Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán VNS dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Thị trường chứng khoán” đến thời điểm hiện nay đã không còn là một khái niệm xa lạ với người dân Việt Nam nữa, mà nó đã đi vào không chỉ trong đời sống kinh tế mà còn trở thành một phần trong đời sống xã hội của người Việt. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu xảy ra và chứng kiến những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến thị trường chứng khoán thế giới, các nhà đầu tư Việt Nam mới có nhận thức, cái nhìn đúng đắn hơn về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đó không phải là nơi cứ có tiền là có thể tham gia được. Khi các nhà đầu tư muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán, ngoài vốn, họ còn phải có kiến thức về tài chính – ngân hàng, phải năng động để cập nhật thông tin trong nước cũng như trên thế giới, phải có chiến lược, sự phân tích và quyết định đúng đắn thì mới có thể tham gia vào thị trường.
Chính từ những yêu cầu đó mà vai trò của công ty chứng khoán, mà đặc biệt là vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán mới được nhìn nhận và đánh giá lại. Môi giới không chỉ là người trung gian, dẫn dắt người bán và người mua gặp nhau để hưởng hoa hồng, mà người môi giới còn phải có kiến thức, có kinh nhiệm, luôn luôn nắm bắt được những biến đổi của nền kinh tế và hiểu được khách hàng của mình, từ đó đưa ra lời khuyên, đưa ra những kiến nghị hợp lý để nhà đầu tư đạt được lợi ích cao nhất.
Hoạt động môi giới mà hiệu quả thì sẽ là một trong những tiền đề vững chắc giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững. Và ngược lại, một thị trường chứng khoán sôi động, tăng trưởng mạnh thì chắc chắn hoạt động môi giới của nó phải rất phát triển.
Mặc dù hoạt động môi giới ở Việt Nam hiện nay ngày càng có những bước tiến bộ, nhưng vẫn chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp như ở các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới. Vậy hoạt động môi giới của công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay ra sao? Để tìm hiểu vấn đề này người viết đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS” là đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện 3 mục đích sau:
Thứ nhất là khái quát chung về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán để có được cái nhìn tổng quan nhất về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới chứng khoán.
Thứ hai là trình bày thực trạng hoạt động Môi giới tại một công ty chứng khoán, mà cụ thể ở đây là Công ty cổ phần Chứng khoán VNS.
Thứ ba là dựa trên thực trạng hoạt động Môi giới đó, người viết sẽ đưa ra giải pháp để giúp Công ty cổ phần Chứng khoán VNS phát triển hơn nữa hoạt động Môi giới của mình trong tương lai.
3. Đối tượng nghiên cứu
Môi giới là một lĩnh vực có tầm hoạt động lớn, đa dạng về hình thức và cách thức. Trong điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, người viết chỉ nghiên cứu nghiệp vụ môi giới trong phạm vi một công ty là Công ty cổ phần Chứng khoán VNS. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS từ khi công ty được thành lập, tức là từ cuối năm 2007 đến hết năm 2009, trong phạm vi chính là Hội sở của công ty tại Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Đề tài này dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Chứng khoán, Thị trường chứng khoán và hoạt động Môi giới chứng khoán.
Người viết đã áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm: phương pháp phân tích tài liệu (thu thập các thông tin, số liệu từ tài liệu của công ty VNS), phương pháp quan sát (thu thập thông tin bằng cách tri thức trực tiếp và ghi lại những yếu tố liên quan đến hoạt động môi giới của công ty VNS), phương pháp điều tra và thống kê – tổng hợp.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài Lời mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 phần chính như sau:
Chương I: Khái quát chung về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới của công ty Chứng khoán.
Chương II: Thực trạng hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS.
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
I. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
1. Khái niệm và đặc điểm của Công ty chứng khoán
1.1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán. Qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những nguồn vốn nhỏ lẻ được tập hợp lại.
Có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp” (GS.NGƯT Đinh Xuân Trình và PGS.TS. Nghuyễn Thị Quy, “Giáo trình Thị trường chứng khoán” của Trường ĐH Ngoại Thương, NXB Giáo Dục).
Với vai trò quan trọng là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, công ty chứng khoán được xây dựng và phát triển rất đa dạng về loại hình và quy mô.
Nếu căn cứ vào mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể phân chia công ty chứng khoán thành 2 nhóm sau:
- Công ty chứng khoán đa năng: Đây là loại hình công ty chứng khoán thực hiện tất cả các nghiệp vụ như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác. Đây chính là mô hình mà các Ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách vừa là chủ thể kinh doanh chứng khoán, vừa là chủ thể kinh doanh bảo hiểm và vừa là chủ thể kinh doanh tiền tệ.
- Công ty chứng khoán chuyên doanh: Đây là loại hình công ty chứng khoán độc lập và chỉ chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán.
Nếu căn cứ vào việc thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán, có thể phân chia công ty chứng khoán thành các loại sau:
- Công ty Môi giới chứng khoán: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
- Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng khoán có lĩnh vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
- Công ty Kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là công ty chứng khoán tự bỏ vốn đầu tư chứng khoán và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
- Công ty Trái phiếu: là công ty chứng khoán chuyên mua bán các loại trái phiếu.
- Công ty chứng khoán không tập trung: là các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường.
- Ngoài ra còn có mô hình công ty chứng khoán thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
Hiện nay ở Việt Nam, các công ty chứng khoán được thành lập theo hình thức chuyên doanh. Dù là các công ty chứng khoán cổ phần hay công ty chứng khoán trách nhiệm hữu hạn một thành viên của các Ngân hàng thương mại đều chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không tham gia kinh doanh tiền tệ hay bảo hiểm.
1.2. Đặc điểm của Công ty chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
1.2.1. Công ty chứng khoán là trung gian trên thị trường tài chính
Trung gian tài chính là các tổ chức tài chính làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người có vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính tực tiếp – người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, sự dẫn vốn diễn ra phải thông qua một cầu nối đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các trung gian tài chính.
Các tổ chức trung gian tài chính có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính…
Công ty chứng khoán với đặc điểm là một trung gian tài chính sẽ đóng vai trò là một trung gian đầu tư. Công ty chứng khoán không chỉ là cầu nối giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư mà còn là cầu nối giữa các nhà đầu tư với nhau. Các công ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư (bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán thuộc khu vực công và khu vực tư nhân, trợ giúp trong lĩnh vực hợp nhất và sáp nhập các công ty), thực hiện giao dịch mua bán (với tư cách là đối tác trong giao dịch) các cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ của thị trường tiền tệ.
1.2.2. Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán phát sinh là do công ty chứng khoán hoạt động trong lĩnh vực tài chính – lĩnh vực cực kỳ quan trọng và có ảnh hưởng sống còn, nên cần phải có những quy định chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế. Hay nói cách khác, kinh doanh chứng khoán là một trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề mà Luật, Pháp lệnh, Nghị định quy định các diều kiện hay yêu cầu mà doanh nghiệp phải đáp ứng khi kinh doanh các ngành nghề đó. Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới 2 hình thức sau:
- Giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp (giấy phép kinh doanh có thể mang nhiều tên khác nhau, như: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép hoạt động…).
- Các điều kiện quy định về tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật, công nghệ, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là điều kiện kinh doanh không cần giấy phép).
Trong trường hợp công ty chứng khoán, điều kiện kinh doanh là được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Trước tiên, một doanh nghiệp muốn trở thành một công ty chứng khoán thì phải được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Theo Điều 62, Luật chứng khoán 2006, điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt dộng của công ty chứng khoán bao gồm: có trụ sở, có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán; có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán…
Ngoài Luật chứng khoán 2006 và Nghị định số 14/2007 của Chính phủ, các điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán được quy định rất cụ thể trong Quyết định số 27/2007 của Bộ tài chính về “Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán” và Quyết định số 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế này.
1.2.3. Mô hình tổ chức của Công ty chứng khoán
Một công ty chứng khoán có bộ máy tổ chức hợp lý sẽ nâng cao tính linh động trong dịch vụ, linh hoạt trong việc tư vấn và thực hiện yêu cầu của khách hàng. Cùng một công việc, công ty nào tổ chức hợp lý, chặt chẽ hơn sẽ thực hiện nhanh hơn, chính xác hơn và ít sai sót.
Có thể nói mỗi công ty chứng khoán đều có một mô hình riêng cho mình và trên thế giới hiện nay thì không có mô hình chuẩn cho các công ty chứng khoán. Tùy thuộc vào sự phát triển của các nghiệp vụ và tính chất phức tạp trong hoạt động mà mỗi công ty tổ chức một khác. Mặc dù vậy, tổ chức trong một công ty chứng khoán phải theo những nguyên tắc như: cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phải đảm bảo tách biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo giữa các bộ phận nghiệp vụ có xung đột giữa lợi ích của công ty chứng khoán và của khách hàng hoặc giữa lợi ích của các khách hàng với nhau; công ty chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc về quản trị công ty được quy định trong Điều lệ công ty phù hợp với Điều lệ theo quy định của pháp luật…
Có thể khái quát cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Ngoài ra, tùy theo công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên mà tổ chức của công ty chứng khoán đó phải theo đúng quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức của từng loại công ty này.
1.2.4. Hoạt động của Công ty chứng khoán phải theo nguyên tắc Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán được quy định trong Điều lệ của công ty. Mỗi công ty chứng khoán đều có thể tự đặt ra nguyên tắc hoạt động cho mình miễn là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo được các nguyên tắc chung như: Tuân thủ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các pháp luật khác; Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp; Liêm trực và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách công bằng; Hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình với khách hàng một cách tốt nhất; Đảm bảo nguồn lực về con người, vốn và cơ sở vật chất cần thiết khác để thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán và ban hành bằng văn bản các quy trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh phù hợp; Chỉ được đưa ra lời tư vấn phù hợp với khách hàng trên cơ sở nỗ lực thu thập thông tin về khách hàng; Phải cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết cho việc ra quyết định đầu tư của khách hàng; Phải thận trọng không được tạo ra xung đột lợi ích với khách hàng (trong trường hợp không thể tránh được, công ty phải thông báo trước cho khách hàng và/ hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo đối xử công bằng với khách hàng); Ban hành và áp dụng các quy trình nghiệp vụ trong công ty phù hợp với quy định của Luật chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan.
Các nguyên tắc chung, cơ bản trên là các nguyên tắc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, công bằng cho các nhà đầu tư và đảm bảo sự quản lý của pháp luật trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
1.2.5. Nhân sự tại Công ty chứng khoán
Nhân sự là một nguồn lực rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng. Với một cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ mà không có đội ngũ nhân viên có năng lực, nhanh nhạy thì hoạt động kinh doanh của công ty không thể hiệu quả.
Tùy theo từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động mà yêu cầu về trình độ, kỹ năng của đội ngũ nhân lực là khác nhau. Đối với công ty chứng khoán, để được phép đi vào hoạt động, ngoài Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng giám đốc) cần phải có ít nhất 3 người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh.
Để trở thành một người hành nghề chứng khoán cần phải được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán (điều kiện để một cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được quy định trong khoản 1, Điều 79, Luật chứng khoán 2006). Ngoài ra một người hành nghề chứng khoán cần phải có những trách nhiệm ràng buộc khác để không ngừng nâng cao trình độ của bản thân, bảo đảm lợi ích cho khách hàng và thực thi đúng quy định của Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Từ những yêu cầu trên, có thể nhận thấy được rằng thị trường chứng khoán có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nên vấn đề yêu cầu tư cách, trình độ nhân lực trong công ty chứng khoán rất được xem trọng.
2. Các nghiệp vụ cơ bản của Công ty chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Trên đây là những vấn đề về khái niệm và đặc điểm của công ty chứng khoán. Vậy, với ngành nghề là kinh doanh chứng khoán, công ty chứng khoán sẽ thực hiện những nghiệp vụ gì, thực hiện như thế nào và điều kiện để thực hiện ra sao?
Các hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính để đáp ứng các yêu cầu của thị trường chứng khoán. Để tham gia thị trường, công ty chứng khoán có thể thực hiện một, một vài hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ sau.
2.1. Hoạt động tự doanh
Theo Điều 6, khoản 21, Luật chứng khoán 2006 thì “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình”. Một công ty chứng khoán muốn hoạt động tự doanh phải có số vốn pháp định ít nhất là 100 tỷ đồng.
Chứng khoán được công ty chứng khoán tự doanh có thể là chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc các chứng khoán chưa niêm yết.
Bên cạnh mục đích chính là lợi nhuận, hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán còn nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá chứng khoán, tạo lập thị trường cho các chứng khoán mới phát hành và tự doanh lô lẻ của khách hàng sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Đối với mục đích can thiệp điều tiết giá chứng khoán, công ty chứng khoán đã góp phần bình ổn thị trường thông qua hành vi mua vào khi giá chứng khoán giảm hoặc bán ra khi giá chứng khoán tăng. Thông thường, ở một số nước, đây là một quy định bắt buộc đối với các công ty chứng khoán để đảm bảo bình ổn thị trường. Luật các nước đều quy định công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định các giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trường.
Đối với vai trò tạo lập thị trường, công ty chứng khoán là nhà đầu tư nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một vài loại chứng khoán và thực hiện việc mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá, duy trì một thị trường liên tục đối với chứng khoán mà họ tham gia tạo lập thị trường. Ngoài ra, đối với các loại chứng khoán mới phát hành chưa có giao dịch, công ty chứng khoán phải tạo lập thị trường cho các chứng khoán này bằng cách giao dịch mua bán chứng khoán để tạo tính thanh khoản trên thị trường. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Nguyên tắc của hoạt động tự doanh chứng khoán là công ty chứng khoán phải đảm bảo quản lý tách bạch giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới. Cụ thể, công ty chứng khoán phải:
- Đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch cho tài khoản của chính mình.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của mình.
- Công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu phí giao dịch của khách hàng trong trường hợp này.
- Trong trường hợp lệnh mua/ bán chứng khoán của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của loại chứng khoán đó, công ty chứng khoán không được mua/ bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua/ bán chứng khoán đó.
- Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua hoặc bán cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện.
Nguyên tắc này đảm bảo tính công bằng cho khách hàng vì với tư cách là một tổ chức trực tiếp tham gia thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thường chủ động hơn khách hàng trong việc tiếp cân thông tin và có kỹ năng phân tích thông tin, phân tích tình hình thị trường nên nếu không có nguyên tắc này, công ty chứng khoán sẽ tranh mua hoặc tranh bán với khách hàng hoặc có thể chiếm dụng vốn của khách hàng.
Hoạt động tự doanh là hoạt động mà công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của mình nên áp lực đối với người trực tiếp tự doanh là rất lớn. Vì vậy, công ty chứng khoán phải đảm bảo có nguồn vốn lớn và một đội ngũ nhân viên tự doanh có trình độ phân tích, phán đoán thị trường nhanh nhạy, đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.
Tuy vậy, theo Điều 29 về hạn chế đầu tư của công ty chứng khoán, quyết định số 27/2007/QĐ-BTC , trừ trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn, có một số trường hợp mà công ty chứng khoán không được phép đầu tư.
2.2. Hoạt động bảo lãnh phát hành
Theo Điều 6, khoản 21, Luật chứng khoán 2006 thì “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng”. Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất địnhtrên số tiền thu được từ đợt phát hành. Số vốn pháp định tối thiểu để một công ty chứng khoán thực hiện hoạt động này là 165 tỷ đồng. Trong hoạt động bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức bảo lãnh.
Trên thị trường chứng khoán không chỉ có công ty chứng khoán được phép làm tổ chức bảo lãnh phát hành mà còn có các ngân hàng đầu tư. Tuy nhiên, các ngân hàng đầu tư nhận bảo lãnh cho một tổ chức phát hành, sau đó thường chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự doanh hoặc cho các thành viên khác. Còn đối với công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành, thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không.
- Bão lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa. Số chứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành. Như vậy, kết quả của việc bán chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc và khả năng, uy tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh.
- Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành. Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành. Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc.
- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu: là phương thức kết hợp giữa phương thức bảo lãnh cố gắng tối đa và phương bảo lãnh tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định. Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng khoán sẽ được trả lại cho nhà đầu tư. Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh.
Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các công ty chứng khoán. Điều này gây ra một số khó khăn cho các công ty chứng khoán trong việc triển khai nghiệp vụ này.
Công ty chứng khoán được thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán theo hình thức cam kết chắc chắn nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- Được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán;
- Không vi phạm pháp luật chứng khoán trong 6 tháng liên tục liền trước thời điểm bảo lãnh;
- Tổng giá trị bảo lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
- Có tỷ lệ vốn khả dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong 3 tháng liền trước thời điểm nhận bảo lãnh phát hành.
Mặc dù đã đáp những được các điều kiện trên, nhưng cũng giống như tự doanh, hoạt động bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán vẫn có những trường hợp bị hạn chế theo quy định của Pháp luật.
2.3. Hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Tư vấn tài chính là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán.
Theo Điều 6, khoản 23, Luật chứng khoán 2006 thì “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán”. Để được phép thực hiện hoạt động này, công ty chứng khoán phải có số vốn pháp định ít nhất là 10 tỷ đồng.
Từ hai khái niệm trên có thể thấy rằng hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán nhắm tới 2 đối tượng là tổ chức phát hành chứng khoán (trên thị trường sơ cấp) và nhà đầu tư (trên thị trường thứ cấp).
Tư vấn tài chính là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao cho công ty chứng khoán. Thực hiện nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những hàng hóa có chất lượng cao trên thị trường. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết. Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:
- Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc định giá các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán. Đây là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu.
- Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy theo điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xác định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu.
- Tư vấn chia, tách hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp: khi một doanh nghiệp muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các công ty chứng khoán để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp tái cơ cấu nguồn vốn của mình cho phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại, phù hợp với ngành nghề kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đảm bảo an toàn.
- Tư vấn niêm yết: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để đưa doanh nghiệp lên niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán.
Đối với tư vấn đầu tư chứng khoán, các chuyên viên tư vấn sẽ sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khoán, loại chứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường, xu hướng giá cả… Nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán bao gồm: tư vấn chiến lược, kỹ thuật giao dịch và cung cấp kết quả phân tích chứng khoán, phân tích thị trường chứng khoán. Hai nội dung tư vấn này phải có cơ sở hợp lý và phù hợp dựa trên thông tin đáng tin cậy, phân tích logic.
Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân tích… khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax… để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận, những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì những phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đền tâm lý của các nhà đầu tư và thường dễ có thể trở thành lời tiên đoán, định hướng cho toàn bộ thị trường. Bởi vì, các nhà đầu tư tin rằng các nhà tư vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực này, họ có nhiều thông tin và kiến thức hơn những người khác và họ có thể đánh giá tình hình chính xác hơn. Điều này có thể mang lại lợi nhuận cho người được tư vấn nhưng cũng có thể gây thiệt hại cho họ và làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Vì vậy, khi tư vấn đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán phải thu thập và quản lý thông tin về khách hàng đã được khách hàng xác nhận, bao gồm: tình hình tài chính của khách hàng; thu nhập của khách hàng; mục tiêu đầu tư của khách hàng; khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư của khách hàng.
Để ngăn ngừa xung đột lợi ích liên quan đến tư vấn đầu tư chứng khoán giữa khách hàng và công ty chứng khoán, thì:
- Công ty chứng khoán phải có trách nhiệm ngăn ngừa xung đột lợi ích với khách hàng; công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố cho khách hàng biết trước về những xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán và khách hàng.
- Công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố lợi ích của mình về chứng khoán mà mình đang sở hữu cho khách hàng đang được tư vấn về chứng khoán đó.
2.4. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Theo Điều 6, khoản 26, Luật chứng khoán 2006 thì “Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán”. Đối với công ty chứng khoán thì hoạt động này là hoạt động mà công ty chứng khoán quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa công ty chứng khoán và khách hàng.
Nghiệp vụ này được thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân muốn tham gia thị trường chứng khoán nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc kiến thức chuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy, họ ủy thác cho công ty chứng khoán đầu tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ. Người ủy thác đầu tư thường không can dự vào việc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng khoán theo thỏa thuận.
Các công ty chứng khoán khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc được hưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư. Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải quản lý tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác và sử dụng tiền trong tài khoản theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã ký kết. Hợp đồng phải xác định rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho công ty chứng khoán và điều quan trọng nữa là phải xác định khách hàng phải chịu mọi rủi ro của hoạt động đầu tư. Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, định kỳ, công ty chứng khoán phải gửi báo cáo giá trị các khoản đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo cho khách hàng.
Như vậy, hoạt động quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư.
2.5. Các hoạt động hỗ trợ khác Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Nhìn chung, các hoạt động hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Hoạt động hỗ trợ được chia làm 2 nhóm chính là hoạt động lưu ký chứng khoán và hoạt động tín dụng. Theo Điều 6, khoản 24, Luật chứng khoán 2006 thì “Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền kiên quan đến sở hữu chứng khoán”.
Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rẩt cần thiết trên thị trường chứng khoán. Bởi vì trên thị trường chứng khoán tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại Sở giao dịch chứng khoán. Vì vậy, lưu ký chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch đươc diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng. Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho người nắm giữ chứng khoán như rủi ro bị hỏng, rách, thất lạc chứng chỉ sở hữu chứng khoán…
Công ty chứng khoán được cấp Giấy chứng nhận hoạt động lưu ký theo quy định của Luật chứng khoán được thực hiện cung cấp các dịch vụ sau:
- Cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán các giao dịch chứng khoán cho khách hàng;
- Cung cấp dịch vụ đăng ký chứng khoán đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ;
- Làm đại lý chuyển nhượng theo yêu cầu của tổ chức phát hành đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ.
- Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được một khoản phí theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động tín dụng là hoạt động mà công ty chứng khoán giúp khách hàng của mình gia tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức như cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán…
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố cho khoản vay.
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc công ty chứng khoán dùng tiền của mình ứng trước tiền bán chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại Sở giao dịch chứng khoán và sẽ nhận lại tiền khi đến ngày thanh toán.
2.6. Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, trong đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán sẽ được trình bày kỹ hơn trong phần II của chương I khóa luận này.
II. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
1. Khái quát chung về Môi giới chứng khoán
Có thể nói, hoạt động môi giới chứng khoán là hạt nhân của thị trường chứng khoán. Hoạt động môi giới chứng khoán phát triển sẽ tạo đà phát triển cho thị trường chứng khoán. Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt động của thị trường chứng khoán là chỉ dựa vào các hoạt động giao dịch được cấp phép giữa những người trung gian làm nghề môi giới chứng khoán.
Khoản 20, Điều 6, Luật chứng khoán 2006 nêu khái niệm “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”. Nhưng trong thực tế thì không chỉ có công ty chứng khoán mới thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
Khái niệm môi giới chứng khoán của Hiệp hội những nhà kinh doanh chứng khoán (NASD) gồm các ý sau:
- Là một cá nhân hay tổ chức tính phí hoặc hưởng hoa hồng cho việc thực hiện lệnh mua hoặc bán cho một cá nhân hay một tổ chức khác.
- Là hoạt động của công ty môi giới khi hoạt động như một đại lý cho khách hàng và hưởng hoa hồng cho dịch vụ thực hiện.
- Người tham gia vào việc thực hiện giao dịch chứng khoán vì lợi ích của những người khác, trừ ngân hàng.
Với cách tiếp cận như vậy, người môi giới chứng khoán, hiểu theo nghĩa rộng, là những người trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng; trung gian mua bán chứng khoán bằng vốn của mình; và là người bảo lãnh phát hành cho những tổ chức phát hành chứng khoán. Người môi giới chứng khoán có thể là các tổ chức tài chính quốc doanh hoặc tổ chức tài chính thuộc khu vực kinh tế tư nhân với hai hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Ở Việt Nam, khái niệm môi giới chứng khoán mặc dù dần trở nên quen thuộc nhưng nhiều người vẫn coi môi giới chứng khoán như một loại trung gian, hay một loại “cò” giống như “cò” đất, “cò” xe… mà không hiểu bản chất của môi giới chứng khoán là một tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhất định. Để trở thành một nhà môi giới chứng khoán giỏi, có tiếng tăm và có nhiều khách hàng thì khi và chỉ khi khách hàng của nhà môi giới đó thu được nhiều lợi nhuận. Ở các thị trường chứng khoán có tổ chức, các nhà môi giới chứng khoán không hoạt động với tư cách cá nhân độc lập. Mỗi cá nhân người môi giới chứng khoán, dù hoạt động trong lĩnh vực nào, cũng thường đại diện cho một công ty chứng khoán. Vì vậy, các công ty chứng khoán phải chọn người môi giới có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn về thị trường chứng khoán nói chung và về môi giới chứng khoán nói riêng. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Có thể nói việc hình thành và phát triển nghề môi giới chứng khoán là một tất yếu khi thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao, khi sản phẩm và dịch vụ ngày càng đa dạng về số lượng và phong phú về chủng loại. Khi đó, nhà đầu tư sẽ càng cần hơn những người môi giới có thể cung cấp cho họ những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu tư mới mẻ, những lời khuyên mang tính chiến lược và giúp cho họ đầu tư theo hướng hiệu quả nhất. Từ yêu cầu thực tế đó, đòi hỏi hoạt động môi giới chứng khoán phải phát triển ở trình độ cao, mang tính chuyên nghiệp, nói cách khác là trở thành nghề môi giới chứng khoán. Như vậy, có thể hiểu nghề môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới, nơi cung cấp phương tiện vật chất, tổ chức, pháp lý và nhân viên môi giới – người trực tiếp giao dịch với khách hàng.
Một công ty chứng khoán muốn thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán cần phải đáp ứng hai điều kiện, đó là điều kiện về vốn và điều kiện về nhân lực.
Điều kiện về vốn: Khoản 1, Điều 18, 14/2007/NĐ – CP quy định về vốn pháp định cho nghiệp vụ môi giới chứng khoán là 25 tỷ đồng Việt Nam.
Điều kiện về nhân lực: Để được thực hiện hoạt động môi giới công ty chứng khoán cần có ít nhất 3 nhân viên hành nghề môi giới chứng khoán.
Một cá nhân muốn hành nghề môi giới chứng khoán thì phải được cấp Chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán. Theo Khoản 1, Điều 4 Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 về việc ban hành “Quy chế hành nghề chứng khoán”, để được hành nghề môi giới chứng khoán, cá nhân phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán. Chứng chỉ này được cấp khi cá nhân đáp ứng các điều kiện như:
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc trường hợp đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị toà án cấm hành nghề kinh doanh.
- Chưa từng bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán hoặc đã chấp hành xong quyết định xử phạt sau 1 năm, trong trường hợp bị xử phạt.
- Có trình độ đại học trở lên.
- Đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán, phù hợp với loại chứng chỉ hành nghề chứng khoán đề nghị cấp.
- Có các chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán, bao gồm: Chứng chỉ những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Chứng chỉ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Chứng chỉ phân tích và đầu tư chứng khoán, Chứng chỉ môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.
2. Đặc trưng, chức năng và vai trò của hoạt động Môi giới chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
2.1. Đặc trưng của hoạt động Môi giới chứng khoán
Đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán là những xung đột, tranh chấp lợi ích không thể tránh khỏi trong lĩnh vực này. Ở đây, khái niệm “tranh chấp lợi ích” không bao hàm hành vi của người môi giới hoặc khách hàng cố tình vi phạm pháp luật để kiếm lời một cách bất chính. Tranh chấp hay xung đột lợi ích có thể xảy ra trong những trường hợp như việc người môi giới không sẵn sàng thông báo với khách hàng của mĩnh về những diễn biến xấu của khoản đầu tư do chính anh ta khuyến nghị với khách hàng, và khi khách hàng bị thiệt hại thì việc bắt lỗi và xử lý người môi giới là rất khó. Hoặc có những trường hợp khách hàng do không thực sự hiểu biết về trách nhiệm và khả năng của người môi giới, nên đã kỳ vộng một cách không hợp lý về những gì mà nhà môi giới có thể mang lại cho mình, và đã khiếu nại khi thực tế xảy ra trái với những gì họ mong nuốn.
Người môi giới sống bằng tiền hoa hồng hay là khoản chênh lệch giá trong việc mua hoặc bán những lợi ích tài chính. Như thế, những lợi ích tài chính của riêng họ có thể xung đột với nhu cầu và mục tiêu của khách hàng. Với tư cách là người đại diện hay người được ủy quyền của khách hàng, người môi giới luôn luôn phải dẹp đi xung đột này để phục vụ lợi ích cao nhất của khách hàng – cái phải được ưu tiên hàng đầu.
Các công ty môi giới có thể gây áp lực lớn, buộc nhân viên môi giới của mình phải bán được những sản phẩm nhất định hoặc đạt được mức tổng sản lượng nhất định. Áp lực như vậy có thể thấy dưới nhiều hình thức, từ việc cấp văn phòng riêng cho tới việc tiếp tục thuê nhân viên đó. Giải pháp cho những việc xung đột như vậy, nói chung, đơn giản chỉ là đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết. Các công ty chứng khoán có thể tăng hoa hồng để khuyến khích người môi giới thực hiện nhiều giao dịch và có thể nói mức hoa hồng càng cao, được tạo ra càng thường xuyên thì càng tốt về mặt kinh tế đối với người môi giới và cũng kích thích tăng nguồn thu cho công ty. Song các công ty chứng khoán hay là những người môi giới chứng khoán cũng phải luôn luôn vì lợi ích của khách hàng, khách hàng phải được bán những sản phẩm phù hợp với nhu cầu cá nhân, với khối lượng thích hợp và việc bán hàng phải diễn ra một cách hợp lý, trung thực trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi. Nếu như tư cách đại diện được tạo lập trên sự tín nhiệm và trên cơ sở pháp lý thì một khách hàng công bằng hầu như không thể trách cứ người môi giới hay công ty môi giới của họ nếu như những khuyến nghị mà người môi giới đưa ra không mang lại những kết quả mỹ mãn.
Tóm lại, nếu các cố vấn tài chính và những khách hàng của họ ý thức được đầy đủ hơn thì họ sẽ hành động thận trọng và tránh được những tranh chấp, hay ít nhất cũng giảm thiểu được những thiệt hại và chi phí để giải quyết tranh chấp.
2.2. Chức năng của Môi giới chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Với tư cách là một hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới – nơi cung cấp phương tiện vật chất kỹ thuật, tổ chức và pháp lý, nhân viên môi giới – người trực tiếp tiếp thị và giao dịch với khách hàng, môi giới chứng khoán có 2 chức năng chính sau đây:
Thứ nhất là cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng.
Công ty chứng khoán thông qua các nhân viên môi giới cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu tư. Việc nghiên cứu này được tiến hành thông qua bộ phận nghiên cứu trong công ty chứng khoán. Bộ phận này nghiên cứu các lĩnh vực chủ yếu như: diễn biến tổng thể của thị trường, động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường đó, hay hoạt động của từng công ty trong khu vực. Những thông tin nay, các nhà nghiên cứu cung cấp cho các nhà môi giới hàng tuần, kèm theo đó là những khuyến nghị cụ thể về từng loại chứng khoán cần mua và cần bán. Nhà môi giới sẽ sử dụng những thông tin này để cung cấp cho khách hàng của mình theo những yêu cầu cụ thể.
Các nhà môi giới hàng ngày tiếp cận với một mạng thông tin điện tử cung cấp các thông tin tài chính liên tục và được cập nhật về lãi suất, kinh tế, thông tin thị trường, và cũng được tiếp cận với tất cả các tin tức mới nhất từ khắp nơi trên thế giới liên quan đến cổ phiếu của khách hàng.
Nhờ nguồn thông tin được thu thập và xử lý công phu này, người môi giới có đủ tri thức để trở thành nhà tư vấn tài chính của riêng của khách hàng. Ngoài việc đề xuất với khách hàng những chứng khoán và dịch vụ đơn thuần, người môi giới cũng có thể giới thiệu với khách hàng những cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành, các chứng chỉ quỹ đầu tư và các công cụ đầu tư khác. Quan trọng hơn hết, người môi giới có thể đề xuất một cách thức kết hợp các chứng khoán đơn lẻ trong một tổng thể (danh mục đầu tư) để giảm thiểu rủi ro và tăng tối đa lợi nhuận.
Người môi giới cho nhà đầu tư biết lúc nào thì họ nên mua, lúc nào thì nên bán và đồng thời cung cấp cho họ những thông tin kinh tế tài chính trên thị trường. Người môi giới khi đưa ra các lời khuyên cho khách hàng của mình, sẽ dựa trên các yếu tố như hệ số giá, thu nhập, các dự đoán về thu nhập và giá, tình trạng chung của nhóm ngành của cổ phiếu và trạng thái tổng thể của thị trường.
Người môi giới không chỉ là người đưa ra các khuyế nghị về tài chính cho khách hàng mà đôi khi còn lại một người bạn tin cẩn, có thể lắng nghe tất cả các câu hỏi liên quan tới tình trạng tài chính của khách hàng, và trong một chừng mực có thể , đưa ra giải pháp thích đáng giúp khách hàng tháo gỡ khó khăn. Do đó, tìm được một nhà moi giới giỏi hành nghề và thật tâm huyết là mong muốn của bất cứ nhà đầu tư chứng khoán nào.
Thứ hai là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và lợi ích của họ.
Người môi giới nhận các đơn dặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm một loạt công việc, từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch đến thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ có vậy, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng, tiếp tục đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin , theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc mà có thể dẫn tới những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Từ đó đề xuất những giải pháp hay chiến lược mới thích hợp.
Công ty chứng khoán là nơi đảm bảo những điều kiện vật chất, bao gồm: địa điểm, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch, nhân lực (đội ngũ nhân viên tác nghiệp) và pháp lý để cho quá trình này được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả; đồng thời khi xảy ra tranh chấp thì có thể xử lý được một cách thỏa đáng. Để làm được chức năng này, công ty được tổ chức theo những phòng ban chức năng phù hợp, với những quy trình hoạt động chặt chẽ, khoa học.
2.3. Vai trò của Môi giới chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Vì, có thể nói, môi giới chứng khoán là hoạt động hạt nhân của thị trường chứng khoán nên vai trò của môi giới chứng khoán là rất quan trọng.
Sau đây là một số vai trò cơ bản của môi giới chứng khoán.
Thứ nhất là phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường.
Công ty chứng khoán và các nhân viên môi giới của họ, khi thực hiện làm vai trò trung gian giữa người mua (nhà đầu tư) và người bán (nhà phát hành), có thể nắm bắt nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung cấp hàng hóa và dịch vụ, cung cấp những ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Kết quả của quá trình đó là đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, phát triển cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư và tăng trưởng.
Một ví dụ về sự thành công là công ty Merrill Lynch. Trong thập niên 60 – 70, trong khi hoạt động chủ yếu của các công ty chứng khoán mới chỉ là buôn bán cổ phiếu và trái phiếu, thì Merrill Lynch đã tìm kiếm những dịch vụ mà khách hàng cần. qua đó đã phát triển và tạo ra Tài khoản quản lý tiền mặt (CMA) và Tài khoản tiếp cận vốn tự có. Nhờ vậy mà công ty này đã vươn lên hẳn các đối thủ cạnh tranh vào thời kỳ đó. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Thứ hai là giảm chi phí giao dịch.
Khi mua bán bất kỳ một loại hàng hóa nào, để tiến hành giao dịch thì n gười mua và người bán phải gặp nhau, xem xét chất lượng hàng hóa và thỏa thuận giá cả.
Trên thị trường chứng khoán với đặc trưng là một thị trường của những sản phẩm và dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lượng, giá cả của hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một thị trường đấu giá tập trung. Những chi phí đó chỉ có các công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải. Mặt khác, một tổ chức trung gian chuyên nghiệp như vậy làm cầu nối cho các bên mua và bán gặp nhau sẽ làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và giám sát thực thi hợp đồng. Như thế, vai trò của nghề môi giới chứng khoán là tiết kiệm được chi phí giao dịch, xét trong từng giao dịch cụ thể cũng như trên tổng thể thị trường. Nhờ đó, giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường.
Thứ ba là góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư.
Hoạt động của người môi giới chứng khoán khi thâm nhập sâu vào cộng đồng các doanh nghiệp và người đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng hình thành nền văn hóa đầu tư. Khi các nhân viên môi giới tiếp cận và mang theo những sản phẩm tài chính phù hợp với yêu cầu của khách hàng, hoạt động này lâu dần sẽ hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính. Hơn nữa, hoạt động này sẽ làm tăng thói quen và các kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư, mà phổ biến là dịch vụ môi giới chứng khoán. Cùng với đó là sự tăng cường hiểu biết môi trường pháp lý và ý thức tuân thủ pháp luật vì hoạt động môi giới chứng khoán là một nơi phát sinh và bộc lộ những xung đột lợi ích giữa các bên tham gia thị trường.
Thứ tư là tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh.
Để thành công trong nghề môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán và từng người môi giới phải thu hút được khách hàng tìm đến, giữ chân khách hàng và tăng cường khối tài sản mà khách hàng ủy thác cho họ quản lý. Điều này tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán và từng người môi giới chứng khoán với nhau. Chính vì vậy, góp phần không nhỏ làm tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ.
Thứ năm là hình thành những dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và làm phong phú thêm môi trường đầu tư.
Với phương châm là chủ động tìm đến với khách hàng, cung cấp những dịch vụ tài chính tốt nhất, nên công ty chứng khoán nào cũng có lực lượng những người môi giới đông đảo. Ví dụ như công ty Merrill Lynch ở Mỹ có tới 13.000 nhân viên môi giới hay những công ty chứng khoán nhỏ khác của Mỹ cũng có không dưới 1.000 nhân viên môi giới. Có thể nói, phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán đã góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho nền kinh tế và cũng làm phong phú thêm môi trường kinh doanh.
3. Quy trình thực hiện một giao dịch chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Hoạt động môi giới là một hoạt động đóng vai trò không thể thiếu trong việc thực hiện một giao dịch chứng khoán. Vì vậy, người môi giới cần phải nắm rõ một quy trình giao dịch thông thường để tìm cách phát huy vai trò của mình trong mỗi công đoạn, sao cho mang lại lợi ích tốt nhất đến với khách hàng.
Việc thực hiện một giao dịch chứng khoán nói chung bao gồm các công việc chuẩn bị hệ thống đưa vào và truyền lệnh giữa các bên, phát hiện giá cân bằng, thực hiện lệnh, báo cáo giao dịch, giám sát và thông tin thị trường. Những công việc và hệ thống này có thể từ những thủ tục giấy tờ đơn giản đến các hệ thống thông tin và xử lý bằng máy điện tử, phụ thuộc vào yêu cầu của từng thị trường. Các giao dịch giữa khách hàng và một người môi giới chứng khoán, nói chung, được thực hiện trực tiếp giữa hai bên. Trái lại, giao dịch giữa hai người môi giới chứng khoán thường được thực hiện thông qua một cơ chế thị trường, chẳng hạn như một sở buôn bán trung tâm nơi người mua và người bán gặp nhau, thị trường qua quầy truyền thống, hoặc hệ thống thực hiện giao dịch tự động. Trong toàn bộ quy trình giao dịch, bộ phận hành chính luôn làm việc. Họ tính toán, nhập sổ sách các khoản tiền hoa hồng, thanh toán các chi phí, vào tài khoản doanh thu, tuyển người…
Quy trình giao dịch thông thường bao gồm các bước sau:
Bước 1: Mở tài khoản.
Trước khi nhận lệnh của khách hàng, công ty chứng khoán phải yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty đó. Tài khoản đó có thể là tài khoản giao dịch hoặc tài khoản ký quỹ. Tài khoản giao dịch để dùng cho các giao dịch thông thường, qua đó khách hàng khi mua chứng khoán được yêu cầu trả đủ tiền trước thời hạn thanh toán do Sở giao dịch quy định. Tài khoản ký quỹ dùng cho giao dịch ký quỹ, qua đó khách hàng có thể vay tiền công ty để mua chứng khoán. Với giao dịch ký quỹ, công ty chứng khoán không chỉ hưởng hoa hồng mua bán hộ chứng khoán mà còn được thu lãi trên số tiền cho khách hàng vay. Sở dĩ phải có hai loại tài khoản như vậy là vì yêu cầu quản lý đối với giao dịch ký quỹ khác với yêu cầu quản lý đối với giao dịch thông thường.
Bước 2: Nhận đơn đặt hàng.
Sau khi tài khoản đã mở, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch trên tài khoản của mình bằng cách gửi lệnh mua bán chứng khoán đến công ty môi giới. Hình thức đặt lệnh có thể bằng điện thoại, bằng telex hay bằng phiếu lệnh.
Có thể xảy ra những sai sót khi nhận lệnh, đặc biệt là nhận qua đường điện thoại, cho nên lệnh đặt hàng phải đảm bảo rõ ràng và chính xác. Nếu là lệnh đặt mua, công ty phải đề nghị khách hàng ký quỹ một mức tiền nhất định trên tài khoản của khách hàng ở công ty. Nếu là lệnh bán, công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình số chứng khoán muốn bán để kiểm tra trước khi thực hiện lệnh đặt hàng hoặc đề nghị khách hàng phải ký quỹ một phần số chứng khoán cần bán theo một tỷ lệ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định.
Phòng môi giới chứng khoán của công ty sau khi phân loại các lệnh mua bán và hoàn tất thủ tục ban đầu thỏa thuận với khách hàng như mức ký quỹ, hoa hồng, lệ phí… sẽ thông báo bằng điện thoại, telex hoặc fax cho thư ký văn phòng đại diện của công ty chứng khoán có mặt tại quầy giao dịch trong Sở giao dịch chứng khoán hoặc là thị trường OTC.
Bước 3: Thực hiện lệnh đặt hàng.
Khi bước nhận lệnh đã hoàn thành, công ty chứng khoán bắt đầu chuyển sang bước tiếp theo là thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng. Nếu chứng khoán mua hoặc bán không thuộc loại giao dịch, theo phương pháp đấu giá, sẽ được chuyển lên phòng môi giới của Sở giao dịch chứng khoán. Tại đây các lệnh mua bán sẽ được thực hiện theo phương pháp bán giá dò tìm qua hệ thống máy tính. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Sau khi đã xác định được giá của chứng khoán cần bán hay cần mua, theo đơn đặt hàng do người môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán chuyển đến, nhân viên của Sở giao dịch chứng khoán sẽ công bố kết quả trên bảng điện. Nội dung thỏa thuận mua bán sẽ được lưu giữ tại hệ thống thông tin của Sở giao dịch chứng khoán và được chuyển đến bộ phận quyết toán.
Nếu là lệnh đặt hàng được thực hiện trên thị trường OTC, nội dung tiến hành bước này cũng tương tự như ở Sở giao dịch chứng khoán, song việc quản lý nhà nước có phần lỏng lẻo hơn và không đảm bảo chắc chắn bằng Sở giao dịch chứng khoán cho các khoản giao dịch.
Bước 4: Xác nhận cho khách hàng và cấp giấy xác nhận vào sổ theo dõi.
Sau khi lệnh đã được thực hiện xong, công ty chứng khan gửi cho khách hàng một phiếu xác nhận các kết quả giao dịch, bao gồm giá, số lượng chứng khoán đã thực hiện, mức phí phải trả, ngày thanh toán và ngày giao nhận, lãi vay tiền mua chứng khoán (nếu có).
Xác nhận này có tính pháp lý rất cao. Nó đóng vai trò là hóa đơn của giao dịch giữa công ty và khách hàng. Những sai sót trong xác nhận kết quả có thể dẫn đén sự không hài lòng và khiếu nại của khách hàng.
Thông thường, các công ty môi giới chứng khoán trong ngày làm việc hôm sau ngày mua hoặc bán chứng khoán. Xác nhận này cũng giống như một hóa đơn hẹn ngày thanh toán với khách hàng. Đến ngày thanh toán thì người mua sè giao tiền, người bán sẽ giao chứng khoán, công ty chứng khoán sẽ vào sổ và giao biện nhận cho khách hàng. Sau đó, công ty chứng khoán sẽ chuyển tới bộ phận quyết toán của Sở giao dịch hoặc Trung tâm giao dịch của thị trường OTC để hoàn tất thủ tục thanh toán.
Bước 5: Thanh toán và giao hàng.
Đến ngày thanh toán, các thủ tục chuyển tiền và giao nhận chứng khoán phải được hoàn tất. Nếu chứng khoán là chứng chỉ thì người bán phải chuyển chứng khoán cho người môi giới thực hiện lện bán, người mua chuyển tiền vào tài khoản người môi giới thực hiện lệnh mua. Với hệ thống thanh toán hiện đại, khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán với công ty chứng khoán đều mở tài khoản để giao dịch, do đó thanh toán các khoản tiền mua bán chứng khoán đều thực hiện bằng chuyển khoản.
Đối với khách hàng mua chứng khoán, sẽ nhận được một giấy chứng nhận quyền sở hữu về số chứng khoán cho công ty bảo quản chứng khoán xác nhận. Số chứng khoán này nằm trong tài khoản lưu trữ chứng khoán mà công ty chứng khoán đã mở tại công ty bảo quản.
Đối với người bán chứng khoán, sẽ nhận được một giấy báo có trên tài khoản của mình ở công ty chứng khoán hoặc thông qua ngân hàng đại diện của khách hàng.
4. Các loại hình Môi giới chứng khoán
Tùy theo quy định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch chứng khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau.
4.1. Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Dựa vào loại dịch vụ cung cấp thì có hai loại môi giới sau:
Môi giới toàn phần (Full – service).
Là những người môi giới chứng khoán có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng như: đại diện cho khách hàng để mua hoặc bán chứng khoán; thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán của khách hàng… Họ cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Tóm lại, với tư cách là một cố vấn tài chính, người môi giới dịch vụ đầy đủ có thể phục vụ người đầu tư với nhiều ý tưởng tốt và sản phẩm tốt, giúp nhà đầu tư giải quyết các vấn đề của mình.
Môi giới giảm giá (Discount – service).
Là những người môi giới chỉ cung cấp một số ít dịch vụ, tùy theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Hoạt động chủ yếu của họ là giúp khách hàng thực hiện lệnh mua, bán chứng khoán. Những người môi giưới chứng khoán này thích hợp với nhà đầu tư tự mình đưa ra các quyết định mua, bán mà không cần lời khuyên hay kết quả nghiên cứu đầu tư của nhà môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, với loại hình môi giới chứng khoán này, nhà đầu tư dễ gặp rủi ro hơn so với loại hình môi giới chứng khoán toàn phần.
4.2. Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán
Theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán có thể phân thành bốn loại sau:
Các nhà môi giới được ủy nhiệm thừa hành (hay người môi giới tại sàn giao dịch).
Hầu hết họ là nhân viên của một công ty chứng khoán – thành viên chính của Sở giao dịch chứng khoán. Theo hình thức này, công ty chứng khoán tính cho khách hàng của mình tỷ lệ hoa hồng trên các dịch vụ của công ty. Hoạt động của họ là thực hiện các lệnh cho khách hàng của công ty chứng khoán, thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, nên họ được gọi là nhà môi giới ủy nhiệm hay nhà môi giới trên sàn giao dịch. Họ làm việc hưởng lương của các công ty và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay khách hàng của công ty trên sàn giao dịch. Vì thế, họ cũng được gọi theo một tên chung khác là môi giới trên sàn (Floor Brocker). Một công ty chứng khoán sẽ cử một người môi giới ủy nhiệm làm chủ chỗ ngồi của công ty chứng khoán thuê tại Sở giao dịch chứng khoán. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đôla).
Nhà môi giới hai đôla là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, nhưng là một nhà môi giưới chứng khoán độc lập, không thuộc về một công ty nào. Nhà môi giới hai đôla có thể sở hữu hoặc mua chỗ cho mình tại Sở giao dịch chứng khoán và thực hiện các lệnh giao dịch cho bất kỳ một công ty môi giới nào thuê mình. Trong trường hợp một nhà môi giới chứng khoán của một công ty chứng khoán không có khả năng thực hiện các lệnh giao dịch của công ty, hoặc vắng mặt trong phòng giao dịch, người này có thể chuyển một số lệnh cho người môi giới độc lập. Công ty chứng khoán sẽ trả cho nhà môi giới độc lập một khoản phí cho các dịch vụ mà anh ta cung cấp. Trước đây khoản phí trả cho nhà môi giới độc lập là 2 đôla cho 100 cổ phiếu mua bán hộ công ty chứng khoán (điều này giải thích tại sao lại có tên gọi là nhà môi giới hai đôla). Tuy nhiên hiện nay, khoản phí của các nhà môi giới độc lập thường lơn hơn 2 đôla.
Người môi giới hai đôla thực hiện lệnh mua bán của những người môi giới ủy nhiệm khi những người này quá bận rộn, không thể thực hiện hết tất cả các lệnh nhận được từ công ty của họ. Người môi giới hai đôla hoạt động cho bất cứ công ty nào, mua bán bất cứ loại chứng khoán gì và được hưởng hoa hồng từ việc đó.
Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký (Registered Floor Trader).
Một số người mua chỗ trên Sở giao dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua bán chứng khoán cho chính bản thân họ. Những người này được gọi là nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký, không thuộc về một công ty môi giới nào và cũng không làm việc cho một công ty môi giới nào. Tuy nhiên, do sự gia tăng các nguyên tắc và các quy định nên hoạt động của họ bị hạn chế rất nhiều. Ngày nay, các nhà giao dịch chứng khoán này hoặc hỗ trợ cho các nhà môi giới chuyên môn với tư cách là những người tạo lập thị trường hoặc hoạt động như là nhà môi giới hai đôla.
Người giao dịch có dăng ký thực hiện lệnh mua bán với tài khoản của chính họ và tự gánh chịu mọi rủi ro. Họ ít khi thực hiện lệnh của khách hàng, nhưng nếu nhận lệnh của khách hàng thì phải ưu tiên cho khách hàng trước.
Nhà môi giới chứng khoán chuyên môn (hay các chuyên gia – Specialist).
Mỗi chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán chỉ được buôn bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch, vị trí này được gòi là quầy. Trong mỗi quầy có một số nhà môi giới được gọi là những nhà môi giới chuyên môn. Họ chịu trách nhiệm mua bán một loại chứng khoán nhất định, đã được Hội đồng quản trị của Sở giao dịch chứng khoán phân công. Những người tụ tập chung quanh các vị trí gia dịch của các chuyên gia được gọi quen là nhóm giao dịch (Trading Crowd). Nhà môi giới chuyên môn thực hiện hai chức năng chủ yếu là thực hiện các lệnh giao dịch và tạo lập thị trường.
Thông thường, các nhà môi giới chuyên môn thực hiện các lệnh giao dịch theo giá hạn mức. Khi đó, họ đóng vai trò là một nhà môi giới chứng khoán và nhận được các khoản phí môi giới thông thường hoặc tiền hoa hồng trên các dịch vụ mà họ cung cấp.
Một chức năng khác mà nhà môi giới chứng khoán chuyên môn thực hiện là hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với loại chứng khoán mà anh ta được phân công bằng cách mua bán chứng khoán với tư cách một nhà giao dịch để thu hẹp chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
5. Phát triển hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán tại một công ty chứng khoán được đánh giá bằng các chỉ tiêu.
Đối với công ty chứng khoán, việc đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chính là để nhằm phát triển nó. Vì vậy, công ty chứng khoán không thể chỉ đánh giá những lợi ích hiện tại mà hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềm năng phát triển của nó trong tương lai. Điều đó có nghĩa là công ty phải quan tâm đến khả năng làm thỏa mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động này cũng như vai trò của nó đối với nền kinh tế. Do đó, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động môi giới bao gồm không những các chỉ tiêu xét trên lợi ích mà công ty đạt được từ hoạt động môi giới mà còn bao gồm cả những chỉ tiêu phản ánh lợi ích mà hoạt động mô giới chứng khoán đã đem lại cho khách hàng và cho nền kinh tế.
Thực tế hiện nay, Việt Nam chưa có một hệ thống các chỉ tiêu thống nhất nào phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán. Tuy nhiên, theo người viết tìm hiểu, chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán có thể được đánh giá bằng cách xem xét một số chỉ tiêu sau.
5.1. Chỉ tiêu định tính
Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khác được đânhs giá theo chỉ tiêu định tính được thể hiện ở khả năng hoạt động, tính chuyên nghiệp của sản phẩm – dịch vụ, mức độ tác động của hoạt động môi giới chứng khoán tới các hoạt động khác.
Khả năng hoạt động.
Khả năng hoạt động của hoạt động môi giới thể hiện ở chỗ hoạt động môi giới của công ty chứng khoán có thể cung cấp và làm thỏa mãn những đối tượng khách hàng nào, quy mô khách hàng, tính chuyên nghiệp của nhân viên môi giới, quy mô và không gian của sàn giao dịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ phần mềm mà công ty đang sử dụng…
Tính chuyên nghiệp của sản phẩm dịch vụ.
Công ty chứng khoán thực hiện việc cung cấp những sản phẩm trọn gói (từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng) hay công ty chủ yếu giúp khách hàng thực hiện lệnh mua bán chứng khoán và thu về một khoản hoa hồng nhỏ mà nó chỉ phản ánh chi phí cho việc thực hiện giao dịch.
Mức độ tác động của hoạt động môi giới tới các hoạt động khác.
Khi hoạt động môi giới được thực hiện với chất lượng tố sẽ kéo theo các hoạt động khác như hoạt động phân tích chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán… phát triển và ngược lại. Bởi vì những nghiệp vụ của công ty chứng khoán không phải hoàn toàn tách rời nhau mà chúng có mối quan hệ tương hỗ với nhau.
5.2. Chỉ tiêu định lượng Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán được thể hiện cụ thể như sau:
Doanh số từ hoạt động môi giới.
Là tổng giá trị giao dịch khớp lệnh tại một công ty chứng khoán. Doanh số từ hoạt động môi giới nếu tăng lên qua các năm thì thể hiện rằng quy mô hoạt động môi giới tăng lên. Điều đó cho thấy hoạt động môi giới đang trong quá trình phát triển và đang được mở rộng, cũng có nghĩa là chất lượng hoạt động môi giới ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên cần phải kết hợp phân tích các chỉ tiêu khác để đảm bảo việc đánh giá được chính xác.
Doanh thu từ hoạt động môi giới.
Là tổng giá trị mà công ty thu được từ phí môi giới mà khách hàng trả khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của hoạt động môi giới của công ty. Doanh thu từ hoạt động môi giới được phân tích ngoài số tuyệt đối còn phải được xem xét trong mối tương quan với doanh thu từ các hoạt động khác của công ty chứng khoán, tức là tỷ trọng doanh thu từ hoạt động môi giới trong tổng doanh thu của công ty. Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời và vị trí của hoạt động môi giới trong công ty chứng khoán.
Chi phí môi giới.
Đây là chỉ tiêu phản ánh các khoản tiền mà công ty chứng khoán đã bỏ ra để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ môi giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chi phí cho hoạt động môi giới không những phản ánh số tiền mà công ty chứng khoán đã chi trả trong hoạt động môi giới mà còn cho thấy mức độ hiệu quả của hoạt động môi giới. Nếu chi phí cho hoạt động này mà lớn thì hoạt động môi giới không hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào chỉ tiêu này mà đánh giá hiệu quả của hoạt động môi giới thì sẽ là phiến diện, có khi còn mang lại kết quả không chính xác. Vì, nếu một công ty chứng khoán có quy mô hoạt động càng lớn, số lượng tài khoản giao dịch của khách hàng càng lớn thì tất nhiên chi phí cho hoạt động môi giới phải lớn hơn nhiều lần so với một công ty chứng khoán nhỏ hơn.
Lãi thu được từ hoạt động môi giới.
Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, cho biết khả năng sinh lời của hoạt động môi giới. Lãi từ hoạt động môi giới là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó khi thực hiện nghiệp vụ môi giới theo yêu cầu của khách hàng.
Với 3 chỉ tiêu là doanh thu, chi phí và lãi, ta có được mối quan hệ sau:
Doanh thu môi giới = Chi phí môi giới + Lãi từ hoạt động môi giới
Từ công thức trên có thể thấy rằng mặc dù có thể doanh thu từ hoạt động môi giới rất lớn nhưng nếu chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó cũng cao thì lãi thu được ít, và như thế hoạt động môi giới không thật sự được hiệu quả, càn phải tìm ra giải pháp để giảm chi phí cho hoạt động này.
Tài sản đảm bảo.
Là số dư tiền và số dư chứng khoán phù hợp với yêu cầu về giao dịch đảm bảo cũng như yêu cầu an toàn cho công ty chứng khoán, đồng thời không gây thiệt hại quá lớn cho khách hàng. Điều đó cũng sẽ giúp tăng độ an toàn cho khách hàng và không làm giảm tính cạnh tranh, hấp dẫn của dịch vụ môi giới của công ty chứng khoán.
Biểu phí môi giới cạnh tranh.
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để thu hút khách hàng tìm đến với công ty chứng khoán. Một biểu phí giao dịch cao hơn tương đối so với các công ty chứng khoán khác sẽ làm giảm lượng khách hàng, và như thế làm giảm doanh thu. Còn nếu biểu phí thấp hơn thì mặc dù số lượng khách hàng giao dịch tại công ty lớn nhưng phần lãi thu được lại không tương ứng với số lượng đó. Vì vậy, công ty chứng khoán phải xây dựng cho mình một biểu phí môi giới phù hợp, đưa ra một mức phí cạnh tranh được với các công ty khác nhưng vẫn có được một khoản lãi nhất định.
6. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động Môi giới chứng khoán Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
6.1. Các nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán. Những nhân tố này xuất phát từ chính bản thân công ty, đóng vai trò quyết định đến sự phát triển không chỉ của hoạt động môi giới mà còn của cả công ty chứng khoán.
Đội ngũ nhân sự của công ty.
Nhân sự là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của các công ty chứng khoán nói chung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng. Đặc biệt với hoạt động môi giới chứng khoán, đòi hỏi về yếu tố con người lại càng cao hơn. Người môi giới chứng khoán không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn, kiến thức xã hội mà cả những kỹ năng làm việc, phải chịu áp lực công việc rất lớn. Thái độ với công việc, với khách hàng, sự chân thành vì lợi ích của khách hàng, khả năng truyền đạt thông tin, khai thác thông tin từ phía khách hàng… đóng vau trod rất lớn trong thành công của người môi giới.
Làm thế nào để một người môi giới chứng khoán có thể tiếp cận với khách hàng, giúp đỡ khách hàng một cách có hiệu quả, điều này đòi hỏi ở người môi giới chứng khoán một loạt các kỹ năng cần thiết phải tiến hành. Các kỹ năng này không tách rời mà gắn bó và hỗ trợ cho nhau. Những kỹ năng cần thiết ở người môi giới chứng khoán là các kỹ năng sau:
- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Với một người môi giới chứng khoán thì kỹ năng này là rất quan trọng. Việc thực hiện kỹ năng này không chỉ phụ thuộc vào ngôn từ mà người môi giới sử dụng mà phụ thuộc rất nhiều vào cách diễn đạt và khả năng truyền đạt thông tin. Để có thể dưa thông tin tới khách hàng một cách hiệu quả nhất, đòi hỏi người môi giới phải có kỹ năng truyền đạt tốt, biểu hiện ở thái độ quan tâm tới khách hàng, kỹ năng nói chuyện qua âm điệu giọng nói…
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Bước quan trọng trong hoạt động của một nhà môi giới chứng khoán là tìm kiếm khách hàng. Người môi giới không thể chỉ ngồi chờ khách hàng đến với mình mà cần thiết là tự mình phải tìm đến với khách hàng. Việc tìm kiếm khách hàng sẽ làm tăng thu nhập của mỗi nhà môi giới cũng như duy trì mức tăng trưởng ổn định trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
- Kỹ năng khai thác thông tin: Công việc của một người môi giới chứng khoán là thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, và để là một nhà tư vấn đầu tư thành công thì người môi giới chứng khoán đòi hỏi phải hiểu được khách hàng ra quyết định như thế nào và động lực thúc đẩy của khách hàng là gì? Từ việc khai thác thông tin này, người môi giới sẽ xác định được loại hình dịch vụ nào thích hợp nhất với khách hàng, và đưa ra những lời tư vấn hiệu quả cho hoạt động đầu tư của khách hàng. Việc thực hiện tốt kỹ năng này không những làm tăng lượng tài sản mà công ty chứng khoán được quản lý mà còn làm tăng sự trung thành và gây ấn tượng tốt đẹp về công ty chứng khoán với khách hàng.
- Kỹ năng bán hàng: Với một nhà môi giới thì kỹ năng này là kỹ năng không thể thiếu được. Trước hết người môi giới phải nắm rõ quy trình bán hàng hay cung cấp dịch vụ của mình để thực hiện một cách chính xác và nhanh chóng yêu cầu của khách hàng. Sau đó việc tiếp tục dịch vụ hậu mãi sẽ đảm bảo cho người môi giới nhận được những khách hàng thường xuyên và như vậy sẽ thúc đẩy việc kinh doanh của nhà môi giới cũng như của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán có đội ngũ nhân sự thành thạo các kỹ năng trên tất yếu sẽ góp phần không nhỏ tạo nên thành công của công ty. Vì vậy, công ty chứng khoán muốn giành thắng lợi trong cạnh tranh thì họ phải không ngừng đào tạo đội ngũ nhân viên môi giới trở thành các nhà môi giới chuyên nghiệp, có kỹ năng, có đạo đức nghề nghiệp để chiếm được lòng tin từ phía khách hàng, góp phần làm tăng hiệu quả của hoạt động môi giới chứng khoán. Từ đó năng cao uy tín, khẳng định vị trí của công ty chứng khoán trên thị trường.
Chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của công ty.
Mỗi chính sách, định hướng phát triển khác nhau sẽ ảnh hưởng tới hoạt động môi giới của công ty chứng khoán là khác nhau. Nhận thức của lãnh đạo công ty về tầm quan trọng của hoạt động môi giới đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của một công ty chứng khoán. Một công ty chứng khoán mà hoạt động môi giới không mạnh thì công ty sẽ khó tạo được chỗ đứng, danh tiếng và uy tín trên thị trường cho dù công ty kinh doanh có lãi từ hiều nguồn khác. Chính vì vậy, ban lãnh đạo công ty xây dựng chiến lược phát triển, có được các chính sách phù hợp với yêu cầu của thị trường như cung cấp dịch vụ giá rẻ hay chất lượng cao; đào tạo, tuyển dụng, lương thưởng cho nhân viên, tăng cường hoạt động kiểm soát…
Nguồn lực về vốn của công ty.
Vốn là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh đòi hỏi ngoài các điều kiện về chuyên môn, giấy phép hành nghề còn đòi hỏi các yêu cầu về tài chính. Ở Việ Nam quy định phải có vốn tối thiểu bằng vốn pháp định. Đối với hoạt động môi giới, vốn pháp định theo nghị định số 14/2007/NĐ-CP là 25 tỷ đồng Việt Nam. Tuy nhiên, đây chỉ là mức vốn tối thiểu, hoạt động môi giới đòi hỏi phải có một lượng vốn không nhỏ để coa thể phát triển tốt các dịch vụ thu hút và giữ chân khách hàng. Nó bao gồm nhiều chi phí như chi phí cho máy móc thiết bị để thực hiện giao dịch hay tìm kiếm, phân tích thông tin; chi phí để nghiên cứu thị trường, tìm hiểu khách hàng để xây dựng, cung cấp các dịch vụ phù hợp, có tính cạnh tranh cao, thu hút khách hàng; chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo, tìm kiếm mở rộng và giữ chân khách hàng… Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Bên cạch đó, quy mô vốn lớn cũng là một yếu tố làm tăng thêm niềm tin ở khách hàng đối với công ty chứng khoán. Một quy mô vốn dồi dào, mạng lưới rộng khắp với các dịch vụ tiện ích đa dạng luôn luôn là một trong những yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty chứng khoán.
Biểu phí và các dịch vụ cung cấp.
Một mức phí cạnh tranh với các dịch vụ cung cấp đa dạng là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán nói riêng và sự phát triển của công ty chứng khóa nói chung. Một công ty chứng khoán với một biểu phí ưu đãi, hợp lý, dịch vụ cung cấp nhanh gọn, đa dạng sẽ thu hút được khách hàng đến với họ. Từ đó mở rộng được mạng lưới khách hàng, nâng cao được doanh số, góp phần quan trọng vào sự phatd triển hoạt động môi giới của công ty.
Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Hoạt động môi giới chứng khoán đòi hỏi rất lớn về hệ thống cơ sở vật chất và công nghệ thông tin. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một công ty chứng khoán bao gồm hệ thống cac sàn giao dịch tập trung, hệ thống bảng điện tử, máy chiếu, hệ thống thông tin nội bộ, trang web của công ty , hệ thống nhập lệnh của phòng môi giới… Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại giúp công ty có thể tiếp nhận và xử lý nhanh, chính xác các lệnh của khách hàng, điều này có ý nhĩa quan trọng trong hoạt động môi giới.
Ngoài ra một cơ sở hạ tầng tốt, trụ sở đẹp, vị trí thuận lợi… sẽ đem đến sự tiện nghi, thoải mái cho khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó lâu dài với công ty.
Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.
Yếu tố này tác động quan trọng đến sự chyên môn hóa hoạt động của một công ty chứng khoán. Từ đó, nó tác động tới tính chuyên nghiệp của hoạt động môi giới. Hiện nay ở Việt Nam, công ty chứng khoán tồn tại dưới 2 loại hình thức là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Dù được tổ chức theo mô hình nào thì mỗi loại hình công ty cũng có thế mạnh và điểm yếu riêng. Nếu tính chuyên môn hóa trong công ty luôn được đảm bảo thì sữ phát huy được tính tự chủ, tính chuyên môn hóa trong hoạt động môi giới.
Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động.
Nếu công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện tốt thì hệ thống bảo mật thông tin của khách hàng được nâng cao bởi vì tính bảo mật cao sẽ là một yếu tố quyết định tính cạnh tranh của công ty so với các đối thủ khác. Nó không chỉ đảm bảo lợi ích của khách hàng mà còn bảo đảm cho hoạt động của chính bản thân công ty. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách chặt chẽ ở tất cả các khâu, từ khâu mở tài khoản, nộp rút tiền, thông báo kết quả giao dịch đến khách hàng, đến các khâu nhận lệnh, nhập lệnh của khách hàng, thu nợ của khách hàng… Ở từng khâu, công ty cần có các quy trình nghiệp vụ cụ thể mà các nhân viên công ty, đặc biệt là các nhân viên môi giới, phải tuân thủ một cách nghiêm chỉnh để tránh xung đột giữa quyền lợi của công ty với quyền lợi của khách hàng, quyền lợi của các khách hàng khác nhau, tránh vi phạm đạo đức nghề nhiệp.
6.2. Các nhân tố khách quan Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Đây là những nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động môi giới. Những nhân tố này công ty chứng khoán rất khó có thể kiểm soát được. Hầu hết hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán đều phải chịu tác động của nó. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ thì tùy thuộc vào từng công ty.
Sự phát triển và mức độ ổn định của nền kinh tế – chính trị.
Phải có một môi trường chính trị ổn định thì mới phát triển được một nền kinh tế vững mạnh. Không chỉ góp phần ổn định nền kinh tế trong nước, môi trường chính trị an toàn, có các chính sách phát triển phù hợp, không thay đổi thường xuyên sẽ thu hút đầu tư nước ngoài vào trong nước.
Đối với trong nước, gắn liền với một nền kinh tế phát triển là một thị trường chứng khoán sôi động. Đời sống nhân dân được nâng cao thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư cũng tăng lên đáng kể. Người ta bắt đầu có cơ hội quan tâm hơn đến các phương thức đầu tư khác bên cạnh việc gửi tiền vào ngân hàng, dự trữ bằng vàng hay ngoại tệ. Đây chính là một nguồn vốn tiềm năng cho thị trường chứng khoán cũng như cơ hội cho hoạt động môi giới chứng khoán phát triển.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một hướng phát triển cho thị trường chứng khoán. Càng hội nhập thì nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài lại càng trở thành tất yếu và đóng vai trò quan trọng. Với dòng vốn này thị trường chứng khoán có thể hoạt động năng động hơn, hội nhập hơn, góp phần thúc đẩy môi giới chứng khoán phát triển.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán có tác động hết sức to lớn đến sự phát triển của các công ty chứng khoán và hoạt động môi giới. Sự phát triển của thị trường chứng khoán và sự phát triển của các công ty chứng khoán có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty chứng khoán nói chung và hoạt động môi giới nói riêng mới pháp triển theo được. Ngược lại, công ty chứng khoán phát triển là cơ sở để đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán. Bởi công ty chứng khoán và hoạt động môi giới là những bộ phân con nằm trong một tổng thể là thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán phát triển thể hiện ở những mặt như sau: hàng hóa phong phú, đa dạng cả về mặt lượng lẫn chất; số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường đông đảo, quy mô đầu tư lớn; cơ cấu và tổ chức của thị trường đã hoàn chỉnh; doanh thu, quy mô cũng như mạng lưới của các công ty chứng khoán cũng được nâng lên. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Hoạt động của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán.
Hoạt động của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các công ty chứng khoán. Hiệp hội kinh doanh chứng khoán ra đời là cầu nối giữa nhà kinh doanh chứng khoán và cơ quan quản lý nhà nước, là tiếng nói chung của các nhà kinh doanh chứng khoán với công chúng đầu tư và cac cơ quan quản lý nhà nước. Một trong những mục đích của hiệp hội là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các thành viên. Sự phát triển của hiệp hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty chứng khoán thành viên phát triển. Sự ra đời của hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam (VASB – 5/2004) được đánh giá là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, đã có những đóng góp không nhỏ đến sự phát triển của thị trường nói chung và sự phát triển của các công ty chứng khoán thành viên nói riêng.
Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam có 2 chức năng chính sau đây:
Một là, tập hợp các công ty chứng khoán để có tiếng nói thống nhất đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán, trước khi ban hành văn bản pháp lý, chế độ chính sách. Hiệp hội cũng là nơi tập hợp, đề xuất kiến, nguyện vọng của các thành viên đối với các chính sách của Chính phủ để từ đó có thể bổ sung, sửa đổi các chính sách đó nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Hai là, Hiệp hội sẽ là đầu mối thực hiện công tác đào tạo nghiệp vụ trong cho các thành viên; đại diện cho các thành viên trong việc liên kết, tranh thủ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế về kinh phí, chương trình đào tạo. Ngoài ra, Hiệp hội có thể là tổ chức ban xây dựng, ban hành, đề ra các nguyên tắc, quy tắc, quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp, giám sát nội bộ, tránh cạnh tranh thiếu lành mạnh…
Hệ thống chính sách, pháp luật về hoạt động kinh tế nói chung và về thị trường chứng khoán nói riêng.
Bất cứ một hoạt động nào cũng đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật. Đặc biệt môi giới chứng khoán ngay từ bản chất của nó đã thể hiện là nghề với những tranh chấp lợi ích không thể tránh khỏi. Bởi hoạt động môi giới có ảnh hưởng tới lợi ích của nhiều người, liên quan đến nhiều vấn đề khó có thể nhìn nhận bằng mắt thường, do đó, hoạt động này cần có sự điều chỉnh lớn của hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có sự nhất quán của các văn bản luật.
Hệ thống chính sách, pháp luật mà tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển thì đương nhiên thị trường chứng khoán cũng có cơ hội phát triển. Ngược lại, nếu những quy định, chính sách quá khắp khe thì không những hoạt động môi giới không thể phát triển được mà thị trường chứng khoán cũng hoạt động không hiệu quả.
Trình độ, sự hiểu biết về chứng khoán của công chúng đầu tư và tập quán sinh hoạt, kinh doanh của công chúng.
Khi mà sự hiểu biết của công chúng đầu tư về thị trường chứng khoán được nâng cao, sự tham gia vào thị trường của họ sẽ tích cực hơn, tạo điều kiện cho thị trường được phát triển một cách an toàn hơn, phát triển theo đúng quy luật của nó. Hiểu biết được nâng cao sẽ là yếu tố giúp giảm bớt những xung đột phát sinh từ nguyên nhân kém hiểu biết của công chúng đầu tư, góp phần thay đổi nếp nghĩ của công chúng về thị trường chứng khoán. Chính vì thế môi giới chứng khoán sẽ có chỗ đứng trong thị trường và đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động đầu tư chứng khoán.
Sự cạnh tranh của các công ty chứng khoán khác.
Trong vòng hơn 7 năm vận hành thị trường, tính đến cuối năm 2005 Việt Nam mới có 14 công ty chứng khoán. Những chỉ một năm sau đó, tính đến ngày 29/12/2006 đã có tới 55 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động. Và tính đến cuối năm 2009, Việt Nam có khoảng 105 công ty chứng khoán đang hoạt động trên thị trường. Tất cả các công ty này đều có nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Đây là hoạt động được triển khai ngay từ những ngày đầu khi công ty chứng khoán mới thành lập. Một công ty chứng khoán không chỉ cung cấp những dịch vụ thông thường mà còn cung ứng rất nhiều dịch vụ tiện ích khác. Tất cả đều có sự cạnh tranh lẫn nhau về mức độ tiện ích, về chi phí để hưởng dịch vụ, về sự đa dạng phong phú về dịch vụ ở mỗi công ty… Khách hàng là một yếu tố giới hạn về số lượng. Khách hàng đã tìm đến công ty này sẽ không thể tìm đén công ty khác nữa. Giành được niềm tin từ phía khách hàng là yếu tố sống còn đối với sự phát triển của một công ty chứng khoán. Do đó, hoạt động môi giới của công ty chứng khoán phải luôn không ngừng cải thiện, đa dạng hóa các dịch vụ, nâng cao chất lượng để cạnh tranh với các công ty khác.
Ngoài các nhân tố ảnh hưởng trên, hoạt động môi giới chứng khoán còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như sự quản lý, chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý thị trường, nhà đầu tư… Việc nhận thức được các nhân tố ảnh hưởng nêu trên có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán.
III. KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG LỚN TRÊN THẾ GIỚI Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
1. Sở giao dịch chứng khoán New York
Sở giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange – NYSE), biệt danh là “Big Board”, là một sở giao dịch chứng khoán đóng tại thành phố New York thuộc sở hữu của công ty tư nhân NYSE Group (NYX). Đây là sở giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới nếu tính về giá trị vốn hóa thị trường bằng dollar Mỹ và là sở giao dịch chứng khoán lớn thư nhì thế giới nếu tính theo số lượng công ty niêm yết. Số lượng cổ phiếu của sở này vượt quá số lượng cổ phiếu của sàn NASDAQ trong thập niên 90. Sở giao dịch chứng khoán New York có giá trị vốn hóa thị trường toàn cầu lên đến 23.000 tỷ dollar Mỹ ngày 30 tháng 9 năm 2006. Sở giao dịch chứng khoán New York được quản lý bởi tập đoàn NYSE Group, được thành lập từ sự sáp nhập với sàn giao dich chứng khoán điện tử Archipelago Holdings. Phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán New York nằm ở số 11, phố Wall và bao gồm 5 phòng được sử dụng cho các hoạt động giao dịch.
NYSE là sở giao dịch luôn được đánh giá là điểm đến lý tưởng nhất thế giới cho việc kinh doanh cổ phiếu, nơi các nhà đầu tư phải trả phí thấp nhất để có lợi suất cao nhất. Chính vì vậy, đây được coi là thánh địa của giới tài chính Mỹ cũng như thế giới. Các chủ ngân hàng lừng lẫy như JP Morgan, các nhà tài phiệt George Soros… đều làm giàu từ đây. Những tập đoàn công nghiệp lớn như General Motors cũng dựa vào nguồn vốn lấy từ thị trường này.
Có tất cả 1.366 chỗ ngồi ở NYSE, luôn được bán với giá đắt đỏ nhất so với tất cả các sàn chứng khoán khác trên thế giới, nhưng không bao giờ trống chỗ. Hôm 3/8/2005, một chỗ ngồi đã được nhượng lại với mức giá kỷ lục. NYSE lúc đó thông báo rằng một ghế thành viên làm chỗ giao dịch chứng khoán ở đây đã được bán với giá 3,250 triệu USD, cao hơn mức kỷ lục 2,65 triệu USD được thiết lập từ ngày 23/9/1999. Đắt đến vậy là do đó là thánh địa của giới tài chính, là nơi “đất chật người đông” nhất trong thế giới tài chính từ rất lâu nay. Đó cũng là nơi những “giấc mơ Mỹ” được hoàn thành cũng như bị vùi dập nhiều nhất, tạo nên tính hấp dẫn không thể có ở đâu khác với những con người ưa thích kinh doanh và đầu tư mạo hiểm. Thuật ngữ “chỗ ngồi” hay còn gọi là “ghế” xuất phát từ thực tế là cho đến thập niên 70 của thế kỷ XIX các thành viên của NYSE ngồi ở ghế để giao dịch mua bán. Năm 1868, số lượng “ghế” tại NYSE được cố định ở con số 533 và hiện nay là 1.366 “ghế”. Giá của mỗi “ghế” thay đổi rất nhiều qua các năm. Nếu một “ghế” vào năm 1929 có giá là 625.000 USD thì hiện nay giá của nó có thể lên đến hơn 6 triệu USD.
Từ tháng 8/2006, NYSE thu phí hàng tháng của tất cả các nhà môi giới chứng khoán làm việc trên sàn New York ở mức 750.000 USD (các nhà môi giới sẽ chia nhau trả khoản phí này khoản này). Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
NYSE ban đầu chỉ là một hội tư nhân để chia sẻ lợi ích chung nhưng đã trở thành một tổ chức hoạt động quy củ: có chủ tịch hưởng lương, một hội đồng điều hành bao gồm nhiều đại diện những người môi giới và một bộ phận nhân viên hành chính hưởng lương quản lý hoạt động của sàn giao dịch.
Đối tượng tham gia vào NYSE rất đa dạng, từ những cá nhân đầu tư chứng khoán tới các công ty hay tập đoàn hùng hậu có chi nhánh trên toàn cầu. Tuy nhiên, để trở thành một thành viên chính thức, cá nhân hay tổ chức kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn chuyên môn mà NYSE quy định.
Nhờ vào việc cung cấp những dịch vụ tài chính chất lượng cao, thuận lợi và dễ dàng nhất. NYSE đã không ngừng nâng cao chữ “Tín” với giới đầu tư trong bối cảnh thị trường tài chính, tiền tệ thế giới liên tục biến động.
Ngoài chức năng tổ chức các cuộc giao dịch cổ phiếu, NYSE còn hướng tới mục tiêu trở thành một diễn đàn thảo luận và hoạch định những vấn đề liên quan đến kinh tế của mỗi quốc gia hay toàn cầu bởi những diễn biến sôi động trên thị trường chứng khoán sẽ là thước đo hàng đầu, đánh giá tính khả thi cả mỗi chính sách kinh tế hay tài chính.
Bên cạnh đó, NYSE cũng chú trọng tới công tác giáo dục và đào tạo nhằm tăng cường nhận thức và trình độ chuyên môn cho các nhà đầu tư, hướng tới nỗ lực bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.
Hàng năm, NYSE thường tổ chức các chương trình đào tạo gắn với hội thảo nhằm bổ sung thêm những kiến thức về hoạt động của thị trường tài chính và tiền tệ. Những khoá học này thường được các thành viên NYSE đảm nhận với nhiều hình thức khác nhau như thảo luận, hội thảo, hay thăm quan sàn giao dịch…
Phương thức giao dịch tại NYSE là mỗi chứng khoán được phân cho một khu nhất định trong phòng giao dịch, chứng khoán chỉ có thể được phép buôn bán trong khu đó (bên ngoài khu là một bảng chỉ số giá cả cho thấy mỗi chứng khoán vừa được mua bán). Theo quy định của NYSE, việc buôn bán phải được thực hiện theo phương pháp đấu giá, một nhà môi giới phải xướng giá to lên để tất cả các nhà môi giới khác nghe được. Giá đặt mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất được gọi là giá yết. Cần chú ý là các nhà môi giới không giao dịch bằng các hợp đồng văn bản mà mỗi nhà môi giới phải lập riêng cho mình một phiếu ghi nhớ cho mỗi lần giao dịch buôn bán. Hiện nay, do số lượng giao dịch quá lớn nên phần lớn các giao dịch đã được vi tính hóa, chỉ còn 1 số loại chứng khoán có tính điển hình là được giao dịch theo lối thủ công.
NYSE là nơi niêm yết của khoảng 2.800 công ty hàng đầu thế giới. Trong một ngày bình thường, có khoảng 1,46 tỷ cổ phiếu trị giá 46,1 tỷ USD được giao dịch tại NYSE.
Tại NYSE thông tin truyền đi bằng điện tử giữa các văn phòng môi giới và sở giao dịch, và phải cần tới 320 km đường dây sợi cáp quang và 8.000 kết nối điện thoại để điều khiển việc định giá và các lệnh mua bán.
2. Sở giao dịch chứng khoán London Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
Sở giao dịch chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) nằm tại London, Anh Quốc. Được thành lập từ 1801, đây là một trong những cơ sở giao dịch chứng khoán lâu đời nhất thế giới với nhiều công ty trong Liên hiệp Anh và ở nước ngoài niêm yết. Trụ sở của London Stock Exchange hiện đặt tại số 10, quảng trường Paternoster tại trung tâm của thành phố London.
Giao dịch cổ phiếu tại London bắt nguồn từ nhu cầu vốn tài chính của hai chuyến hải hành vào thế kỷ XVI: một của công ty Muscovy đến Trung Hoa qua biển Trắng phía bắc nước Nga và chuyến thứ hai của công ty Đông Ấn tới Ấn Độ và phương Đông. Hai công ty trên đã huy động vốn bằng cách bán cổ phiếu cho các nhà buôn, giao cho họ quyền được hưởng một phần lợi nhuận của chuyến đi. Ý tưởng này sau đó đã được phổ biến rộng rãi và đến năm 1695, người ta ước lượng có đến 160 công ty cổ phần. Giao dịch cổ phiếu vào thời đó thường được diễn ra tại hai quán cà phê Jonathan’s và Garraway’s trong khu Exchange Alley (Hẻm Đổi tiền) của thành phố. Vào năm 1697, một bộ luật được ban hành nhằm hạn chế số lượng các nhà mua bán cổ phiếu và các hành động sai trái của họ sau các vụ giao dịch nội bộ và đầu cơ nhằm điều khiển thị trường.
LSE là nơi giao dịch quan trọng nhất ở châu Âu và là một trong những Sở giao dịch lớn nhất trên thế giới. Có tới trên 3.000 công ty với 350 công ty trong số đó đến từ 50 quốc gia khác nhau.
Sở giao dịch chứng khoán London bao gồm hai thị trường chứng khoán khác nhau là thị trường chính và thị trường đầu tư thay thế (AIM). Các công ty được niêm yết trên thị trường chính phải là các công ty có hiệu suất kinh doanh cao và các yêu cầu đê được tham gia là rất nghiêm ngặt. Khoảng 1.800 công ty trong danh sách của LSE được giao dịch trên thị trường chính với tổng số vốn hóa thị trường là hơn 3.500 tỷ. Thị trường đầu tư thay thế là dành cho các công ty hoặc các doanh nghiệp mới có tiềm năng phát triển cao. Trong danh sách của LSE có hơn 1.060 công ty niêm yết trên thị trường này với tổng số vốn hóa thị trường là khoảng 37 tỷ.
Mặc dù các giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán London được thực hiện hoàn toàn bằng công nghệ điện tử nhưng những cổ phiếu khác nhau thì giao dịch trên hệ thống khác nhau.
Đối với những chứng khoán giao dịch thường xuyên thì được sử dụng hệ thống tự động SETS. Điều này có nghĩa là khi một lệnh mua và một lệnh bán có giá khớp nhau thì một giao dịch sẽ được tự động thực thi.
Đối với chứng khoán mà việc mua bán ít được thực hiện thường xuyên, Sở giao dịch chứng khoán London sẽ sử dụng hệ thống SEAQ, hệ thống mà bao gồm cả những người tạo lập thị trường nắm giữ những cổ phiếu thường xuyên giao dịch. Các nhà tạo lập thị trường được yêu cầu nắm giữ cổ phiếu của một công ty cụ thể và thiết lập giá mua và bán để đảm bảo rằng luôn luôn có thị trường cho các cổ phiếu. Khóa luận: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VNS
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về môi giới tại Cty chứng khoán VNS

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển môi giới tại Công ty VNS