Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần xăng dầu HFC dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận

Trong nền kinh tế hội nhập và phát triển, cạnh tranh để tồn tại và phát triển là vấn đề không thể tránh khỏi của mỗi quốc gia, doanh nghiệp. Đặc biệt là trong xu thế hiện nay, cùng với nhịp độ phát triển thế giới, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO. Sự kiện này đã làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam càng trở nên náo nhiệt và sôi động hơn, mở ra cho Việt Nam cả những cơ hội cũng như thách thức mới. Chính vì vậy, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng diễn ra gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự nỗ lực, phấp đấu không ngừng mới có thể tồn tại và phát triển bền vững được.

Để cho các doanh nghiệp có thể đứng vững được trên thị trường thì việc “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” là việc hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Nó giúp cho các doanh nghiệp thấy được điểm mạnh để phát huy và mặt còn hạn chế để có biện pháp khắc phục, từ đó đề ra định hướng phát triển kinh doanh trong tương lai một cách đúng đăn và phù hợp.

Trong qua trình tìm hiểu về Công ty Cổ phần xăng dầu HFC em thấy công ty là trong những doanh nghiệp hoạt động 42 năm trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu chất đốt nhưng cũng đang phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn điều này được thể hiện rất rõ qua kết quả hoạt động kinh doanh còn thấp so với các công ty cùng nghành trong giai đoạn từ năm 2018-2020. Để tồn tại và phát triển trong giai đoạn sắp tới, công ty Cổ phần xăng dầu HFC buộc phải đứng vững trong thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Với lý do này, em đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần xăng dầu HFC”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Đề tài hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là đề tài quen thuộc được các sinh viên nghiên cứu và tìm hiểu đề cập nhiều. Các công trình nghiên cứu đề cập tới tầm quuan trọng của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đưa ra kiến nghị, định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Dù vậy, mỗi doanh nghiệp có phạm vi, quy mô, nghành nghề… riêng nên hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố. Cụ thể các công trình chủ yếu sau:

Nguyễn Bùi Kiên (2019) “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty Cổ phần văn hóa Duy Minh” khóa luận tốt nghiệp khoa Kinh tế – Đại Học Thương Mại. Khóa luận làm rõ về lý luận các nội dung nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty Cổ phần văn hóa Duy Minh. Tuy nhiên, đây là doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng nên các nhân tố ảnh hưởng cũng như các nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc sử dụng vốn kém hiệu quả không trùng lặp với những luận điểm mà học viên đưa ra trong đề tài luận văn của mình.

Phạm Văn Tiến (2019) “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty TNHH đầu tư và sản xuất nội thất” khóa luận tốt nghiệp khoa Kinh tế – Đại Học Thương Mại. Đề tài nghiên cứu, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về phân tích hoạt động kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh. Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH đầu tư và sản xuất nội thất. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá đó đề ra những giải pháp mang tính hệ thống và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian tiếp theo.

Đặng Thị Ngọc Ánh (2018) “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần công nghệ G-Gate” khóa luận tốt nghiệp khoa Kinh tế – Đại Học Thương Mại. Đề tài làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở đó phân tích rõ thực trạng hoạt động đặc biệt thực trạng về vấn đề tài chính doanh nghiệp của Công ty, làm rõ những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu nhờn, đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân. Trên cơ sở phân tích phương hướng và bối cảnh phát triển mới, luận văn đã đề xuất một số giải pháp tài chính có tính khả thi cao nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển trong thời gian tới. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cũng như phụ thuộc những nghành nghề khác nhau. Tuy nhiên những nguyên lý chung về hiệu quả kinh doanh vẫn là công thức chung từ đó áp dụng từng doanh nghiệp riêng. Việc nghiên cứu các công trình nghiên cứu giúp luận văm xác định được hướng nghiên cứu một cách rõ ràng cho Công ty Cổ phần xăng dầu HFC và nó không trùng lặp với các nghiên cứu đã thực hiện.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Dựa trên kết quả hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu đánh giá thực trangk, mục tiêu cơ bản của luận văn là có được cái nhìn sát thực nhất về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp với tình hình thực tế và chiến lước phát triển của công ty

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Một là, hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hai là, Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC, chỉ ra những kết quả đạt được về hiệu quả kinh doanh của Công ty, đồng thời là mặt hạn chế cần khắc phục.

Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực trạng xác định nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty Cổ phần xăng dầu HFC

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Những vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC.
  • Về không gian: Công ty Cổ phần Cổ phần xăng dầu HFC.
  • Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC trong giai đoạn từ năm 2018-2020 và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty giai đoạn tiếp theo.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Luận văn tiến hành khảo sát thực trạng của hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Xăng dầu HFC giai đoạn 2018 – 2020.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, bao gồm:

  • Các NQ-CP, TT-BTC, các Bộ, ban, ngành có liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp nói chung các doanh nghiệp trong lĩnh vực xăng dầu.
  • Các tài liệu khác có liên quan đến điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh… tại địa bàn nghiên cứu.
  • Các số liệu có liên quan đến quá trình nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức. Thông tin số liệu bao gồm: Các kết quả nghiên cứu có liên quan đã được tiến hành trước đó, số liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh của các công ty trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.
  • Các báo cáo tài chính và báo cáo phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, đề án phát triển của Công ty Cổ phần Xăng dầu HFC trong các năm giai đoạn 2018 – 2020. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Phương pháp thu thập dữ liệu

Tìm kiếm, tra cứu theo từ khóa, kế thừa bộ số liệu của các công trình nghiên cứu trước từ các nguồn Niên giám thống kê, Bộ Tài chính, SKH&ĐT, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, Các loại sách báo, tạp chí như: tạp chí Kinh tế phát triển, tạp chí Ngân hàng, tạp chí Tài chính, tạp chí Nghiên cứu và trao đổi và các tạp chí khác; bộ số liệu của các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài; các văn bản pháp luật có liên quan đến hiệu quả kinh doanh như Nghị định, Thông tư, Quyết định… của Chính Phủ và các cơ quan có liên quan.

5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu

Phương pháp phân tích thống kê

  • Phân tích thống kê là nêu ra một cách tổng hợp bản chất cụ thể của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong điều kiện lịch sử nhất định qua biểu hiện bằng số lượng. Nói cụ thể phân tích thống kê là xác định mức độ nêu lên sự biến động biểu hiện tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ hiện tượng. Phân tích thống kê phải lấy con số thống kê làm tư liệu, lấy các phương pháp thống kê làm công cụ nghiên cứu.
  • Phân tích thống kê có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý kinh tế. Nhờ có lý luận và phương pháp phong phú mà thống kê có thể vạch ra nguyên nhân của việc hoàn thành kế hoạch và các quyết định quản lý; phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng nguồn lực, xác định các mối liên hệ, các tính quy luật chung của hệ thống.
  • Trong quá trình phân tích thống kê phương pháp tiếp cận hệ thống đòi hỏi phải tiếp cận theo cả 2 hướng: phân tích và tổng hợp.

Phương pháp so sánh

  • Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở. Phương pháp so sánh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu.
  • Sau khi tổng hợp các số liệu, ta tiến hành so sánh số liệu giữa các năm. Từ đó đưa ra được những nhận xét, đánh giá thông qua kết quả tổng hợp và tính toán 6 số liệu về hiệu quả kinh doanh các mặt hàng xăng dầu tại Công ty Cổ phần Xăng dầu HFC giai đoạn 2018 – 2020.

Việc sử dụng phương pháp so sánh cho phép đánh giá đúng đắn sự tăng trưởng hay suy giảm của các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh doanh của Công ty. Từ đó đưa ra những nhận xét đánh giá mặt được, mặt chưa được của công tác kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xăng dầu HFC.

6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, tài liệu tham khảo khóa luận được kết cấu làm 3 chương chính như sau:

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC

Chương 3: Các đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần xăng dầu HFC

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp

Khi tiếp cận khái niệm doanh nghiệp, có thể thấy cụm từ “doanh nghiệp” được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm pháp lý, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định doanh nghiệp “là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”

Theo cách tiếp cận vi mô, doanh nghiệp được xem như là một hình thức sản xuất theo đó trong cùng một sản nghiệp người ta phối hợp giá của nhiều yếu tố khác nhau do các tác nhân khác cùng với chủ sở hữu doanh nghiệp đem lại nhằm bán ra trên thị trường hàng hóa hay dịch vụ và đạt được một khoản thu nhập tiền tệ từ mức chênh lệch giữa hai giá.

