Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng phát triển hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, mọi người có thể tiêu thụ được những sản phẩm hàng đầu, có sự tích hợp của hàng trăm quốc gia trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa đã làm thay đổi cung cầu hàng hóa trên toàn cầu, buộc các nhà sản xuất ra sản phẩm phải thực hiện phương châm “khách hàng là thượng đế”, làm cho việc cạnh tranh của các nhà sản xuất trên thế giới ngày càng trở nên quyết liệt hơn, đòi hỏi quá trình chuyên môn hóa ngày càng cao. Chính trong môi trường ấy, ngành dịch vụ logistics ngày càng phát triển đi vào chiều sâu. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật liệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa đến tay người tiêu dùng. Với cách hiểu như vậy thì người cung ứng dịch vụ logistics không chỉ đơn giản là người giao nhận vận tải mà còn tham gia vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, tích hợp giúp họ những khâu ngoài quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho hàng hóa đến tay người tiêu dùng tốt hơn.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới, các công ty giao nhận vận tải đã vươn ra tầm cao mới, phân phối hàng hóa trên toàn cầu, hoàn thiện chuỗi cung ứng dịch vụ logistics. Trong các công ty nổi tiếng đó, không thể không kể đến các công ty logistics của Nhật Bản.
Từ một quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, lại bị chiến tranh tàn phá, nhân dân Nhật đã từng bước đứng lên xây dựng nền kinh tế, đưa nước Nhật trở thành quốc gia có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới. Để làm nên thần kì Nhật Bản ấy, không thể không kể đến sự giúp sức của các doanh nghiệp logistics Nhật Bản.
Toàn cầu hóa ngày càng mở rộng và Việt Nam chúng ta cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy ấy. Kể từ khi gia nhập WTO kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta ngày càng tăng. Tuy nhiên các doanh nghiệp logistics của nước ta vẫn còn nhỏ bé, vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu dịch vụ logistics trong nước. Bởi vậy nâng cao vai trò của các doanh nghiệp logistics trong nước đang là đỏi hỏi cấp bách cho nền kinh tế nước ta.
Với mong muốn phần nào đưa ra những biện pháp nhằm phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam từ những thành công của ngành logistics Nhật Bản em xin lựa chọn “Thực trạng phát triển logistics của Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận của mình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về hoạt động logistics
Chương II: Thực trạng phát triển hoạt động logistics tại Nhật Bản
Chương III: Một số giải pháp phát triển ngành logistics Việt Nam từ kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản
Tuy nhiên, do trình độ và điều kiện nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm thực tế của bản thân còn ít, nên chắc chắn bài khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu xót. Em mong nhận được những đánh giá và góp ý của các thầy cô để bài khóa luận của mình được hoàn chỉnh hơn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI HOẠT ĐỘNG LOGISTICS Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
1.Khái niệm dịch vụ logistics
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Liên Hợp Quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng.
Trong lĩnh vực quân sự: Logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị.
Luật Thương mại Việt Nam năm 2020 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2020, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm:
Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2020 coi logistics tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO).
Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao.
Khái niệm logistics theo nghĩa rộng luôn gắn liền với khái niệm chuỗi logistics – khái niệm logistics xây dựng trên cơ sở chu trình thực hiện, và được biểu hiện theo chuỗi lưu đồ sau:
2. Lịch sử hình thành và phát triển của logistics Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Các giai đoạn phát triển
Trên thế giới có rất nhiều cách phân chia khác nhau về các giai đoạn phát triển của Logistics. Theo ESCAP – Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương thì quá trình phát triển của logistics trải qua 3 giai đoạn từ chỗ chỉ thực hiện các hoạt động logistics một cách đơn lẻ rồi kết hợp logistics đầu vào và logistics đầu ra đến phối hợp hoàn toàn thành dây chuyền cung ứng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo phạm vi áp dụng, tác giả Eward Frezelle (2018) đã chia quá trình phát triển của Logistics thành 5 giai đoạn: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics), logistics trong xưởng sản xuất (Facility logistics), logistics doanh nghiệp (Corporate logistics), logistics dây chuyền cung ứng (Supply Chain logistics) và toàn cầu hóa logistics (Global logistics).
Giai đoạn 1: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics)
Đây là giai đoạn những năm 50 của thế kỷ XX, khi logistics được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được sử dụng để tối ưu hóa quá trình sản xuất tại nơi tác nghiệp của người lao động. Các hoạt động logistics thời kỳ này chủ yếu là chuyển hàng hóa, vật tư và các yếu tố sản xuất tại nơi tác nghiệp trực tiếp.
Giai đoạn 2: Logistics trong cơ sở sản xuất (Facility logistics)
Vẫn là các hoạt động trong dòng lưu chuyển hàng hóa và vật tư sản xuất nhưng logistics thập niên 60 này đã mở rộng từ các băng chuyền sản xuất ra phạm cơ sở sản xuất, từ một vị trí tác nghiệp đến nhiều vị trí tác nghiệp. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Logistics trong thời kỳ này được biết đến như là quản trị nguyên vật liệu (material handling) – một mảng nhỏ gộp với khâu lưu kho bãi, vận chuyển vật tư tạo thành bộ phận phân phối vật chất; còn các khâu thu mua, tiếp thị và dịch vụ khách hàng hợp thành bộ phận hậu cần kinh doanh (business logistics).
Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn mà phạm vi logistics được mở rộng hơn nữa, khi đó các doanh nghiệp ngành có quy mô sản xuất lớn, với một hệ thống các cơ sở sản xuất rộng khắp. Lúc này, song song với việc duy trì chính sách dịch vụ khách hàng đem lại lợi nhuận, logistics đóng vai trò phối hợp các cơ sở sản xuất để lưu chuyển hàng hóa vật tư, thông tin giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhằm làm giảm tổng chi phí logistics của doanh nghiệp. Như vậy, logistics đã mở rộng tầm bao quát, từ quản lý các cơ sở sản xuất riêng lẻ đến phạm vi toàn bộ doanh nghiệp. Đây chính là giai đoạn được gọi là logistics trong doanh nghiệp (Coporation Logistics) phát triển khá phổ biến trong thập niên 70 của thế kỷ trước.
Giai đoạn 4: Giai đoạn thập kỷ 80- Logistics trong dây chuyền cung ứng (Supply Chain logistics)
Logistics ở giai đoạn này chính là dòng lưu chuyển của vật tư, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các doanh nghiệp. Như vậy, logistics chính là một chuỗi các hoạt động phối hợp giữa các doanh nghiệp, nối kết từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng.
Giai đoạn 5: Logistics toàn cầu được hiểu là dòng luân chuyển của nguyên vật liệu, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Nó đóng vai trò là nhân tố liên kết các nhà cung cấp với giới tiêu dùng trên toàn cầu. Nhờ vào sự phát triển của toàn cầu hóa nền kinh tế, sự mở rộng của các khối liên minh thương mại và sự gia tăng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, dòng lưu chuyển logistics đã tăng đáng kể và dường như ngày càng trở lên phức tạp bởi các yếu tố như ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hóa,…. Vì các công ty, tập đoàn lớn luôn có xu hướng vươn ra ngoài biên giới quốc gia, đặt trụ sở và phục vụ cho nhiều thị trường khu vực khác nhau, nên phải thiết lập một hệ thống logistics toàn cầu để cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Các hệ thống logistics ở các nước khác nhau, các khu vực khác nhau có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng tất cả các hệ thống logistics đều có điểm chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học, chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động như: marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối,…để đạt được mục đích phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu.
Xu hướng phát triển của logistics
Có rất học thuyết khác nhau được đưa ra, bàn về vấn đề phát triển tiếp theo của logistics. Có giả thuyết cho rằng, bước tiến mới sẽ là logistics hợp tác (collborative logistics) được xây dựng dựa trên sự liên lạc với nhau một cách liên tục giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng. Nhiều quan điểm khác trong cộng đồng logistics lại cho rằng logistics ảo (virtual logistics) hay còn gọi là logistics 4 bên (Four Partner Logistics – 4PL) – loại hình mà về bản chất là người cung cấp dịch vụ này là người xâu chuỗi cung ứng bằng việc tập hợp và quản lý các nguồn lực, năng lực và công nghệ của mình với các nguồn lực, năng lực, công nghệ của các nhà cung cấp khác để đưa ra một giải pháp toàn diện cho chuỗi cung ứng – sẽ là bước phát triển tiếp theo của logistics. Và tiến tới sẽ là E-logistics hay còn gọi là 5PL (Five Partner Logistics).
3. Đặc điểm của logistics Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Logistics có thể coi là tổng hợp của các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Tại bất kì thời điểm nào, trong bất cứ môi trường nào, logistics sinh tồn cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Con người có thể nhận định được về nhu cầu như: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu….Logistics sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội sơ khai và là thành phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp hóa. Logistics sinh tồn cung cấp nền tảng cho logistics hoạt động.
Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ thống sản xuất các sản phẩm. Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần trong quá trình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Khía cạnh này của logistics cũng tương đối ổn định và có thể dự đoán được. Nhưng logistics hoạt động lại không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự cố, để sửa chữa thì cần cái gì và thời gian sửa chữa…. Như vậy, logistics hoạt động chỉ liên quan tới sự vận động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp và là nền tảng cho logistics hệ thống.
Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ thống hoạt động. Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân sự và đào tạo, tài liệu kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ nhà xưởng….Các yếu tố này không thể thiếu và phải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của một hệ thống sản xuất hay lưu thông.
Logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống không tách rời nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau tạo thành một chuỗi dây chuyền logistics. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Logistics là một dịch vụ.
Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp. Dịch vụ đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là bộ phận tạo thành chuỗi logistics.
Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất. Tuy nhiên trong hoạt động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của logistics.
Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp.
Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp. Marketing được logistics hỗ trợ thông qua quản lý việc di chuyển và lưu trữ hàng thành phẩm. Logistics hỗ trợ sản xuất và marketing có thể sẽ dẫn đến yêu cầu phải đào tạo nhân lực, dự trữ phụ tùng thay thế hay bất kỳ một yếu tố nào khác của logistics.
Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan, … cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door). Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh. Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra, …. Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.
Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal Transport Operator). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy, MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics.
4. Phân loại logistics Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
4.1 Theo các hình thức logistics
Logistics bên thứ nhất (First Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Logistics bên thứ nhất làm phình to quy mô của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để vận hành hoạt động logistics.
Logistics bên thứ hai (Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi, kê khai hải quan, trung gian thanh toán…
Logistics bên thứ ba (Third Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển tới địa điểm quy định….Do đó logistics bên thứ ba bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, lưu trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.
