Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Quan điểm và định hướng của chính phủ cho việc hình thành Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
1.1. Quan điểm đường lối của Đảng về phát triển mô hình Tập đoàn kinh tế từ các tổng Công ty
Việc thành lập Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam cũng xuất phát từ cơ chế vận hành kém hiệu quả của các tổng Công ty nhà nước và bản thân nó không còn phù hợp với cơ chế thị trường (bởi những yếu kém cần phải được thay đổi như các tổng Công ty này phụ thuộc quá nhiều vào các quyết định hành chính, không rõ ràng trong quan hệ sở hữu, yếu kém trong điều hành doanh nghiệp giữa tổng Công ty và các đơn vị thành viên…). Tập đoàn kinh tế chính là sự thay thế cần thiết để cải thiện những yếu kém của các tổng Công ty nhà nước, thể hiện việc thực hiện chính sách kinh tế – xã hội và là sự biến đổi cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh cho phù hợp với tiến bộ công nghệ.
Trong giai đoạn hiện nay, giải pháp đưa một số tổng Công ty lên thành Tập đoàn kinh tế là có tính khả thi cao, bởi những lý do sau:
- Khu vực kinh tế tư nhân tuy đã phát triển nhưng nhìn chung khu vực này vẫn còn rời rạc, chưa đầu tư vào những ngành kinh tế mũi nhọn do chưa có tiềm lực mạnh. Ngoài ra, khả năng liên kết trong kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực này còn rất thấp. Nếu để cho quy luật của kinh tế thị trường quyết định việc hình thành các Tập đoàn kinh tế thì sẽ rất chậm. Hiện nay, khu vực tư nhân đã có một số Tập đoàn như Hòa Phát, Tân Hoàng Minh… nhưng các Tập đoàn này mới chỉ manh mún chưa đủ để trở thành Tập đoàn kinh tế một cách đúng nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường. Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
- Hiện nay, có không ít các tổng Công ty nhà nước có những tích tụ đáng kể về lượng vốn, số lượng lao động có chuyên môn và tay nghề tốt, công nghệ – kỹ thuật, và một số tổng Công ty có mức độ chuyên môn hóa nhất định… đủ để trở thành một Tập đoàn kinh tế với khá nhiều các đơn vị thành viên hoạt động có hiệu quả.
Hội nghị lần thứ 9 khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: Tổng kết thí điểm việc chuyển các tổng Công ty nhà nước sang một số Tập đoàn kinh tế mạnh do tổng Công ty nhà nước làm nòng cốt, có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong nước và đầu tư của nước ngoài.Hội nghị đã chỉ ra để hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, cần phải quán triệt một số quan điểm chủ yếu sau:
- Việc hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở nước ta phải gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân.
- Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế cần xuất phát từ nhu cầu nội tại của bản thân các doanh nghiệp bằng con đường kinh tế và theo nguyên tắc tự nguyện.
- Vấn đề quản lý vốn cũng cần phải có thay đổi, bằng hình thức Tập đoàn vốn của doanh nghiệp sẽ chuyển thành hình thức đa sở hữu nhằm đan xen sở hữu, phân tán rủi ro trong đầu tư, nâng cao trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Như vậy hình thức này mang lại nhiều lợi thế trong quản lý vốn, từ đó nó đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.
- Hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế phải tuân theo mục tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, phát huy được những ưu điểm và khắc phục mặt hạn chế của các tổng Công ty nhà nước.
- Hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế phải được tiến hành dần từng bước có chọn lọc, không ồ ạt và phù hợp với tiến trình đổi mới chung của nền kinh tế. Phương hướng chung là xây dựng các tổng Công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những Tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như Dầu khí, Điện, Than, Hàng không, Đường sắt, Viễn thông, Hoá chất, Luyện kim…
- Các tổng Công ty Nhà nước khi đã trở thành Tập đoàn kinh tế cần được hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, xác định chiến lược, quy hoạch phát triển cũng như các biện pháp thực hiện nhằm đạt được kế hoạch đề ra phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn.