Theo giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mại của Phạm Công Đoàn (2012) ta có định nghĩa về doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người liên kết với nhau để sản xuất ra của cải hoặc dịch vụ và cùng nhau thừa hưởng thành quả do việc sản xuất đó đem lại.”

Cộng đồng người trong doanh nghiệp liên kết với nhau chủ yếu trên cơ sở lợi ích kinh tế. Con người trong doanh nghiệp được xem như là “Con người kinh tế”. Chủ doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận, người lao động vì tiền công mà hợp tác với chủ doanh nghiệp.

Doanh nghiệp là một tổ chức sống giống như con người, có một chu trình sống và được thành lập bởi ý chí của các nhà sáng lập; phát triển và tiến tới độ trưởng thành, đôi khi hoạt động của nó sa sút dẫn đến suy thoái hoặc thậm chí bị phá sản.

1.1.2. Khái niệm kinh doanh

Từ lâu kinh doanh được hiểu như là một công việc, là một nghề. Song kinh doanh không chỉ đơn thuần là một nghề, mà còn là mối quan hệ giữa người và người. Trong kinh tế tất cả các hoạt động kinh doanh đều liên quan tới việc sử dụng công sức và tiền vốn để tạo ra sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) và cung ứng cho thị trường nhằm mục đích kiếm lời. Kinh doanh đòi hỏi phải có chiến lược và chiến thuật

Kinh doanh thể hiện những nét đặc trưng cơ bản:

Là sự trao đổi hàng hóa giữa các chủ thể kinh tế mà mỗi cá nhân tham gia vào quá trình này đều hướng tới đạt được lợi ích của mình.

Kinh doanh là công việc khó khăn phức tạp và luôn chứa đựng những yếu tối rủi ro do tính phức tạp và bất định từ phía môi trường, do đó đòi hỏi nhà kinh doanh phải có kiến thức, kinh nghiệm óc sáng kiến cùng với lòng dũng cảm và sự sáng suốt.

1.1.3. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả kinh doanh Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Khái niệm hiệu quả: Hiệu quả là một tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Để hoạt động, doanh nghiệp phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó là hiệu quả.

1.1.4. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra các quan điểm khác nhau về phạm trù này:

Theo P. Samerelson và W. Nordhous trong cuốn Kinh tế học xuất bản năm 1991 thì: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác”. Quan điểm này thực chất là đề cập đến khía cạnh phân bổ và sử dụng nguồn lực của nền sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Khi đó, sự phân bổ là tối ưu, không có một sự phân bổ nào có thể mang lại cho nền kinh tế một kết quả tốt hơn. Có thể nói mức hiệu quả mà tác giả đưa ra là mức hiệu quả lý tưởng và là mức hiệu quả cao nhất mà không có mức nào cao hơn.

Cũng trong cuốn Kinh tế học xuất bản năm 1991 thì nhà kinh tế học Manfred Kuhn lại cho rằng: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí”. Đây thực chất chỉ là một biểu hiện về bản chất chứ không phải là khái niệm của hiệu quả kinh doanh. Do đó tổng hợp những khái niệm trên có thể đưa ra một khái niệm phản ánh tương đối đầy đủ những khía cạnh của hiệu quả kinh doanh được áp dụng trong các ngành sản xuất kinh doanh như sau:

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác và chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.

Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ kết hợp sử dụng các nguồn lực để đạt được một mục tiêu xác định. Hiệu quả kinh doanh có thể được đánh giá trong mối quan hệ giữa kết quả tạo ra với nguồn lực sử dụng để tạo ra kết quả đó, xem xét xem với mỗi đơn vị hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Nếu coi hoạt động kinh doanh là quá trình doanh nghiệp quản lý, khai thác và sử dụng các tài sản nhằm đạt mục tiêu nhất định nào đó, thì hiệu quả kinh doanh có thể mô tả bằng các công thức chung sau:

