Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt sự cạnh tranh và những biến động không ngừng trong môi trường kinh doanh. Để đạt được các mục tiêu trong môi trường kinh doanh luôn biến động này các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực như: nguồn lực về vốn, về con người, không ngừng tổ chức cơ cấu lại bộ máy hoạt động…..Thực chất những việc này là doanh nghiệp thực hiện hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự thành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư vấn xây dựng như Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko nói riêng. Để khai thác triệt để các nguồn lực khan hiếm nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, các công ty, các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiến hành đánh giá các kết quả đã thực hiện và đưa ra các giải pháp, biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả.

Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là bài toán khó với nhiều doanh nghiệp. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh như: hạn chế trong công tác quản lý, hạn chế trong năng lực sản xuất hay kém thích ứng với sự biến đổi trong nhu cầu của thị trường. Do đó, các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh ngày càng được các doanh nghiệp chú trọng.

Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko có chức năng chính là xây dựng, tư vấn xây dựng, cơ điện tử và phát triển thêm các ngành kinh doanh mới như nông nghiệp hữu cơ, thực phẩm chức năng. Với việc hoạt động đa ngành như của công ty hiện nay thì việc làm sao để hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất chính là ưu tiên hàng đầu. Công ty TNHH và Xây lắp Meiko có đội ngũ cán bộ nhân viên luôn làm việc tận tụy, không ngừng hoàn thiện kỹ năng, trình độ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác. Tuy nhiên, Công ty TNHH và Xây lắp Meiko đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ trên địa bàn như Công ty TNHH Siêu Thị Sống Khoẻ, Organica, Chuỗi cửa hàng ORFARM, v.v… cũng như bộc lộ những hạn chế như: dịch vụ chăm sóc khách hàng còn hạn chế, nhân sự trẻ thiếu kinh nghiệm, quản lý chi phí chưa hiệu quả, v.v…

Vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn được ban lãnh đạo Công ty TNHH và Xây lắp Meiko quan tâm xem đây là thước đo và công cụ thực hiện mục tiêu kinh doanh tại Công ty. Với những kiến thức thu được trong quá trình học tập và xuất phát từ thực tế của Công ty, em nhận thấy Công ty TNHH và Xây lắp Meiko đã chú trọng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết để hoạt động kinh doanh được hiệu quả hơn. Vì lý do trên, em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko.

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm đề xuất ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko trong thời gian tới.

Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.

Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko giai đoạn 2016 – 2020. Từ đó, tìm ra những mặt tồn tại làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty.

Thứ ba, đề xuất ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko trong thời gian tới.

2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận tập trung trả lời các câu hỏi:

  • Hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là gì? Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là như thế nào?
  • Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko trong giai đoạn 2016-2020 như thế nào? Công ty đã đạt được những thành công nào và còn những hạn chế nào còn tồn tại về hiệu quả kinh doanh?
  • Những giải pháp đề xuất và kiến nghị đặt ra đối với Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko và các cơ quan bộ ngành để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian tới là gì?

3. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung

Đề tài nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko.

Về không gian

Tại Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko.

Về thời gian

Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến 30/6/2021.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Phương pháp thu thập số liệu:

  • Số liệu liên quan được lấy từ các phòng ban của công ty, trên báo cáo tài chính, tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty.
  • Các tài liệu tham khảo có liên quan đến hoạt động kinh doanh về thực phẩm chức năng, thực phẩm rau hữu cơ, tư vấn xây dựng và cơ điện tử…. có liên quan đến các ngành hoạt động của công ty.
  • Các thông tin chính thống được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:

Báo cáo chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, quy nạp, phương pháp phân tích hoạt động kinh tế,… để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn liên quan..

5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, phần mở đầu tài liệu tham khảo thì khóa luận được kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko.

Chương 3: Các đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại và Xây lắp Meiko.

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

1.1.1. Khái niệm, phân loại hiệu quả kinh doanh

1.1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh

Theo Nguyễn Tấn Bình (2003): “Hiệu quả kinh doanh là một khái niệm phạm trù kinh tế, biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự tăng trưởng và thực hiện mục tiêu kinh tế trong một thời điểm nhất định. Nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra” (p.65).

Hiệu quả kinh doanh xét ở góc độ kinh tế học vĩ mô còn có một số khái niệm như sau:

  • Là hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó.
  • Hiệu quả là không lãng phí.
  • Hiệu quả xét ở góc độ chung và doanh nghiệp.
  • Là mối quan hệ tỉ lệ giữa chi phí kinh doanh phát sinh trong điều kiện thuận nhất và chi phí kinh doanh thực tế phát sinh được gọi là hiệu quả xét về mặt giá trị.
  • Là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định.

Nhiều nhà quản trị học quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Manfred Kuhn cho rằng: “tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ảnh trình độ lợi dụng các nguồn lợc (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem vói mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Vì vậy, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng công thức chung nhất như sau:

Công thức: H = K/C

Trong đó: H – Hiệu quả.

K – Kết quả đạt được.

C – Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó.

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố, nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra đó”.

1.1.1.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh

Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, nó là phương cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà mình đạt được và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lược, kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp.

Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quôc dân

Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh tế quốc dân được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thăng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Trong việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt được hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả cá biệt. Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của mỗi người lao động và mỗi doanh nghiệp. Đồng thời xã hội thông qua hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt. Một cơ chế quản lý đúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt, ngược lại một chính sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm nâng cao hiệu quả cá biệt.

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị bộ phận của doanh nghiệp) trong một thời kỳ xác định.

Hiệu quả kinh doanh bộ phận: Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ảnh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp.

Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận, khi đó chỉ có hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận của doanh nghiệp.

Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn

Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm, vài năm…

Hiệu quả kinh doanh dài hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong thời gian dài gắn với các chiến lược, các kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí, nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Cần chú ý rằng, giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và hiệu quả kinh doanh ngắn hạn vừa có mối quan hệ biện chứng với nhau và trong nhiều trường hợp có thể mâu thuẫn nhau. Về nguyên tắc, chỉ có thể xem xét và đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai. Trong thực tế, nếu mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, chỉ có thể lấy hiệu quả kinh doanh dài hạn làm thước đo chất lượng hoat động kinh doanh của doanh nghiệp vì nó phản ánh xuyên suốt quá trình lợi dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp.

1.1.2. Khái niệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Đó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, sẽ mở rộng được doanh nghiệp, sẽ chiếm lĩnh được thị trường và muốn nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những biện pháp cực kỳ quan trọng của các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao một cách bền vững.

1.2. Một số lý thuyết về nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

1.2.1. Một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh

Hiện nay, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ hiệu quả kinh doanh xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự hình thành phát triển của nghành quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, người ta có thể chia các quan điểm thành các nhóm cơ bản sau đây:

Quan điểm 1

Trước đây người ta coi “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa”. Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: Tốc độ tăng của doanh thu, của lợi nhuận. Như vậy hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy. Tuy nhiên, quan điểm này không còn phù hợp với điều kiện ngày nay. Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất). Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất dù có hai mức chi phí khác nhau, thì theo quan điểm này, hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau. Điều này thật khó chấp nhận.

Quan điểm 2

Đây là quan điểm về hiệu quả được trình bày trong giáo trình kinh tế học của P.Samueleson và W.Nordhmas (Viện quan hệ quốc tế – Bộ ngoại giao xuất bản, bản dịch tiếng Việt năm 1991). Theo quan điểm này thì “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Nhìn nhận quan điểm này dưới góc độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó. Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp được xác định bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổng sản lượng cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công nghệ và nhân công nhất định. Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh mức thực tế và mức “tối đa” về sản lượng. Tỷ lệ so sánh càng gần 1 càng có hiệu quả. Mặt khác, ta thấy quan điểm này tuy có đề cập đến các yếu tố đầu vào nhưng lại đề cập không đầy đủ.

Tóm lại, quan điểm này là chính xác, độc đáo nhưng nó mang tính chất lý thuyết thuần tuý, lý tưởng, thực tế rất khó. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Quan điểm 3

Quan điểm này cho rằng: “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của đại lượng kết quả và chi phí”

Cụng thức biểu diễn phạm trù này:

H= ΔK/ΔC

ΔK: Phần gia tăng của kết quả sản xuất

ΔC: Phần gia tăng của chi phí sản xuất

H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh

Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn. Nó chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Xét trên quan điểm triết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mỗi quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập. Sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” giảm đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có. Không trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới kết quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Quan điểm này chỉ đề cập đến phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chưa đầy đủ, thiếu chính xác.

Quan điểm 4

Quan điểm thứ 4 cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất”.

Quan điểm này chú ý đến sự so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí. Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp.

Quan điểm 5

Theo quan điểm này: “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”

Khái niệm chung về hiệu quả kinh tế: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”

Từ khái niệm trên ta có công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh.

H=K/C

H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh.

K: Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.

C: Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra để đạt được kết quả K). Như vậy, ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy, khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp thì phải quan tâm đến cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó.

Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận động và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.

Kết luận: Trong phạm vi đề tài này, tác giả đi theo quan điểm số 5.

Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lí của doanh nghiệp để thực hiện cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần được xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lượng, không gian và thời gian.

Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại. Song khi đánh giá về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao phản ánh sự cố gắng, nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị – xã hội. Hai mặt định lượng và định tính của phạm trù hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với nhau, có nghĩa là trong những biểu hiện về định lượng phải nhằm đạt được những mục tiêu chính trị – xã hội nhất định. Nếu đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp theo quan điểm này, tức là chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được gọi là hiệu quả. Song trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất và chi phí nào là thấp nhất là rất khó.

Về mặt hình thức, hiệu quả kinh doanh luôn là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa cái phải bỏ ra và cái thu về được. Bản chất phạm trù hiệu quả cho thấy không có sự đồng nhất giữa hiệu quả và kết quả.

Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả. Kết quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở mức nào và với chi phí bao nhiêu. Hiện nay, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn giữa khái niệm hiệu quả, kết quả và hiệu suất, nhiều khi chỉ thấy kết quả của mình làm ra là cao hay thấp mà chưa thấy được việc sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo đầu ra đã tốt hay chưa. Do vậy, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phải phân biệt ranh giới giữa hiệu quả với kết quả và hiệu suất. Vấn đề này được trình bày cụ thể như sau:

Kết quả chỉ là sự phản ánh kết cục cuối cùng của đối tượng nghiên cứu. Hiểu đơn giản, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là những gì doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định. Với mỗi doanh nghiệp, sau một thời gian làm việc hoặc sau một chu kỳ kinh doanh thì kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là những đại lượng cân, đong, đo, đếm được; và cũng có thể là một khối lượng công việc hoàn thành, số lượng sản phẩm tiêu thụ của mỗi loại, thị phần hoặc doanh thu bán hàng, lợi nhuận, … Trong các chỉ tiêu kết quả này chỉ có lợi nhuận là kết quả cuối cùng còn các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu… chỉ là kết quả trung gian. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Như vậy, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, hiệu quả là việc sử dụng cả hai chỉ tiêu phản ánh kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả. Trong lý thuyết và thực tế, quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị. Tuy nhiên, việc sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng đơn vị đo lường, còn việc sử dụng cách thức đo lường bằng giá trị sẽ giúp quá trình tính toán, phân tích được thuận lợi hơn. Vấn đề được đặt ra là trong thực tế, nhiều lúc chỉ tiêu hiệu quả được sử dụng như mục tiêu cần đạt được, nhưng trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như một công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt được là kết quả.

Hiệu suất là việc đánh giá cường độ hoạt động của đối tượng nghiên cứu. Theo Từ điển Kinh tế Anh – Việt, hiệu suất là tương quan giữa đầu ra hay giá trị sản xuất ra trong một thời gian nhất định và số lượng yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất được đầu ra ấy.

Như vậy, hiệu quả hoạt động cũng chính là quá trình khai thác hiệu suất sử dụng của các nguồn lực mà doanh nghiệp có được. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chỉ dừng lại ở việc cho biết thông tin về sự biến động quy mô tăng giảm chứ chưa giúp các nhà phân tích nhìn thấy mức độ ảnh hưởng và sự tác động ở khía cạnh kinh tế. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả và hiệu suất là hai chỉ tiêu có quan hệ nhân quả, hiệu quả có thể là kết quả của hiệu suất nhưng nhiều khi hiệu quả không là kết quả của hiệu suất. Chẳng hạn, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn là so sánh doanh thu (giá trị sản lượng) với nguyên giá bình quân tài sản sử dụng – chỉ tiêu này có thể cao nhưng hiệu quả không cao, vì tài sản dài hạn đó có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhưng lại tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên vật liệu,… làm cho giá thành sản phẩm cao, việc bán sản phẩm sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, bằng việc so sánh hiệu suất giữa các kỳ với nhau lại chúng ta cũng có thể đánh giá được hiệu quả của hoạt động kinh doanh.

Về mặt thời gian, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đạt được trong từng thời kì, từng giai đoạn không được làm giảm hiệu quả kinh doanh của từng giai đoạn, các thời kì, chu kì kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản thân các doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà bỏ đi lợi ích lâu dài. Trong thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, điều này thường không được tính đến là con nguời khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn không có kế hoạch, thậm chí khai thác sử dụng bừa bãi, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và phá huỷ môi trường. Cũng không thể quan niệm rằng cắt bỏ chi phí và tăng doanh thu lúc nào cũng có hiệu quả.

Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lí nói chung để đáp ứng các nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đó xác định. Hiệu quả kinh doanh biểu thị mối tương quan giữa kết quả đầu ra mà doanh nghiệp đạt được với nguồn lực đầu vào mà các mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của các nguồn lực tạo ra kết quả đó trong những điều kiện nhất định.

1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

1.2.2.1. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp được xem là kết quả thu được từ tổng chi phí và lợi nhuận thu vào để thực hiện một nhiệm vụ kinh doanh sản xuất. Việc tính toán hiệu quả kinh doanh tổng hợp sẽ cho thấy hiệu quả chung của doanh nghiệp. Còn việc tính toán và phân tích hiệu quả sẽ cho thấy sự tác động của yếu tố nội bộ đến việc sản xuất kinh doanh, trên nguyên tắc hiệu quả kinh doanh tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh thành phần. Nâng cao hiệu quả kinh doanh tổng hợp của doanh nghiệp cũng có nghĩa là nâng cao các chỉ tiêu sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Khái niệm

Suất sinh lời của doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của công ty. Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng và doanh thu của công ty.

Cách tính

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ. Đơn vị tính là %.

Cả lợi nhuận ròng lẫn doanh thu đều có thể lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty.

Công thức tính tỷ số này như sau

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu

100% x Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) Doanh thu

Ý nghĩa

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia. Mặt khác, tỷ số này và số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau. Do đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí

Khái niệm chi phí

Chi phí là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm, dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định. Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nhiệp; doanh thu và lợi nhuận.

Công thức:

Tỷ số lợi nhuận theo chi phí

Lợi nhuận trong kỳ

= 100% x Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ

Ý nghĩa

Chỉ tiêu này phản ánh độ lợi dụng các yếu tố chi phí trong sản xuất nó cho thấy với 1 đồng chi phí tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu này có hiệu quả nếu tốc độ tăng lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng chi phí.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

Khái niệm

Suất sinh lợi của tài sản là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp.

Cách tính

Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ. Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán. Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Công thức

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản

100% x Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) Bình quân tổng giá trị tài sản

Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh thu chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản, nên còn cách tính tỷ số lợi nhuận trên tài sản nữa, đó là:

Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài sản

Ý nghĩa

Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh. Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Khái niệm

Là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của  một công ty.

Cách tính

Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty, tính trong một thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay 1 năm) gọi là kỳ báo cáo. Còn vốn trong tỷ số này là bình quân vốn chủ sở hữu

Công thức của tỷ số này như sau

Lợi nhuận ròng

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = 100% x Bình quân vốn chủ sở hữu

Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần thì bằng tỷ suất lợi nhuận biên, vì doanh thu thuần chia cho giá trị bình quân tổng tài sản thì bằng số vòng quay tổng tài sản, và vì bình quân tổng tài sản chia cho bình quân vốn chủ sở hữu thì bằng hệ số đòn bNy tài chính, nên còn có công thức tính thứ 2 như sau:

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Tỷ suất lợi nhuận biên x Số vòng quay tổng tài sản x Hệ số đòn bẩy tài chính

Mặt khác, vì tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bằng tỷ suất lợi nhuận biên nhân với số vòng quay tổng tài sản, nên:

ROE = ROA x Hệ số đòn bẩy tài chính

Ý nghĩa

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần này tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ.

Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty. Để so sánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành.

1.2.2.2. Hiệu quả kinh doanh bộ phận Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Nâng cao hiệu quả kinh doanh bộ phận của doanh nghiệp cũng có nghĩa là nâng cao các chỉ tiêu sau:

Hiệu quả sử dụng tài sản

Tài sản cố định

Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Số lượng và giá trị tài sản cố định phản ánh năng lực thực hiện có, trình độ tiến bộ về khoa học kỹ thuật của xí nghiệp đầu tư trang thiết bị là điều kiện quan trọng để tăng sản lượng, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Mặt khác sử dụng hết công suất của tài sản cố định hiện có cũng là một trong biện pháp quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất và các kế hoạch khác. Vì vậy doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình trang thiết bị tài sản cố định, máy móc thiết bị.

Chỉ tiêu dùng để phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định là hiệu suất sử dụng tài sản cố định.

Tỷ suất doanh thu trên nguyên giá tài sản cố định: một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất thì đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu

Nguyên giá TSCĐ bình quân Hàm lượng TSCĐ: Đây là nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ. Nó cho thấy để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu đồng tài sản cố định. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định đạt được càng cao.

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

Hàm lượng TSCĐ = Doanh thu thực hiện trong kỳ

Sức sinh lợi của tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Sức sinh lợi của TSCĐ = Lợi nhuận thuần

Nguyên giá TSCĐ bình quân

Tài sản lưu động

Sức sản xuất của tài sản lưu động: Chỉ tiêu này cho biết với một đồng tài sản lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ. Nếu chỉ tiêu này qua các kỳ tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng đồng tài sản lưu động tăng.

Sức sản xuất của TSLĐ = Doanh thu

Tài sản lưu động bình quân trong kỳ

Sức sinh lợi của tài sản lưu động: Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ. Chỉ số này càng cao càng tốt. Chứng tỏ

hiệu quả cao trong việc sử dụng tài sản lưu động.

Sức sinh lợi của TSLĐ = Lợi nhuận thuần

Tài sản lưu động bình quân

Hiệu quả sử dụng vốn

Muốn tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều trước tiên là phải có một lượng vốn tối thiểu nào đó. Vốn dùng để đầu tư mua sắm phương tiện kinh doanh và để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục. Vốn kinh doanh được chia làm 2 bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động.

Hiệu quả sử dụng vốn cố định

Hệ số sử dụng vốn cố định

Tổng doanh thu trong kỳ Hệ số sử dụng VCĐ = Vốn cố định bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh với một đồng vốn cố định được đầu tư vào việc kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu.

Hệ số sinh lợi của vốn cố định:

Hệ số sinh lợi của VCĐ = Lợi nhuận trong kỳ

Vốn cố định bình quân Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định bình quân làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ.

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hệ số sử dụng vốn lưu động:

Tổng doanh thu trong kỳ Hệ số sử dụng VLĐ = Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh với đồng vốn lưu động bình quân được đầu tư vào việc kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu.

Hệ số sinh lợi của vốn lưu động:

Hệ số sinh lợi của VLĐ = Lợi nhuận trong kỳ

Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động bình quân làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ.

Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng chi phí

Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí giúp cho doanh nghiệp quản lý thấy được trình độ quản lý chi phí từ tổng quát đến chi tiết. Từ đó, đề xuất các biện pháp quản trị chi phí hợp lý. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm:

TChỉ tiêu tỷ suất chi phí hoạt động trên tổng doanh thu thuần

Tỷ suất chi phí hoạt động trên tổng doanh thu thuần phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu cho biết, để thu được 100 đồng doanh thu thuần thì công ty phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí hoạt động.

Chi phí hoạt động

Tỷ suất chi phí hoạt động trên DTT = Tổng doanh thu thuần x 100%

Cơ sở số liệu tính chỉ tiêu dựa vào B02-DN; Chi phí hoạt động bao gồm: Giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

Chỉ tiêu tỷ suất chi phí tài chính trên tổng doanh thu thuần

Tỷ suất chi phí tài chính trên tổng doanh thu thuần phản ánh sự tác động của chi phí tài chính đến kết quả kinh doanh của công ty.

Hiệu quả sử dụng lao động

Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu nên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động SXKD. Ngày nay hàm lượng khoa học kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao động phải có mộ trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này phần nào cũng nói lên tầm quan trọng của nhân tố lao động.

Chỉ tiêu năng suất lao động:

Chỉ tiêu này cho biết một lao động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.

Chỉ tiêu kết quả sản xuất trên một đồng chi phí tiền lương:

Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí tiền lương trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.

Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động:

1.3. Nội dung nâng cao hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

1.3.1. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị bộ phận của doanh nghiệp) trong một thời kỳ xác định.

  • Phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó.
  • Do tính chất phản ánh trình độ lợi dụng mọi nguồn lực nên hiệu quả kinh doanh tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của toàn doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định.

Ta có thể dựa vào một số các hiệu quả sau đây để đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp của doanh nghiệp.

Hiệu quả doanh thu

Doanh thu là tổng giá trị thực hiện được do việc bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho hàng hàng mang lại. Đây là cơ số quan trọng để xác định kết quả tài chính cuối cùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.

Tăng doanh thu là tăng lượng tiền của doanh nghiệp đồng thời tăng lượng hàng bán ra thị trường khi được thị trường chấp nhận. Tổng doanh thu có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng mức lợi nhuận. Nếu doanh thu của doanh nghiệp tăng lên thì lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên một cách tương ứng. Dựa vào doanh thu có thể đánh giá được một phần nào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp qua các năm thông qua doanh thu theo thị trường.

Hiệu quả chi phí

Chi phí doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của việc sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh mà qua đó doanh nghiệp tạo ra được sản phẩm và thực hiện được sản phẩm trên thị trường. Để biết một doanh nghiệp sử dụng chi phí có hiệu quả hay không, ta phải xét tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí của doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này cao và tăng qua các năm chứng tỏ trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp ngày càng cao.

Hiệu quả lợi nhuận

Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản xuất thặng dư do kết quả lao động của con người mang lại. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ về mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Để biết được doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, có thể dựa vào tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí để so sánh giữa các năm và đánh giá hiệu quả hiện tại của doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này cao và tăng qua các năm thì có thể kết luận hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.

1.3.2. Hiệu quả kinh doanh bộ phận Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh chi xét ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, …) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp.

  • Phản ánh trình độ lợi dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu đã xác định.
  • Hiệu quả ở từng lĩnh vực không đại diện cho tính hiệu quả của doanh nghiệp, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực cá biệt cụ thể.
  • Phân tích, bổ sung các chỉ tiêu tổng hợp.
  • Kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ chỉ tiêu tổng hợp.
  • Phân tích hiệu quả ở từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất nhằm tìm nguyên nhân và giải pháp tối đa hóa chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp.
  • Quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực bộ phận không phải lúc nào cũng là quan hệ thuận chiều.
  • Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp mới đánh giá toàn diện hiệu quả kinh doanh 1 cách chính xác.
  • Các chỉ tiêu lĩnh vực hoạt động chỉ phản ánh hiệu quả từng mặt, làm rõ nhân tố ảnh hưởng.

Trong phạm vi đề tài này, tác giả phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh bộ phận qua các lĩnh vực dưới đây:

  • Hiệu quả sử dụng tài sản
  • Hiệu quả sử dụng vốn
  • Hiệu quả sử dụng chi phí
  • Hiệu quả sử dụng lao động

Kết luận: Như vậy, giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận có mối quan hệ biện chứng với nhau. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp cấp doanh nghiệp phản ánh hiệu quả hoạt động của tất cả các lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nhiều truờng hợp có thể xuất hiện mâu thuần giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận, khi đó chi có hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chi tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận chi có thể hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận của doanh nghiệp mà thôi.

1.4. Nguyên tắc và công cụ giải quyết vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.4.1. Nguyên tắc đánh giá vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh

Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp phải chủ động sáng tạo vận dụng tổng hợp các biện pháp từ nâng cao năng lực quản trị, điều hành tới cải thiện hoạt động, làm thích ứng môi trường…Các biện pháp này rất đa dạng, phù hợp với đặc thù riêng của từng doanh nghiệp nhưng tựu chung lại doanh nghiệp nên tăng cường các hoạt động quản trị như: chiến lược kinh doanh; lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả; phát triển đội ngũ lao động; quản trị và tổ chức sản xuất; phát triển công nghệ kỹ thuật; mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp và xã hội… Nhưng tựu chung lại, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện dựa trên nguyên tắc là tăng lợi nhuận, giảm chi phí trên cơ sở tìm nguồn đầu vào chi phí rẻ hơn mà không phải giảm tiêu chuẩn.

1.4.2. Công cụ nâng cao hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

Công cụ kế hoạch

Kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức hành động để đạt được các mục tiêu. Lập kế hoạch là để ứng phó với sự bất định và sự thay đổi; khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức, nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức trong môi trường hoạt động; thống nhất được các hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong tổ chức; lập kế hoạch làm cho việc kiểm soát được dễ dàng. Công cụ kế hoạch bao gồm các bước:

Phân tích môi trường

Mục đích của việc phân tích môi trường xác định những điểm mạnh điểm yếu và nhằm tìm kiếm cơ hội và phát hiện ra những thách thức đặt ra cho tổ chức.

Xác định mục tiêu

Các mục tiêu sẽ xác định các kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúc trong các việc cần làm. Các mục tiêu đưa ra cần phải xác định rõ thời hạn thực hiện và được lượng hoá đến mức cao nhất có thể.

Hệ thống mục tiêu của tổ chức cần được phân loại dựa trên các căn cứ sau:

  • Tính ưu tiên của mục tiêu
  • Thời gian: Mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
  • Các bộ phận, nhóm khác nhau trong tổ chức: Gồm mục tiêu của các cổ đông, mục tiêu của ban giám đốc, mục tiêu của người lao động…
  • Xây dựng các phương án

Trong bước này cần phải tìm ra và nghiên cứu các phương án hành động để lựa chọn. Mỗi phương án bao gồm:

  • Các giải pháp của kế hoạch: giúp trả lời được câu hỏi phải làm gì để thực hiện mục tiêu?
  • Các công cụ để thực hiện mục tiêu: giúp trả lời câu hỏi thực hiện mục tiêu bằng gì?
  • Đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu

Sau khi tìm được phương án xem xét những điểm mạnh, yếu của chúng, bước tiếp theo là phải tìm cách đánh giá các phương án theo các tiêu chuẩn phù hợp với mục tiêu và trung thành cao nhất với các tiền đề đã xác định. Khi các phương án được đưa ra xem xét đánh giá nên dựa trên một số căn cứ sau:

  • Phương án nào thực hiện được mục tiêu và có ảnh hưởng mạnh nhất tới mục tiêu.
  • Phương án nào sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tổ chức.
  • Phương án nào có chi phí thấp.
  • Phương án nào tạo được sự ủng hộ của các cấp quản lí và người thực hiện.
  • Phương án nào phản ánh tốt nhất hệ thống tiêu chuẩn đã chọn.
  • Quyết định kế hoạch

Lựa chọn phương án hành động là thời điểm mà kế hoạch được chấp thuận, là thời điểm thực sự để ra quyết định.

Đôi khi việc phân tích và đánh giá phương án cho thấy rằng có hai hoặc nhiều phương án thích hợp mà nhà quản lí có thể quyết định thực hiện một số phương án chứ không chỉ dùng một phương án tốt nhất.

Lúc này cũng cần ra quyết định để phân bổ con người và các nguồn lực khác của tổ chức cho việc thực hiện kế hoạch. Tại thời điểm mà quyết định được thực hiện, việc lập kế hoạch chưa thể kết thúc mà cần các kế hoạch phụ để bổ trợ.

Sau khi quyết định đã công bố, kế hoạch đã được xây dựng xong, bước cuối cùng làm cho kế hoạch có ý nghĩa như đã nêu khi thảo luận về các kế hoạch đó là lượng hóa chúng bằng cách chuyển chúng sang dạng ngân quĩ.

Nếu điều hành tốt, ngân quĩ sẽ trở thành một phương tiện để kết hợp các kế hoạch khác nhau, đồng thời là các tiêu chuẩn quan trọng để đo lường sự tăng tiến của kế hoạch.

Công cụ chiến lược

  • Chiến lược phải được xây dựng theo quy trình khoa học, phải thể hiện tính linh hoạt cao.
  • Hoạch định chiến lược phải kết hợp hài hòa giữa chiến lược tổng quát và các chiến lược bộ phận.
  • Phải chú ý đến khâu triển khai thực hiện chiến lược.
  • Xác định và phân tích điểm hòa vốn: Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko
  • Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí kinh doanh phát sinh.
  • Phân tích điểm hòa vốn là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữa doanh thu, sản lượng, chi phí kinh doanh và giá cả.

Công cụ tác nghiệp

Quyết định mức sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào:

Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải quyết định mức sản xuất của mình. Để vận dụng lý thuyết tối ưu vào quyết định mức sản lượng sản xuất cũng như việc sử dụng các yếu tố đầu vào thì doanh nghiệp phải triển khai tính chi phí kinh doanh liên tục và đảm bảo tính chính xác cần thiết.

  • Phát triển và tạo động lực cho đội ngũ lao động
  • Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nhằm thường xuyên nâng cao chất lượng cho đội ngũ lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động quản trị phải có khả năng hoạch định chiến lược, phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, chủ động ứng phó với những thay đổi bất thường của môi trường kinh doanh.

Doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu lao động tối ưu, đảm bảo đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, phù hợp với năng lực, sơ trường và nguyện vọng của mỗi người.

  • Tạo động lực tập thể và cá nhân là yếu tố quyết định khả năng sáng tạo, tập hợp, liên kết giữa các thành viên lại với nhau. Mặt khác, nhu cầu tinh thần của người lao động ngày càng cao đòi hỏi phải chuyển sang quản trị dân chủ, tạo ra bầu không khí hữu nghị, thân thiện giữa các thành viên.

Hoàn thiện hoạt động quản trị:

  • Bộ máy quản trị gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước biến đổi thị trường luôn là đòi hỏi bức thiết à tuyển dụng theo nguyên tắc tuyển người theo yêu cầu của công việc.
  • Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh.
  • Thiết lập hệ thống thông tin hợp lý. – Phát triển công nghệ kỹ thuật
  • Để quyết định đầu tư đổi mới kỹ thuật cần xác định 3 vấn đề:
  • Dự đoán đúng cung – cầu thị trường, tính chất cạnh tranh, nguồn lực cần thiết liên quan đến loại sản phẩm sẽ đầu tư phát triển.
  • Phân tích, đánh giá và lựa chọn công nghệ phù hợp.
  • Có giải pháp huy động và sử dụng vốn đúng đắn.
  • Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các hướng chủ yếu nhằm đổi mới và phát triển kỹ thuật công nghệ:
  • Nâng cao chất lượng quản trị công nghệ, kỹ thuật, từng bước hoàn thiện quản trị định hướng chất lượng theo tiêu chuẩn chất lượng.
  • Nghiên cứu, đánh giá để có thể chuyển giao công nghệ một cách có hiệu quả, tiến tới làm chủ công nghệ và có khả năng sáng tạo công nghệ mới.
  • Nghiên cứu, đánh giá và nhập các loại thiết bị máy móc phù hợp với trình độ kỹ thuật, các điều kiện tài chính, từng bước quản trị và sử dụng có hiệu quả thiết bị máy móc hiện có.
  • Nghiên cứu sử dụng vật liệu mới và vật liệu thay thế theo nguyên tắc nguồn lực dễ kiếm hơn, rẻ tiền hơn và vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm.
  • Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tin học trong mọi lĩnh vực quản trị kỹ thuật và quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
  • Tăng cường và mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp và xã hội: + Giải quyết các mối quan hệ với khách hàng;
  • Tạo sự tín nhiệm, uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp trên thị trường;
  • Giải quyết tốt các mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, cung ứng, các đơn vị kinh doan có liên quan khác…;
  • Giải quyết tốt các mối quan hệ với cơ quan quản lý vĩ mô;
  • Thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp. Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng quan tình hình kinh doanh của Công ty Meiko

One thought on “Khóa luận: Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Meiko

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả KD của Cty Meiko

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464