Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong thời giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
Sau 40 năm hình thành và phát triển (hình thành tháng 7/1960), du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt từ những năm 90 trở lại đây, nó góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đảng và Chính phủ đã xác định: “Phát triển du lịch là một định hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.”
Trong tiến trình hội nhập toàn cầu, ngành du lịch Việt Nam mới bắt đầu hội nhập và vừa hợp tác vừa tìm hiểu cơ chế và luật chơi quốc tế, nên khả năng chủ động đưa ra các dự án hợp tác còn nhiều hạn chế. Ngành du lịch Việt Nam đến nay đã tròn 47 tuổi, song mới chỉ có những khởi sắc trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây.
Mặc dù khu vực nhà nước vẫn chiếm ưu thế trong ngành du lịch, khu vực tư nhân và nước ngoài đã bắt đầu gia tăng thị phần. Hiện nay, khu vực tư nhân và khu vực nước ngoài chiềm khoảng một nửa doanh thu du lịch lữ hành.
Tự do hoá năng lực sản xuất nội địa và mở cửa cho khách du lịch quốc tế đã đóng góp đáng kể vào kết quả hoạt động của ngành du lịch. Từ năm 1991 đến 2006, số lượng khách du lịch quốc tế đến tăng trên 12 lần: từ 03, triệu lượt đến 3,6 triệu; số lượng khách du lịch nội địa tăng gần 11 lần, từ 1,5 triệu đến 16 triệu; thu nhập do du lịch tạo ra ước tính tăng gần 20 lần, từ 1.500 tỷ đồng đến 30.000 tỷ đồng. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, 9 tháng đầu năm 2007, đã có 3,47 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2006. Từ nay đến năm 2010, ngành du lịch Việt Nam phấn đầu lượng khách quốc tế tăng 10 – 20%/năm, đạt 5,5 đến 6 triệu lượt người vào năm 2010, khách nội địa tăng trung bình 15 – 20%/ năm và đạt 25 triệu lượt người vào năm 2010.
Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch tạo ra số việc làm đáng kể và góp phần giảm nghèo đói. Các yếu tố cơ bản trong việc cải thiện nhanh chóng hình ảnh ngành du lịch Việt Nam và tạo điều kiện di chuyển tự do cho khách du lịch tới Việt Nam và đi lại trong nước, nỗ lực khuếch trương hình ảnh du lịch Việt Nam ra nước ngoài, và các nỗ lực nhằm phát triển cơ sở hạ tầng liên quan đến du lịch, cùng với những cố gắng trong việc khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, giảm kiểm soát của chính phủ đối với hoạt động du lịch và cải thiện nguồn nhân lực trong khu vực du lịch.
Sau thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi từ một quốc gia tương đối cô lập với phần còn lại của thế giới (ngoại trừ quan hệ với khối các nước Xã hội chủ nghĩa cũ) sang một cơ chế tương đối thoáng hơn. Chính phủ ủng hộ việc mở rộng quan hệ và khuyến khích hợp tác kinh tế với tất cả các quốc gia trên thế giới. Hoạt động du lịch Việt Nam luôn tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20,5% trong gian đoạn từ năm 1991 đến nay. Tuy nhiên, ngành du lịch luôn rất dễ chịu tác động của những cú sốc bên ngoài. Ngành du lịch Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề từ hai cú sốc là cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998 và sự lan truyền của Hội chứng suy giảm hô hấp cấp (SARS) năm 2003. Ngoài ra trong thời gian gần đây, khu vực Châu Á còn chịu đe doạ nặng nề của dịch cúm gia cầm. Bằng việc duy trì được tốc độ tăng trưởng của lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong một thời gian dài, Việt Nam đã tăng thị phần khách quốc tế so với cả khu vực từ 5% năm 1995 lên 7% năm 2003.
Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối diện với áp lực cạnh tranh khốc liệt từ các quốc gia khác trong khu vực trong việc thu hút khách quốc tế. Mặc dù tốc độ tăng trưởng hàng năm của lượng khách quốc tế đến Việt Nam luôn cao hơn so với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể nào bắt kịp về mặt số lượng khách tuyệt đối so với các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực như Thái Lan và Malaixia và Singapore. Tính riêng trong năm 2005, ba nước này đã thu hút được trên 70% số lượng khách du lịch quốc tế đến ASEAN.
Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức được kết nạp làm thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO. Nền kinh tế Việt Nam nói chung, cũng như ngành du lịch nói riêng bước vào sân chơi quốc tế với nhiều thuận lợi và khó khăn mới. Trong xu thế chung, du lịch Việt Nam đã có nhiều cố gắng chủ động hội nhập quốc tế.
Nếu được đầu tư và quản lý đúng cách, du lịch Việt Nam đang hứa hẹn triển vọng của một thời kì phát triển thịnh vượng trong ngắn và trung hạn khi đất nước tiếp tục khẳng định cam kết thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn này. Xu hướng của hoạt động du lịch trong thời gian vừa qua đã cho thấy khách du lịch trở lại khu vực Đông Nam Á sau nạn dịch SARS và cúm gia cầm có vẻ như đang muốn đi tìm những điểm đến mới. Những điểm đến quen thuộc như Singapore, Malaixia, Thái Lan đã trở nên kém hấp dẫn hơn với khách du lịch. Liệu Việt Nam có thể tận dụng cơ hội vàng này để thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch Việt Nam sánh ngang với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực hay không phụ thuộc vào khả năng ứng phó với những thử thách từ áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, cũng như những điểm yếu trong khả năng quản lý bên trong đất nước đối với những điểm du lịch. Để đối phó với áp lực cạnh tranh trong khu vực, điểm mấu chốt là phải đánh giá được khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với các quốc gia khác trong khu vực và chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của du lịch Việt Nam để từ đó phát huy điểm mạnh và hạn chế các điểm mạnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
II. NHỮNG LỢI THẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN NHANH DU LỊCH CỦA VIỆT NAM Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Việt Nam có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, kinh tế và chính trị. Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông rộng với đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.
Nước ta có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào, dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù, mến khách là những yếu tố quan trọng đảm bảo cho du lịch phát triển.
Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam phong phú và đa dạng. Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam sự đa dạng và phong phú về cảnh quan và các hệ sinh thái có giá trị cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là các hệ sinh thái biển – đảo, hệ sinh thái sông, hồ, hệ sinh thái rừng, hang động.
Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài đứng thứ 27 trong 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á. Đường bờ biển Việt Nam trải dài trên 3.260 km qua 15 vĩ độ với 125 bãi biển có các điều kiện thuận lợi cho họat động nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí, trong đó có nhiều bãi biển hấp dẫn như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Văn Phong – Đại Lãnh, Nha Trang, Phan Thiết, Long Hải, Vũng Tàu, Hà Tiên… Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp có tiềm năng phát triển du lịch lớn như Vịnh Hạ Long, vịnh Văn Phong, Vịnh Cam Ranh… Trong đó vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Trong tổng số hơn 2.700 đảo lớn nhỏ ven bờ, nhiều đảo như Cái Bầu, Cát Bà, Tuần Châu, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc… với hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp, là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Với khoảng 50.000 km2 địa hình karst, Việt Nam được xem là nước có tiềm năng du lịch hang động, thác, ghềnh to lớn, trong đó có hơn 200 hang động đã được phát hiện, điển hình là động Phong Nha với chiều dài gần 8 km, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
(Địa hình karst là địa hình của các kiểu phân rã đặc trưng thông thường được đánh dấu bởi các hệ thống thoát nước theo hang động ngầm dưới đất. Đây là các khu vực mà ở đó nền đá có lớp bị hoà tan hoặc các lớp, thông thường (nhưng không phải là luôn luôn) là đá cacbonat chẳng hạn như đá vôi hay đôlômit. Trong những chỗ như thế có rất ít hoặc thậm chí không có hệ thống thoát nước trên bề mặt).
Nguồn nước khoáng ở nước ta phong phú và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển du lịch. Đến nay đã phát hiện được hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên với nhiệt độ từ 27 độ đến 105 độ C. Thành phần hóa học của nước khoáng rất đa dạng, từ bicabonat natri đến clorua natri với độ khoáng hóa cao có giá trị đối với du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh.
Việt Nam có hệ sinh thái động – thực vật rừng đa dạng. Tính đến nay, cả nước đã có 107 rừng đặc dụng trong đó có 16 vườn quốc gia, 55 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa – lịch sử – môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha. Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quý giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật, gần 7.000 loài động vật với nhiều loại đặc hữu và quí hiếm, trong đó có vườn quốc gia Ba Bể với hồ thiên nhiên được đánh giá vào loại lớn trên thế giới đang được đề nghị UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
Tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam phong phú với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong số khoảng 40.000 di tích có hơn 2.5000 di tich được Nhà nước chính thức xếp hạng. Tiêu biểu là quần thể di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống với kỹ năng đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông, đã tạo cho Du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện khai thác thế mạnh về du lịch văn hóa – lịch sử.
Nhìn chung, tài nguyên du lịch Việt Nam vừa phân bố tương đối đồng đều trong toànn quốc, vừa tập trung thành từng cụm gần các đô thị lớn, các trục giao thông quan trọng thuận tiện cho việc tổ chức khai thác, hình thành các tuyến du lịch bổ sung cho nhau giữa các vùng, có giá trị sử dụng cho mục đích du lịch và sức hấp dẫn khách cao.
Các di sản của Việt Nam được UNESCO công nhận
- Quần thể di tích cố đô Huế, năm 1993 là di sản văn hoá thế giới
- Nhã nhạc cung đình Huế, năm 2003 là kiệt tác văn hoá vi vật thể và truyền khẩu nhân loại
- Vịnh Hạ Long, được công nhận 2 lần, năm 1994 là di sản thiên nhiên thế giới và năm 2000 là di sản địa chất thế giới.
- Phố cổ Hội An, năm 1999 là di sản văn hoá thế giới.
- Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999 là di sản văn hoá thế giới.
- Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, năm 2003 là di sản thiên nhiên thế giới.
- Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên, năm 2005 là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
III. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
1. Đánh giá thị phần của ngành du lịch Việt Nam
Du lịch được đánh giá là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao. Nếu năm 1990, Việt Nam mới chỉ đón 250 nghìn lượt khách quốc tế và 1 triệu lượt khách trong nước thì đến năm 2005, số lượt khách quốc tế đã lên tới con số 3,47 triệu người và lượng khách du lịch nội địa đã tăng lên 15 triệu người. Đến năm 2006 số lượng khách quốc tế đã là gần 3,6 triệu người và chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2007 số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã đạt 3,478 triệu lượt, tức là tăng hơn 17,8% so với cùng kỳ năm 2006.
Bảng 2: Thị phần và biến động về lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2006
Trong giai đoạn 1990 – 1995, ngành du lịch chứng kiến sự tăng trưởng nhanh của dòng khách quốc tế đến Việt Nam. Đây là thời điểm các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt vào tìm hiểu thị trường Việt Nam sau khi thực hiện chính sách mở cửa, nới rộng các chính sach về đầu tư nước ngoài… cũng như việc đơn giản hoá các thủ tục tạo điều kiện dễ dàng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài về thăm quê hương.
Giai đoạn sau (1996 – 1999), thị trường du lịch quốc tế của Việt Nam có nhiều biến động, tốc độ tăng trưởng thấp, đặc biệt năm 1998, số lượng khách du lịch quốc tế giảm 0,2 triệu lượt người, tương đương giảm 11,4 %. Nguyên nhân là do ảnh hưởng của những khó khăn về kinh tế trong khu vực và đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á diễn ra vào năm 1997. Nhưng ngay sau đó, du lịch Việt Nam đã dần phục hồi. Tới năm 2002, du lịch Việt Nam được coi là điểm sáng trong phát triển kinh tế đất nước. Bất chấp nguy cơ khủng bố quốc tế diễn ra nhiều nơi, dòng khách quốc tế đến Việt Nam – một điểm đến an toàn và thân thiện, ngày một đông. Ngay cả số khách Mỹ – một quốc gia đang bị đe doạ khủng bố nặng nề – vẫn gia tăng mạnh (10,5%). Đáng chú ý là số khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích du lịch năm 2002 đã lên đến gần 1,5 triệu người, tăng 18,8% so với năm 2001. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Cuộc chiến tranh Iraq do liên quân Mỹ – Anh phát động và đại dịch SARS bất ngờ ấp đến đã làm cho ngành du lịch Việt Nam bị thiệt hại nặng nề. Đây là những nguyên nhân chính làm cho số lượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam giảm 7,6% so với năm 2002. Tuy nhiên, với các đợt quảng bá lớn và tổ chức thành công các sự kiện văn hoá trọng đại như: Năm du lịch Hạ Long, Năm du lịch Sea Games, 100 năm Sapa, Liên hoan du lịch quốc tế hà Nội 2003, Diễn đàn du lịch Mêkông lần thứ VIII… Việt Nam cũng đã nỗ lực hết sức để khuyến khích du khách trở lại với đất nước mình. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã bắt đầu tăng mạnh kể từ năm 2004. Đây là một thành công rất thuyết phục của Ngành du lịch Việt Nam trong thời điểm mà du lịch thế giới có những dấu hiệu ảm đạm.
Xét về quốc gia gửi khách, hay là thị trường xuất khẩu dịch vụ du lịch của Việt Nam, có thể nói các thị trường nổi bật là Đài Loan, Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Anh, Hồng Kông, Thái Lan, Trung Quốc. Tuy nhiên trong những năm gần đây, thị phần của thị trường Nhật, Pháp, Anh, Hồng Kông…đã giảm xuống, còn thị phần của Mỹ, Trung Quốc lại tăng lên (thị phần của Trung Quốc tăng từ 1,4% năm 1993 lên 27,6% năm 2002, Mỹ tương ứng là 4% lên 9,9%). Nguyên nhân là do cơ chế đi lại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã thông thoáng hơn, quan hệ Việt Mỹ được cải thiện đáng kể khiến thị phần của hai thị trường này tăng lên.
Tính đến tháng 9/2007 thì trong số du khách quốc tế đến Việt Nam, dẫn đầu là các khách du lịch từ Trung Quốc, sau đó là Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.
Nếu xét về số lượng khách du lịch quốc tế thì thị phần khách du lịch quốc tế đến Việt Nam so với tổng số lượng khách du lịch quốc tế trên thế giới là rất nhỏ, không đáng kể. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam khi trong giai đoạn 1990 – 2006, thị phần khách du lịch quốc tế đến Việt Nam so với tổng số lượng khách du lịch quốc tế trên thế giới đã tăng vượt bậc từ 0,05% (1990) lên 0,43% (2006). So với năm 1990, lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2006 đã tăng lên hơn 14 lần.
2. Đánh giá về giá cả của dịch vụ du lịch Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Hiện nay, môi trường cạnh tranh trong ngành du lịch chủ yếu vẫn là cạnh tranh về giá. Dựa trên kết quả nghiên cứu của WTTC, có thể đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với một số đối thủ trong khu vực về giá như sau:
Bảng 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh về giá của ngành du lịch Việt Nam
Với thang điểm đã được đánh giá như trên, chúng ta có thể thấy rằng: Việt Nam có năng lực cạnh tranh về giá. Trong 8 nước trên thì khả năng cạnh tranh về giá của Việt Nam đứng thứ 2 chỉ sau Campuchia. Gần một nửa (49%) số du khách quốc tế nêu lý do của quyết định chọn Việt Nam là điểm đến nghỉ ngơi trong tương lai gần là giá cả hàng hóa và dịch vụ thấp.
Tuy nhiên, tình trạng nâng giá vô tội vạ xảy ra tại các điểm du lịch vào mùa cao điểm, hay tại đối với các dịch vụ ăn uống và giải trí đã tạo ra những ấn tượng rất không tốt đối với khách du lịch. Ngoài ra, khách du lịch quốc tế còn phải đối mặt với tình trạng phân biệt đối xử về giá giữa khách nội địa và khách quốc tế.
Hiện nay giá dịch vụ du lịch của Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp khách sạn chưa được nhà nước kiểm soát chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng tăng giá phòng đồng loạt và quá cao so với giá của các khách sạn trong khu vực Đông Nam Á. Điều này dẫn đến giá tour bị đội lên rất cao, dẫn đến tình trạng khách du lịch sẽ chuyển hướng đi tới những nước khác với giá tour rẻ hơn.
Các tour du lịch khuyến mại, giảm giá vào những thời điểm vắng khách, không phải mùa du lịch của các công ty lữ hành cũng thu hút sự quan tâm của rất nhiều du khách. Vào các thời điểm này, các công tu lữ hành tiến hành giảm giá các tour du lịch từ 10 – 20%, thậm chí là 40%.
Giá cả du lịch cao cấp của Việt Nam lại cao hơn hẳn các nước trong khu vực. Ví dụ như giá phòng khách sạn 3 sao trở lên ở Việt Nam luôn đắt hơn hẳn ở Thái Lan đến vài chục phần trăm, hơn thế nữa các khách sạn lớn lại còn tăng giá không theo chu kì. Theo đại diện của CITE (trung tâm du lịch MICE), chi phí cho một tour du lịch MICE cao cấp tại Việt Nam đã ngang với các nước trong khu vực trong khi dịch vụ để thu hút du khách của lại không đa dạng bằng. Điều này đang làm giảm sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam, rất nhiều đoàn khách đã bỏ tour vì giá phòng tăng quá nhanh trong thời gian qua.
Điểm đáng lưu ý là, thời gian một du khách quốc tế ở Việt Nam trung bình 9,6 ngày, nhiều hơn Thái Lan (8,13 ngày), Malaixia (6,1 ngày) và Singapore (9,11 ngày), nhưng mức chi tiêu của du khách lại thấp nhất,chỉ có 65 USD/ngày so với Singapore là 130 USD/ngày, Thái Lan 100 USD/ngày và Malaixia là 88 USD/ngày. Điều đó cho thấy hiệu quả kinh doanh du lịch của Việt Nam là còn thấp so với các nước trong khu vực.
3. Đánh giá về chất lượng của các sản phẩm du lịch của Việt Nam Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Lâu nay ngành du lịch Việt Nam thường đánh giá sự phát triển của mình dựa trên số lượng du khách gia tăng mà chưa chú ý đánh giá việc tăng chất lượng dịch vụ. Trong khi chất lượng mới là yếu tố giúp ngành du lịch phát triển bền vững và đạt được doanh thu cao. Trong bảy tháng đầu năm 2007, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng đến 16,2% so với cùng kỳ năm 2006 (số lượng khách đến Việt Nam năm 2006 chỉ tăng 3% so với năm 2005), nguyên nhân chính là tình hình bất ổn tại Thái Lan và Indonexia đã khiến nhiều du khách quốc tế e ngại đến hai nước này, chuyển sang các quốc gia an toàn hơn.
Đây là một cơ hội lớn với du lịch Việt Nam. Tuy nhiên nếu không nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ vào thời điểm này, để 70% du khách đến Việt Nam không có ý định quay trở lại như điều tra mới đây của Tổng cục du lịch, thì khi yếu tố may mắn qua đi, ngành du lịch Việt Nam sẽ khó giữ được lượng khách tăng như hiện nay, thậm chí là trở lại mức cũ.
Kết quả điều tra năm 2005 cho thấy thời gian lưu lại Việt Nam của du khách quốc tế đã tăng lên rõ rệt so với năm 2003. Số ngày bình quân chung của một lượt khách tự sắp xếp đi đã từ 12,1 ngày theo điều tra năm 2003 tăng lên 16,8 ngày năm 2005 và số ngày bình quân một lượt khách đi theo tour do các công ty du lịch lữ hành tổ chức đã từ 8,5 ngày lên 9,7 ngày. Điều này chứng tỏ ngành du lịch Việt Nam đã và đang ngày càng có nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn hơn, đã thu hút và níu chân du khách quốc tế đến và ở lại Việt Nam với thời gian lâu hơn. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Theo đánh giá của khách du lịch thì họ có ấn tượng tốt về Việt Nam vì đây là một quốc gia: tuyệt diệu, có khí hậu dễ chịu; có điều kiện tự nhiên và cảnh thiên nhiên đẹp, có nhiều nơi thăm quan. Ngoài ra “lòng hiếu khách của người dân cũng là một yếu tố được khách du lịch đánh giá cao. Những yếu tố mà du khách đánh giá cao ở Việt Nam là các giá trị về văn hoá và dịch vụ mua sắm.
Dịch vụ mua sắm tại thị trường Việt Nam hấp dẫn, giá rẻ và kích thích nhu cầu mua sắm, hàng hoá có giá phù hợp.
Việt Nam cũng là quốc gia có nhiều món ăn đặc sắc, mang bản sắc dân tộc. Đặc biệt món phở của Việt Nam rất nổi tiếng và được các du khách quốc tế ưa thích. Tuy nhiên món ăn Việt Nam chưa phải là yếu tố thu hút khách, chỉ có một số ít du khách đồng ý rằng món ăn Việt Nam hấp dẫn đối với họ. Đáng lưu ý là hầu như không có khách du lịch nào cho rằng họ thoả mãn với các dịch vụ du lịch dựa trên hai tiêu chí: hướng dẫn viên tốt và dịch vụ tốt.
Dịch vụ du lịch mang tính đa ngành và tổng hợp cao vì nó liên quan tới rất nhiều dịch vụ khác nhau. Dịch vụ du lịch sử dụng sản phẩm của các ngành dịch vụ khác, đặc biệt là các ngành dịch vụ:
- Dịch vụ vận tải, dịch vụ tài chính và dịch vụ thông tin.
- Dịch vụ văn hoá, giải trí và thể thao, dịch vụ phân phối
- Dịch vụ quảng cáo, dịch vụ hỗ trợ vận tải và dịch vụ xây dựng Các dịch vụ khách sạn và nhà hàng (bao gồm cả phục vụ đồ ăn), dịch vụ đại lí du lịch và điều hành tour du lịch, dịch vụ hướng dẫn du lịch là những dịch vụ chính, trực tiếp liên quan đến khách du lịch.
Riêng trong khu vực dịch vụ, giải trí – khu vực thu hút du khách tiêu tiền nhiều nhất lại thu hút ít khách du lịch. Điều này là rất đáng tiếc, bởi vì mức độ hài lòng của du khách về truyền thống văn hoá rất cao, mà truyền thống văn hoá phong phú là nguồn sáng tạo cho các sản phẩm lưu niệm, các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc. Các điệu múa dân tộc, các truyền thuyết lịch sử của nước ta nếu được dàn dựng công phu trong một sân khấu hoành tráng thì chắc chắn hấp dẫn không kém chương trình Alangkam của Thái Lan. Vấn đề ở đây là du lịch Việt Nam thiếu sự đầu tư. Du lịch Việt Nam chỉ có thể là con gà đẻ trứng vàng nếu được đầu tư đúng mức và đúng cách.
Du lịch Việt Nam cũng tạo ra nhiều ấn tượng không tốt với khách du lịch. Thứ nhất là trong dịch vụ mua sắm cá nhân. Hiện nay rất nhiều khách du lịch than phiền rằng họ phải chịu cơ chế nhiều giá, sự phân biệt về giá giữa khách nội địa và khách nước ngoài. Ngoài ra những hiện tượng như có quá nhiều người bán hàng rong bám theo khách, khách du lịch quốc tế thường bị xích lô bắt chẹt giá, các chi phí khác cao đã tạo nên những ấn tượng rất không đẹp trong lòng du khách về điểm đến du lịch Việt Nam.
Ngoài ra, chất lượng của dịch vụ giao thông còn thiếu thốn và kém chất lượng cũng là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển của du lịch Việt Nam. Đường xá kém, hay tắc đường, thiếu vạch phân cách, dịch vụ đường sắt chậm và kém chất lượng, thiếu phương tiện giao thông, chuyến bay nội địa còn ít và hay bị hoãn là những yếu kém chính của dịch vụ vận chuyển.
Dịch vụ hướng dẫn viên du lịch còn yếu kém, trình độ về ngoại ngữ thấp và thiếu nhiều thông tin về du lịch. Ngoài ra thủ tục hải quan còn phức tạp, mất thời gian.
Có thể dễ nhận thấy là sản phẩm du lịch của Việt Nam còn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch quốc tế. Việt Nam mới chỉ hấp dẫn các du khách bằng các tài nguyên du lịch hoang sơ chứ không phải là các dịch vụ du lịch mà ngành cung cấp. Nền văn hoá đặc trưng được coi là thế mạnh của Việt Nam cũng chưa thực sự phát huy được vai trò là yếu tố thu hút du lịch.
4. Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển nền kinh tế. Đối với Du lịch Việt Nam, vấn đề đó không phải là ngoại lệ, nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay của nước ta. Chính vì vậy, vấn đề nguồn nhân lực hơn lúc nào hết, đang là thách thức không nhỏ đối với bước tiến của du lịch Việt Nam. Theo đánh giá tổng hợp của WTTC thì chỉ số năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của một số nước trong khu vực Đông Nam Á như sau:
Bảng 4: Đánh giá năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của ngành du lịch Việt Nam
Theo đánh giá tổng hợp của WTTC thì Việt Nam không có năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực du lịch so với các nước trong khu vực. Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kém năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam là:
Đầu tiên phải kể đến tình trạng bất cập từ số lượng nguồn nhân lực. Tính đến năm 2007 thì tổng số lao động trong lĩnh vực du lịch của nước ta là 850.000 người, trong đó tổng số lao động trực tiếp là 250.000 người. Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% trong số này là qua đào tạo. Theo dự báo, lực lượng này ước tính đạt 350.000 vào năm 2010 và năm 2015 là hơn 500.000 người. Con số này tăng lên tương xứng với sự phát triển chung của ngành du lịch cũng như đáp ứng tốt cho một lượng khách lớn đặc biệt là khách quốc tế tới Việt Nam, song nó lại mâu thuẫn với thực tế đào tạo hiện nay của nước ta. điều này cũng được GS.TS Nguyễn Văn Đính, hiệu trưởng trường Đại học Hà Tĩnh (nguyên phó hiệu trưởng trường Cao Đẳng du lịch Hà Nội) phân tích: trong thời gian qua từ năm 2007 – 2015 cần phải thu hút và đào tạo cho khoảng 266.000 người, bình quân mỗi năm là 33.250 người, và chưa kể 50% số lao động hiện tại chưa qua đào tạo. Đó là con số không nhỏ, là một thách thức, một nhiệm vụ không nhẹ nhàng và đơn giản đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho Việt Nam”. Quan ngại trước thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch, ông nói: “cả nước có khoảng 50 cơ sở đào tạo du lịch từ hệ dạy nghề cho đến trung cấp, cao đẳng; 30 cơ sở đào tạo du lịch bậc đại học. Số lượng học sinh, sinh viên ra trường hàng năm khoảng 15.000 người, trong đó có 3000 người tốt nghiệp đại học. Như vậy chưa cần bàn tới chất lượng đào tạo thì số lượng hàng năm cũng chỉ đáp ứng được một nửa yêu cầu”.
Cùng với tình trạng thiếu về số lượng lao động thì việc phân bổ lao động không đồng đều theo lãnh thổ, theo lĩnh vực cũng là một bất cập nên mới xảy ra tình trạng chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu. Sự thiếu hụt của nguồn nhân lực làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của ngành nhất là tại các khu vực mà du lịch đang khá tiềm năng như: Trung du miền núi phía Bắc hay đồng bằng sông Cửu Long.
Việt Nam chưa có một bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh và thống nhất cho các kỹ năng nghề du lịch cơ bản, nên chất lượng nguồn nhân lực đã qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế phát triển ngành trong thời gian qua. Xuất phát từ thực tế trên, Tổng cục Du lịch với sự hỗ trợ của Uỷ ban Châu Âu (EU) tiến hành triển khai thực hiện dự án phát triển nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam với tổng số vốn 12 triệu euro, trong khoảng thời gian từ năm 2004 – 2008. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Theo tạp chí Du lịch số ra tháng 01/2007, ngành Du lịch Việt Nam đang chịu nhiều thách thức trong chính khoảng cách giữa các thế hệ người lao động do thiếu kỹ năng do chất lượng đào tạo viên chưa tốt, thiếu tài liệu và trang thiết bị đào tạo. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp du lịch vẫn chưa hoạt động theo định hướng khách hàng. Đôi lúc do không đủ số lượng hướng dẫn viên du lịch nên doanh nghiệp buộc phải tuyển bất kỳ hướng dẫn viên nào có sẵn, bất chấp năng lực của họ và hoặc có xu hướng lôi kéo các nhân viên được đào tạo từ các doanh nghiệp khác. Riêng trong lĩnh vực nhà hàng và khách sạn không chỉ nhân viên lễ tân của nhà hàng, khách sạn thiếu kỹ năng ngoại ngữ và kỹ năng nghề mà ngay cả cán bộ quản lý cũng thiếu kỹ năng này. Vì vậy nhu cầu cần đào tạo không chỉ đặt ra cho các giáo viên của các trường Du lịch mà còn cho các cán bộ quản lý của các khách sạn.
Thái độ của nhân viên là mối quan tâm hàng đầu. Hiện nay, theo các chuyên gia đánh giá thì ba thách thức lớn của đội ngũ nhân viên Du lịch Việt Nam là: Thái độ phục vụ, kỹ năng ngoại ngữ và kỹ năng nghề. Một số điểm cần khắc phục của đội ngũ nhân lực du lịch Việt Nam mà đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch là: thiếu tính chuyên nghiệp và đôi khi có thái độ không đúng với du khách; thiếu năng lực (kỹ năng nghề và kỹ năng ngoại ngữ); thiếu tôn trọng du khách; thiếu kiến thức chung về du lịch, địa lý, lịch sử và các vấn đề chính trị của Việt Nam và quốc tế, thiếu hiểu biết về tâm lý du khách; thiếu tự tin.
Cũng xét về khía cạnh thái độ không đúng mực trong trình độ giáo dục của lĩnh vực du lịch, thì có thể đào tạo kỹ năng ngoại ngữ và các kỹ năng cứng cho nhân viên, nhưng không dễ dàng đào tạo cho họ những kỹ năng mềm. Bởi khi được hỏi về mức độ hài lòng đối với dịch vụ du lịch, phần lớn du khách nêu lên những vấn đề liên quan đến sự thân thiện, nụ cười, thái độ chăm sóc. Tất cả những điều đó thuộc kỹ năng mềm. Thái độ chính là cách sống và tồn tại của mỗi cá nhân. Vì vậy cần phải trau dồi văn hoá chú trọng những vấn đề giữ gìn những yếu tố văn hoá lịch sử Việt Nam.
Ngoài điểm yếu về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, hạn chế lớn nhất của nhân viên du lịch Việt Nam là trình độ ngoại ngữ. Bên cạnh tiếng Anh – ngôn ngữ giao tiếp chính, các ngôn ngữ khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…, nhân viên du lịch cũng rơi vào tình trạng thiếu và yếu. Cụ thể, lượng khách Hàn Quốc đến Việt Nam tăng mạnh (đứng thứ hai sau Trung Quốc) nhưng hiện cả nước chỉ có 50 hướng dẫn viên biết tiếng Hàn. Hay với Nhật Bản – thị trường tiềm năng đứng thứ ba hiện nay cũng mới chỉ có 8% hướng dẫn viên thành thạo tiếng.
Trong khuôn khổ các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch Việt Nam, mới đây TOEIC Việt Nam đã tiến hành khảo sát, đánh giá trình độ tiếng Anh cho một số nghề trong ngành du lịch của Việt Nam hiện nay. Dựa vào nhu cầu sử dụng tiếng Anh với từng vị trí, TOEIC đã thực hiện gần 400 cuộc điều tra khảo sát về yêu cầu sử dụng ngôn ngữ của gần 200 khách sạn (từ 3 sao – 5 sao) và doanh nghiệp lữ hành đại diện trên toàn quốc. Đối tượng chính là giám đốc, cán bộ quản lý nhân sự và cán bộ quản lý trực tiếp như trưởng, phó bộ phận – những người nắm rõ nhất yêu cầu về trình độ sử dụng tiếng Anh đối với nhân viên do mình quản lý và định hướng phát triển của đơn vị. Kết quả kiểm tra ngẫu nhiên 1.000 nhân viên ở các doanh nghiệp, đơn vị cho thấy trình độ tiếng Anh của nhân viên phần lớn đều thấp và còn cách khá xa so với chuẩn xây dựng theo yêu cầu của cấp quản lý đề ra. Theo ông Đoàn Hồng Nam- Giám đốc TOEIC Việt Nam: Chuẩn thấp mà chúng tôi đưa ra để đánh giá trình độ nhân viên là đảm bảo ở mức chất lượng dịch vụ tối thiểu. Như vậy, có thể thấy trình độ tiếng Anh của nhân viên ở mức thấp. Điều này không chỉ là rào cản cho sự phát triển của ngành du lịch mà còn đối với nhiều ngành khác khi ngày càng có nhiều du khách đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội kinh doanh. Bởi vậy, theo ông Nam: du lịch Việt Nam cần sớm cải thiện chất lượng dịch vụ hiện tại của ngành bắt đầu từ việc ban hành chuẩn ngoại ngữ cho từng vị trí lao động trong ngành. Đây sẽ là căn cứ cần thiết cho các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, đơn vị hướng tới trong việc đào tạo, tuyển chọn nguồn nhân lực đáp ứng quá trình hội nhập của ngành và đất nước.
5. Đánh giá Chất lượng cơ sở hạ tầng du lịch Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng để phát triển tất cả các ngành kinh tế. Dịch vụ sẽ không thể phát triển khi cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) tại diễn đàn doanh nghiệp vừa tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh (09/2006), trong hơn 10 năm qua, kể từ năm 1990, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, nhờ có sự tài trợ của nhiều quốc gia và tổ chức tài chính quốc tế. Bên cạnh đó chính sách mở cửa đề thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam cũng đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cấp một số lĩnh vực cơ sở quan trọng. Mười năm qua, sản lượng điện Việt Nam đã tăng gấp 4 lần, hệ thống đường giao thông và các cảng biển chính được nâng cấp và mở rộng, hàng không đã được hiện đại hoá, đặt biệt là bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trước năm 1990 thì đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại, mức tăng trưởng đứng thứ 2 sau Trung Quốc, sự tiếp cận dịch vụ mới của quốc tế nhanh, trung bình chỉ sau tám tháng kể từ khi dịch vụ mới được tung ra ở thị trường quốc tế thì ở Việt Nam đã có loại hình dịch vụ này. Bên cạnh đó các khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ vận chuyển như hàng không, đường sắt cũng được nâng cấp, cải tổ để bắt kịp với yêu cầu của khách hàng.
Mặc dù vậy, nhưng so về cơ sở hạ tầng của chúng ta nói chung vẫn còn nhiều khâu phải tiếp tục hoàn thiện. Chính vì thế chúng ta cũng cần phải có những nhà chuyên môn trong ngành đánh giá để có thể tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Cũng theo đánh giá tổng hợp về chất lượng cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam so với các nước trong khu vực thì cơ sở hạ tầng của Việt Nam tương đối kém năng lực cạnh tranh.
Bảng 5: Đánh giá năng lực cạnh tranh cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam
Theo đánh giá của WTTC thì Việt Nam chỉ có năng lực cạnh tranh về cơ sở hạ tầng du lịch hơn Campuchia và Indonexia. Còn so với các đối thủ chính trong khu vực thì năng lực cạnh tranh của cơ sở hạ tầng du lịch của Việt Nam vẫn còn thua kém rất nhiều. Singapore vẫn là nước dẫn đầu trong khu vực về chất lượng cơ sở hạ tầng du lịch. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Theo Tổ chức Du lịch thế giới, cần phải có và duy trì tốt cơ sở hạ tầng để hỗ trợ các hoạt động Du lịch dự kiến, kể cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Cơ sỏ hạ tầng chủ yếu bao gồm các công trình sân bay, cảng, hệ thống đường bộ, viễn thông, hệ thống cung cấp điện, nước và hệ thống xử lý nước thải. Đối với cơ sở vật chất du lịch, cần lưu ý tới dịch vụ lưu trú, cung cấp đồ ăn và giao thông địa phương.
Về cơ sở lưu trú và nhà hàng
Cơ sở lưu trú của Việt Nam đã phát triển rất nhanh trong những năm vừa qua, tính đến tháng 11 năm 2006, Việt Nam có khoảng 6000 khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch với tổng số gần 123 nghìn phòng, trong đó có 2,575 khách sạn được xếp hạng sao, 80% số khách sạn hiện tập trung tại một số trung tâm du lịch lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hoà, Bình Thuận, Bà Rịa -Vũng Tàu Khách sạn 3 – 5 sao chiếm xấp xỉ 50% tổng số phòng nêu trên.
Quy mô còn nhỏ khiến các khách sạn gặp nhiều hạn chế trong đầu tư đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệ quản lý hiện đại, nghiên cứu thị trường và quảng bá sản phẩm.
Bên cạnh đó thị trường vốn nước ta chưa phát triển, lãi suất tiền cho vay cao và cơ chế để tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng hạn chế, đã ngăn cản nhiều khách sạn mở rộng quy mô xây dựng, nâng cấp tiện nghi, mở mang dịch vụ. Các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh như: thiếu đất và mặt bằng để mở rộng quy mô phòng ngủ, phòng hội nghị và các dịch vụ hỗ trợ.
Số lượng khách sạn của Việt Nam hiện nay vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nhất là vào những tháng cao điểm. Vì vậy rất nhiều khách du lịch muốn vào Việt Nam đã phải thay đổi kế hoạch để đi đến đất nước khác cho chuyến du lịch của họ. Đặc biệt là những khách sạn 4 và 5 sao của Việt Nam còn rất hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu của khách. Tính riêng ở Hà Nội chỉ có 6 khách sạn 4 sao và 7 khách sạn 5 sao. Các khách sạn sao phần lớn là chưa có hồ bơi, đối với thành phố Hồ Chí Minh thì thế mạnh 57 của thành phố là thị trường khách du lịch hội thảo, hội nghị (MICE). Số khách sạn được xếp hạng sao tăng đều qua các năm, từ 90 khách sạn vào năm 2001, đến nay đã có 171 khách sạn với 11.028 phòng đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế được xếp hạng từ 1- 5 sao. Trong đó có 10 khách sạn 5 sao, 7 khách sạn 4 sao, 21 khách sạn 3 sao với tổng số 6447 phòng. Đã có 15 khách sạn đạt tiêu chuẩn ISO 14001. Trong năm 2007, thành phố mở rộng và nâng cấp 4 khách sạn 4 sao lên 5 sao và 2 khách sạn 3 sao lên 4 sao nhằm đáp ứng sự gia tăng về lượng khách quốc tế nhất là vào mùa cao điểm.
Bên cạnh những khách sạn có chất lượng thực thụ vẫn còn một số khách sạn kém chất lượng dẫn đến việc khách du lịch thường xuyên than phiền. Trong năm qua, Việt Nam đã có thêm một số khu resort mới, chất lượng cao như : La Veranda resort – Phú Quốc Island, Ana Mandara Village resort – Đà Lạt. Đó là những khu lưu trú có chất lượng cao đã đưa vào hoạt động.
Sau khi đất nước ta chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, cùng với tốc độ tăng của khách du lịch tới Việt Nam, nhiều nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam đã tranh thủ thời cơ vào đầu tư xây dựng các resort, khách sạn tại các khu du lịch trọng điểm của Việt Nam như khu du lịch Phú Quốc, Vũng Tàu, dự án EDEN Thanh Bình resort. Quy mô diện tích của dự án Khu biệt thự – du lịch cao cấp Thanh Bình rộng hơn 25 ha, được chia thành nhiều khu chức năng gồm: Công viên Cửa Lấp, Biệt thự sinh thái hỗn hợp, biệt thự đặc biệt, khu thể dục thể thao, khu spa dịch vụ nghỉ dưỡng, khu resort, khu khách sạn cao cấp, khu thương mại và các công trình thể thao.
Dịch vụ vận tải
Di chuyển và lưu trú là hai hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của dịch vụ du lịch. Quá trình di chuyển của du khách liên quan tới việc sử dụng các phương tiện giao thông nhằm thoả mãn nhu cầu đi lại, thay đổi địa điểm cần đến và nghỉ ngơi của khách.
Tốc độ tăng trưởng của hoạt động du lịch trong những năm vừa qua có sự đóng góp của những thành tựu khoa học kỹ thuật thuộc ngành giao thông. Quá trình xã hội hoá du lịch cũng góp phần thúc đẩy những thay đổi trong hoạt động giao thông.
Vận tải hàng không
Số khách du lịch sử dụng đường hàng không trong lộ trình dài và ngắn đều đạt mức cao nhất so với loại vận tải đường bộ, đường thuỷ. Năm 2006, khách du lịch vào Việt Nam theo đường hàng không đạt 2.702.430 lượt người, trong khi đó đường biển chỉ là 224.081 và đường bộ là 656.957 lượt người. Tính đến hết tháng 9/2007, số khách du lịch theo đường hàng không vào Việt Nam đã đạt 2.475.540 lượt, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2006 và chiếm gần 80% tổng số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch). Hiện nay 2 sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài với các trang thiết bị hiện đại nhất so với các các hãng hàng không khác trong cả nước là hai sân bay chính đưa và đón khách du lịch cũng như khách thương vụ.
Tuy nhiên vận tải hàng không vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của khách, cơ sở lưu trú tại sân bay còn kém chất lượng, giá đồ ăn quá đắt so với giá trị của nó, gần khu vực sân bay chưa có các khu vui chơi giải trí để phục vụ khách trong khi đợi chuyến bay. Chỉ nói riêng Hãng hàng không Việt Nam Airlines, trong năm 2006, tổng lượng khách quốc tế và nội địa sử dụng các sản phẩm của Vietnam Airlines thông qua hoạt động bán của Văn phòng khu vực miền Bắc đã đạt gần 1.000.000 khách, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2005. Như vậy doanh thu bán hàng vượt kế hoạch 4% và tăng 17% so với 2005. Để đáp ứng nhu cầu của lượng khách ngày càng tăng nhanh, hãng hàng không Vietnam Airlines đã tăng cường mua thêm máy bay để phục vụ khách, nâng tổng số máy bay của hãng lên 43 chiếc. Tuy nhiên lượng máy bay trên cũng chưa đủ để đáp ứng cho khách du lịch, đặc biệt là các tuyến Sài Gòn -Phú Quốc (4chuyến/ngày), Đà Nẵng – Nha Trang (1tuyến/ngày) hay Hà Nội – Nha Trang (1 chuyến/ngày).
Vận tải đường bộ
Hệ thống đường bộ: Có thế nói hệ thống đường bộ Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú trọng mở rộng và nâng cấp. Việc xây dựng những con đường cao tốc đạt chất lượng quốc tế cũng như xây dựng những cây cầu hiện đại đã góp phần rất lớn cho việc giao thông, giao thương giữa các vùng trong cả nước, đồng thời cũng thúc đẩy ngành du lịch phát triển. Ví dụ như ở thành phố Hà Nội, chúng ta đã hoàn thiện cây cầu lớn (Cầu Thanh Trì), các cây cầu vượt trong thành phố (cầu ngã tư Sở, ngã tư Vọng) điều đó góp phần hạn chế ách tắc giao thông. Đối với các tỉnh thành khác như Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt một số tuyến đường cũng được mở rộng và thông thoáng, giúp cho việc vận chuyển khách du lịch đường bộ nhanh và thuận tiện hơn.
Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông của Việt Nam vẫn còn nhỏ, phương tiện giao thông chủ yếu là xe máy nên hay bị ùn tắc, nhất là trong các tuyến phố của 2 thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà nội. Tình trạng ùn nghẽn, ách tắc giao thông ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân khiến khách du lịch phàn nàn về điểm đến Việt Nam.
Trong thời gian hiện nay, các phương tiện giao thông của Việt Nam ngày càng được đa dạng hoá và nâng cao chất lượng phục vụ. Các phương tiện: ôtô bus, ôtô du lịch, taxi ngày càng phong phú về chủng loại và số lượng nhiều. Trong đó ôtô là phương tiện được sử dụng phổ biến nhất.
Ngoài ra, tại các trung tâm du lịch lớn như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay Huế du khách rất ưa thích sử dụng phương tiện giao thông là xích lô để dạo đường phố.
Vận tải đường sắt
Hiện nay, khi số du khách vào Việt Nam ngày càng tăng cao, vận tải đường sắt cũng là một trong những phương tiện được khách du lịch sử dụng nhiều. Sử dụng phương tiện vận tải đường sắt có những điều thú vị hấp dẫn khách du lịch là: khách du lịch có thể ngắm nhìn cảnh vật trong suốt chặng đường đi, nhất là những cánh đồng, những con đèo, bãi biển… Ngoài ra, vận tải đường sắt có các ưu điểm khác là giá rẻ, tính an toàn cao… Tuy nhiên thực trạng của vận tải đường sắt Việt Nam là thời gian di chuyển rất lâu và dịch vụ trên phương tiện thì rất kém, nhất là các dịch vụ về vệ sinh, ăn uống. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
Nắm bắt được thị hiếu của khách, ngành vận tải đường sắt đã tăng cường thêm những chuyến tàu cao tốc đường dài chất lượng cao nhằm phục vụ du khách như tuyến Bắc – Nam, tháng 9 năm 2006 đã có thêm chuyến SE3 thành phần tàu SE3/4 (có thứ tự ưu tiên cao nhất) chỉ có 12 toa xe (bớt 1 toa xe) để tài xế lái tàu có thể xử lý hãm, gia – giảm tốc độ được dễ dàng hơn, đảm bảo tỉ lệ tàu đến ga đúng giờ cao hơn.
Rồi tàu cao tốc 5 sao chạy từ Sài Gòn đi Nha Trang mới được vận hành vào tháng 12/2006, đây là loại tàu hạng sang dành cho du khách thích sử dụng tàu hoả trong chuyến du lịch của mình.
Vận tải đường thuỷ
Việt Nam có nhiều điểm du lịch tự nhiên hấp dẫn như Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Biển Nha Trang… là những điểm du lịch cần nhiều tầu thuyền nhất để phục vụ chuyến thăm của khách, hệ thống tầu thuyền của chúng ta cũng rất phong phú và đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển khách.
Đặc biệt trong những năm gần đây, các chương trình tour ngủ trên tầu ngoài vịnh rất được khách ưa chuộng. Chính vì vậy mà dịnh vụ vận chuyển tàu thuyền trên Vịnh Hạ Long rất phát triển. Một số loại tàu tiện nghi sang trọng được đưa vào phục vụ khách, như tàu Emerraude Cruise, với sức chứa khoảng 40-50 người, tàu Ginger Cruise – gồm 10 Cabin với sức chứa khoảng -25 hành khách. Đây là những loại tầu với trang thiết bị tiện nghi như 61 những khách sạn 5 sao nổi trên nước, các dịnh vụ trên tầu đáp ứng tốt những nhu cầu của khách và luôn được khách đánh giá. Tuy nhiên giá tiền cũng tương đối cao. Chính vì vậy mà có những loại tàu chất lượng đủ đảm bảo nhu cầu của khách hoạt động khá nhiều trên Vịnh, giúp khách có thể yên tâm khi ngủ lại trên tầu, loại tầu này cũng được chia thành nhiều cabin hoặc một vài cabin để đáp ứng theo mỗi nhóm khách khác nhau.
Tính đến tháng 10/2007, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển đạt 188.712 lượt người, chiếm gần 6% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 10 tháng đầu năm. Tuy nhiên số lượng khách quốc tế đến Việt Nam bằng đường biển có xu hướng giảm khi tỷ lệ này vào năm 2006 chiếm khoảng gần 7%.
Công nghệ thông tin:
Mạng Internet có lợi thế là nó cho phép tiếp cận các sản phẩm du lịch trên toàn cầu với mức chi phí thấp nhất. Đối với nhiều nhà cung cấp dịch vụ, công tác marketing du lịch đang ngày càng tập trung vào những người sử dụng internet.
Dịch vụ du lịch trực tuyến với các hoạt động như đặt vé, tour, phòng qua mạng đã trở lên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam , việc khai thác phát triển du lịch qua mạng cũng không phải là quá mới mẻ. Các doanh nghiệp khách sạn hàng đầu của Việt Nam đều xây dựng website riêng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại hiệu quả rõ nét, các hình thức đặt phòng, đặt tour qua mạng ngày càng tăng, bước đầu hình thành các cơ sở giao dịnh thương mại điện tử. Các website du lịch Việt Nam có thể kể đến:
Trong đó, website của Tổng cục du lịch www.vietnamtuorism.gov.vn xây dựng gần như đầy đủ mọi thông tin liên quan đến hoạt động du lịch và các thông tin giới thiệu về lịch sử, văn hoá, đất nước, con người Việt Nam; đặc biệt nhấn mạnh về tiềm năng du lịch của 64 tỉnh thành, có phần giới thiệu các công ty du lịch, các khách sạn quốc tế trên toàn quốc. Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam