Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong thời giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM

1. Một số thành tựu chủ yếu của Ngành du lịch Việt Nam

1.1. Hiệu quả kinh tế – xã hội ngày càng lớn và toàn diện

Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội. Nếu như năm 1990, thu nhập từ du lịch mới chỉ đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm 2006, con số này đã là 36.000 tỷ đồng, tức là gấp gần 27 lần so với năm 1990. Với triển vọng phát triển như hiện nay, ngành du lịch hứa hẹn sẽ mang lại cho Việt Nam thu nhập ngày càng tăng. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành du lịch trong khối dịch vụ và tổng thu nhập quốc dân. Những địa điểm có du lịch phát triển thì diện mạo đô thị được chỉnh tranh, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Một số địa điểm nổi bật như Sapa, Hạ Long, Sầm Sơn, Huế, Hội An, Nha Trang, Bà Rịa – Vũng Tàu là những nơi có ngành du lịch phát triển nhất nước ta. Ngành du lịch ở những địa điểm này phát triển đã kéo theo sự phát triển các ngành nghề khác, từ đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

Ngành du lịch có đặc thù là ngành tạo ra rất nhiều việc làm cả trực tiếp lần gián tiếp. Hiện nay, ước tính ngành du lịch đã tạo ra việc làm cho trên 850.000 lao động trên cả nước, trong đó số lao động trực tiếp là khoảng 234.000 người và số lao động gián tiếp là khoảng 510.000 người. Mỗi năm ngành du lịch góp phần tạo thêm hàng ngàn chỗ làm việc mới và hàng vạn việc làm gián tiếp.

Ngành du lịch đã từng bước được xã hội hoá, góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Ngành du lịch Việt Nam đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các địa phương thu hút được nhiều dự án và vốn đầu tư trực tiếp vàp nước ngoài nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Khánh Hoà.

Bảng 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 1995 – 2006 vào hoạt động du lịch

Ngành du lịch đã tranh thủ được nhiều tổ chức quốc tế, các chính phủ và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch như về các lĩnh vực quy hoạch phát triển du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, cải cách hành chính, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật du lịch. Cho đến nay, Việt Nam đã có tổng số 239 dự án đầu tư với tổng số vốn là 6,112 tỷ USD. Trong 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực du lịch Việt Nam đạt gần 800 triệu USD, với tổng số 17 dự án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.2 Nâng cao nhận thức về du lịch Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch được duy trì thường xuyên, có chiều sâu trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua các hoạt động đa dạng khác đã góp phần chuyển biến tích cực nhận thức về du lịch của cấp, các ngành và của toàn xã hội đối với vị trí, vai trò và lợi ích nhiều mặt của du lịch. Từ đó đã tạo ra sự phát triển du lịch sâu rộng trên phạm vi cả nước. Hiện hơn 20 tỉnh và thành phố đã xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng hoặc mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đó là những tiền đề quan trọng giúp du lịch Việt Nam vượt qua được những thách thức đang cản trở du lịch hiện nay: nạn khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, các thảm hoạ thiên tai.

1.3. Quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam ra thị trường quốc tế. 

Các website về du lịch Việt Nam tiếp tục được nâng cấp và cải tiến, thu hút được hàng triệu lượt người truy cập, thao khảo tìm thông tin về du lịch Việt Nam. Thông qua hoạt động du lịch, du khách biết đến Việt Nam như là một điểm đến hấp dẫn, hoà bình, ổn định và mến khách. Vừa qua, Việt Nam đã được hội đồng du lịch thế giới xếp vị trí thứ 7 về tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch, và là 1 trong 10 điểm đến du lịch hàng đầu trên thế giới.

1.4. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch luôn được cải tiến và nâng cao.

Sản phẩm du lịch đã được cải thiện rõ rệt cả về chất và lượng. Việc hỗ trợ khôi phục và tổ chức các lễ hội truyền thống, các sự kiện văn hoá du lịch đã tạo điều kiện hình thành các tour chuyên để tìm hiểu văn hoá- lịch sử truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Festival Huế 2 năm được tổ chức 1 lần, đêm rằm phố cổ Hội An, hội đua nghe ngo – lễ cúng trăng ở Sóc Trăng đã trở thành những sản phẩm độc đáo thu hút khách du lịch cả trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã xây dựng các chương trình đa dạng, phù hợp với thị hiếu khách, tổ chức xúc tiến, quảng cáo rộng rãi trên thị trường ngoài nước và đi vào khai thác.

Trên 200 lớp bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ du lịch và ngoại ngữ cho hàng chục nghìn lượt lao động được Chương trình hỗ trợ tổ chức đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và phục vụ. Các hội thi Hướng dẫn viên du lịch, Lễ tân và ẩm thực toàn quốc cũng phần nào nâng cao chất lượng chuyên môn của lao động ngành du lịch.

Ngoài 6 nước ASEAN, Việt Nam đã miễn thị thực cho công dân Nhật Bản, Hàn Quốc và công dân 4 nước Bắc Âu đến Việt Nam du lịch. Việt Nam cũng giảm phí Visa cho khách đi tầu biển từ 25 USD xuống còn 10 USD.

Ngành du lịch phát triển đã thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá tại chỗ, tạo thêm ngày càng nhiều việc làm mới. Hiện nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được khách quốc tế rất ưa thích và tiêu thụ nhiều hơn. Khách đông, tỷ trọng có sức chi trả cao tăng lên và chất lượng sản phẩm, dịch vụ được cải thiện là những yếu tố quan trọng nâng tỷ lệ giá trị gia tăng của sản phẩm du lịch và tạo thêm nhiều việc làm mới. Hiện nay ngành du lịch góp phần tạo thêm mỗi năm hàng ngàn chỗ làm việc mới và hàng vạn việc làm gián tiếp.

Du lịch đã từng bước được xã hội hoá, góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

2. Những hạn chế đối với ngành du lịch Việt Nam Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, trong giai đoạn hội nhập hiện nay, ngành du lịch còn tồn tại rất nhiều hạn chế. Hiện tại, Việt Nam đứng thứ 87 về chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch trong tổng số 124 nước. Theo đánh giá, chỉ số cạnh tranh này rõ ràng là thấp so với tiềm năng du lịch của Việt Nam. Một số nguyên nhân có thể kể ra là do sản phẩm du lịch Việt Nam còn chưa đa dạng, dịch vụ chưa tốt; nhân lực của ngành còn thiếu và chất lượng thấp; cơ sở hạ tầng yếu kém; hoạt động quảng bá xúc tiến còn chậm chạp và chưa hiệu quả…

2.1. Các sản phẩm du lịch của Việt Nam còn nghèo nàn và chất lượng sản phẩm thấp

Theo số liệu thống kê thì có đến khoảng 70 – 80% khách quốc tế đã đến Việt Nam không quay trở lại lần thứ hai do nguyên nhân là các sản phẩm du lịch quá nghèo nàn. Việt Nam rất thiếu các điểm tham quan du lịch đặc sắc, điểm vui chơi giải trí, khách sạn cao cấp thì quá ít và luôn ở trong tình trạng quá tải.

Các điểm du lịch của Việt Nam chủ yếu còn ở dạng tự nhiên, sự khai thác còn ở mức rất đơn giản nên các sản phẩm du lịch chưa thực sự tận dụng được tiềm năng của đất nước. Các sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc còn ít, chưa tạo được ấn tượng mạnh mẽ và thu hút khách du lịch.

2.2. Ngành du lịch Việt Nam thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao và chuyên nghiệp. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, nhu cầu nhân lực cho du lịch sẽ rất lớn, đặc biệt là nhân lực có trình độ cao. Hiện nay, nguồn nhân lực có trình độ thấp là vấn đề rất đáng lo ngại đối với Ngành du lịch Việt Nam. Không chỉ thiếu về số lượng, nguồn nhân lực du lịch Việt Nam còn yếu cả về chất lượng, yếu về ngoại ngữ mà còn yếu cả về kỹ năng nghề nghiệp.

2.3. Chất lượng cơ sở hạ tầng vẫn yếu kém

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với ngành du lịch, tạo nên thành công của ngành du lịch. Hiện trạng cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân khiến khách du lịch quốc tế khó chịu nhất khi đi du lịch Việt Nam. Tại các thành phố lớn như Hà Nội hay Hồ Chí Minh, tình trạng tắc đường, ắc tắc giao thông gây rất nhiều phiền toái không chỉ đối với khách du lịch quốc tế mà ngay cả khách du lịch nội địa. Các phương tiện giao thông phục vụ khách du lịch tại Việt Nam hiện nay rất đa dạng, song chất lượng phục vụ lại chưa cao. Hiện du khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu là theo đường hàng không. Tuy nhiên, việc thiếu đường bay thẳng đã làm cho chi phí hàng không của Việt Nam cao hơn hẳn so với các nước trong khu vực. Chất lượng của giao thông đường bộ và đường thuỷ cũng không có gì là tiến bộ hơn khi thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu phương tiện nghiêm trọng trong các mùa cao điểm.

Ngoài ra, tình trạng thiếu cơ sở lưu trú cũng là một hạn chế rất lớn đối với ngành du lịch Việt Nam, bởi đây là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của hoạt động du lịch. Đặc biệt, trong mùa cao điểm hoặc lễ hội, tình trạng thiếu phòng càng trở nên trầm trọng, kéo theo cả sự tăng đột biến của giá phòng.

2.4. Những hạn chế về mặt marketing, quảng bá và tiếp thị thương hiệu du lịch Việt Nam ra quốc tế

Ngày nay, hình ảnh Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn, thân thiện đối với du khách quốc tế đã được khắc họa ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, việc xúc tiến cung cấp thông tin và quảng bá thương hiệu của Ngành du lịch Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Một phần là do Việt Nam chưa có văn phòng đại diện du lịch tại nước ngoài. Chính vì thế mà các hoạt động quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra nước ngoài còn rất hạn chế.

Ngoài ra, Ngành du lịch Việt Nam còn chưa tạo ra được cho mình một thương hiệu thực sự ấn tượng. Khẩu hiệu “Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới” và biểu tượng “Nụ cười Việt Nam” tuy đã có tác động tích cực nhất định tới dịch vụ du lịch của Việt Nam, nhưng vẫn chưa thực sự ấn tượng và cần có sự đổi mới. Du lịch Việt Nam cần phải định vị được sản phẩm du lịch thế mạnh của mình. Thương hiệu du lịch của Singapore là du lịch đô thị, sản phẩm du lịch là vườn cây xanh. Malaixia nổi bật với các điểm mua sắm và du lịch biển. Đặc trưng của du lịch Thái Lan là spa, nghỉ dưỡng, lễ hội…

Riêng Việt Nam thì vẫn còn là cái gì đó còn “tiềm ẩn” như khẩu hiệu du lịch “vẻ đẹp tiềm ẩn” vậy. Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao năng lực du lịch Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát tình hình ngành du lịch Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464