Với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay, để sớm hình thành các Tập đoàn kinh tế, cần lấy tổng Công ty nhà nước làm nòng cốt, trên cơ sở đó thu hút rộng rãi thêm sự tham gia của các thành phần kinh tế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, mở rộng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh trên cơ sở ngành chuyên môn chính của tổng Công ty. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, các tổng Công ty đi lên Tập đoàn là do định hướng của Nhà nước chứ chưa thực sự tuân theo quy luật hình thành Tập đoàn kinh tế của nền kinh tế thị trường. Do đó, sắp tới phải hình thành Tập đoàn kinh tế từ khu vực tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi để các Tập đoàn kinh tế phát triển từ khu vực kinh tế tư nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.2. Một số định hướng cụ thể để phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
1.2.1. Định hướng về phương thức hình thành Tập đoàn kinh tế
Sự hình thành các Tập đoàn kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở các tổng Công ty hiện nay, đặc biệt là các Công ty 91 hoạt động trong những kĩnh vực có lợi thế so sánh trong nền kinh tế quốc dân. Nguyên nhân của định hướng này là do Tập đoàn kinh tế phải có qui mô lớn trong khi hiện nay các tổng Công ty 91 ở Việt Nam đã có qui mô khá lớn (so với các doanh nghiệp khác trong nước). Trong bản thân mỗi Công ty 91 đã hình thành một hệ thống các đơn vị thành viên, nằm rộng khắc cả nước, có mối quan hệ mật thiết với nhau về dây chuyền công nghệ, qui trình sản xuất như tổng Công ty bưu chính viễn thông, điện lực… Đồng thời, nhiều tổng Công ty còn có mối quan hệ đối tác kinh tế với các hãng trong và ngoài nước.
Mặt khác, theo sự chỉ đạo của nhà nước, trong quá trình cải cách, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, trong tổng Công ty đã có nhiều doanh nghiệp thành viên hoặc bộ phận doanh nghiệp thành viên đã thực hiện cổ phần hóa, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp. Đây chính là điều kiện để cho các tổng Công ty có thêm điều kiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế mới theo kiểu Công ty mẹ – Công ty con (Parent company and subsidiaries)
Trong phương hướng phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường Việt Nam là một điều tất yếu diễn ra, không thể tránh khỏi. Vì vậy yêu cầu cần phải có một số Tập đoàn kinh tế đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh với Tập đoàn kinh tế nước ngoài trên thị trường Việt Nam cũng như thị trường quốc tế là điều kiện hết sức cần thiết nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, giữ vững độc lập chủ quyền. Việc nhanh chóng hình thành một số Tập đoàn kinh tế từ tổng Công ty hiện có là điều cần thiết, phù hợp nhất
1.2.2. Định hướng về cơ cấu tổ chức Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
Tập đoàn kinh tế
Về nguyên tắc không có một mô hình thống nhất chung, áp dụng cho tất cả các Tập đoàn. Tùy theo lĩnh vực ngành nghề hoạt động và đặc thù riêng của từng tổng Công ty, tổng Công ty sẽ được tổ chức lại về cơ cấu nội bộ, mối quan hệ liên kết giữa các đơn vị thành viên, cơ cấu ngành nghề của các đơn vị thành viên để hình thành mô hình tổ chức và cơ chế quản lý cho phù hợp. Tuy nhiên định hướng tổ chức lại các tổng Công ty ở Việt Nam hiện nay theo mô hình Tập đoàn kinh tế sẽ dựa trên mô hình Công ty mẹ – Công ty con . Trong cơ cấu Tập đoàn,Công ty mẹ sẽ đầu tư theo nhiều hình thức, nhiều mức độ vào các Công ty con
Công ty mẹ trước mắt là Công ty nhà nước, hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư và nắm giữ 100% vốn. Trong quá trình phát triển, Công ty mẹ cũng có thể chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo dạng Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn…
Tập đoàn sẽ không có bộ máy quản lý điều hành riêng mà sẽ sử dụng bộ máy của Công ty mẹ. Công ty mẹ có thể là đại diện cho Tập đoàn. Bộ máy lãnh đạo, quản lý của Công ty mẹ cũng chính là bộ máy lãnh đạo của Tập đoàn. Công ty mẹ có thể vừa tổ chứcquản lý kinh doanh vốn đầu tư vào các Công ty con, các Công ty ngoài Tập đoàn thông qua Công ty đầu tư tài chính ,vừa trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong khâu có vị trí chủ chốt trong lĩnh vực ngành nghề hoặc Công ty mẹ có thể chỉ đơn thuần là Công ty đầu tư và kinh doanh vốn thuần túy
Công ty mẹ có thể nắm giữu cổ phần theo tỷ lệ khác nhau đối với mỗi Công ty. Tuy nhiên, đối với những Công ty con có vị trí quan trọng, giữ vị trí chiến lược trong hoạt động của Tập đoàn( có thể là vị trí về mặt kinh tế,dây chuyền công nghệ…), Công ty mẹ sẽ nắm cổ phần chi phối trên 50%, thậm chí là 100% theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trong quan hệ, Công ty mẹ thường chi phối Công ty con thông qua vốn đầu tư, khống chế Công ty con trong chiến lược phát triển, định hướng sản xuất kinh doanh, thị trường, công nghệ…Đồng thời, Công ty mẹ thường hỗ trợ Công ty con thông qua thương hiệu, cung cấp thông tin, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo định hướng chung của Tập đoàn
Đối với doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn với vai trò là Công ty con, các Công ty này quan hệ với nhau chủ yếu thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc có thể là các thỏa thuận, cam kết
Để đảm bảo cho sự phát triển theo mục tiêu chung, đảm bảo thống nhất về lợi ích của Tập đoàn, cần có văn bản mang tính thỏa ước, cam kết chung giữa các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn về các lĩnh vực hoạt động. Thỏa ước này cần phải thể hiện được một số nội dung về mục tiêu chung của Tập đoàn:
- Các phương thức, lĩnh vực hợp tác liên doanh giữa các thành viên trong Tập đoàn ngoài những vấn đề thuộc thẩm quyền điều phối của Công ty mẹ
- Qui định về vấn đề tài chính chung của Tập đoàn
- Các vấn đề về sử dụng tên gọi, thương hiệu
- Điều kiện, trình tự tham gia hoặc rút khỏi Tập đoàn
- Vấn đề sửa đổi điều lệ…
2. Những điều kiện cơ bản hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
Về trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất kinh doanh:
Đa số các Tập đoàn kinh tế thế giới đều có quy mô lớn về vốn, doanh thu, lao động, máy móc thiết bị, số các doanh nghiệp thành viên. So với các Tập đoàn kinh tế trên thế giới và khu vực, các tổng Công ty của ta chưa thực sự là Tập đoàn kinh tế xét theo tiêu chí quy mô (trước hết là về vốn). Tính đến tháng 6/2003, 17 tổng Công ty 91 có tổng số vốn nhà nước là 95.000 tỷ đồng, bình quân vốn nhà nước ở mỗi tổng Công ty là 5.588 tỷ đồng (tương đương triệu USD). Trong số 17 tổng Công ty 91, có tới 14 tổng Công ty có số vốn dưới 1.000 tỷ đồng. Do mỗi nước có trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất và có những mục tiêu, yêu cầu cụ thể riêng, nên sự so sánh đơn giản ấy sẽ có thể dẫn tới nghi ngờ hoặc phủ định khả năng hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp này. Trong điều kiện nước ta hiện nay, để Tập đoàn kinh tế hình thành và hoạt động có hiệu quả, phát huy được thế mạnh, cần có mức vốn thấp nhất là 12.000 tỷ đồng (tương đương 750 triệu USD).
Về mối quan hệ liên kết:
Về thực chất, Tập đoàn kinh tế là Công ty cổ phần với mối liên kết kiểu Công ty mẹ – Công ty con. Hiện nay, mô hình này là hình thức liên kết phổ biến của Tập đoàn kinh tế ở các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng phù hợp với yêu cầu, mục đích xây dựng Tập đoàn kinh tế ở nước ta.
Về môi trường kinh doanh:
Bất cứ một loại hình tổ chức nào muốn ra đời, tồn tại và phát triển đều đòi hỏi phải có môi trường thích hợp. Môi trường kinh doanh vừa tác động tích cực, vừa tác động tiêu cực đến Tập đoàn. Vì lẽ đó, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của Tập đoàn là đòi hỏi bức xúc và quan trọng. Đó chính là điều kiện sống còn để hình thành và phát triển Tập đoàn. Môi trường để Tập đoàn kinh tế hình thành và hoạt động có hiệu quả bao gồm:
Môi trường pháp lý: Gồm hệ thống pháp lý và các văn bản pháp quy, trong đó đặc biệt quan trọng là các luật về kinh doanh, chống độc quyền và các quy chế khung về tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức kinh doanh. Chúng ta cần phải có hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh tự do liên kết kinh tế để hình thành lợi nhuận bình quân, và có chính sách phân phối lợi nhuận theo vốn đầu tư. Hệ thống pháp luật có liên quan đến Tập đoàn kinh tế phải có tác dụng tạo điều kiện cần thiết, khuyến khích Tập đoàn kinh tế phát triển, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế và xử lý các mặt tiêu cực phát sinh trong hoạt động của Tập đoàn kinh tế.
Môi trường kinh tế: Bao gồm sự phát triển của thị trường và các quan hệ kinh tế trên thị trường, sự phát triển của các quan hệ cạnh tranh và liên kết kinh tế giữa các chủ thể, sự khẳng định các quan hệ sở hữu tồn tại hợp pháp, sự phát triển của các quan hệ phân công, hiệp tác…
Về trình độ cán bộ quản lý:
Tập đoàn kinh tế có quy mô lớn và độ phức tạp cao trong tổ chức quản lý, nên đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành thực sự có năng lực, trình độ cao, phong cách lãnh đạo và phẩm chất đạo đức tốt, để quản lý điều hành bộ máy của Tập đoàn hoạt động có hiệu quả. Nhà nước không thể trao một lượng vốn lớn hàng ngàn tỷ đồng vào tay nhà quản lý, kinh doanh chưa đủ tầm, chưa đủ tài và kinh nghiệm để tổ chức quản lý quy mô Tập đoàn kinh tế. Mặt khác, doanh nghiệp tư nhân không thể mạo hiểm đem doanh nghiệp và vốn của mình gia nhập, Tập đoàn kinh tế nhà nước khi đội ngũ cán bộ còn yếu kém. Cho nên, một trong những điều kiện cơ bản để hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế là phải có đội ngũ chủ doanh nghiệp, cũng như đội ngũ các nhà quản lý điều hành có tài, giàu kinh nghiệm quản lý và quản trị kinh doanh trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường để ngang tầm với quy mô Tập đoàn kinh tế.
3. Nguyên tắc hành lập Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
Hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế nhà nước phải gắn liền với thực hiện những định hướng chung của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế. Do đó, doanh nghiệp nhà nước phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã xác định rất rõ quan điểm về vấn đề này: duy trì một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trong những lĩnh vực độc quyền nhà nước, một bộ phận cần thiết khác, có qui mô nhỏ để kinh doanh những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải được điều chỉnh để có cơ cấu hợp lý, qui mô vừa và lớn, chuyển sang hoạt động theo chế độ Công ty, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta còn nhỏ bé, doanh nghiệp nhà nước hiện chiếm tỷ trọng áp đảo, có mặt ở hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; các tổng Công ty 91 – mô hình thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế đã có bước phát triển nhất định, lại tập trung ở những ngành, lĩnh vực ta có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả. Do đó, trong giai đoạn hiện nay, để việc hình thành các Tập đoàn kinh tế có hiệu quả và có tính khả thi, thì cần phải dựa trên cơ sở sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung, trong đó lấy một số tổng Công ty 91 làm nòng cốt để hình thành Tập đoàn kinh tế.
Xuất phát từ quan điểm đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ định hướng hình thành một số Tập đoàn kinh tế trong giai đoạn hiện nay như sau: Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
Về phương thức hình thành: hình thành Tập đoàn trên cơ sở các tổng Công ty nhà nước, có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong nước và đầu tư của nước ngoài, kinh doanh đa ngành, trong có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có qui mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh.
Về lựa chọn ngành, lĩnh vực để hình thành Tập đoàn kinh tế: đó là những lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng,….
Hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế phải gắn liền và đáp ứng có hiệu quả yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Là sản phẩm của sự phát triển nền kinh tế thị trường, các Tập đoàn kinh tế có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của đất nước và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Việc hình thành các Tập đoàn kinh tế sẽ tạo ra các ―đầu kéo‖ quan trọng và là lực lượng nòng cốt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Mặt khác, việc hình thành một số Tập đoàn kinh tế trong những ngành, lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả sẽ phát huy cao nhất lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, hình thành các Tập đoàn kinh tế được coi là giải pháp mang tính chiến lược để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh và bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả nhất.
Tập đoàn kinh tế phải đa dạng về sở hữu và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong Tập đoàn. Xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, thu hút được tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế, việc hình thành các Tập đoàn kinh tế có đa sở hữu là phù hợp; đồng thời, đây cũng là biện pháp nhằm san sẻ rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh với cơ chế thị trường; đáp ứng yêu cầu của mối liên kết kinh tế đa dạng và sự biến đổi nhanh nhạy của thị trường dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và giao lưu kinh tế quốc tế.Tuy nhiên, trong Tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ và các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước) vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tập đoàn kinh doanh đa ngành nhưng vẫn phải có ngành chuyên môn chính, chuyên sâu. Đa dạng hóa về ngành nghề kinh doanh trên cơ sở chuyên môn hóa theo một hoặc một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định. Tập đoàn kinh tế thường có qui mô lớn, cơ cấu ngành nghề phức tạp, tuy nhiên có một hoặc một số ngành được chuyên môn hóa cao. Việc đa dạng hóa kinh doanh có thể thực hiện thông qua một trong 3 hình thức liên kết sau:
Liên kết theo chiều dọc: gồm các doanh nghiệp thành viên sản xuất kinh doanh trong các công đoạn từ đầu vào (khâu nguyên liệu) đến những doanh nghiệp chế biến và các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ.
Liên kết theo chiều ngang: gồm các doanh nghiệp cùng ngành nghề, có liên quan với nhau về kỹ thuật, công nghệ (như dệt, may, cơ khí chế tạo, xây dựng,…).
Liên kết hỗn hợp: gồm cả hai hình thức liên kết trên hoặc là những doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề hầu như không liên quan gì đến nhau về kỹ thuật, công nghệ nhưng có tác dụng sử dụng hiệu quả vốn, đất đai, nhà xưởng, lao động dôi dư của nhau.
Thực hiện nguyên tắc tự nguyện khi hình thành Tập đoàn kinh tế. Vừa qua, khi thành lập các tổng Công ty 91, nguyên tắc tự nguyện gia nhập tổng Công ty có được đặt ra, nhưng trong thực tế không ít trường hợp các doanh nghiệp vào tổng Công ty 91 chưa thật sự xuất phát từ sự tự nguyện. Trong bối cảnh, điều kiện và nhu cầu phát triển của nước ta vào thời điểm đó, việc thành lập một số tổng Công ty 91 mới chỉ là bước đầu thí điểm tập trung nhiều doanh nghiệp trong cùng một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật theo hình thức Tập đoàn, chứ chưa phải hình thành Tập đoàn kinh tế một cách đích thực, có sự tích tụ, tập trung theo đúng qui luật thị trường. Trong thời gian tới đây, khi rà soát các tổng Công ty 91 còn lại để trên cơ sở đó hình thành một số Tập đoàn (theo đúng nghĩa của nó) thì phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện khi gia nhập Tập đoàn kinh tế.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình hình thành, phát triển và tổ chức quản lý Tập đoàn kinh tế. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình hình thành, phát triển và tổ chức quản lý Tập đoàn kinh tế được thể hiện như sau:
Mỗi doanh nghiệp có quyền lựa chọn và tự nguyện tham gia vào Tập đoàn kinh tế. Nhà nước quyết định hoặc công nhận sự ra đời của một Tập đoàn kinh tế.
Xác định cơ cấu tổ chức, quản lý của Tập đoàn kinh tế và phân cấp quản lý giữa Tập đoàn với các đơn vị thành viên của Tập đoàn. Việc xác định đúng vai trò, chức năng quyền hạn, trách nhiệm của Tập đoàn và các đơn vị thành viên và phân cấp giữa chúng là vấn đề mấu chốt của vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Tập đoàn kinh tế, trong đó quan trọng nhất là xác định tư cách pháp nhân của các đơn vị thành viên; sau đó là xác định việc hình thành, quản lý, sử dụng các quỹ, vốn, tổ chức hạch toán kinh tế. Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng về hoạt động kinh tế tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam