Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần Thương Mại – Dịch Vụ Trung Thực đến năm 2023 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tổng nguồn thu từ dịch vụ logistics bao gồm kho vận, giao nhận, vận chuyển và phân phối… vào khoảng 15-20% GDP mỗi năm của Việt Nam. Với dung lượng thị trường lớn như vậy là điều kiện rất tốt để logistics trong nước phát triển.
Đồng thời, với xu hướng chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động ngày càng cao như hiện nay, thì nhu cầu thuê ngoài các dịch vụ logistics cũng ngày càng tăng cao. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, khi mà Việt Nam đã mở cửa cho các ngành dịch vụ thì các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam phải cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh logistics nước ngoài với những thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm cùng với mạng lưới kinh doanh chuyên nghiệp toàn cầu. Trên thực tế khoảng 70% doanh thu hiện đang rơi vào túi các doanh nghiệp nước ngoài. Tại Việt Nam có hàng nghìn doanh nghiệp trong nước kinh doanh dịch vụ logistics nhưng hiện chỉ nắm được khoảng 5% thị trường. Vì vậy, giảm phụ thuộc nước ngoài và hướng tới xuất khẩu dịch vụ logist ics là mục tiêu phải đạt được đối với Việt Nam, qua đó giúp nâng vị thế trong mạng lưới kinh doanh quốc tế. Để đạt được mục tiêu đó, việc đầu tư phát triển để nâng cao năng lực cạnh tranh đối với mỗi công ty Việt Nam là việc làm cần thiết nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng.
Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực cũng một trong những công ty Việt Nam kinh doanh dịch vụ logistics quy mô nhỏ mới được thành lập. Hiện nay công ty chỉ mới bước đầu xây dựng từ việc kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải và khai báo hải quan. Với định hướng phát triển trở thành một doanh nghiệp kinh doanh đầy đủ dịch vụ logistics vững mạnh trong tương lai, công ty cần không ngừng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng cũng như mở rộng quy mô phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay.
Sau thời gian thực tập và tìm hiểu tại công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực, với kiến thức của một sinh viên chuyên ngành Quản Trị Ngoại Thương, cùng với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển của công ty, em đã chọn đề tài:“Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần TM-DV Trung Thực đến năm 2015”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Tình hình nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Do thời gian nghiên cứu của đề tài không nhiều, nên đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích hoạt động kinh doanh logistics tại Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực từ năm 2009 – 2010. Đồng thời nêu lên một số đặc điểm nổi bật của ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam. Để từ đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm của công ty cũng như những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, mở rộng quy mô của công ty trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống và đúc kết các cơ sở lý thuyết và thực tiễn cốt lõi liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics làm định hướng cho sự phát triển kinh doanh.
Từ thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logist ics tại Việt Nam nói chung và thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực nói riêng, nhận định và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp này trong giai đoạn hiện nay.
Từ cơ sở lý thuyết và thực tiễn phát triển ngành logistics trên thế giới và tại Việt Nam, thực trạng hoạt động của Công ty Cổ Phần TM -DV Trung Thực, trên cơ sở khai thác những điểm mạnh, tận dụng cơ hội và khắc phục khó khăn, đề xuất một số giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ logistics để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển tối ưu hóa và quản trị nguồn lực tài nguyên tự nhiên, nguồn lực tài chính, nhân sự góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho toàn xã hội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Đưa ra được các giải pháp mang tính thiết thực nhằm góp phần hoàn thiện kế hoạch kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực, từ thực trạng đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh của công ty. Đóng góp những kiến nghị đối với nhà nư ớc để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh logistics của các công ty Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu Số liệu sơ cấp:
Quan sát: thực hiện việc tiếp cận. tìm hiểu và quan sát thực t ế về công ty trong quá trình nghiên cứu.
Điều tra: phỏng vấn trực tiếp nhân viên trong công ty.
Số liệu thứ cấp:
Các báo cáo, tài liệu về hoạt động kinh doanh của công ty.
Tham khảo các tài liệu liên quan tới lĩnh vực hoạt động kinh doanh logist ics của các doanh nghiệp Việt Nam.
Phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp dữ liệu:
Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh doanh của công ty thông qua việc so sánh doanh thu công ty qua các năm. Từ đó nhận thấy xu hướng biến động về tình hình kinh doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của công ty là tốt hay xấu, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp trong kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Phương pháp tỷ lệ được kết hợp với phương pháp so sánh trong quá trình phân tích nhằm thấy được sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong quá trình kinh doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, giúp chúng ta dễ dàng nhận thấy hiệu quả từng nội dung nghiên cứu.
Phương pháp tư duy: áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và tư duy logic trong phân tích thực trạng ở chương 2 cũng như đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp trong chương 3.
6. Dự kiến kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu lĩnh vực logistics ở khía cạnh lý thuyết lẫn thực tiễn, đề xuất được những giải pháp mang tính thiết thực cho sụ phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics cho Công ty Cổ Phần TM -DV Trung Thực.
7. Kết cấu của đề tài:
Trong đề tài này, ngoài phần mở đầu và phần phụ lục nội dung chính của khoá luận được chia làm 3 phần:
Chương 1: Lý luận chung về logistics.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần TM – D V Trung Thực.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực đến năm 2015.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS
1.1 Khái niệm về Logistics Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “M arketing”, từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó.
Logistics có thể được hiểu như là việc có được đúng số lượng cần thiết ở đúng thời điểm và với chi phí phù hợp. Nó là nghệ thuật, là một quá trình khoa học. Nó phối hợp tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, quản lý vòng đời dự án, chuỗi cung cấp và hiệu quả.
Logistic có khái niệm bắt nguồn từ nhu cầu quân sự trong việc cung cấp cho chính họ trong quá trình di chuyển của các đoàn quân từ căn cứ ra tiền tuyến. Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đế chế Roma và Byzantine, đã có những sỹ quan với mác “logistikas” là người chịu trách nhiệm đến các vấn đề về tài chính cũng như cung cấp phân phối. Trong quân sự, logistics được các chuyên gia quản lý để làm thế nào và khi nào di chuyển các nguồn lực đến các địa điểm mà họ cần. Trong khoa học quân sự thì việc duy trì cung cấp trong khi làm gián đoạn sự cung cấp của kẻ địch là một nhân tố tối quan trọng trong chiến lược quân sự. Nếu làm được như vậy thì kẻ địch chẳng có gì đáng sợ.
Logistics có khái niệm liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm 1950. Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong một thế giới toàn cầu hóa đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này. Trong kinh doanh, logistics có thể hiểu như việc tập trung cả nội lực lẫn ngoại lực bao hàm cả quá trình chu chuyển từ nhà ‘sản xuất gốc’ đến ‘người tiêu dùng cuối cùng’. Chức năng chính của logistics bao gồm việc quản lý việc mua bán, vận chuyển, lưu kho cùng với các hoạt động về tổ chức cũng như lập kế hoạch cho các hoạt động đó. Người quản lý logistics kết hợp kiến thức tổng hợp của mỗi chức năng từ đó phối hợp các nguồn lực trong tổ chức để vận hành. Có hai khác biệt cơ bản của logistics. M ột thì đánh giá một cách lạc quan, đơn giản coi đó như là sự chu chuyển ổn định của nguyên liệu trong mạng lưới vận chuyển và lưu trữ. M ột thì coi đó là một sự kết hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực..) để tiến hành quá trình. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Trong quá trình sản xuất, thuật ngữ này ám chỉ quá trình logistics trong các ngành công nghiệp. M ục đích của nó là đảm bảo mỗi một máy móc thiết bị hay trạm làm việc được ‘nạp’ đủ sản phẩm với đúng số lượng, chất lượng và đúng lúc. Vấn đề như vậy không phải là chỉ liên quan đến việc vận chuyển, mà còn là phâm luồng và điều chỉnh các kênh xuy ên suốt quá trình gia tăng giá trị và xoá bỏ những giá trị không gia tăng. Logistics trong quá trình sản xuất được ápdụng cho cả những nhà máy đang tồn tại hoặc mới được thành lập. Sản xuất chế tạo là một nhà máy với quá trình thay đổi ổn định ( có thể hiểu là một nhà máy thì luôn phải hoạt động nhưng với một công suất ổn định). M áy móc được thay đổi vày thay mới.Theo đó sẽ là cơ hội cải thiện hệ thống logistics trong sản xuất. Ngược lại, logistics sẽ cung cấp các ‘phương tiện’ cho việc đạt được hiệu quả mong muốn của khách hàng và hiệu quả sử dụng vốn.
Hiện nay, có một số khái niệm chủ y ếu được sử dụng nhiều sau đây:
Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”
Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”
Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng”
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy, Logistics gồm có 3 mảng chính là kho bãi, giao nhận và vận chuyển. Công việc cụ thể là quản lý hàng tồn, giao hàng và nhận tiền theo đơn đặt hàng, phân phối hàng đến các đại lý… Chính vì vậy, nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain). Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics (Logistics service provider) sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hoá.
1.2 Sự hình thành và phát triển của logistics: Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
1.2.1 Sự hình thành của logistics:
Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc vận chuyển và cung cấp lương thực, thực phẩm, trang thiết bị… đúng lúc, đúng nơi khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu. Logistics đã giúp quân đội các nước tham chiến gặt hái được những chiến thắng. Điển hình là cuộc chiến đấu của quân đội Hoàng gia Pháp với Hải quân Anh ở thế kỷ XVII – XVIII.
Trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thế giới lần thứ II, rất nhiều kỹ năng của Logistics được biết đến nhưng lại bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến vì lúc này, sự chú ý của các nhà quản trị Marketing đang hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu hàng hoá sau chiến tranh. Phải đến thời kỳ suy thoái kinh tế và những năm 50 của thế kỷ XX thì họ mới bắt đầu nghiên cứu mạng lưới phân phối vật chất. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1958 và việc thu hẹp lợi nhuận đã thúc đẩy các các doanh nghiệp tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí để đạt hiệu quả hơn. Và hầu như đồng thời rất nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng “phân phối vật chất” và “Logistics” là những vấn đề chưa được nghiên cứu kỹ và chưa thực sự kết hợp với nhau để kiểm soát và giảm tối đa chi phí. Qua nghiên cứu thực t ế, các doanh nghiệp đều cho rằng: Việc Logistics ra đời và phát triển trong doanh nghiệp là một yếu tố tất yếu nếu doanh nghiệp muốn đạt được lợi nhuận cao nhất trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh. N guyên nhân chính xuất phát từ các yếu tố sau:
Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh:
- Thứ hai, hiệu quả trong sản xuất đã đạt tới đỉnh cao
- Thứ ba, trong nhận thức của các doanh nghiệp đã có sự thay đổi cơ bản về nguyên lý trữ hàng
- Thứ tư, các ngành hàng sản xuất gia tăng nhanh chóng Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
- Thứ năm, công nghệ thông tin đã tạo nên sự thay đổi lớn trong sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ sáu, yếu tố này cũng liên quan đến sự gia tăng của sử dụng máy vi tính
Như chúng ta đã biết máy tính có vai trò rất quan trọng. Hầu như tất cả các phòng ban trong các doanh nghiệp đều được trang bị hệ thống mạng lưới vi tính rất tiên tiến và hiện đại. Vi tính đi vào đời sống công sở như một sự thật hiển nhiên mà ai cũng nhìn thấy. Mặc dù có thể có một số doanh nghiệp không dùng máy vi tính nhưng các nhà cung cấp và các khách hàng của họ vẫn sử dụng. Điều này giúp cho doanh nghiệp nhận thấy được một cách có hệ thống chất lượng của các dịch vụ mà họ nhận được từ các nhà cung cấp. Dựa trên sự phân tích này, nhiều doanh nghiệp đã xác định được nhà cung cấp nào thường xuyên cung cấp các dịch vụ dưới mức tiêu chuẩn. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy sự cần thiất phải nâng cấp hệ thống phân phối của mình. Và khi các doanh nghiệp chuyển sang áp dụng hệ thống JIT (Just in time) thì họ cũng đặt ra cho các nhà cung cấp một y êu cầu rất chính xác về vận chuyển nguyên vật liệu hoặc giao hàng.
Ngày nay thuật ngữ “Logistics” đã được phát triển mở rộng và được hiểu với nghĩa là quản lý (management). Nó diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản phẩm đi vào – qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay người tiêu dùng.
1.2.2 Sự phát triển của logi stics
Theo Jacques Colin – giáo sư về khoa học quản lý tại trường đại học Aix – Marseille II, giám đốc trung tâm nghiên cứu về vận tải và Logistics thì sự ra đời và phát triển của Logistics trải qua các thời kỳ sau:
Giai đoạn những năm 50 và 60 của thế kỷ XX:
Giai đoạn thử nghiệm này được bắt đầu từ việc nghiên cứu các tác nghiệp và những kỹ thuật tối ưu hoá ứng dụng để giải quyết những vấn đề trong chuy ên chở và kho hàng…
Giai đoạn những năm 70 của thế kỷ XX:
Đây là thời kỳ khởi động Logistics trong doanh nghiệp. Trong thời kỳ này, Logistics trước hết là nghiên cứu việc tối ưu hoá các bộ phận tách biệt (quản lý kho bãi, quản lý hàng tồn kho, luân chuy ển giao hàng…) và hợp lý hoá cơ cấu của doanh nghiệp. Sự tìm kiếm tính liên tục trong vận hành doanh nghiệp là đặc điểm chính của Logistics sản xuất ở thời kỳ này.
Giai đoạn những năm 80 đến 90 của thế kỷ XX:
Giai đoạn này là giai đoạn phát triển của Logistics. Đ ây là giai đoạn Logistics hướng vào việc phối hợp các bộ phận chịu trách nhiệm lưu chuy ển các luồng hàng trong doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa các bộ phận đó. Mối quan tâm của những người điều hành các luồng luân chuyển này tập trung vào khâu lưu thông hàng hoá. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Giai đoạn những năm 90 của thế kỷ XX đến nay:
Thời kỳ Logistics được phát triển cả bề sâu lẫn bề rộng, huy động toàn bộ các nguồn lực bên trong của doanh nghiệp, nhất là các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp (nguồn lực của các đối tác) để xây dựng hệ thống Logistics phức tạp, đa chủ thể có quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc qua lại lẫn nhau. Hệ thống này cho phép thực hiện nhiều giao dịch dẫn đến sự hoà nhập của các chủ thể vào cùng một tiến trình hoạt động của doanh nghiệp.
Theo uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương – ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and Pacific) của Liên hiệp quốc t hì quá trình hình thành và phát triển của Logisstics lại chia làm các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, người ta quan tâm đến việc quản lý có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo hiệu quả việc giao hàng, thành phẩm và bán thành phẩm…cho khách hàng. Những hoạt động đó là: vận tải, phân phối, bảo quản, định mức tồn kho, bao bì đóng gói, di chuy ển nguyên liệu… Những hoạt động này gọi là phân phối vật chất hay Logistics đầu vào.
Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Vào những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, các công ty kết hợp chặt chẽ sự quản lý của 2 mặt (đầu vào và đầu ra) để giảm tối đa chi phí cũng như tiết kiệm chi phí. Sự kết hợp chặt chẽ giữa cung ứng nguyên liệu cho sản xuất với phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng đã đảm bảo tính liên tục và ổn định của các luồng vận chuyển.Sự kết hợp đó được mô tả là hệ thống Logistics.
Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp
Giai đoạn này diễn ra từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay. Quản lý dây chuyền cung cấp – đây là khái niệm có tính chiến lược về quản lý dãy nối tiếp các hoạt động từ người cung ứng – đến người sản xuất – đến khách hàng cùng với dịch vụ làm tăng thêm giá trị sản phẩm như cung ứng chứng từ liên quan, theo dõi, kiểm tra… Khái niệm này coi trọng đối tác, phát triển đối tác, kết hợp giữa doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với người cung ứng, khách hàng cũng như những người liên quan đến hệ thống quản lý (các công ty vận tải, lưu kho, những người cung cấp công nghệ thông tin…). Như vậy Logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng “tiếp vận”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh của thực tế sản xuất – kinh doanh và đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.3 Đặc điểm của logistics Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Qua các nghiên cứu khoa học về Logistics chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau đây:
Logi stics có thể coi là tổng hợp các h oạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính là logistics sinh tồn, logi stics hoạt động và logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn có liên quan đến các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Logistics sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội sơ khai và là thành phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp hoá. Logistics sinh tồn cung cấp nền tảng cho Logistics hoạt động.
Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ thống sản xuất các sản phẩm.. Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần trong quá trình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm có được từ quá trình sản xuất đó. Như vậy Logistics hoạt động chỉ liên quan đến sự vận động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp và là nền tảng cho Logist ics hệ thống.
Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ thống hoạt động. Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân lực và đào tạo, tài liệu kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ và nhà xưởng… Các yếu tố này không thể thiếu và phải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của m ột hệ thống sản xuất hay lưu thông.
Logistics sinh tồn, Logistics hoạt động và Logistics hệ thống không tách rời nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau và tạo thành chuỗi dây chuyền Logistics.
Logi stics có chức năng hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp:
Logistics có chức năng hỗ trợ thể hiện ở chỗ nó tồn tại chỉ để cung cấp sự hỗ trợ cho các bộ phận khác của doanh nghiệp. Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất (Logistics hoạt động), hỗ trợ cho sản phẩm sau khi được di chuyển quyền sở hữu từ người sản xuất sang người tiêu dùng (Logistics hệ thống).
Logistics còn hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp thể hiện: Sản xuất được Logistics hỗ trợ thông qua quản lý sự di chuyển và lưu trữ nguy ên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.
Logi stics là một dị ch vụ:
- Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp, dịch vụ, đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là các bộ phận tạo thành chuỗi Logistics. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
- Dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất. Tuy nhiên trong hoạt động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch vụ Logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của Logistics.
- Một doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động bình thường sẽ đòi hỏi sự hỗ trợ từ các yếu tố Logistics. M ột yếu tố Logistics cụ thể được cung cấp từ một nhà chuyên nghiệp chứ không phải từ trong doanh nghiệp. Nhưng trách nhiệm đối với chất lượng của dịch vụ hỗ trợ này lại là trách nhiệm của Logistics trong doanh nghiệp.
Logi stics là sự phát tri ển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải gi ao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logisti cs:
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, Logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. Từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như: thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan… cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho (Door to Door) đúng nơi đúng lúc để phục vụ nhu cầu khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người được uỷ thác trở thành một bên chính (Pricipal) trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình. Ngày nay, y êu cầu dịch vụ cung cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguy ên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hoá trong kho, phân phối hàng hoá đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra… Rõ ràng dịch vụ vận tải giao nhận không còn đơn thuần như trước mà được phát triển ở mức độ cao với đầy tính phức tạp. N gười vận tải giao nhận trở thành người cung cấp dịch vụ Logistics (Logist ics Service Provider)
Logi stics là sự phát tri ển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:
Trước đây, hàng hoá đi từ nước người bán đến nước người mua dưới hình thức bán lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau. Những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Vận tải đa phương thức ra đời, bây giờ người gửi hàng chỉ cần ký hợp đồng vận tải với một người chính là người kinh doanh vận tải đa phương thức – MTO. MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hoá từ khi nhận hàng cho đến khi giao hàng bằng một chứng từ duy nhất (Chứng từ vận tải đa phương thức – Multmodal transport document) cho dù anh ta có thể không phải là người chuyên chở thực tế (Actual Carrier). N gười giúp chủ hàng chính là người tổ chức dịch vụ Logistics. Dịch vụ Logistics sẽ giúp chủ hàng tiết kiệm chi phí cũng như thời gian, từ đó nâng cao hiệu quả trong kinh doanh.
Tóm lại, Logistics là sự phối hợp đồng bộ các hoạt động, là dịch vụ hỗ trợ các hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải và là sự phát triển khéo léo của dịch vụ vận tải đa phương thức. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của Logistics.
1.4 Vai trò của Logistics Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
1.4.1 Đối với nền kinh tế quốc dân:
Hệ thống Logistics hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế:
- Lưu thông phân phối hàng hoá, trao đổi giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài là hoạt động thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Nếu những hoạt động này thông suốt, có hiệu quả, thì sẽ góp phần to lớn làm cho các ngành sản xuất phát triển; còn nếu những hoạt động này bị ngưng trệ thì sẽ tác động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống.
- Hệ thống Logistics góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nảy sinh từ sự phân công lao động quốc tế, do quá trình toàn cầu hoá tạo ra.
- Các công ty xuyên quốc gia có các chi nhánh, các cơ sở sản xuất, cung ứng và dịch vụ đặt ở nhiều nơi, ở nhiều quốc gia khác nhau, do đó các công ty này đã áp dụng “hệ thống Logistics toàn cầu” để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, khắc phục ảnh hưởng của các yếu tố cự ly, thời gian và chi phí sản xuất.
- Hệ thống Logistics góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
- Mỗi một vùng địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quán khác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Logi stics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, l ưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các h oạt động kinh tế:
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, Logistics được các nhà quản lý coi là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia chỉ là thứ 2 so với các hoạt động của doanh nghiệp.
Logi stics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hoá chu trình l ưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện… tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng:
Kể từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuy ển. Vì vậy muốn tối ưu hoá quá trình sản xuất phải cắt giảm tất cả những chi phí không chỉ trong hoạt động sản xuất mà cả trong những lĩnh vực khác như vận tải, lưu kho phân phối hàng hoá. Tất cả những hoạt động này chỉ có thể kiểm soát bằng hệ thống Logistics tiên tiến có sử dụng công nghệ thông tin hiện đại.
Logi stics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
Mục đích sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Muốn đạt được lợi nhuận như mong muốn phải đưa ra được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. Nhưng trong quá trình thực hiện, người sản xuất kinh doanh còn phải đối mặt với nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, để giải quyết được phải có cơ sở để đưa ra những quyết định chính xác. Nguồn nguyên liệu cung ứng ở đâu, thời gian nào, phương tiện vận tải nào sẽ được lựa chọn để vận chuyển, địa điểm kho chứa nguy ên liệu, hàng hoá… tất cả những vấn đề này muốn giải quyết có hiệu quả không thể thiếu được vai trò của Logistics. Logistics cho phép người quản lý kiểm soát và ra quy ết định chính xác những vấn đề như vật liệu cung ứng, lưu trữ trong kho, thời gian địa điểm cung ứng, phương thức vận chuyển… để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
1.4.2 Đối với các doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Logi stics đóng vai trò quan trọng trong vi ệc thay đổi và hoàn thi ện dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian – địa điểm (Just in time):
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã làm cho hàng hoá và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời để tránh đọng vốn, các doanh nghiệp tìm cách duy trì một lượng hàng trong kho nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động vận tải giao nhận nói riêng và lưu thông phân phối nói chung, một mặt phải đảm bảo yêu cầu giao hàng kịp thời đúng lúc (JIT), mặt khác phải tăng cường vận chuyển thực hiện mục tiêu không để hàng tồn kho. Để đáp ứng y êu cầu này, giao nhận vận tải phải nhanh, thông tin kịp thời chính xác và có sự ăn khớp giữa các quá trình trong vận chuy ển giao nhận. M ặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của tin học, cho phép kết hợp chặt chẽ các quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải giao nhận có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và đồng thời phức t ạp hơn. Nó cho phép người giao nhận vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với khách hàng. Phát triển các dịch vụ truyền thống càng cao bao nhiêu, người vận tải giao nhận càng có khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường và mở rộng thị trường bấy nhiêu.
Logi stics cho phép các nhà kinh doanh vận tải giao nhận cung cấp các dịch vụ đa dạng, phong phú hơn ngoài dịch vụ giao nhận vận tải đơn thuần:
Logistics là sự phối hợp, gắn kết các hoạt động, các khâu trong dòng lưu chuyển của hàng hoá qua các giai đoạn – cung ứng – sản xuất – lưu thông phân phối. Vì vậy lúc này người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận không chỉ đơn thuần là người giao nhận vận chuyển nữa, mà thực tế họ đã tham gia cùng với người sản xuất đảm nhận thêm các khâu liên quan đến quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá như: lắp ráp, đóng gói, gom hàng, xếp hàng, cung cấp kho hàng, lưu trữ hàng, xử lý thông tin… Thậm chí cả những hoạt động khác trong quá trình sản xuất như cung cấp thông tin hay tạo ra những sản phẩm phù hợp cho các thị trường cụ thể hay các quốc gia…
Hoạt động vận tải giao nhận thuần tuý đã dần chuyển sang hoạt động quản lí toàn bộ dây chuyền phân phối vật chất và trở thành một bộ phận khăng khít của chuỗi mắt xích “cung – cầu”. Chỉ khi tối ưu được quá trình này mới giải quyết được vấn đề đặt ra là: vừa làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp sản xuất, vừa làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận, đảm bảo được lợi ích chung.
1.5 Các loại dịch vụ logistics: Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Trong WTO phân loại các loại hình cơ bản của dịch vụ logist ics gồm: dịch vụ logistics chủ yếu, dịch vụ có liên quan đến vận tải và dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ.
1.5.1 Dịch vụ Logisti cs chủ yếu:
Dịch vụ logistics chủ yếu (core logistics service): là dịch vụ thiết yếu trong hoạt động logistics và cần phải tiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ bao gồm: dịch vụ thông quan, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác như dịch vụ xếp dỡ hàng hóa.
Dịch vụ đại lý vận tải:
Công ty kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải hoạt động làm một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một đại lý của người chuy ên chở hoặc cũng có thể là đại lý của người gửi hàng.
Công ty kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải có trách nhiệm tiến hành các hoạt động cần thiết để chăm sóc và bảo vệ chu đáo quyền và lợi ích hợp pháp của người uỷ thác; phải chấp hành các yêu cầu và chỉ dẫn của người uỷ thác; nhanh chóng thông báo cho người uỷ thác về các sự kiện liên quan đến công việc được uỷ thác; tính toán chính xác các khoản thu, chi liên quan đến công việc được uỷ thác. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Dịch vụ lưu kho:
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, công ty kinh doanh dịch vụ lưu kho sẽ thu xếp việc này bằng phương tiện của mình hoặc thuê của người khác để đảm bảo hàng hóa được an toàn.
Dịch vụ lưu kho hàng hóa đối với những hàng hóa khác nhau thì cũng khác nhau. Thông thường việc lưu kho hàng hóa được chia thành 3 loại là: lưu kho hàng hóa thông thường, lưu kho hàng lạnh và lưu kho hàng hóa giá trị cao.
Dịch vụ thông quan:
Thủ tục hải quan là các nội dung công việc mà người làm thủ tục hải quan và nhân viên hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với đối tượng làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá cảnh.
Công ty kinh doanh dịch vụ thông quan là người thực hiện các thủ tục theo yêu cầu của cơ quan Hải quan theo sự ủy thác của người xuất nhập khẩu. Khi đó, người kinh doanh dịch vụ thông quan chính là người phải chịu trách nhiệm về hàng hóa xuất nhập khẩu. Giải quyết thủ tục nhanh chóng và hiệu quả hàng hoá vận tải quốc tế là một mắt xích hết sức quan trọng đối với sự thành công của cả một dây chuyền cung ứng
1.5.2 Dịch vụ có liên quan đến vận tải: Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Các dịch vụ có liên quan tới cung cấp có hiệu quả dịch vụ logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của Logistics bên thứ 3 phát triển gồm có vận tải hàng hóa (đường biển, đường thủy nội địa, hàng không, đường sắt, đường bộ và đa phương thức) và các dịch vụ khác có liên quan tới dịch vụ logistics gồm dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn và bán lẻ.
Dịch vụ vận tải:
Dịch vụ vận tải không những là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của một nước, mà còn đóng vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế.
Hiện nay, tất cả các phương thức vận tải hiện đại đều tham gia phục vụ chuy ên chở hàng hóa ngoại thương, trong đó vận tải biển đóng vai trò chủ đạo. Dịch vụ vận tải quốc tế phát triển làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải quốc tế và buôn bán quốc tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Dịch vụ vận tải quốc tế thúc đẩy buôn bán giữa các nước phát triển về mọi mặt. Đồng thời buôn bán quốc tế lại tạo ra những tiền đề cho vận tải quốc tế phát triển không ngừng.
Yêu cầu cơ bản đối với dịch vụ vận tải là nhanh chóng, an toàn và kinh tế. Việc vận chuyển hàng hóa phải kịp thời đảm bảo giao nhận vận chuyển đúng thời hạn và rút ngắn thời gian giao hàng một cách hợp lý , hàng hóa phải đủ số lượng, không bị hư hỏng hoặc kém phẩm chất sau quá trình vận chuyển, đồng thời chi phí vận chuyển bỏ ra một cách hợp lý ở mức thấp nhất.
Trong khuôn khổ hợp tác kinh tế ASEAN, các nước thành viên đã nhất trí xây dựng Lộ trình Hội nhập nhanh ngành dịch vụ logistics trong A SEAN để ký kết tại Hội nghị Không chính thức các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM Retreat) vào tháng 5/2007. Việt Nam được cử làm nước điều phối chung về xây dựng Lộ trình này. Tháng 8/2006 và tháng 1/2007, Việt Nam đã tổ chức hai Hội nghị Tham vấn ASEAN về logistics tại Hà Nội với sự tham gia rộng rãi của đại diện các nước ASEAN, giới doanh nghiệp và các học giả liên quan trong khu vực. Trong ASEAN, bản dự thảo Lộ trình Hội nhập nhanh ngành logistics đã được thảo luận tại các diễn đàn khác nhau như Hội nghị các Quan chức kinh tế cao cấp (STOM), Hội nghị các Quan chức Cao cấp về viễn thông và các Ủy ban chức năng của A SEAN như Ủy ban điều phối về Hải quan, Ủy ban điều phối về dịch vụ. Hiện nay, Việt Nam phối hợp với Ban Thư ký ASEAN đã tổng hợp lấy ý kiến của các nước, các nhóm công tác để hoàn chỉnh dự thảo lần 3 (dự thảo cuối cùng) của Lộ trình Hội nhập nhanh ngành dịch vụ logistics.
Dịch vụ vận tải biển:
Công ty kinh doanh dịch vụ vận tải biển phải đảm bảo cho khách hàng có được sự lựa chọn linh hoạt và rộng rãi các dịch vụ vận tải đường biển. Dịch vụ vận tải biển bao gồm các dịch vụ vận tải hàng nguyên container, hàng gom, hàng rời và dịch vụ môi giới tàu.
Đến năm 2009, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được thành lập liên doanh vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam với vốn góp không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. Thuy ền viên nước ngoài được làm việc trên các tàu treo cờ Việt Nam hoặc đăng ký ở Việt Nam thuộc s ở hữu của các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam nhưng tổng số không vượt quá 1/3 định biên của tàu. Thuy ền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam. Đối với các loại hình công ty khác, ngay sau khi gia nhập, mức vốn góp cam kết là 51%, 2012 là 100%. Số lượng liên doanh được thành lập vào thời điểm gia nhập không vượt quá 5. Sau đó, cứ hai năm một sẽ cho phép thêm 3 liên doanh. Sau 5 năm kể từ khi gia nhập (đến năm 2012), không hạn chế số lượng liên doanh.
Vận tải hàng không:
Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không đóng một vai trò rất quan trọng trong buôn bán quốc tế. Càng ngày càng có nhiều hàng hóa được vận chuyển bằng phương thức vận tải hàng không. Sở dĩ vận tải hàng không phát triển như vậy là vì nó đáp ứng được các yêu cầu của nền kinh tế thế giới hiện nay:
- Trước hết vận tải hàng không nhạy cảm về thời gian, hoàn toàn thích hợp với thời đại phát triển như vũ bão của tin học.
- Tốc độ vận tải của hàng không rất nhanh, khoa học kỹ thuật phát triển vận tải hàng không thích hợp với các loại hàng hóa có giá trị cao, mau hỏng, các loại hàng quý hiếm.
- Tính an toàn cao và hành trình đều đặn. Tuy rằng mức độ tổn thất khi có rủi ro trong vận tải hàng không lớn nhưng tỷ lệ tai nạn hàng không so với các phương tiện vận tải khác là thấp nhất.
Như vậy, vận tải hàng không vẫn là phương tiện hiện đại phù hợp với trình độ sản xuất cao và là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả lớn với nhiều lợi nhuận đáng kể.
Vận tải đường sắt:
Vận tải đường sắt thường giữ vai trò trụ cột trong hệ thống giao thông vận tải của một nước, đặc biệt với những nước không có đường biển thì đường sắt đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả các phương tiện vận tải. Trong cam kết gia nhập WTO, ta đã cho phép nước ngoài tham gia liên doanh với đối tác Việt Nam với vốn góp tối đa đạt 49%, nhưng không cam kết về dành đối xử quốc gia. Do ngành vận tải đường sắt đòi hỏi phải có mức độ đầu tư khá lớn về cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ nên dự kiến trong ngắn hạn chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài. Về dài hạn, Nhà nước ta vẫn chủ trương kiểm soát loại hình dịch vụ này cũng tương tự như các loại hình dịch vụ vận tải nội địa khác. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Vận tải đường bộ:
Đây là ngành dịch vụ có mức độ mở cửa khá cao và là loại hình vận tải năng động nhất hiện nay tại Việt Nam. Điều đáng chú ý vốn góp của phía nước ngoài trong một số liên doanh đã được đẩy lên trên mức 51% tức là mức trần quy định trong các cam kết quốc tế của ta. Trong cam kết gia nhập WTO, ta cho phép phía nước ngoài được thành lập liên doanh với nhà vận tải đường bộ Việt Nam với vốn góp của nước ngoài không quá 51% kể từ năm 2010. Có thể nói chính sách của ta trong lĩnh vực vận tải đường bộ cùng với chính sách cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước được cạnh tranh khá bình đẳng đã góp phần phát triển nhanh vận tải bộ trong thập kỷ qua.
Dịch vụ chuyển phát:
Dịch vụ giao nhận chuyển phát về bản chất là dịch vụ gom hàng chính là quá trình nghiệp vụ liên quan đến vận tải với mục đích là nhận chứng từ, hàng hóa từ người gởi hàng và vận chuy ển hàng hóa, chứng từ đến tay người nhận một cách nhanh nhất với giá cả hợp lý nhất.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, với sự cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi các doanh nghiệp càng phải thích ứng và nắm bắt thị trường một cách nhanh chóng . Cũng chính vì những nhu cầu của thị trường mà dịch vụ chuyển phát cũng mang một ý nghĩa rất quan trọng trong ngoại thương.
Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật (ngoại trừ việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện vận tải):
Đánh giá chung các cam kết của ta khi gia nhập WTO, ta đã đạt mức tự do hóa có ý nghĩa với một lộ trình hợp lý đối với các phân ngành bổ trợ cho dịch vụ logist ics. Một số phân ngành dịch vụ mà Việt Nam có lợi thế cung cấp như dịch vụ xếp dỡ container với hàng hóa vận chuyển đường biển, đại lý kho bãi và đại lý vận tải hàng hóa, dịch vụ thông quan, … ta đặt hạn chế vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% (tỷ lệ khống chế) hoặc đặt ra lộ trình cho phép tăng vốn góp của phía nước ngoài từ 5-7 năm. Riêng trong nội bộ ASEAN, thời hạn 2013 đã được đặt ra để tự do hóa hầu hết các phân ngành chủ yếu trong dịch vụ logistics.
1.5.3 Dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ: Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
Gồm dịch vụ máy tính và liên quan tới máy tính, dịch vụ đóng gói và dịch vụ tư vấn quản lý. Đây là những phân ngành dịch vụ ta khuyến khích sự tham gia của phía nước ngoài để định hướng sự phát triển của thị trường trong nước cũng như học hỏi được những kinh nghiệm, kỹ năng quản lý và cung cấp dịch vụ ở trình độ cao của các doanh nghiệp nước ngoài.
Dịch vụ đóng gói:
Khi vận chuyển hàng hóa có thể bị hư hỏng do thời gian vận chuyển dài đối với các mặt hàng như nông sản, trái cây hoặc có thể bị hư hỏng do lực xóc trong quá trình vận chuyển đối với các hàng hóa khác. Chính vì vậy, việc đóng gói hàng hóa theo đúng yêu cầu sẽ giúp vận chuyển hàng hóa an toàn hơn đồng thời giảm thiểu thiệt hại. Theo đó, dịch vụ đóng gói trong logistics sẽ đóng gói bao bì cho tất cả các loại hàng hóa với tiêu chuẩn đóng gói quốc tế tùy vào tính chất và đặc điểm hàng hóa mà việc sử dụng những vật liệu đóng gói, bao bì phù hợp.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những nghiên cứu về dịch vụ logistics trong chương 1 có thể kết luận rằng, dịch vụ logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ mà là một chuỗi các dịch vụ liên quan đến giao nhận, vận tải hàng hóa. Dịch vụ logistics chính là giai đoạn phát triển ở giai đoạn cao của dịch vụ giao nhận kho vận trên cơ sở sử dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để điều phối hàng hóa từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Logistics không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc gia mà nó còn có vai trò giảm thiểu các chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường cho các doanh nghiệp.
Từ những kết quả đạt được ở chương 1, tiếp theo chương 2 sẽ là phần phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam và của một công ty cụ thể là Công ty Cổ Phần TM-DV Trung Thực, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện kinh doanh hoạt động logistics tại công ty. Khóa luận: Hoạt động dịch vụ logistics tại Cty Trung Thực
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về Cty Thương Mại Dịch Vụ Trung Thực

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Biện pháp NC hoạt động logistics của Cty Trung Thực