Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước trở thành nhân tố bắt buộc đối với các doanh nghiệp, đó là điều kiện đưa đến sự hình thành các chuỗi liên kết cũng như yêu cầu sự linh hoạt trong hợp tác, liên doanh để tạo ra những Tập đoàn kinh tế lớn đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi Việt Nam không ngừng nâng cao tốc độ tăng trưởng, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát huy những lợi thế so sánh vốn có nhằm tạo ra những bước đột phá về kinh tế, tránh bị tụt hậu và đuổi kịp các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Với thực trạng của Việt Nam hiện nay, cần phải có những Tập đoàn kinh tế đủ lớn, tiềm năng đủ mạnh với nguồn vốn dồi dào, trình độ quản lý cao, trình độ kỹ thuật hiện đại … thì mới có khả năng làm đầu tầu, lái con tàu kinh tế Việt Nam phát triển ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới . Từ thực tiễn khách quan trên có thể khẳng định rằng muốn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang lại hiệu quả kinh tế cao thì tất yếu phải hình thành nên các Tập đoàn kinh tế mạnh trong các lĩnh vực trọng yếu vì các Tập đoàn kinh tế chính là biểu tượng cho sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Đây cũng chính là lý do em lựa chọn vấn đề ―Thực trạng và giải pháp phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam‖ làm đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Phân tích nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về Tập đoàn kinh tế
Nghiên cứu thực trạng và xu hướng phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Nghiên cứu mô hình phát triển Tập đoàn kinh tế của một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Trung quốc, Nhật Bản …Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm và giải pháp phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các lý thuyết chung về trình ra đời, thực trạng và xu hướng phát triển Tập đoàn kinh tế ở Tập đoàn kinh tế ở một số nước trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài phân tích quá trình hình thành, thực trạng và xu hướng phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong đó đi sâu vào nghiên cứu quá trình xây dựng mô hình Tập đoàn kinh tế từ các tổng công ty nhà nước.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu
Phương pháp so sánh và phương pháp tư duy logic
5. KẾT CẤU CỦA KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Ngoài lời mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, khoá luận có 3 chương :
CHƯƠNG I : Khát quát chung về tập đoàn kinh tế và tính tất yếu hình thành tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
CHƯƠNG II: Thực trạng và xu hướng phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
CHƯƠNG III : Kinh nghiệm quốc tế về phát triển tập đoàn kinh tế và giải pháp phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
CHƯƠNG I: KHÁT QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ TÍNH TẤT YẾU HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
1. Khái niệm về “Tập đoàn kinh tế”
1.1. Một số quan niệm về Tập đoàn kinh tế trên thế giới
Tập đoàn kinh tế ở các nước khác nhau được gắn với những tên gọi khác nhau. Nhiều nước gọi là Group hay business group, Ấn Độ dùng thuật ngữ business houses, Nhật Bản trước chiến tranh thế giới thứ hai là zaibatsu và sau chiến tranh gọi là keiretsu, Hàn Quốc dùng từ chaebol, Trung Quốc dùng thuật ngữ Tập đoàn doanh nghiệp. Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết được khái quát chung là Tập đoàn kinh tế, do đó, quan niệm cũng như nhìn nhận về Tập đoàn kinh tế cũng có sự khác nhau nhất định.
Tại các nước phương Tây, Tập đoàn kinh tế được nhận thức như là một tổ hợp các Công ty hay chi nhánh góp cổ phần chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ hoặc Tập đoàn kinh tế và tài chính gồm một Công ty mẹ và các Công ty khác mà Công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi Công ty con cũng có thể kiểm soát các Công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác
Tại Nhật Bản Tập đoàn kinh tế (keiretsu) là một nhóm các doanh nghiệp ( DN) độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm hay Tập đoàn bao gồm các Công ty có sự liên kết không chặt chẽ được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên
Tại Trung Quốc Tập đoàn DN là một hình thức liên kết giữa các DN, bao gồm Công ty mẹ và các DN thành viên (Công ty con và các DN liên kết khác), trong đó là hạt nhân của Tập đoàn và là đầu mối liên kết giữa các DN thành viên với nhau là Công ty mẹ, các DN thành viên tham gia liên kết Tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập. Bản thân Tập đoàn không có tư cách pháp nhân. Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Trên thế giới hiện nay vẫn chưa có có một khái niệm thống nhất, áp dụng chung cho các quốc gia về Tập đoàn kinh tế .Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật, tâm lý xã hội Tập đoàn kinh tế ở mỗi nước là khác nhau về hình thức tổ chức, qui mô và trình độ, mức độ liên kết.Tuy nhiên dù đứng ở góc độ này hay góc độ khác, ở quốc gia này hay quốc gia khác thì những nét cơ bản về Tập đoàn kinh tế là khá thống nhất và có thể tổng hợp thành một khái niệm chung về Tập đoàn kinh tế như sau:
Tập đoàn là một tổ hợp các doanh nghiệp, bao gồm Công ty mẹ, các Công ty con và các doanh nghiệp liên kết khác có tư cách pháp nhân hoạt động trong một số nghành khác nhau, có quan hệ vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo., trong đó Công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các Công ty con về tài chính và chiến lược phát triển
1.2. Quan niệm về Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Tập đoàn kinh tế được hình thành trên cơ sở chuyển đổi và cơ cấu lại một số TCT Nhà nước (đặc biệt là các TCT 91 – TCT Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 91/QĐ-TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thành lập các Tập đoàn kinh doanh) có tiềm lực kinh tế mạnh, có mức độ tích tụ, tập trung vốn và tài sản nhất định. Phương thức hình thành Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam có những đặc trưng gần giống với cách thức hình thành Tập đoàn kinh tế tại quốc gia láng giềng – Trung Quốc do đó, Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam có thể được hiểu như sau:
Tập đoàn kinh tế hay còn gọi là Tập đoàn là một tổ hợp các DN, bao gồm Công ty mẹ, các Công ty con (DN thành viên) và các DN liên kết khác. Công ty mẹ là hạt nhân của Tập đoàn kinh tế, là đầu mối liên kết giữa các DN thành viên, DN liên kết với nhau. Công ty mẹ nắm quyền kiểm soát, chi phối các quyết sách, chiến lược phát triển và nhân sự; chi phối hoạt động của thành viên. Bản thân Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân. Tập đoàn kinh tế hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau. Các DN thành viên và DN liên kết có quan hệ với nhau về vốn, đầu tư, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các DN tham gia liên kết
2. Đặc điểm chung của các Tập đoàn kinh tế Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
2.1. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức và hình thức sở hữu của Tập đoàn
Về cơ cấu tổ chức, các Tập đoàn kinh tế thường có cơ cấu tổ chức đa dạng.Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp liên kết với nhau gồm Công ty mẹ đóng vai trò nòng cốt và các Công ty con, Công ty liên kết. Công ty mẹ đầu tư vào các Công ty khác, có khả năng chi phối (Công ty con) hay không có khả năng chi phối (Công ty liên kết)
Công ty mẹ là 1 Công ty sở hữu đa số vốn cổ phần của các Công ty con, chi phối các Công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển.Công ty mẹ có thể khống chế tài sản của các doanh nghiệp kinh doanh. Công ty mẹ khác với các Công ty cổ phần đơn thuần. Công ty khống chế cổ phần thì không được tham gia các hoạt động nghiệp vụ của Công ty cổ phần còn đại bộ phận Công ty mẹ bao toàn bộ hoặc quá nửa số cổ phiếu có quyền cổ đông của Công ty con thuộc quyền mình lại còn trực tiếp tham gia và khống chế hoạt động kinh doanh nghiệp vụ của Công ty con
Công ty con là một Công ty mà số cổ phần của nó ở trên một mức tỷ lệ nhất định thuộc về Công ty khác hoặc 1 Công ty khác khống chế trên thực tế thông qua phương thức hiệp nghị. Tuy Công ty con bị Công ty mẹ khống chế nhưng về pháp luật Công ty con vẫn là một Công ty độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ , tự thân nó là một Công ty hoàn chỉnh.Tính độc lập của Công ty con và tư cách pháp nhân của nó chủ yếu biểu hiện ở chỗ: có tên gọi độc lập và có chương trình (điều lệ hoạt động) của Công ty, có thể tiến hành hoạt động kinh doanh và các hoạt động pháp luật dân sự độc lập với danh nghĩa của chính mình, tài sản của Công ty độc lập với Công ty mẹ, tiến hành hạch toán độc lập , tự chịu trách nhiệm lỗ lãi, Công ty con có bộ máy quản lý hành chính độc lập Công ty liên kết là những Công ty cùng thuộc Tập đoàn nhưng không do Công ty mẹ chi phối Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn kinh tế rất đa dạng: có loại Tập đoàn trong đó các Công ty con độc lập về tính pháp lý, việc huy động vốn và các hoạt động kinh tế trong Tập đoàn được duy trì bằng các hợp đồng kinh tế; có loại Tập đoàn các Công ty con mất quyền độc lập về tính thương mại và sản xuất, các chủ sở hữu trở thành cổ đông của Công ty mẹKhóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Về quản lý điều hành, cơ quan quyền lực của Tập đoàn bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám đốc, Ban Giám đốc ở cả Công ty mẹ, Công ty con cháu (tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn,…). Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông bầu, có thể có cả các thành viên là người của Chính phủ (nếu Chính phủ có vốn góp). Các thành viên Hội đồng quản trị không được hưởng lương, chỉ được hưởng phụ cấp. Hội đồng quản trị có thể cử một hoặc nhiều thành viên tham gia điều hành Công ty, hoặc làm giám đốc điều hành, nếu theo nhiệm kỳ thì không được quá 5 năm. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Tổng Giám đốc Công ty. Công ty mẹ cử cán bộ của mình tham gia Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám đốc các Công ty thành viên theo tỷ lệ vốn góp của Công ty mẹ trong các Công ty thành viên.
Về hình thức sở hữu, đa sở hữu là một đặc điểm dễ nhận thấy ở các Tập đoàn kinh tế trên thế giới. Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các Công ty bao gồm Công ty mẹ và các Công ty con, Công ty cháu phần lớn được mang họ của Công ty mẹ. Công ty mẹ sở hữu đa số cổ phần trong các Công ty con, Công ty cháu. Như vậy, sở hữu vốn của Tập đoàn là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ), nhưng có một chủ sở hữu lớn, đó là Công ty mẹ đóng vai trò khống chế, chi phối về mặt tài chính. Dạng phổ biến của doanh nghiệp trong Tập đoàn kinh tế là các Công ty cổ phần để dễ dàng huy động vốn, tăng năng lực cạnh tranh và phân tán rủi ro.
2.2. Đặc điểm về qui mô
Tập đoàn kinh tế có qui mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và phạm vi hoạt động
Về vốn: Do Tập đoàn kinh tế có sự tích tụ của bản thân doanh nghiệp, lại vừa có sự tập trung giữa các doanh nghiệp nên tạo ra năng lực cạnh tranh mạnh hơn từng doanh nghiệp đơn lẻ, nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, qui mô vốn của Tập đoàn là rất lớn, được bảo toàn và luôn luôn phát triển.
Về lao động: Do quá trình tập trung của các doanh nghiệp thành viên, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phạm vi rộng lớn nên Tập đoàn có một số lượng lao động rất lớn; được tuyển chọn và đào tạo một cách nghiêm ngặt nên chất lượng lao động khá cao
Về doanh thu: Do có vốn lớn, phạm vi hoạt động rộng, Tập đoàn có khả năng nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, củng cố và mở rộng chiếm lĩnh các thị trường mới nên đạt được doanh thu rất lớn.
Về phạm vi hoạt động: Tập đoàn không chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà còn mở rộng sang nhiều quốc gia khác hoặc trên quy mô toàn cầu. Với số vốn lớn, nhiều lao động, có khả năng áp dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại, nắm bắt kịp thời thông tin, các Tập đoàn kinh tế đã thực hiện phân công lao động một cách hợp lý trong nội bộ Tập đoàn thông qua việc bố trí các điểm sản xuất, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, các công đoạn sản xuất khác nhau của sản phẩm.
Bên cạnh việc thực hiện chiến lược cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế, các Tập đoàn kinh doanh còn mở rộng phạm vi hoạt động nhiều quốc gia bằng cách tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết, thực hiện phân công quốc tế, do đó phạm vi hoạt động của Tập đoàn ngày càng được mở rộng.
2.3. Đặc điểm về ngành nghề lĩnh vực kinh doanh Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Tập đoàn kinh tế thường hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Hầu hết các Tập đoàn kinh tế trên thế giới ngày nay đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát triển dần từ đơn ngành lên đa ngành, có chiến lược sản phẩm và định hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu của thị trường, môi trường kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, mỗi Tập đoàn đều có ngành, lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu đặc trưng của Tập đoàn. Ví dụ như, Tập đoàn Mitsubishi là một trong những Tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản, hoạt động kinh doanh trải rộng trên nhiều lĩnh vực như sắt thép, cơ khí đóng tầu, điện, hoá chất và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải, năng lượng, trong đó có ngành mũi nhọn là công nghiệp nặng và phát triển tài nguyên. Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất, Tập đoàn kinh tế thường hội tụ các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, dịch vụ, nghiên cứu, đào tạo,… vì đây chính là đòn bẩy cho sự phát triển của Tập đoàn kinh tế hiện đại.
Hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của Tập đoàn nhằm phân tán rủi ro cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo đảm cho hoạt động của Tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động phong phú của Tập đoàn. Song cũng có một số Tập đoàn kinh tế chỉ hoạt động trong một vài lĩnh vực tương đối hẹp nhằm khai thác thế mạnh về chuyên môn, bí quyết công nghệ, uy tín đặc biệt trong ngành.
2.4. Đặc điểm về các hình thức liên kết
Sự liên kết bằng quan hệ về tài sản và quan hệ hiệp tác giữa các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn kinh tế là đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình thành Tập đoàn kinh tế thể hiện xu thế tất yếu trong việc nâng cao trình độ xã hội hoá và phát triển của lực lượng sản xuất; liên kết thành Tập đoàn có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc theo qui luật cạnh tranh. Tiến trình xã hội hoá sản xuất đã phát triển từ: hiệp tác giản đơn; phân công và hiệp tác giữa các doanh nghiệp theo quan hệ thị trường; liên kết và liên hiệp sản xuất rộng rãi giữa các doanh nghiệp thông qua hình thức chủ yếu là mua cổ phần, xâm nhập vào nhau; liên kết xuyên khu vực, xuyên quốc gia; nhất thể hoá kinh tế (Cộng đồng chung châu Âu). Quá trình xã hội hoá sản xuất từ thấp đến cao. Đây là tất yếu khách quan nhằm hợp lý hoá về kinh tế, phối hợp thống nhất phân công và chuyên môn hoá.
Về phạm vi liên kết, có những kiểu liên kết sau:
- Liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh (Cartel, Syndicat, Trust, Keiretsu – Nhật bản), còn gọi là liên kết ngang. Hình thức này hiện không còn phổ biến do các doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi nhanh chóng nên khó đem lại hiệu quả cao, rủi ro lớn; các Chính phủ thường, hạn chế vì liên kết này tạo ra xu hướng độc quyền, đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường. Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Liên kết doanh nghiệp giữa các ngành trong cùng dây chuyền công nghệ (Concern, Conglomerate, Keiretsu, Chaebol), còn gọi là liên kết dọc. Hình thức này hiện vẫn còn phổ biến trên thế giới vì chúng hoạt động có hiệu quả cao và bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang hầu hết các nước trên thế giới. Để hình thành Tập đoàn kinh tế loại này cần phải có một Công ty đủ lớn và đủ uy tín để có thể quản lý và kiểm soát các Công ty khác; có một ngân hàng đủ khả năng đảm bảo phần lớn tín dụng cho toàn Tập đoàn; có mối liên hệ nhiều mặt và vững chắc với Nhà nước; có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ; có hệ thống thông tin toàn cầu đủ khả năng xử lý tổng hợp những thông tin về thị trường, đầu tư. Vì vậy, các nước đang phát triển chỉ mới có khả năng hình thành các Tập đoàn chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất và thương mại.
- Liên kết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, kể cả những ngành, lĩnh vực không có liên quan đến nhau, còn gọi là liên kết hỗn hợp. Hình thức này đang được ngày một ưa chuộng trên thế giới và trở thành xu hướng phát triển các Tập đoàn hiện nay. Cơ cấu Tập đoàn bao gồm một ngân hàng hoặc một Công ty tài chính lớn và nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại, trong đó hoạt động tài chính, ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động kinh doanh của Tập đoàn.
Về trình độ liên kết, có những kiểu sau:
- Liên kết ―mềm‖, xuất phát từ châu Âu (đặc biệt là ở Đức vào thế kỷ 19) được biết đến như các Cartel và Syndicat. Đây là hình thức Tập đoàn của các doanh nghiệp độc lập, cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ hiệp tác sản xuất – kinh doanh với nhau thông qua một Hiệp định chung nhằm hạn chế cạnh tranh (lũng đoạn thị trường) bằng việc thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, chủng loại, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ (Cartel), hoặc thoả thuận về lượng sản phẩm tiêu thụ chung, giá nguyên liệu cung ứng (Syndicat). Nguyên nhân thúc đẩy sự liên kết và liên minh giữa các doanh nghiệp là do những thay đổi của nền kinh tế trong nước và trên thế giới, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh không ngừng mở rộng, đòi hỏi qui mô lớn hơn về vốn và trình độ cao hơn về công nghệ. Vì vậy, các doanh nghiệp liên kết lại để lợi dụng được ưu thế của qui mô Tập đoàn (Do Cartel độc quyền, hạn chế cạnh tranh, đi ngược lại xu thế của cơ chế thị trường nên Chính phủ nhiều nước đã ngăn cấm hoặc hạn chế hình thành loại Tập đoàn này bằng cách ban hành các đạo luật kiểm soát độc quyền hay còn gọi là Luật Cartel).
- Liên kết ―cứng‖, xuất phát là hình thức Trust ở Mỹ. Trong Tập đoàn loại này, các doanh nghiệp thành viên kết hợp trong tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại. Tập đoàn được cấu tạo dưới dạng đa sở hữu theo kiểu Công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau. Các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về chu kỳ công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của Tập đoàn. Trong đó Công ty mẹ có lợi thế nắm giữ cổ phần chi phối các Công ty để giữ quyền lãnh đạo, ra quyết định quan trọng các doanh nghiệp khác. (ví dụ như đối với Tập đoàn Generel Motor sản xuất, kinh doanh rất nhiều loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau nhưng sản xuất ô tô là hạt nhân của Tập đoàn).
- Liên kết ―hỗn hợp‖, là sự kết hợp của cả hai loại liên kết trên, đây là hình thức phát triển cao của Tập đoàn kinh tế. Tập đoàn được hình thành trên cơ sở xác lập và kiểm soát thống nhất về tài chính, các doanh nghiệp thành viên chịu sự chi phối về tài chính của một Công ty gọi là Holding Company (Công ty mẹ của cả Tập đoàn). Sự phát triển cao của thị trường tài chính và công nghệ thông tin cho phép Công ty mẹ chi phối các Công ty con về tài chính thông qua quyền sở hữu cổ phiếu chi phối; hoạt động của cả Tập đoàn và các Công ty con được mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực từ tài chính đến các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ khác nhau và giữa các Công ty con trong Tập đoàn không nhất thiết phải có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật. Hình thức liên kết này đang trở nên phổ biến.
Về hình thức biểu hiện, có các kiểu sau đây:
- Cartel là một Tập đoàn kinh tế bao gồm các Công ty cùng sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ kinh doanh, thực hiện mối liên kết theo chiều ngang nhằm hạn chế sự cạnh tranh bằng sự thoả thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực kiểu cách, mẫu mã. Trong Cartel, các Công ty thành viên đều có tính pháp lý độc lập.
- Syndicate là tổ chức thực hiện mối liên kết theo chiều ngang, thành lập một tổ chức thương mại chung để đảm trách toàn bộ việc tiêu thụ sản phẩm. Các Công ty thành viên độc lập về pháp lý nhưng không độc lập về thương mại, đây là loại liên minh độc quyền cao hơn, ổn định hơn so với Cartel.
- Trust là tổ chức độc quyền mang hình thức Công ty cổ phần. Các thành viên tham gia hoàn toàn mất tích độc lập; họ chỉ là những cổ đông của Công ty.
- Cosortium là hình thức phổ biến hiện nay với mô hình Công ty mẹ đầu tư vào các Công ty khác thành Công ty con, nhằm tạo thế lực tài chính mạnh để kinh doanh. Việc đầu tư vào nhiều lĩnh vực là để hạn chế rủi ro, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, phương pháp quản lý hiện đại. Các Công ty con là doanh nghiệp thành viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản phẩm nhưng có quan hệ gần gũi về mặt công nghệ, độc lập về mặt pháp lý, chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh, nhưng không được độc lập về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa Công ty mẹ và Công ty con. Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và Công ty con chủ yếu là chiến lược kinh doanh và tài chính, gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm. Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
- Conglomerate: là Tập đoàn kinh doanh đa ngành, các Công ty thành viên có ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ chặt chẽ về tài chính. Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào các Công ty kinh doanh để tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài chính – công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các Công ty thành viên hoạt động có hiệu quả.
- Concern: là một tổ chức Tập đoàn kinh tế được áp dụng phổ biến hiện nay ở nhiều nước dưới hình thức Công ty mẹ đầu tư vào các Công ty con và điều hành hoạt động của Tập đoàn. Mục tiêu hình thành Tập đoàn là tạo sức mạnh tài chính để phát triển kinh doanh, hạn chế rủi ro, hỗ trợ mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại. Các Công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên quan; chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ của mình, có địa vị pháp lý độc lập, phụ thuộc vào Tập đoàn về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung của cả Tập đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư. Mô hình này có nhiều tác dụng tích cực và khả năng hoạt động tốt, thúc đẩy được sự phát triển và liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, xuất nhập khẩu của cả Tập đoàn.
- Tập đoàn đa quốc gia (TNC): là tổ chức Tập đoàn tư bản độc quyền, thực hiện chiến lược chiếm lĩnh thị trường thế giới và tìm kiếm lợi nhuận độc quyền bằng cách thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự kiểm soát của Công ty mẹ. Vốn của Công ty mẹ có thể của một nước hoặc của nhiều nước khác nhau.
- Tập đoàn xuyên quốc gia: trong những thập kỷ gần đây, việc hợp nhất hay liên kết các doanh nghiệp đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia dẫn đến việc hình thành các Tập đoàn xuyên quốc gia. Đây là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất, các Tập đoàn này có qui mô mang tầm cỡ quốc tế, có hệ thống chi nhánh dày đặc ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng quốc tế. Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn này gồm có Công ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước chủ nhà và hệ thống các Công ty con ở nước ngoài và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau chủ yếu về tài chính, công nghệ, kỹ thuật. Các Công ty con ở nước ngoài có thể mang hình thức Công ty 100% vốn nước ngoài, cũng có thể mang hình thức Công ty hỗn hợp, Công ty liên doanh với hình thức góp vốn cổ phần. Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào thì các Công ty con đó thực chất cũng là những bộ phận của một tổ hợp, quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những nhà tư bản nước mẹ.
Về kiểu liên kết và tổ chức: tổ chức liên kết trong hầu hết các Tập đoàn kinh tế đều thông qua mối liên kết chính yếu là liên kết Công ty mẹ – Công ty con; trong đó:
- Công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn chi phối vào các Công ty con, mức độ chi phối tùy thuộc vào tỷ lệ vốn đầu tư; các Công ty con sẽ đầu tư tiếp vào các Công ty cháu,…
- Công ty con, Công ty cháu đều có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập với Công ty mẹ.
- Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt qua việc Công ty mẹ tiếp tục duy trì hay rút vốn đã đầu tư vào Công ty con.
- Quyền và mức độ chi phối của Công ty mẹ với các Công ty con được qui định trong điều lệ của Công ty con phù hợp với pháp luật về loại hình Công ty của nước mà Công ty con đăng ký. Tuy nhiên, hầu hết các Công ty mẹ trong Tập đoàn thường nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các Công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Quyền lợi kinh tế của Công ty mẹ được đảm bảo thông qua chế độ phân chia lợi nhuận theo phần vốn góp.
Ngoài liên kết bằng vốn theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con, một số Tập đoàn còn liên kết bằng tài chính nhưng chưa đến mức độ quan hệ Công ty mẹ – Công ty con (tỷ lệ góp vốn chưa đến mức độ chi phối các Công ty tham gia liên kết) và thu hút các doanh nghiệp không có liên kết về vốn vào các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp trong Tập đoàn như gia công, cung cấp bán thành phẩm, phân phối, tiêu thụ sản phẩm hoặc chuyển giao công nghệ, thương hiệu của Tập đoàn.
3. Vai trò của Tập đoàn kinh tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Trong nền kinh tế của một quốc gia, hoạt động của các Tập đoàn kinh tế có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện chủ yếu trên những mặt sau đây:
3.1. Huy động và phát huy các nguồn lực xã hội
Tập đoàn kinh tế tạo điều kiện huy động và phát huy rộng rãi các nguồn lực trong xã hội đầu tư vào phát triển kinh tế. Thông qua mô hình Tập đoàn kinh tế, Nhà nước có điều kiện hơn để điều chỉnh kết cấu ngành, kết cấu sản phẩm và kết cấu tổ chức doanh nghiệp. Việc hình thành các Tập đoàn kinh tế lớn đã hạn chế tối đa sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thành viên, thông qua mối liên hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp thành viên để thống nhất phương hướng và chiến lược kinh doanh chung, nâng cao khả năng cạnh tranh của cả Tập đoàn và mỗi doanh nghiệp thành viên, tối đa hoá lợi nhuận, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Mô hình Tập đoàn cũng có lợi cho việc lưu động tài sản, phân phối hợp lý các yếu tố sản xuất trong phạm vi rộng, thúc đẩy sự tự điều chỉnh tài sản trong xã hội; nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản. Có lợi cho việc lấy dài bù ngắn, bổ sung lợi thế cho nhau, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy và nâng cao trình độ quản lý chung. Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Với các nước đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mở cửa, hội nhập, hình thành các Tập đoàn kinh tế mạnh còn là giải pháp chiến lược để chống lại sự thâm nhập một cách ồ ạt của các Tập đoàn khổng lồ trên thế giới, giúp cho sản xuất trong nước đứng vững và từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.
3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên qui mô lớn
Với phạm vi và qui mô tổ chức sản xuất – kinh doanh rất lớn, Tập đoàn kinh tế có khả năng tập trung được nguồn vốn đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, nhất là những ngành công nghệ hiện đại mà các doanh nghiệp đơn lẻ với nguồn vốn hạn hẹp không đủ sức đầu tư để tạo ra những bước phát triển nhảy vọt và trở thành động lực của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các ngành công nghệ mới, là trung tâm giáo dục các tri thức về khoa học – công nghệ và quản lý tiên tiến cho cả nền kinh tế. Với tiềm lực kinh tế mạnh, có sự phân công, phối hợp của các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực và phạm vi rộng lớn, Tập đoàn có khả năng liên tục chiếm lĩnh, mở rộng và củng cố thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp thành viên; đồng thời có thể giảm bớt và phân tán rủi ro cho các doanh nghiệp thành viên kinh doanh trong các ngành và các quốc gia khác nhau do những bất trắc của thị trường và thay đổi cơ cấu gây ra. Thông qua vai trò điều hoà vốn của Tập đoàn, vốn của các doanh nghiệp thành viên được sử dụng vào những dự án tốt nhất, tránh tình trạng vốn bị phân tán đầu tư tràn lan, trùng lặp, hiệu quả không cao, từ đó nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế.
Phát huy lợi thế của kinh tế qui mô lớn, khai thác một cách triệt để thương hiệu Tập đoàn, hệ thống tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của các doanh nghiệp mang thương hiệu Tập đoàn. Nhờ mối liên kết dọc, các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn không những không bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp nguyên liệu độc quyền mà còn có thể nhận được nguyên vật liệu cần thiết một cách đều đặn, với chất lượng và khối lượng theo yêu cầu. Các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn có thể dễ dàng chia sẽ thông tin và nguồn nhân lực khan hiếm, đẩy nhanh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ, đồng thời từ đó tạo điều kiện mở ra các nguồn vốn và cơ hội kinh doanh mới.
3.3. Phát triển khoa học – công nghệ Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Với tiềm lực mạnh, Tập đoàn có khả năng tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học – công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần sự phối hợp của nhiều nhà khoa học, phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu mà từng doanh nghiệp đơn lẻ không thể thực hiện được.
Mặt khác, qui mô và phạm vi hoạt động rộng lớn của Tập đoàn sẽ làm cho việc triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất có hiệu quả cao hơn với chi phí giảm. Tập đoàn có tác dụng lớn trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm tốt trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu, triển khai kết quả nghiên cứu vào sản xuất giữa các doanh nghiệp thành viên. Với các nước đang phát triển, các Tập đoàn kinh tế mạnh là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình độ với các nước phát triển, thúc đẩy công nghiệp hoá – hiện đại hoá nền kinh tế. Các Tập đoàn công nghiệp giữ vai trò quan trọng để các nước đi sau tiến kịp các quốc gia phát triển về kinh tế, đây là bài học thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước trong phát triển kinh tế vào những năm của thập kỷ 70, 80 thế kỷ XX.
3.4. Công cụ điều tiết kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Việc hình thành các Tập đoàn kinh tế lớn sẽ giải quyết được việc làm cho một bộ phận dân cư tại khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các ngành nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp, qua đó làm thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội cho từng địa phương hay một quốc gia. Các Tập đoàn kinh tế là một lượng quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm tăng nội lực bên trong để đảm bảo tăng trưởng cao, ổn định. Sự hoạt động sôi động của các Tập đoàn kinh tế góp phần làm cho cơ cấu sản xuất có sự chuyển dịnh từ hàng hóa cần sức lao động sang hàng hóa cần nhiều vốn và công nghệ, tập trung vào những sản phẩm có giá trị bổ sung cao. Cơ cấu ngành cũng thay đổi, chuyển từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, chế tạo và dịch vụ, khu vực dịch vụ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế
Bên cạnh vai trò to lớn của Tập đoàn kinh tế đối với sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước thì chúng còn có vai trò quan trọng trong hội nhập với khu vực và thế giới. Các Tập đoàn kinh tế là lực lượng chủ yếu thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới. Chúng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài và đã mang lại nhiều lợi ích cho các nền kinh tế trên toàn cầu. Chúng thực hiện phân bố các nguồn lực và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trên qui mô toàn thế giới. Thông qua hoạt động thương mại và đầu tư của các Tập đoàn kinh tế mà tính phụ thuộc và gắn kết vào nhau của các nền kinh tế trên thế giới được tăng lên. Cùng với sự mở rộng đầu tư ra nước ngoài góp phần gia tăng đầu tư quốc tế thì Tập đoàn kinh tế còn đẩy mạnh buôn bán nội địa làm cho nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng trưởng cho nên thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Như vậy, xây dưng Tập đoàn kinh tế cũng là một biện pháp góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước trên thế giới
II. TÍNH TẤT YẾU HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
1. Quá trình hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế trên thế giới
Từ khoảng cuối Thế kỷ 19, sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, các Công ty bắt đầu cần nhiều vốn hơn để mở rộng lĩnh vực và địa bàn kinh doanh, đặc biệt là mở rộng ra thị trường quốc tế. Đến cuối Thế kỷ 20 thì quá trình này bắt đầu diễn ra mạnh mẽ, hàng loạt các Tập đoàn xuyên quốc gia, hoạt động đa lĩnh vực ra đời, tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay.
Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo ra làn sóng phát triển mạnh mẽ của các Tập đoàn đa quốc gia khổng lồ. Một số Tập đoàn có vai trò và ảnh hưởng chi phối nền kinh tế không chỉ của một quốc gia mà của toàn thế giới. Tất cả các nhà kinh tế, các chính trị gia đều nhận thấy những tác động tích cực của các Tập đoàn cùng với sự tồn tại và vai trò của chúng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Và người ta đã có lúc dùng sự phát triển của một vài Tập đoàn để đo sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia.
1.1. Phương thức hình thành Tập đoàn kinh tế Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Các Tập đoàn kinh tế trên thế giới được hình thành qua 2 con đường chủ yếu: Con đường phát triển truyền thốngvà hình thành Tập đoàn trên cơ sở một Công ty nhà nước có quy mô rất lớn. Nhìn chung đa số các Tập đoàn kinh tế trên thế giới được hình thành theo qui luật cạnh tranh dẫn đến tập trung,tích tụ sản xuất vào các chủ thể sản xuất kinh doanh .Trong quá trình hoạt động một số doanh nghiệp tích lũy được nguồn vốn lớn và đầu tư mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh .Qua thời gian, đứng trước những biến động của thị trường và áp lực cạnh tranh để tồn tại có sức mạnh cạnh tranh và phát triển các doanh nghiệp có khuynh hướng liên kết, sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc thôn tính lẫn nhau dẫn đến sự ra đời của các Tập đoàn kinh tế khổng lồ.Tuy nhiên việc thành lập Tập đoàn kinh tế cũng có thể tiến hành bằng các mệnh lệnh hành chính của chính phủ ,điển hình là các Tập đoàn kinh tế ở các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc… và nước láng giềng Trung Quốc. Như vậy trong quá trình hình thành và phát triển của các Tập đoàn kinh tế chịu sự tác động chủ yếu của các qui luật thị trường song nó cũng chịu ảnh hưởng mãnh mẽ bởi các qui định và chính sách của từng quốc gia.
1.2. Nguyên tắc hình thành và phát triển lập Tập đoàn kinh tế
Từ các nghiên cứu cho thấy việc hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế dựa trên nguyên tắc hiệu quả, tự nguyện và theo quy luật thị trường. Các nguyên tắc chủ yếu:
- Phù hợp với chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của nhà nước. Việc hình thành Tập đoàn kinh tế phải có tác động tích cực tới điều chỉnh cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm. Trước hết cần hình thành các Tập đoàn trọng điểm có khả năng thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển, tác động tích cực tới việc nghiên cứu và triển khai sản xuất các mặt hàng chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường…
- Khuyến khích cạnh tranh, hạn chế độc quyền. Đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, nghiêm cấm các hoạt động lũng đoạn thị trường hoặc phong toả theo khu vực.
- Phân định rõ chức năng quản lý kinh doanh với chức năng quản lý hành chính. Công ty mẹ của Tập đoàn không thể thực hiện cả hai chức năng quản lý kinh doanh và quản lý hành chính. Tập đoàn cần được xác định không phải là cơ quan quản lý nhà nước cũng không phải là hiệp hội ngành nghề mà là một tổ chức kinh tế. Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên được thiết lập trên cơ sở nắm giữ cổ phần hoặc quan hệ kỹ thuật sản xuất, không phải là quan hệ hành chính.
- Thực hiện nguyên tắc đầu tư tự nguyện. Việc hình thành Tập đoàn kinh tế phải tuân theo các quy luật kinh tế, không thể lắp ghép bằng mệnh lệnh hành chính, phải tuân theo phương thức tự nguyện đóng góp cổ phần, tham gia cổ phần của người đầu tư, với sợi dây liên kết giữa các doanh nghiệp chủ yếu là vốn. Như vậy mới đảm bảo các mối quan hệ rõ ràng trong nội bộ Tập đoàn và ổn định cơ cấu tổ chức của Tập đoàn.
- Nói cách khác, nguyên tắc hình thành Tập đoàn kinh tế là cùng có lợi, tự do tham gia và rút khỏi Tập đoàn, chống độc quyền trong hoạt động
2. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế đang được nước ta tích cực thực hiện. Với mục tiêu đó, Việt Nam cần phải nâng cao tốc độ tăng trưởng, mở rộng kinh tế đối ngoại dựa trên việc phát huy những lợi thế so sánh vốn có nhằm tạo ra những bước đột phá về kinh tế để không chỉ tránh việc tụt hậu mà còn đuổi kịp các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Trên thực tế, với mục tiêu và định hướng như vậy, việc hình thành và phát triển các Tập đoàn kinh tế mạnh trong một số lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế là hết sức cần thiết. Sau đây là ba lý do khẳng định việc hình thành các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam là một khẳng định cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cả về mặt quốc gia lẫn sức mạnh của cộng động doanh nghiệp.
Thứ nhất, Hội nhập và hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan đòi hỏi việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhỏ bé, phân tán thành những doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh cũng như đủ mạnh để có thể trở thành đối tác với doanh nghiệp nước ngoài là chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Chỉ có những doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, trình độ quản lý hiện đại, tiềm năng mạnh… thì mới đủ khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi doanh nghiệp ở Việt Nam có thể đạt được những điều kiện trên là rất ít, chỉ có các tổng Công ty nhà nước mới có khả năng hội tụ những yếu tố này và các Tập đoàn kinh tế.
Thứ hai, Việt Nam chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là chấp nhận tính cạnh tranh như là một tất yếu khách quan. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dẫn tới quá trình tích tụ và tập trung vốn vào sản xuất và từ đó dẫn đến hình thành các doanh nghiệp lớn. Hơn nữa, việc hình thành Tập đoàn kinh tế từ những tổng Công ty Nhà nước là một tất yếu cho xu thế phát triển các Tập đoàn kinh tế hiện nay.
Thứ ba, các tổng Công ty Nhà nước phần lớn hoạt động kém hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp. Phần lớn là do cơ chế hoạt động của hình thức tổng Công ty gây ra (như quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, mập mờ trong chế độ sở hữu…). Với việc chuyển từ hình thức tổng Công ty thành Tập đoàn kinh tế sẽ giúp cho các tổng Công ty giảm bớt và loại trừ dần dần những yếu kém đã tồn tại trong một thời gian dài.
Từ ba yếu tố nêu trên có thể khẳng định rằng muốn xây dựng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa mang lại hiệu quả kinh tế cao thì tất yếu phải hình thành nên các Tập đoàn kinh tế mạnh trong các lĩnh vực trọng yếu vì các Tập đoàn kinh tế chính là biểu tượng cho sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Khóa luận: Hoạt động phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về xu hướng của các tập đoàn Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế Việt Nam