức mà giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chấm dứt đó có hiệu lực từ thời điểm việc thoả thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định. Đối với trường hợp vợ chồng yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì thoả thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải dược toà án công nhận.
Đối với quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung thì vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
2.1.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trong xã hội hiện nay, ly hôn là một vấn đề tương đối phổ biến. Ly hôn có thể do vợ chồng thoả thuận hoặc do một bên vợ chồng yêu cầu.
- Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn. Toà án dựa trên những căn cứ pháp lý để xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng vẫn thuộc quyền sở hữu của vợ, chồng. Đối với tài sản chung được phân chia theo quy định của pháp luật. Việc phân chia tài sản chung được thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp chết độ tài sản của vợ chồng pháp định thì việc phân chia tài sản do vợ chồng thoả thuận, nếu vợ, chồng không thoả thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng. Toà án giải quyết việc phân chia tài sản theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, phân chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật dựa trên nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập. duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập
- Bảo vệ lợi ích chính đánh của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng có tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Toà án sẽ xem xét người vợ, chồng nào có lỗi, lỗi nhiều hơn sẽ nhận được tài sản ít hơn. Bởi vì trong thực tế có rẩt nhiều gia đình, một bên vợ, chồng chăm chỉ làm ăn phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con cái trong khi bên kia lại không những không gây dựng phát triển khối tài sản chung của vợ chồng không chăm sóc, nuôi dưỡng con cái mà còn cố tình phá hoại tài sản, cờ bạc gây nợ nần, có hành vi bạo lực gia đình, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của ngời kia hoặc có hành vi ngoại tình, vi phạm chế độ một vợ một chồng… Trong trường hợp này nếu người có lỗi vẫn nhận được phần tài sản ngang bằng với người không có lỗi, lỗi ít hơn là không công bằng.
Quy định về việc tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền nghĩa vụ của vợ chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng ly hôn đánh dấu một bước tiến mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình trước đây. Tại khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng như sau: Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập duy trì phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi là lao động có thu nhập;
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị, bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Theo đó, nguyên tắc chi tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hoàn toàn không có căn cứ vào lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia bằng hiện vật trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị, bên nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì có nghĩa vụ thanh toán cho bên kia phần chênh lệch
Thứ tư, trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn tài sản riêng vào khối tài sản chung khi vợ, chồng yêu cầu chia tài sản thì người đó có tài sản riêng đã sáp nhập, trộn lẫn vào tài sản chung sẽ được thanh toán phần giá trị tài sản đã đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.
Thứ năm, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo vệ, quyền lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Điều này có nghĩa là, khi phân chia tài sản chung của vợ, chồng phải ưu tiên các đối tượng là phụ nữ, con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, vì đây là các đối tượng yếu thế trong xã hội, không thể tự mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà cần được pháp luật bảo vệ.
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
Theo truyền thống văn hoá gia đình Việt Nam, gia đình thường bao gồm nhiều thế hệ chung sống với nhau. Vợ chồng cùng đại gia đình lao động tạo ra khối tài sản chung của gia đình để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình. Do đó, rất khó xác định được tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản của đại gia đình. Trong trường hợp này, khi vợ chồng ly hôn việc phân chia tài ản chung của vợ chồng nếu áp dụng những nguyên tắc trên thì không giải quyết được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định như sau: Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được phần tài sản của vợ chồng, phần tàu sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo những nguyên tắc đã nêu trên. Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình trên cơ sở công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung, vào đời sống chung của gia đình.
Việc chia một phần trong khối tài sản chung, trước hết do vợ chồng thoả thuận với gia đình khi không thoả thuận được thì mới yêu cầu Toà án giải quyết. – Chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Xuất phát từ quan điểm đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá và có những tính chất đặc biệt, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của đất đai. Nhà nước quy định của mỗi lại đất đai trương ứng với một mục đích sử dụng riêng và con người chỉ có quyền sử dụng đất. Do đó, mọi vấn đề liên quan đến đất đai, quyền sử dụng đất đều được điều chỉnh bởi những quy định riền biệt. Quy định về việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng đã được dự liệu thành Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng được thực hiện như sau:
Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi truồng thuỷ sản: Trên cơ sở đảm bảo đất được sử dụng đúng mục đích, khi phân chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất này, trước hết phải căn cứ vào nhu cầu và khả năng của hai bên vợ, chồng. Cụ thể là: Nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện để trực tiếp sử dụng đất thì việc phân chia quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản đó do vợ chồng thoả thuận; trường hợp không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án phân chia theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng đã nêu ở trên. Còn nếu chỉ một bên vợ, chồng có nhu càu và có điều kiện để trực tiếp sử dụng đất thì ben đó được tiếp sử dụng quyền sử dụng đất, đồng thời phải thanh toán cho bên kia phần giá quyền sử dụng đát mà đáng nhẽ họ được hưởng.
Trong trường hợp quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm nuôi trồng thuỷ sản là tài sản chung của vợ, chồng trong khối tài sản chung của cả hộ gia đình, thì phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và cũng được phân chia như quy định nêu trên. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, quyền sử dụng đất đối với những loại đất này được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng đã nêu ở trên. Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình.
Trong việc giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật còn dự liệu một số trường hợp đặc biệt nhằm để vợ chồng sau khi ly hôn có thế ổn định cuộc sống. Đó là quyền lưu cư của vợ, chồng trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng đã được đưa vào sử dụng chung, khi ly hôn nhà ở vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó nhưng nếu người kia có khó khăn về chỗ ở thì quyền lưu cư lại, thời gia lưu cư không quá 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt (trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác) (Điều 63). Ngoài ra trường hợp vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác (Điều 64)
2.1.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết
Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết, quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết hoặc kể từ ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Toà án trong trường hợp vợ, chồng bị Toà án tuyên bố là đã chết. Việc giải quyết tài sản trong trường hợp một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết trong trường hợp một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo quy định tại Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể như sau: Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Về việc xác định người quản lý tài sản, trong trường hợp một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì bên vợ, chồng còn sống sẽ quản lỳ tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng đã chết để lại di chúc trong trong đó chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thoả thuận cử người khác quản lý di sản.
Về quyền yêu cầu, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của một bên vợ, chồng còn sống hoặc theo yêu cầu của những người thừa kế tài sản của người vợ, chồng đã chết. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết được chia thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về quy định hạn chế phân chia di sản, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng có quyền yêu cầu Toà án hạn chế phân chia di sản theo quy định của BLDS. ĐIều 686 BLDS năm 2005 quy định: Nếu việc chia di sản của người vợ, chồng đã chết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ, chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Toà án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng tạm ngừng phân chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn tạm ngừng phân chia di sản không được quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế, khi hết thời hạn này hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.
Khoản 4 ĐIều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại khoản 1,2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác”.
Luật cũng dự liệu trường hợp người vợ, chồng bị Toà án tuyên bố là đã chết lại trở về, theo đó quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết theo Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; nếu hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Toàn án huỷ bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực. Đối với những tài sản do vợ, chồng có được trong khoảng thời gian từ khi quyết định của Toà án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định huỷ bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. Nếu hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Toà án về việc tuyên bố vợ, chồng đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. Nếu hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Toà án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như trường hợp phân chia tài sản khi ly hôn.
Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng việc phân chia tài sản chung khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết được thực hiện theo nguyên tắc chia đôi mỗi người một nửa mà không tính đến hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để vác bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập, cũng như không tính đến lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Nguyên tắc này trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc chi tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2.2. Tài sản riêng của vợ, chồng Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
2.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng bắt đầu được ghi nhận từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Tuy nhiên, quy định về tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn có những điểm hạn chế, bất cập, vướng mắt trong quá trình áp dụng. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sử đổi, bổ sung nhiều quy định về tài sản riêng của vợ, chồng để khắc phục những khó khăn, vướng mắt trong việc áp dụng các Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sử đổi, bổ sung nhiều quy định về tài sản riêng của vợ, chồng để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các Luật Hôn nhân và gia đình trước đó.Việc căn xác lập tài sản riêng của vợ chồng được quy định rõ tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ, chồng trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này[11]
Qua quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ta có thể thấy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về việc tài sản riêng của vợ chồng nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắt từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để lại qua đó phần nào giúp ta hiểu rõ hơn về việc căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng.
2.2.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có từ trước khi kết hôn:
Việc ghi nhận vợ, chồng có tài sản riêng đã bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng về tài sản. Nguồn gốc tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà mỗi bên đã có từ trước khi kết hôn. Những tài sản này thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên và được pháp luật thừa nhận, bảo hộ; Những tài sản này không phải do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động bởi tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình. Tài sản có trước khi kết hôn bao gồm: tiền tiết kiệm nhân hàng, vàng, xe cộ, bất động sản,… Nếu không có thoả thuận nhập vào tài sản chung của hai vợ, chồng thì những tài sản đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Vì thế, không cần làm bất cứ thủ tục nào để xác nhận đó là tài sản riêng của mình.
2.2.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân: Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Xét về nguồn gốc tài sản, tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên thuộc quyền sở hữu của vợ, hồng hay nói cách khác là tài sản riêng của vợ, chồng. Việc ghi nhận tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho tiêng. Luật Hôn nhân và gia đình đã thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản, ý chí của chủ sở hữu tài sản với việc tặng cho hoặc để lại di sản của mình cho riêng vợ hoặc chồng.
Nếu trong trường hợp hợp đồng tặng cho hoặc trong di chúc, người tặng cho tài sản hoặc người để lại di sản thừa kế tuyên bố tặng cho hoặc để lại thừa kế cho vợ, chồng trong đó xác định rõ kỳ phần nhất định cho mỗi bên vợ, chồng thì phần tài sản đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng.
Khi vợ, chồng cùng hàng thừa kế theo pháp luật nếu được phân chia di sản mỗi người một phần bằng nhau thì tài sản đó vẫn là tài sản riêng của vợ chồng, trừ khi vợ chồng thoả thuận nhập tài sản đó vào tài sản chung của vợ chồng.
2.2.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân:
Đồ dùng tư trang các nhân có thể hiểu là những tài sản dùng để phục vụ nhu cầu tối thiểu của mỗi người nhưng không lớn đối với tài sản chung. Ví dụ như quần áo là vật tiêu dùng, không thể được coi là hình thức tích luỹ của của cải.
Quần áo được mua sắm bằng một phần thu nhập do lao động là một phần tài sản chung. Tuy nhiên quần áo không bao giờ được xem là tài sản chung của vợ và chồng cả những bộ quần áo mang giá trị lớn. Thực tiễn vẫn thừa thừa nhận rằng quần áo đó là của riêng người sử dụng, đây như là những món nợ của khối tài sản riêng đối với khối tài sản chung. Nếu tài sản là một món trang sức có giá trị lớn mà việc mua sắm đòi hỏi khối lượng tiền lớn so với thu nhập thường xuyên của gia đình. Trường hợp này được ghi nhận như một hình thức tích luỹ của cải trong thời kỳ hôn nhân và do đó là tài sản chung của vợ chồng.
Việc pháp luật quy định những đồ dùng, tư trang cá nhân là tài sản riêng của vợ, chồng là cần thiết và phù hợp với thực tế cuộc sống. Đây là một trong những điểm mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định này đảm bảo được quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ chồng. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Khắc phục những hạn chế của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bỏ khái niệm đồ dùng, tư trang các nhân và thay thế bằng khái niệm tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng. Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng được xác định căn cứ đặc điểm và công dụng của tài sản. Việc quy định những tài sản này là tài sản riêng của vợ, chồng nhằm mục đích bảo đảm nhu cầu thiết yếu của mỗi người để duy trì cuộc sống.
Như vậy quy định tài sản riêng của vợ chồng bao gồm tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng là một trong những điểm mới quan trọng trong chế độ tài sản vợ chồng nói chung và quy định về tài sản của vợ, chồng nói riêng, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết những tranh chấp về quan hệ tài sản giữa và chồng mà Luật Hôn nhân và gia đình chưa giải quyết được.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
2.2.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Với tư cách là chủ sở hữu, vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Luận văn chỉ rõ trường hợp vợ, chồng nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung bị coi là vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đối với tài sản riêng, vợ chồng có quyền:
Quyền chiếm hữu: Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng. Trong trường họp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.
Quyền sử dụng: Vợ, chồng có quyền sử dụng tài sản của mình để đáp ứng các nhu cầu cá nhân hoặc thỏa thuận cùng sử dụng tài sản riêng của mỗi bên nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình. Vì lợi ích chung của gia đình, pháp luật quy định trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để phục vụ nhu cầu chung của gia đình. Những tài sản đã chi dùng cho gia đình thì người có tài sản không được quyền đòi lại. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Quyền định đoạt: về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền tự mình định đoạt tài sản riêng mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia. Tuy nhiên, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ hoặc chồng có thể bị hạn chế trong trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì muốn định đoạt tài sản đó phải có sự thoả thuận của cả vợ và chồng.
Ngoài ra vợ chồng còn có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung. Trước đây Luật Hôn nhân và gia đình 2000 không có điều luật riêng quy định về nhập tài sản chung. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung được thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐCP ngày 3/10/2001 của Chình phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình:
- Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dung đát và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ ký cả vợ và chồng. Văn bản đó có thể được công chững hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
- Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ riêng của bên đó về tài sản thì vô hiệu tại Điều 11 của Nghị định này.
Nhưng trong thực thế có rất nhiều gia đình, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không được lập thành văn bản kể cả những tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn. Khi gia đình hoà thuận, êm ấm vợ chồng chồng mặc nhiên coi tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung vì nhu cầu sống chung của gia đình mà không có bất cứ thoả thuận về việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung hoặc có trường hợp người có tài sản riêng tuyên bố bằng miệng là nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung. Nhưng khi vợ chồng nảy sinh mât thuẫn, tranh chấp tài sản phát sinh, người có tài sản riêng lại khẳng định rằng mình chưa nhập tài sản riêng đó vào tài sản chung. Hoặc trường hợp tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung, trong quá trình sử dụng chung, trong quá trình sử dụng bị huỷ hoạ, tiêu tán, được bán đi để phục vụ nhu cầu của gia đình… khi xảy ra tranh chấp người có tài sản riêng đó đòi bồi thường. Nếu căn cứ vào Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP để giải quyết thì chỉ trường hợp thoả thuận được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng thì mới được công nhận, nếu trường hợp dù tài sản đã được đưa vào sử dụng lâu năm nhưng chưa thoả thuận bằng văn bản thì vẫn là tài sản riêng. Điều này vô tình tạo ra sự không công bằng, không hợp lý. Hơn nữa, việc xác định “tài sản có giá trị lớn” để áp dụng khoản 1 Đièu 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP cũng tạo ra không ít khó khăn bất cập phải hiểu như nào là tài sản có giá trị lớn, dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động xét xử. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung tại một điều riêng biệt. Cụ thể, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thoả thuận của vợ chồng, về hình thức thoả thuận chỉ trong trường hợp tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật phải tuân theo hình thức nhất định thì thoả thuận phải đảm bảo hình thức đó.
Như vậy. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc thoả thuận nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung không bắt buộc phải theo một hình thức nhất định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tuân theo hình thức nào đó ví dụ như quy định thoả thuận phải bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép. Điều này có nghĩa là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận thoả thuận bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của vợ chồng. Chúng tôi cho rằng quy định này là hoàn toàn hợp lý, mở rộng quyền tự do thoả thuận của vợ chồng, bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng trong quan hệ tài sản, tạo sự linh hoạt trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong thực tế.
Khi quy định về quyền nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung, pháp luật cũng dự liệu trường hợp giải quyết nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Cụ thể là đối với những nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung thì được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2.2.2.2. Nghĩa vụ riêng của vợ, chồng về tài sản
Bên cạnh việc ghi nhận quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản riêng, pháp luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản riêng của vợ, chồng được dùng để đảm bảo nghĩa vụ riêng về tài sản của người đó. Điều này có nghĩa là đối với những nghĩa vụ riêng về tài sản thì vợ, chồng phải dùng tài sản riêng của mình để chi trả.
Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng như sau:
Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sử tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ chồng. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng trước khi kết hôn là những nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng được xác lập trước thời điểm vợ chồng đăng ký kết hôn. Nghĩa vụ này có thể là những khoả nợ mà vợ, chồng đã vay trước khi kết hôn; nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của vợ chồng trước khi kết hôn; nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự mà vợ chồng đã xác lập trước khi kết hôn… Nói chung tất cả những nghĩa vụ của vợ, chồng được xác lập trước thời điểm vợ chồng đăng ký kết hôn đều là nghĩa vụ riêng của vợ chồng và phải được đảm bảo rằng tài sản riêng của vợ, chồng.
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng là trường hợp vợ, chồng thực hiện quyền chiểm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình có phát sinh nghĩa vụ thì nghĩa vụ này là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Ví dụ: Vợ, chồng thuê người quản lý tài sản cho mình có nghĩa vụ trả tiền thuê, thuê người sửa, tôn tạo lại là nhà là tài sản riêng, trao đổi tài sản phải bù thêm tiền… Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như đã nêu trên là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình. Đó là những nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên thực hiện vì mục đích riêng như vay tiền để đầu tư kinh doanh riêng, mua sắm tài sản mà không phải phục vụ nhu cầu của gia đình…
Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng là trường hợp vợ, chồng có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho xã hội cho người khác phải bồi thường hành vi vi phạm pháp luật bị xử lí hành chính bằng hình thức phạt tiền, buộc khôi phục tình trạng ban đầu… Ví dụ như vợ, chồng có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác hoặc có hành vi phá hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường thiệt hại, khi đó nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.
Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 2000 thì Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đầy đủ, cụ thể hơn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định nghĩa vụ về tài sản riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó nhưng không xác định cụ thể nghĩa vụ nào là nghĩa vụ riêng của vợ, chồng. Điều này gây ra khó khăn và vướng mắt trong quá trình áp dụng pháp luật, không đảm bảo việc hiểu và áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Để khắc phục thiếu sót của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã liệt kê cụ thể các nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng tại điều luật riêng (Điều 45). Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bỏ quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được cử dụng vào các nhu cầu thiếu yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” tại khoản 4 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì việc sử dụng cụm từ “cũng được” dẫn đến những cách hiểu khác nhau: Tài sản riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng vì các nhu cầu thiết yếu của gia đình là quyền hoặc nghĩa vụ của vợ chồng.
Tuy nhiên khi liêt kê những nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình lại không quy định về nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng ví dụ như các khoản chi phí (nuôi dưỡng, giáo dục) đối với con riêng, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 57: “Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng chung sống với mình”; hoặc khoản chi phí phát sinh từ việc của người vợ, chồng làm người giám hộ cho người khác… Theo em đây là một thiếu sót của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sự thiếu này nếu như không được khắc phục sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào đời sống. Do đó, thiết nghĩ cần bổ sung nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của vợ, chồng trong quy định về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Khóa luận: Pháp luật chế độ tài sản vợ chồng theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