Logistics bên thứ tư (Forth Party Logistics): là người tích hợp, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. Logistics bên thứ tư chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp các giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải….Logistics bên thứ tư hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Logistics bên thứ năm (Fifth Party Logistics): đã được nhắc đến trong những năm gần đây. Đây là hình thức phát triển hơn của logistics bên thứ tư đi cùng với sự phát triển của thương mại điện tử.
4.2 Theo lĩnh vực hoạt động của logistics Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Từ xa xưa, hệ thống logistics đã được ứng dụng vào hoạt động sản xuất và đời sống, đặc biệt là trong lĩnh vực phức tạp bao gồm nhiều quá trình, nhiều công đoạn khác nhau mà cần phải thực hiện bởi nhiều tổ chức, nhiều chủ thể có liên quan.
Ngày nay, hệ thống logistics ngày càng có vị trí quan trọng đối với hoạt động sản xuất và đời sống, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phát triển thành 3 nhóm riêng biệt:
- Hệ thống logistics trong quân sự;
- Hệ thống logistics trong sản xuất, kinh doanh và thương mại;
- Hệ thống logistics trong quản lý xã hội.
Bảng 1: Chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống logistics
4.3 Phân loại theo quá trình
Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Logistics ngược (reserve logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
II. CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA LOGISTICS Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
1. Yếu tố vận tải
Trong các yếu tố cấu thành chuối logistics thì vận tải giao nhận là khâu quan trọng nhất. Chi phí vận tải giao nhận thường chiếm tới 1/3 tổng chi phí của logisctics. Muốn giảm chi phí của logistics phải giảm chi phí khâu giao nhận vận tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ trên thị trường. Việc vận tải giao nhận phải đảm bảo thời gian giao hàng, phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng lúc. Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để làm giảm chi phí logistics nói chung.
Vận tải và giao nhận là yếu tố rất cần và không thể thiếu được trong logistics, yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Khi một doanh nghiệp thu hẹp phạm vi hoạt động của mình vào một hay một nhóm sản phẩm có liên quan thì doanh nghiệp đó ngày càng phụ thuộc vào môi trường bên ngoài. Mỗi thành viên của hệ thống công nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ nhất tới những tập đoàn hùng mạnh nhất, đều phải dựa vào các doanh nghiệp khác cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động của mình. Vận tải là người cung cấp các phương tiện, dịch vụ nhằm di chuyển nguồn nguyên liệu đó từ nơi cung cấp tới nơi doanh nghiệp cần. Tại đó, nguyên liệu được sản xuất, chế biến thành sản phẩm và vận tải giao nhận lại một lần nữa làm công việc cung cấp hệ thống vật chất cho sản phẩm. Như vậy, vận tải giao nhận đảm nhận việc di chuyển nguyên liệu vào trong doanh nghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp ra thị trường và tạo thành một vòng tuần hoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Vị trí vai trò quan trọng của vận tải giao nhận với tư cách là một yếu tố của logistics được biết đến vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng nhiên liệu trầm trọng. Cuộc khủng hoảng này đã khiến các doanh nghiệp phải mua nhiên liệu với giá cao hơn rất nhiều, điều này làm cho chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Giá nhiên liệu tăng cũng đe dọa nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận vì giá nhiên liệu tăng sẽ dẫn tới phí vận tải tăng điều này hiển nhiên sẽ tác động mạnh tới giá cả hàng hóa trên thị trường.
Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thỏa mãn nhu cầu về giao nhận, trên thực tế, nhu cầu này phổ biến do người vận tải giao nhận đáp ứng. Người cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu vào doanh nghiệp hay thành phẩm ra khỏi doanh nghiệp. Người kinh doanh vận tải giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập cho nên cũng độc lập trong việc thu lợi nhuận từ việc cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chuyên cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp được gọi là nhà trung gian chuyên nghiệp. Một kênh logistics có thể tạo bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp như người giao nhận; người kinh doanh vận tải công cộng không có tàu; các công ty quản lý xuất nhập khẩu; các công ty thương mại xuất khẩu hay người đóng gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan… và sự thành bại của mỗi nhà trung gian chuyên nghiệp được quyết định bởi sự thành bại của toàn bộ kênh logistics.
Vận tải giao nhận có thể ảnh hưởng lớn đến vị trí của doanh nghiệp trong phương án sản xuất kinh doanh. Ví dụ, sự thuận tiện trong vận chuyển đường sắt, đường bộ có thể cho phép doanh nghiệp lựa chọn xây dựng nhà máy ở nơi xa nguồn nguyên liệu hoặc hệ thống phân phối sản phẩm cũng có tác động tới việc lựa chọn vị trí của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có một kênh phân phối với chi phí thấp và các kênh logistics hiệu quả thì lựa chọn vị trí của doanh nghiệp sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi thị trường mà doanh nghiệp đang phục vụ.
Qua phân tích trên đây, chúng ta có thể nói vận tải giao nhận là yếu tố cơ bản của logistics và là bộ phận có vai trò quan trọng trong hoạt động của chuỗi logistics.
2. Yếu tố marketing Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Marketing cũng là một yếu tố cơ bản của logistics. Như đã đề cập ở khái niệm logistics ở trên, thì tất cả các hoạt động của hoạt động logistics đều tập trung vào khách hàng – ”khách hàng là thượng đế”. Vì vậy, trong logistics điểm được nhấn mạnh nằm ở dịch vụ hiệu quả dành cho khách hàng. Việc chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường, nơi khách hàng là “thượng đế” là một cuộc cách mạng lớn trong sản xuất kinh doanh. Trước những năm 50 thế kỷ XX, người ta áp dụng triết lý hướng về sản xuất, tức là tập trung chủ yếu vào khả năng sản xuất và bán sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng thời gian này chỉ được coi là nơi chứa hàng. Song tới giai đoạn thị trường có nhiều hàng hóa và cạnh tranh gay gắt giữa những loại hàng hóa có thể thay thế cho nhau đã làm thay đổi tư duy về marketing. Việc chuyển sang tư duy về marketing là một triết lý mới trong kinh doanh, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải điều tra thị trường, nhu cầu thị trường cần gì? bao nhiêu? … để có kế hoạch sản xuất và cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. “Bán cho khách hàng cái mà họ cần” đã trở thành phương châm kinh doanh mới.
Phương thức kinh doanh tới thị trường đã tạo nên những thử thách mới đối với các nhà quản lý. Phương thức này đòi hỏi các nhà quản lý phải biết đâu là thị trường của doanh nghiệp; tạo ra tư duy về dịch vụ khách hàng hiệu quả; giúp cho việc đưa đúng sản phẩm về nơi cần vào thời điểm thích hợp với giá cả phải chăng; thiết lập nhu cầu phải có kênh phân phối để tối đa lượng hàng bán ra với mức giá hợp lý cũng như sự hỗ trợ đối với sản phẩm sau khi chuyển giao quyền sở hữu. Từ đây ta có thể thấy vai trò của marketing trong chuỗi dây chuyền logistics. Doanh nghiệp hướng vào thị trường sẽ sử dụng các nghiên cứu về thị trường để đảm bảo sản phẩm nào có tiềm năng được khách hàng ưa thích. Logistics là một chức năng cơ bản trong doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong quá trình khách hàng tiếp cận, chấp nhận và tin tưởng sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics lúc đầu được coi là 4 chữ P của marketing mix – để đảm bảo rằng hàng hóa đến đúng địa điểm kịp thời và trong điều kiện tốt. Nhưng thực tế hiện nay logistics còn có liên hệ mật thiết với 3 P còn lại.
3. Yếu tố phân phối
Phân phối là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong chuỗi dây chuyền logistics. “Phân phối” là một khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hóa của một doanh nghiệp. Nó bao gồm sự di chuyển của hàng hóa giữa các phương tiện khác nhau, qua biên giới của một hay nhiều nước, qua nhiều địa điểm khác nhau, trong đó sự phối hợp các hoạt động và các chức năng khác nhau được nhấn mạnh nhằm mục đích loại bỏ các gián đoạn trong hành trình liên tục của hàng hóa từ giai đoạn sản xuất đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics sẽ phối hợp toàn bộ quá trình cung ứng, sản xuất, phân phối thành một dòng chảy nhịp nhàng.
Nhận thức ngày càng hoàn thiện hơn về logistics là một hoạt động liên kết đã kéo theo nhận thức ngày càng tăng về vai trò ý nghĩa của các cách bố trí kênh phân phối trong hệ thống logistics. Nếu không bố trí kênh phân phối hợp lý và khoa học thì những chi phí logistics không cần thiết hay dịch vụ khách hàng yếu kém có thể xảy ra cho một doanh nghiệp. Trước đây các kênh phân phối thường đề cao vai trò của vị trí nhà xưởng, nơi sản xuất hay kho hàng….Một doanh nghiệp nên chọn lựa nơi gần nguồn nguyên liệu hoặc nơi có đường giao thông thuận lợi xuyên suốt. Ngược lại khả năng sẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho tàng gần nơi thị trường tiêu thụ. Việc quá nhấn mạnh vào tầm quan trọng của địa điểm này đã làm xao nhãng vấn đề thời gian trong hệ thống logistics. Vì vậy cần có cách nhìn mới và toàn diện hơn về kênh phân phối trong hệ thống logistics nhằm tối ưu hóa dòng lưu chuyển của hàng hóa. Không thể phiến diện ở vị trí hay địa điểm, mà kênh phân phối phải biết liên kết chặt chẽ giữa địa điểm và thời gian. Đây chính là thành tựu mới nhất trong hoạt động nghiên cứu về kênh phân phối, với cách tiếp cận này đã đưa ra một cái nhìn tổng quát hơn về logistics trong sự kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận, các yếu tố trong toàn bộ quá trình trung chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa qua các kênh.
4. Yếu tố quản trị Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Quản trị là yếu tố cơ bản thứ tư của logistics. Trong hệ thống logistics, quản trị có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động logistics nếu không có yếu tố kiểm tra, giám sát sẽ không đạt được mục đích đặt ra. Vấn đề quản trị trong logistics được thể hiện qua hoạt động của những nhà quản trị logistics. Nhà quản trị logistics có vai trò và trách nhiệm rất lớn. Họ là những người vừa có chuyên môn sâu, đồng thời phải có sự hiểu biết rộng. Ở khía cạnh thứ nhất, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về các loại hình vận tải, cước phí vận tải, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, quá trình, tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các kênh phân phối và thị trường….Ở khía cạnh thứ hai, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về mối quan hệ giữa tất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết, phối hợp hài hòa hoạt động của logistics với các hoạt động khác trong doanh nghiệp cũng như với các doanh nghiệp khác và khách hàng.
Điều quan trọng hơn là nhà quản trị logistics phải biết nghĩ tới toàn bộ hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp từ khi nhận nguyên liệu từ nhà cung cấp cho tới khi sản phẩm được giao cho khách hàng kể cả những dịch vụ sau bán hàng. Tư duy đó phải bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, thị trường tiềm năng… nói tóm lại nhà quản trị logistics phải có tư duy lớn.
Cho dù ở cấp độ quản trị nào thì một nhà quản trị logistics cũng phải quan tâm tới lợi nhuận. Logistics có thể làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách điều hành hoạt động doanh nghiệp có hiệu quả và như vậy sẽ giảm được chi phí. Thêm vào đó, bằng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, logistics còn có thể làm tăng doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận. Trên thực tế, lợi nhuận có nguồn gốc từ logistics thực sự là một khoản rất lớn, đã khẳng định vai trò của yếu tố quản trị trong hệ thống logistics. Mỗi một quyết định của nhà quản trị logistics ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ vấn đề chi phí đến lợi nhuận, từ nhà cung cấp đến khách hàng. Quản trị logistics là tâm điểm của mọi hoạt động logistics, mục tiêu của quản trị logistics là thiết lập nên các nguồn lực logistics trọn gói một cách hài hòa và thống nhất.
5. Các yếu tố khác
Ngoài 4 yếu tố cơ bản như trên, hệ thống logistics còn có các yếu tố khác không kém phần quan trọng sau đây :
Yếu tố kho bãi nhà xưởng
Kho bãi nhà xưởng và các hoạt động có liên quan, đại diện cho một yếu tố quan trọng của logistics và là sự kết nối cơ bản trong kênh logistics. Toàn bộ quá trình sản xuất, từ nguyên vật liệu nhập vào cho tới hàng thành phẩm đều cần phải có kho bãi, nhà xưởng. Sự cần thiết về kho bãi nhà xưởng bắt nguồn từ nhu cầu lưu trữ nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, thành phẩm trước khi đưa vào phân phối, kể cả phụ tùng máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất hay sản phẩm bị hư hỏng… Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Yêu cầu về lưu trữ là một nhân tố quan trọng khi quyết định loại và quy mô của kho bãi nhà xưởng.
Yếu tố phụ tùng thay thế và sửa chữa
Phụ tùng thay thế và sửa chữa với sự trợ giúp của kho bãi là một yếu tố quan trọng của logistics hỗ trợ. Phụ tùng thay thế và sửa chữa thường được sự dụng nhằm hỗ trợ cho hoạt động phân phối sản phẩm như là một dịch vụ sau bán, ngoài ra nó còn có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ các trang thiết bị của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất.
Tài liệu kỹ thuật
Tài liệu kỹ thuật rất cần thiết trong việc hỗ trợ cho sản phẩm có hiệu quả. Tài liệu kỹ thuật sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để lắp đặt, các hướng dẫn lắp đặt và vận hành. Ngoài ra còn có những tài liệu khác cung cấp những thông tin về bảo dưỡng, danh mục các bộ phận tháo rời và thay thế, cách sử dụng thiết bị hỗ trợ và kiểm tra. Tài liệu kỹ thuật phải tương thích và phải được so sánh với sản phẩm thực tế để đảm bảo độ chính xác và đầy đủ của tài liệu.
Thiết bị kiểm tra và hỗ trợ
Máy móc thiết bị … sản phẩm được doanh nghiệp phân phối đều đòi hỏi phải được sửa chữa, bảo dưỡng và chỉnh sửa định kỳ. Hoạt đông này cần thiết phải sử dụng các loại thiết bị hỗ trợ kiểm tra. Thiết bị kiểm tra, hỗ trợ rất cần sự hỗ trợ thêm của logistics. Logistics trong các thiết bị hỗ trợ kiểm tra được thể hiện thông qua quyết định: cần tới cái gì, số lượng bao nhiêu, khi nào cần tới.
Nhân lực và đào tạo nhân lực
Đào tạo nhân lực được coi là yếu tố đòi hỏi chi phí lớn nhất trong logistics. Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm phức tạp, hàm lượng chất xám cao … đòi hỏi lực lượng lao động phải được đào tạo kỹ, đầy đủ kiến thức chuyên môn và tay nghề cao. Chương trình đào tạo phải được xây dựng và phát triển phù hợp với sản phẩm sản xuất ra, với tài liệu kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất, bảo dưỡng sửa chữa các thiết bị hỗ trợ kiểm tra. Yêu cầu đào tạo phải đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, đúng nơi, đúng lúc. Việc tuyển chọn cùng với đào tạo hiệu quả được thiết kế và liên kết với tổng thể hoạt động logistics phục vụ mục tiêu của doanh nghiệp sẽ giúp giảm thiểu chi phí cho yếu tố logistics này.
Tóm lại, logistics hiện nay được coi là chìa khóa giúp các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, là nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động của doanh nghiệp bởi vì nó liên quan tới hoạt động cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất, quá trình sản xuất ra sản phẩm và việc phân phối thành phẩm kể cả các công việc sau bán. Doanh nghiệp vừa phải tìm kiếm nguồn lực để sản xuất và đồng thời vừa phải tìm kiếm khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đã sản xuất ra trong môi trường mà cạnh tranh diễn ra gay gắt. Phương tiện liên kết các yếu tố trong doanh nghiệp, liên kết doanh nghiệp với doanh nghiệp khác, với môi trường hoạt động chính là kênh logistics. Nhận thức được vai trò quan trọng của logistics trong sản xuất cũng như kinh doanh, các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển đã bỏ ra khoản chi phí rất lớn cho dịch vụ này. Chi phí logistics của Nhật Bản chiếm tới 8,4% GDP. (PGS.TS.Nguyễn Như Tiến, 2021).
III. VAI TRÒ CỦA LOGISTICS Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
1.Vai trò của logistics
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia chỉ là thứ hai so với hoạt động của doanh nghiệp, ví dụ như thị trường tam giác bao gồm ba khu vực địa lý: Nhật, Mỹ – Canada và EU. Trong thị trường tam giác này, các công ty trở lên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lực của họ đã vượt quá biên giới quốc gia, quốc tịch của công ty bắt đầu mờ đi.
Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện… tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng.
Từ thập kỷ 70 thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển. Các giai đoạn lãi suất ngân hàng cao khiến các doanh nghiệp nhận thức sâu sắc về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì hàng tồn kho. Vì vậy, muốn tối ưu hóa quá trình sản xuất phải cắt giảm tất cả các chi phí, không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong các lĩnh vực khác như vận tải, lưu kho phân phối hàng hóa. Làm thế nào để cắt giảm được những chi phí này trong chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh. Tất cả các hoạt động này chỉ có thể kiểm soát được bằng hệ thống logistics tiên tiến có sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.
Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mục đích sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn phải đưa ra phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. Nhưng quá trình thực hiện, người sản xuất kinh doanh còn phải đối mặt với nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, kho bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm,…Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian- thời điểm (just-in-time).
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động lưu thông nói chung và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu. Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn.
2.Tác dụng của dịch vụ logistics đối với doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics cũng như Viện logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng 15-20%. Theo thống kê của một số nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33% một năm và ở Brazil là 20%/năm. Điều này cho thấy chi phí logistics là rất lớn. Vì vậy, với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.
Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối.
Giá cả trên thị trường chính bằng giá cả nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C.Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải,quản lý,…) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá tri xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển.
Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận.
Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại, một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiêu quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy khách hàng cũng yêu cầu người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng hóa và phong phú các loại hình dịch vụ. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận vận tải. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Theo kinh nghiệm của những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 1-2 lần dịch vụ ngoại thương khác.
Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.
Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như là chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế.
Thực tiễn một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng khoản chi phí tiêu tốn cho các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm đã chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.
Ngoài ra cùng với sự phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.
IV. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG LOGISTICS
1. Mua sắm nguyên vật liệu
Mua sắm nguyên vật liệu là đầu vào của quá trình logistics. Mặc dù hoạt động này không ảnh hưởng trực tiếp tới khách hàng nhưng mua sắm nguyên vật liệu có vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động logistics. Bởi không có nguyên liệu tốt không thể cho ra sản phẩm tốt.
Các hoạt động của khâu mua sắm nguyên vật liệu bao gồm: tìm nguồn cung cấp, tiến hành mua sắm thu mua vật tư, tổ chức vận chuyển, nhập kho, lưu kho, bảo quản và cung cấp cho người sử dụng, quản lý hệ thông thông tin có liên quan, lập kế hoạch và kiểm soát hàng tồn kho, tận dụng phế liệu, phế phẩm.
2. Dịch vụ khách hàng Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, thị trường được mở rộng, khi cần mua một loại hàng hóa nào đó khách hàng có rất nhiều khả năng lựa chọn, nếu nhiều tổ chức cùng đưa ra thị trường những sản phẩm có đặc điểm giống nhau, chất lượng, giá cả gần tương đương như nhau thì sự khác biệt về dịch vụ khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng, nếu được thực hiện tốt chúng không chỉ giúp tổ chức giữ chân khách hàng cũ mà còn có thể lôi kéo, thu hút thêm được các khách hàng mới. Đây chính là điểm mấu chốt giúp doanh nghiệp đứng vững trên thương trường thành công.
Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm giải quyết các đơn đặt hàng của khách hàng. Mục đích của hoạt động dịch vụ khách hàng là tạo cho quá trình mua bán, trao đổi được thông suốt và kết quả của quá trình này làm tăng giá trị sản phẩm trao đổi. Các công việc liên quan đến dịch vụ khách hàng là: tìm hiểu thị trường, xác định nhu cầu thị trường, xây dựng mục tiêu và kế hoạch dịch vụ khách hàng; giới thiệu và cung cấp dịch vụ khách hàng; xử lý tình huống, duy trì uy tín với khách hàng; lắp đặt bảo hành, sửa chữa và các dịch vụ khác; theo dõi sản phẩm.
Nếu như khâu mua sắm nguyên vật liệu là đầu vào của hoạt động logistics thì dịch vụ khách hàng là đầu ra của hoạt động này. Dịch vụ khách hàng chính là các biện pháp trong hệ thống logistics nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hóa ở mức độ cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Giá trị gia tăng ở đây chính là sự hài lòng của khách hàng, nó là hiệu số giữa giá trị đầu ra với giá trị đầu vào, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế có quan hệ và tác động qua lại với nhau. Dịch vụ khách hàng có ảnh hưởng lớn đến thị phần, đến tổng chi phí bỏ ra và cuối cùng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Trong chuỗi hoạt động logistics thì dịch vụ khách hàng chình là đầu ra, là thước đo chất lượng của toàn bộ hệ thống. Do đó, muốn phát triển logistics phải có sự quan tâm thích đáng đến dịch vụ khách hàng. Doanh nghiệp phải có những phương pháp nghiên cứu, xác định nhu cầu thực của khách hàng, trên cơ sở đó xây dựng mục tiêu và cung cấp các dịch vụ có mức độ phù hợp.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trước, trong và sau khi giao dịch với khách hàng. Muốn có các dịch vụ khách hàng tốt cần nghiên cứu kỹ các yếu tố ảnh hưởng.
Tóm lại, dịch vụ khách hàng là đầu ra của quá trình hoạt động logistics. Hơn nữa dịch vụ khách hàng là công cụ cạnh tranh hữu hiệu và là yếu tố mang tính quyết định trước tiên đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Hoạt động logistics tích hợp có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dịch vụ khách hàng.
3. Quản lý hoạt động dự trữ
Quản lý kho hàng (quản lý dự trữ hàng) là một bộ phận của hoạt động logistics nhằm quản lý việc dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm và hàng hóa trong sản xuất và lưu thông.
Mục đích của hoạt động quản lý vật tư, nguyên vật liệu là đảm bảo cho sản xuất lưu thông được diễn ra liên tục và hiệu quả, cân đối cung cầu và đề phòng rủi ro, bất trắc. Các công việc liên quan đến quản lý kho hàng trong hoạt động logistics bao gồm: Thiết lập mạng lưới kho và chọn vị trí kho hàng (số lượng, quy mô); thiết kế và lắp đặt các thiết bị kho hàng; tổ chức việc xuất nhập, lưu kho, bảo quản hàng hóa; thực hiện các công việc sổ sách, thống kê liên quan đến nghiệp vụ kho hàng… Nhờ có dự trữ mà chuỗi logistics mới có thể hoạt động liên tục nhịp nhàng và có hiệu quả được.
Các loại dự trữ chủ yếu phân theo vị trí trong hệ thống logistics:
- Dự trữ nguyên vật liệu
- Dự trữ bán thành phẩm
- Dự trữ sản phẩm trong khâu sản xuất
- Dự trữ sản phẩm trong lưu thông
Dự trữ là tất yếu khách quan, nó là kết quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Nhờ có dự trữ mà cuộc sống nói chung, hoạt động logistics nói riêng, mới có thể diễn ra liên tục, nhịp nhàng. Tuy nhiên phải biết lên kế hoạch dự trữ thế nào cho vừa, phù hợp với từng thời điểm nhằm tránh tình trạng tồn đọng vốn. Quản trị dự trữ trong logistics đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng về chi phí dự trữ logistics, nhất là kiến thức về tổng chi phí logistics để có thể đưa ra những quyết định về thiết kế hệ thống logistics, các dịch vụ khách hàng, số lượng và dịch vụ các kênh phân phối, mức dự trữ, hình thức dự trữ, cách thức vận tải…
Tóm lại, hoạt động dự trữ có tác động trực tiếp tới nhiều hoạt động của chuỗi logistics. Nếu cần có sự cân đối chi phí dự trữ và các khoản chi phí logistics khác. Hoạt động dự trữ là khâu quan trọng trong toàn bộ hệ thống logistics. Cần sử dụng tốt và phối hợp chặt chẽ các kỹ thuật: phân tích dự báo, mô hình dự trữ, hệ thống giải quyết đơn hàng.
4. Dịch vụ vận tải Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Quản lý vận tải và phân phối hàng là khâu trọng yếu nhất của hoạt động logistics, bởi vì kết quả của quá trình vận chuyển và phân phối hàng hóa ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quản lý vận tải và phân phối hàng hóa nhằm quản lý công tác vận chuyển và phân phối hàng hóa đúng thời hạn, an toàn đảm bảo đủ khối lượng và chất lượng.
Các công việc liên quan đến quản lý vận tải trong hoạt động kinh doanh logistics: Chọn người vận chuyển (tự vận chuyển hay thuê); chọn tuyến đường, phương thức vận tải, phương tiện vận tải; kiểm soát quá trình vận chuyển; công việc giao nhận và bốc xếp; xử lý trường hợp hư hỏng mất mát hàng.
Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thường là người kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa không có tàu (Non-Vessel-Owning Common Carriers – NVOCC), hoặc người kinh doanh vận tải đa phương thức. Họ tiến hành các hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng cho tới nơi sản xuất, vận chuyển từ nơi sản xuất cho tới nơi tiêu dùng có thể bằng phương tiện của chính mình hay do họ thuê mướn, hay trên cơ sở một hợp đồng phụ (sub-contract) mà họ thay mặt cho chủ hàng ký kết với người vận chuyển. Khi thực hiện công việc vận chuyển, người kinh doanh dịch vụ logistics đóng vai trò là người được ủy thác của chủ hàng, điều này có nghĩa là người kinh doanh dịch vụ logistics sẽ thay mặt khách hàng đứng ra ký các hợp đồng về vận chuyển hàng hóa trên danh nghĩa của chính mìnhvà chịu trách nhiệm toàn bộ trước khách hàng về mọi vấn đề phát sinh trong quá trình chuyên chở hàng hóa. Dù có là người vận chuyển trực tiếp (tự mình tổ chức vận chuyển bằng chính phương tiện của mình hoặc phương tiện do mình thuê mướn) hay là người vận chuyển gián tiếp (thực hiện nghĩa vụ vận chuyển đã cam kết với khách hàng bằng cách ký hợp đồng phụ với người kinh doanh dịch vụ vận tải khác) thì người kinh doanh dịch vụ logistics vẫn phải chịu trách nhiệm trước khách hàng đối với toàn bộ mất mát, hư hỏng xảy ra đối với hàng hóa, xảy ra trong toàn bộ quá trình vận chuyển. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Người kinh doanh dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề này bằng những phương pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn phương thức vận tải thường sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng:
- Chi phí vận tải
- Tốc độ vận chuyển
- Tính linh hoạt
- Khối lượng/trọng lượng giới hạn
- Khả năng tiếp cận
Tất cả dịch vụ logistics đều nhằm mục đích thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu của khách hàng (người sản xuất và người tiêu dùng). Trong dây chuyền cung ứng gồm nhiều khâu, mắt xích của các khâu có các dịch vụ: giao nhận, xếp dỡ, kho bãi…Nếu để hàng hóa phải tồn kho nhiếu hoặc lưu kho quá lâu sẽ gây thiệt hại cho hãng sản xuất, do đó cần phải giải quyết khâu này bằng những biện pháp khác nhau:
- Xác lập kênh phân phối, chọn thị trường tiêu thụ
- Chọn vị trí kho hàng
- Thiết lập các trung tâm phân phối, trung tâm logistics -Quản lý quá trình vận chuyển…
Có một số hãng đã đạt được quy trình sản xuất “không lưu kho” đối với một số mặt hàng nhất định, và có được lợi nhuận cao.
Cùng với những hoạt động logistics khác, vận tải cũng đóng góp một phần giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ. Trước hết giải quyết được vấn đề là đưa sản phẩm tới đúng nơi người tiêu dùng yêu cầu tức là giá trị hàng hóa đã được tăng thêm. Kế nữa đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian. Việc chọn đúng phương tiện và phối hợp các hình thức vận tải khác nhau chỉ với mục đích cuối cùng sao cho vận chuyển càng nhanh hàng hóa tới tay người tiêu dùng càng tốt. Như vậy giá trị gia tăng trong khâu vận tải chính là việc khách hàng được hưởng dịch vụ hoặc sản phẩm đúng nơi, đúng lúc.
Để chuyên chở hàng hóa, người cung cấp dịch vụ logistics có thể chọn một hoặc nhiều phương thức vận tải sau: đường biển, đường sông, đường bộ, đường sắt, đường hàng không.
5. Hoạt động kho bãi Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
Hoạt động kho bãi là một bộ phận của hệ thống logistics, là nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu cho tới điểm cuối của dây chuyền cung ứng, đồng thời cung cấp các thông tin về tình trạng, điều kiện lưu trữ và vị trí của các hàng hóa được lưu kho.
Hoạt động logistics này là một hoạt động chiến lược, nó ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển, chất lượng dịch vụ khách hàng, tốc độ lưu chuyển hàng hóa và tất nhiên ảnh hưởng tới toàn bộ dây chuyền cung ứng. Cho nên trong hoạt động này cần phải xác định tốt vị trí kho hàng. Vị trí kho hàng được quyết định dựa trên các điều kiện cơ bản sau: gần các trung tâm bán hàng lớn, có cơ sở hạ tầng tốt, thủ tục làm đơn giản (đặc biệt là thủ tục thông quan nếu là logistics toàn cầu), có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và nhất là có tình hình xã hội ổn định. Đây chính là nguyên nhân lý giải 60% các trung tâm phân phối lớn, các kho hàng lớn của Châu Âu đều tập trung ở Hà Lan.
Người kinh doanh dịch vụ logistics không nhất thiết là người phải có kho bãi. Họ có thể tư vấn cho khách hàng những địa điểm lưu kho thuận lợi cho quá trình giao nhận, chuyên chở, phân phối và thậm chí thay mặt cả khách hàng để ký hợp đồng lưu kho hàng hóa. Bên cạnh việc thực hiện các công tác lưu kho, lưu bãi, người kinh doanh dịch vụ còn cung cấp cho khách hàng các hoạt động về quản lý kho, quản trị dự trữ và đây là một bước tiến cao hơn so với công tác lưu kho, lưu bãi đơn thuần trong hoạt động giao nhận truyến thống trước đây.
Người kinh doanh dịch vụ logistics phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong thời gian hàng hóa được lưu kho nằm trong sự quản lý của mình theo các quy định của pháp luật.
Các hoạt động làm tăng giá trị của hàng hóa là các hoạt động về dán mác, dán nhãn, kẻ ký mã hiệu, tái đóng gói, kiểm soát chất lượng, quản lý đơn đặt hàng, thực hiện việc quản lý trả lại hàng cho nhà phân phối,…
Hoạt động lưu kho có quan hệ mật thiết với hoạt động vận tải trong chuỗi hệ thống logistics. Cả hai cùng đóng góp giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm của sản phẩm. Thiết kế hệ thống cơ sở sản xuất và kho hàng khoa học, hợp lý cho phép tiết kiệm được chi phí vận tải ở cả đầu vào lẫn đầu ra của hệ thống logistics.
Một công việc có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kho hàng là quản lý hệ thống thông tin. Phải thường xuyên cập nhật thông tin về mức độ dự trữ, lượng hàng nhập kho, xuất kho, thực có trong kho, vị trí, tình trạng hàng hóa, các yêu cầu của khách hàng…. Thông tin ở đây cần phải kịp thời và chính xác.
Muốn làm được như vậy thì phải biết ứng dụng hệ thống chia sẻ và trao đổi thông tin điện tử (Electronic Data Interchange -EDI), hệ thống mã vạch và vi tính hóa mọi hoạt động. Khóa luận: Hoạt động logistics của Nhật Bản và bài học cho VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát sự hình thành ngành logistics Nhật Bản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển ngành logistics của Nhật Bản