1.2. Một số lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

1.2.1. Bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với mỗi doanh nghiệp, hoạt động trong nền kinh tế khác nhau và mỗi thời kỳ khác nhau lại có một mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trưòng ở nước ta hiện nay mục tiêu bao trùm lên tất cả mục tiêu của mọi doanh nghiệp chính là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Bản chất hiệu quả kinh doanh: Để hiểu về bản chất hiệu quả kinh doanh, trước hết ta đi tìm hiểu về hiệu quả nói chung. Từ trước đến nay, đã có nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu quả. Mỗi nhà kinh tế học khi đứng trên mỗi góc độ khác nhau lại đưa ra một cách hiểu khác nhau về hiệu quả. Từ những khái niệm hiệu quả kinh doanh của P. Samerelson và W. Nordhous trong cuốn Kinh tế học xuất bản năm 1991, Kinh tế học xuất bản năm 1991 của nhà kinh tế học Manfred Kuhn, hay như khái niệm của Đỗ Hoàng Toàn, Nguyễn Văn Công ở Việt Nam ta có thể hiểu bản chât của hiệu quả kinh doanh như sau: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phán ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Với quan niệm trên, hiệu quả kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí cho đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra; hiệu quả kinh doanh được hiểu trước tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào? Điều này thể hiện một quan điểm mới là không phải lúc nào để đạt hiệu quả cũng là giảm chi phí mà là sử dụng những chi phí như thế nào, có những chi phí không cần thiết ta phải giảm đi, nhưng lại có những chi phí ta cần phải tăng lên vì chính việc tăng chi phí này sẽ giúp cho doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giúp cho doanh nghiệp ngày càng giữ được vị trí trên thương trường.

Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối chính là lợi nhuận thu đựơc. Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp đồng thời cũng là cơ sở để mở rộng cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì hiệu quả kinh doanh đóng vai trò càng quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp còn lấy hiệu quả kinh doanh làm căn cứ để phân tích và đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh để từ đó có những điều chỉnh nhằm tiết kiệm chi phí, nâng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lên một mức cao hơn, giúp doanh nghiệp ngày càng đứng vững trên thị truờng cạnh tranh đầy khốc liệt.

1.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

1.2.2.1. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp

Kết quả đầu ra có thể được đo bằng chỉ tiêu hiện vật như số lượng sản phẩm sản xuất ra tính theo đơn vị của sản phẩm sản xuất ra hay có thể được tính bằng đơn vị giá trị như tiền hoặc các đơn vị giá trị khác.

Chi phí đầu vào cũng vậy, có thể được đo bằng đơn vị hiện vật như số lượng nguyên vật liệu cần cho sản xuất, số lượng nhiên liệu để sản xuất. Nhưng cũng có thể được đo lường bằng đơn vị giá trị mà cụ thể là số tiền chi trả cho việc mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất… nghĩa: Hiệu quả kinh doanh phản ánh số kết quả đầu ra đạt được trên một đồng chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Cùng với một lượng chi phí cho sản xuất doanh nghiệp nào có nhiều kết quả đầu ra hơn là doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao hơn.

1.2.2.2. Tiêu chuẩn đánh giá cụ thể

Lợi nhuận

Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

Lợi nhuận của doanh nghiệp là biếu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của người lao động mang lại.

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định…

Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp. Bởi vì lợi nhuận là nguồn hình thành nên thu nhập của ngân sách nhà nước, thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà nước phát triển nền kinh tế – xã hội. Một bộ phận lợi nhuận khác, được để lại để doanh nghiệp thành lập các quỹ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.

Lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Tuy nhiên, theo công thức tính lợi nhuận như trên ta có thể thấy, lợi nhuận tăng khi hoặc doanh thu tăng hoặc chi phí giảm hoặc khi doanh thu tăng đồng thời chi phí giảm. Doanh thu phụ thuộc vào hai yếu tố là tổng sản lượng và giá bán. Nếu như doanh thu tăng do tổng sản lượng tiêu thụ tăng thì là một tín hiệu tốt, khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được là tương đối hiệu quả.

Nhưng khi giá bán tăng làm tăng doanh thu của doanh nghiệp thì còn tuỳ thuộc vào việc tăng giá trên là do sản phẩm của doanh nghiệp vượt trội lên về mẫu mã và chất lượng so với các đối thủ cạnh tranh. Hay việc tăng giá bán là do lạm phát, do đầu cơ hay một vài nguyên nhân khác. Nếu như việc tăng giá bán vì những lý do sau thì quả thực hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực sự chưa tốt mặc dù lợi nhuận vẫn tăng.

Doanh thu

Doanh thu = Sản lượng tiêu thụ * giá bán.

Cũng giống như chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu doanh thu là một chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu tăng góp phần làm chi lợi nhuận tăng. Nhưng không phải lúc nào doanh thu tăng cũng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Doanh thu tăng nhiều khi do giá bán trên thị trường nhưng giá bán tăng có thể do một số tác động như lạm phát, đầu cơ…những yếu tố này làm cho doanh thu tăng nhưng hoạt động của doanh nghiệp lại không hiệu quả.

Hơn nữa, khi sản lượng tăng thì cũng làm cho doanh thu tăng nhưng lợi nhuận chưa chắc đã tăng lên vì sản lượng tăng nhiều khi kéo theo chi phí tăng, trong một vài trường hợp tốc độ tăng chi phí có thể lớn hơn tốc độ tăng doanh thu và vì thế lại làm cho lợi nhuận giảm. Vì thế, khi đánh giá chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp phải có sự xem xét một cách đồng bộ tất cả những vấn đề trên.

Nộp ngân sách nhà nước

Các khoản thuế nộp vào ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thuế như: thuế thu nhập, thuế đất, thuế môn bài… Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh góp phần nâng cao thuế thu nhập mà doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách Nhà Nước từ đó góp phần nâng cao phúc lợi cho xã hội.

Phần nộp Ngân sách Nhà Nước được trích ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp, và nó là một khoản bắt buộc phải thực hiện đối với mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. Khoản nộp Ngân sách càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận. Đồng thời, tăng khoản nộp Ngân sách cũng làm tăng phúc lợi cho xã hội.

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

1.2.3.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp.

Yếu tố con người.

Đối với các doanh nghiệp, mọi hoạt động đều không thể thực hiện được nếu như không có sự tham gia của con người. Vì thế yếu tố con người là quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Con người là nhân tố quyết định cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp. Trong thời đại ngày nay, hàm lượng chất xám sản phẩm ngày càng cao thì trình độ chuyên môn của người lao động có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trên thực tế, trình độ chuyên môn của công nhân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công nhân có tay nghề cao sẽ làm ra sản phẩm đạt chất lượng cao, tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, trong nhân tố con người trình độ chuyên môn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch tỉ mỉ từ khâu tuyển dụng tới việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động

Yếu tố về vốn.

Trong bất cứ một hoạt động nào thì yếu tố vốn luôn là một yếu tố quan trọng, mọi kế hoạch về đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh… mà không có vốn thì cũng đều trở thành không tưởng. Đối với các doanh nghiệp, vốn có vai trò quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp và được hình thành từ ba nguồn chính: Vốn tự có, vốn do Nhà nước cấp và vốn đi vay. Vốn của doanh nghiệp được phân bổ dưới hai dạng chính là vốn cố định và vốn lưu động. Ngoài ra khả năng quay vòng vốn cũng rất quan trọng, cùng với một lượng cầu về sản lượng tương ứng với lượng vốn cần thiết nhất định nếu khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp càng cao thì lượng vốn cần cho mỗi kỳ càng ít và sẽ càng thuận lợi cho doanh nghiệp về vấn đề huy động vốn hơn. Cho nên đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trình độ quản trị doanh nghiệp.

Quản trị doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự đảm bảo công bằng giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả các bộ phận bên trong doanh nghiệp, mặt khác, giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng sản phẩm có mối quan hệ nhân quả…nên tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị lao động có chất lượng trước hết nếu như có cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị tốt. Vì vây, doanh nghiệp cần chú trọng hai vấn đề chính là luôn đánh giá đúng thực trạng cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp trên cả hai mặt là hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của nó và khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp phải chú ý đánh giá tính hiệu quả của cơ cấu tổ chức thông qua các chỉ tiêu như: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác của các quyết định.

Cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống trao đổi xử lý thông tin

Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh. Ngày nay vai trò của kỹ thuật và công nghệ được các doanh nghiệp đánh giá cao. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này, nhất là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

Thông tin được coi là một hàng hoá, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hoá. Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hoá, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan.

1.2.3.2. Các yếu tố bên ngoài. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Môi trường kinh tế.

  • Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế. Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực.
  • Tình trạng của nền kinh tế: bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình.
  • Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: lãi suất, lạm phát…
  • Các chính sách kinh tế của chính phủ: luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: giảm thuế, trợ cấp….
  • Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư…

Môi trường chính trị – luật pháp.

Các yếu tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại thậm chí rủi ro cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm:

  • Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về các quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện sẽ là cơ sở kinh doanh ổn định.
  • Các quyết định về quảng cáo đối với một số doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh sẽ là mối đe dọa, chẳng hạn các công ty rượu sản xuất rượu cao độ, thuốc lá…
  • Quyết định về các loại thuế và các lệ phí có thể vừa tạo cơ hội cũng lại vừa có thể là những phanh hãm phát triển sản xuất.
  • Luật lao động, quy chế tuyển dụng, đề bạt, chế độ hưu trí, trợ cấp thất nghiệp cũng là những điều mà doanh nghiệp cần phải tính đến.

Môi trường văn hoá, xã hội.

Lối sống của cộng đồng dân cư có thể tự thay đổi theo xu hướng du nhập, và lối sống mới xuất hiện luôn đem lại những cơ hội mới cho nhiều nhà sản xuất. Ngoài ra doanh nghiệp cũng phải tính đến thái độ tiêu dung, sự thay đổi của tháp tuổi, tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, vị trí vai trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình. Sự xuất hiện của hiệp hội những người tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo vì lợi ích của người tiêu dùng. Trình độ dân trí ngày càng cao một mặt mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp về một đội ngũ lao động tri thức, đồng thời cũng là một thách thức đối với doanh nghiệp trong vấn đề chất lượng sản phẩm.

Nhân tố tự nhiên.

Các nhân tố tự nhiên bao gồm các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác, các điều kiện về địa lý như địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu… Ở trong nước cũng như ở từng khu vực.

Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng ở nhiều mức độ khác nhau, cường độ khác nhau đối với từng loại doanh nghiệp ở các địa điểm khác nhau và nó cũng tác động theo cả hai xu hướng: tích cực và tiêu cực.

Đối thủ cạnh tranh.

Một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì luôn luôn có đối thủ cạnh tranh. Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, doanh nghiệp có cơ hội tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình hơn. Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, và mọi cuộc cạnh tranh về giá cả thì đều dẫn đến sự tổn thương. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Nhà cung cấp.

Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp, qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận cua doanh nghiệp. Trên một phương diện nào đó, sự đe doạ đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều đối với các doanh nghiệp. Áp lực tương đối của nhà cung ứng thường được thể hiện trong các tình huống như:

  • Ngành cung ứng mà doanh nghiệp cần chỉ có một số thậm chí một doanh nghiệp độc quyền cung ứng.
  • Sản phẩm của nhà cung ứng không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có người cung ứng nào khác.
  • Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung ứng.
  • Loại đầu vào, chẳng hạn vật tư của nhà cung ứng là quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp.

Khách hàng và tiềm năng thị trường.

Khách hàng là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua. Nếu như áp lực của khách hàng lớn sẽ làm cho doanh nghiệp phải đáp ứng tất cả các nhu cầu của mình về giá bán cũng như tăng chất lượng sản phẩm. Tăng chất lượng sản phẩm trong điều kiện giá bán phải hạ thấp là nguyên nhân vừa làm cho chi phí sản xuất tăng lên đồng thời doanh thu cũng phải chịu áp lực lớn. Và do đó dễ dẫn đến nguy cơ giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, khi áp lực của khách hàng kém thì doanh nghiệp cũng ó cơ hiệu kiếm đựơc nhiều lợi nhuận hơn. Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau:

  • Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp. Trong khi đó người mua lại là số ít và có quy mô lớn. Hoàn cảnh này cho phép người mua chi phối các công công ty cung cấp.
  • Khách hàng mua một khối lượng lớn. Trong hoàn cảnh này người mua có thể sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý.
  • Ngành cung cấp phụ thuộc vào khách hàng với tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng số đơn đặt hàng.
  • Khách hàng có thể vận dụng chiến lược liên kết dọc, tức là họ có xu hướng khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho mình. Chẳng hạn các doanh nghiệp dệt khép kín sản xuất để có sợi phục vụ cho dệt.
  • Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả…của các nhà cung cấp thì áp lực của họ càng lớn.

1.3. Nội dung hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1. Yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Một là, đảm bảo tính chính xác và tính khoa học: Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo lượng hóa được kết quả, đảm bảo kết hợp phân tích định lượng với phân tích định tính. Không thể phân tích định tính của hiệu quả khi phân tích định lượng chưa đủ mọi lợi ích và mọi chi phí mà doanh nghiệp và xã hội quan tâm.

Hai là, hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả phải đảm báo tính chính xác và tính thực tiễn: Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính toán nó phải dựa trên cơ sở số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu. Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ điều kiện để sử dụng nó.

Ba là, đảm bảo tính toàn diện và hệ thống.

Bốn là, hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả phải đảm bảo so sánh và kế hoạch hóa.

1.3.2. Hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

1.3.2.1. Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả tổng hợp

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp

Trong đó:

Hiệu quả kinh tế

Doanh thu thuần đạt được trong kỳ

là trị giá vốn của hàng hóa bán ra

Chi phí đã bỏ ra để đạt doanh thu

Chỉ tiêu này phản ánh trình độ sử dụng các ngiuồn lực của doanh nghiệp trong HĐKD, có nghĩa là trong một thời kỳ nhất định DN thu được bao nhiêu đồng doanh thu bán hàng trên một đồng chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ trình độ sử dụng nguồn lực của DN càng cao.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận

Trong đó: LN là tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định DN thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một trăm đồng doanh thu bán hàng thuần. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

Trong đó: là trị giá vốn của hàng bán ra

Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận DN đạt được trên một trăm đồng chi phí bỏ ra.

1.3.2.2. Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả bộ phận Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

Hiệu quả sử dụng lao động:

Hiệu quả sử dụng lao động được đo lường đánh giá bằng chỉ tiêu năng suất lao động.

Trong đó:

Năng suất lao động của một nhân viên kinh doanh thương mại : Số nhân viên kinh doanh thương mại bình quân trong kỳ.

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của một lao động nó được biểu hiện bằng doanh thu bình quân của một lao động đạt được trong kỳ. Hiệu quả sử dụng lao động còn được đo lường và đánh giá bằng chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương.

Chỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu đạt được trên một đồng chi phí tiền lương. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng lao động càng cao.

Hoặc bằng:

Trong đó:  là tổng quỹ lương trong kỳ.

Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một trăm đồng doanh thu bán hàng cần chi bao nhiêu đồng tiền lương?

Hiệu quả sử dụng vốn:

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là số tiền ứng trước về các tài sản cần thiết nhằm thực hiện các các nhiệm vụ cơ bản của kinh doanh trong kỳ, bao gồm tiền ứng cho tài sản lưu động và tài sản cố định. Thông thường hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua hai bước.

Bước 1: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn của doanh nghệp được đánh giá bằng hai chỉ tiêu:

Trong đó:  là số vốn bình quân sử dụng trong năm và được tính bằng công thức bình quân điều hòa

Bước 2: Đánh giá hiệu quả sử dụng các loại vốn

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Được đánh giá bằng chỉ tiêu tốc độ chu chuyển vốn lưu động

Trong đó:

  • Mức tiêu thụ tính theo giá vốn trong kỳ
  • Là vốn lưu động bình quân trong kỳ
  • Số lần chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
  • Số ngày chu chuyển vốn lưu động trong kỳ
  • Doanh thu thuần bình quân một ngày

Hiệu quả sử dụng vốn cố định : Được đánh giá bằng chỉ tiêu sức sản xuất của vốn cố định và sức sinh lời của vốn cố định

Trong đó:  là vốn cố định bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định được sử dụng trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Chỉ tiêu sức sinh lời của vốn cố định:

Chỉ tiêu này phản ánh một trăm đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa Luận: Tổng quan về Công ty Cổ phần xăng dầu HFC

One thought on “Khóa luận: Hiệu quả kinh doanh tại Công ty xăng dầu HFC

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp NC hiệu quả kinh doanh tại Công ty HFC

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464