Chia sẻ cho các bạn sinh viên ngành luật bài Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á. Theo mình biết hiện nay có rất nhiều bạn sinh viên đang có một vấn đề chung là gặp khó khăn trong khi viết bài: luận văn, khóa luận, báo cáo, tiểu luận. Biết được điều đó nên mình đã ở đây để trợ giúp các bạn những bài báo cáo hay nhất. Sau đây là đề tài đầy đủ và cụ thể cho bài là Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á. Hãy liên hệ với mình khi các bạn chưa lên được ý tưởng cho bài làm của mình nhé.
I. Tổng quan về hiện đại hóa chính trị
1. Bản chất và nội dung của hiện đại hóa chính trị Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Hiện đại hóa chính trị là một bộ phận của hiện đại hóa xã hội. Đó là toàn bộ quá trình biến đổi và thay thế những cấu trúc nhà nước và các thiết chế chính trị nói chung từ chế độ độc đoán, gia trưởng, quan liêu, trì trệ, bảo thủ của xã hội cũ (chủ yếu là xã hội phong kiến – nông nghiệp) sang những cấu trúc và thiết chế chính trị dân chủ đầy sức sống, có khả năng bảo đảm và thúc đẩy sự nghiệp hiện đại hóa xã hội nói chung.
Trong xã hội truyền thống, các cấu trúc quyền lực chính trị chỉ đủ sức hoàn thành những chức năng chính trị-xã hội hạn chế như quân sự, duy trì trật tự xã hội, thu thuế và đảm nhận một số dịch vụ công khác. Đặc trưng của các thiết chế nhà nước chính trị của xã hội nông nghiệp là tính quan liêu, trì trệ. Trong xã hội đã hoặc đang hiện đại hóa, các cấu trúc quyền lực chính trị có vai trò và khả năng to lớn hơn rất nhiều, quyết định tiến trình phát triển của các quốc gia, trong đó tập trung nhất là vai trò hoạch định và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, trung tâm của toàn bộ sự nghiệp hiện đại hóa.
Bản chất của nền chính trị hiện đại hóa là dân chủ với những đặc trưng phổ biến sau đây:
- Quyền lực nhà nước được thực hiện trên cơ sở phân công và phối hợp giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Kết hợp được một cách hài hòa vai trò lãnh đạo tập trung của chính quyền Trung ương với quyền tự quản ở địa phương.
- Các thể chế dân chủ được hiến pháp khẳng định và bảo đảm trên thực tế như bảo đảm các quyền tự do chính trị, đặc biệt là quyền tự do biểu hiện ý chí bằng bầu cử và phủ quyết.
- Xác lập những cơ sở của nhà nước pháp quyền, tôn trọng pháp chế, thực hiện chế độ hiến pháp.
- Bảo đảm sự thống nhất và hòa hợp của các lực lượng xã hội cơ bản như là cơ sở của dân chủ, bảo đảm sự tham gia sâu rộng của các tầng lớp nhân dân vào các quá trình chính trị.
- Hạn chế, loại bỏ các nhân tố chính trị dẫn đến đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, gia trưởng, độc đoán v.v…
Như vậy, bản chất của hiện đại hóa chính trị là dân chủ hóa các quan hệ và cấu trúc chính trị, phát huy tính tích cực chính trị của nhân dân, bảo đảm cho hệ thống chính trị với vai trò trung tâm là nhà nước, thật sự là động lực lãnh đạo công cuộc cải cách kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Quá trình hiện đại hóa chính trị và mô hình hiện đại hóa chính trị của các quốc gia trên thế giới Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Cũng như hiện đại hóa xã hội nói chung, hiện đại hóa chính trị có một quá trình lịch sử nhiều thế kỷ.
Hiện đại hóa xã hội được coi là quá trình gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Châu Âu và Bắc Mỹ. Hình thức này được gọi là hiện đại hóa truyền thống hay hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa. Về chính trị, quá trình hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa bắt đầu từ sự phá vỡ cấu trúc quyền lực truyền thống phong kiến trung cổ và thiết lập nền dân chủ nghị viện. Nói như thế cũng có nghĩa là hiện đại hóa chính trị bắt đầu với những cuộc cách mạng tư sản ở Châu Âu. Ở Anh, quá trình đấu tranh giữa nền quân chủ chuyên chế với nghị viện tư sản trải qua 5 thế kỷ và quá trình hiện đại hóa chính trị chỉ được coi là hoàn thành vào giữa thế kỷ hai mươi (1).
Đặc điểm chủ yếu của hiện đại hóa chính trị tư bản chủ nghĩa là sự thiết lập mang tính đồng loạt các thể chế dân chủ, hình thành các thiết chế chính trị nhà nước, pháp luật của xã hội tư sản từ trong lòng xã hội phong kiến. Tất nhiên, quá trình hiện đại hóa chính trị cũng trải qua nhiều bước thụt lùi khi nền dân chủ tư sản ở những giai đoạn khác nhau bị thay thế bằng chế độ chuyên chế, độc đoán. Tuy vậy, dân chủ hóa vẫn là quá trình phổ quát có tính tất yếu chung và là quy luật của hiện đại hóa chính trị. Quá trình hiện đại hóa chính trị gắn liền với những bước tiến căn bản của kinh tế, xã hội, văn hóa với quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa ở Châu Âu và Bắc Mỹ.
Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã hình thành một hệ thống chính trị dân chủ, thì Nga và các nước phương Đông còn chìm trong chế độ quân chủ chuyên chế. Tuy nhiên, nếu như Nga Sa hoàng tiếp thu nền chính trị Âu-Mỹ một cách tiêu cực và bảo thủ (vào cuối thế kỷ XIX, Nga chưa hề có ý định chấp nhận Nghị viện), thì tại Nhật Bản cải cách Minh Trị năm 1868 và bản Hiến pháp Nhật 1889 tuy vẫn duy trì nền quân chủ chuyên chế nhưng Nhà nước – với vai trò là người khởi xướng và tổ chức công cuộc hiện đại hóa – lại bắt đầu từ hiện đại hóa kinh tế và từng bước thiết lập những thiết chế dân chủ tư sản, trước hết là Nghị viện, tuyên bố các quyền tự do công dân, ban hành các Bộ luật Hình sự và Tố tụng Hình sự 1880 v.v… và vì vậy đã mở đầu cho quá trình hiện đại hóa chính trị ở phương Đông. Đây chính là điểm đặc thù của Nhật Bản so với hiện đại hóa chính trị ở các nước Tây Âu. Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vào những năm 40 – 60, với việc giành độc lập của một loạt các nước thuộc địa Á, Phi và cùng với các nước châu Mỹ La-tinh, quá trình hiện đại hóa trong đó có hiện đại hóa chính trị trở thành một xu thế toàn cầu.
Quá trình hiện đại hóa chính trị ở các nước “thế giới thứ ba” diễn ra trong điều kiện gần như hoàn toàn khác với các nước tư bản phát triển phương Tây về hình thức cũng như điều kiện .
Đặc điểm lớn nhất, chi phối quá trình hiện đại hóa nói chung ở đây là sự lựa chọn con đường hiện đại hóa. Thoát khỏi ách nô dịch thực dân, các nước mới giành độc lập được phân chia thành hai khối: một khối lựa chọn con đường phát triển Tư bản chủ nghĩa, khối khác theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Sự lựa chọn trước hết vào lực lượng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, sau đó là sự can thiệp và sức ép của các nước “mẫu quốc” cũ. Từ đây hình thành hai hệ thống chính trị: mô phỏng nền dân chủ phương Tây truyền thống và mô phỏng nền chính trị Xô viết. Cả hai sự mô phỏng này dần dần đã chứng tỏ không có sức sống và nền chính trị của các nước thuộc địa cũ (và nói chung các nước “thế giới thứ ba” ngoại trừ một số nước như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ…) đã vận động gần như theo những quy luật riêng của mình, phù hợp và chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố với các quan hệ chính trị phong kiến, đẳng cấp, gia trưởng, tôn giáo, cát cứ, phe phái, quan liêu, đặc quyền đặc lợi hòa quyện vào những yếu tố ngoại lai, tạo nên một mô hình chính trị nửa dân chủ, nửa chuyên chế, phi chính thống, thiếu bền vững, trong đó phổ biến là thiết lập và củng cố chế độ độc đoán chuyên quyền với nền dân chủ hạn chế.
Mô hình hiện đại hóa chính trị ở các nước thế giới thứ ba có thể chia thành ba nhóm chính:
- Thiết lập chế độ độc đoán chuyên quyền ngay từ đầu và tồn tại suốt cả chặng đường dài tiếp theo;
- Tiếp thu và hoàn thiện từng bước chế độ dân chủ
- Pha tạp giữa dân chủ Nghị viện và chuyên quyền độc đoán.
Quá trình này cũng đặc trưng cho những nước Đông Nam Á (ngoại trừ Việt Nam, Lào). Tại các nước Đông Nam Á cũng không có một mô hình đồng nhất nhưng cơ bản cũng có những nét chung của các mô hình trên đây.
II. Hiện đại hóa chính trị tại các nước Đông Nam Á
1. Lựa chọn con đường hiện đại hóa và sự bất lực của chế độ dân chủ Nghị viện Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Ngoại trừ Thái Lan, tất cả các nước ASEAN đều đã là thuộc địa của các nước phương Tây: Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vào những năm 50 – 60, các nước ASEAN đều đã tiến hành cuộc chiến tranh bền bỉ, kiên cường chống lại các cường quốc đế quốc để giữ vững nền độc lập non trẻ của mình. Mặc dù vậy phần lớn các nước ASEAN (trừ Việt Nam, Miến Điện và sau này là Lào) đều lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, đi vào quỹ đạo hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa, chịu sự chi phối trước hết là kinh tế và quân sự của Mỹ. Điều này chỉ có thể giải thích bằng lý do chủ yếu sau đây: Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành và giữ độc lập, liên minh rộng rãi của mặt trận chống đế quốc thực dân và giải phóng dân tộc ở các nước đó do giai cấp tư sản lãnh đạo. Nói cách khác, cách mạng giải phóng dân tộc đã tiến hành theo đường lối và lập trường của các tầng lớp tiểu tư sản cấp tiến và giai cấp tư sản dân tộc. Vào cuối những năm 40 đầu những năm 50, sự lựa chọn con đường phát triển trở nên gay gắt với sự phân cực mạnh mẽ giữa lực lượng cánh hữu và cánh tả. Các Đảng Cộng sản dần dần trở thành lực lượng đối đầu với các thế lực cầm quyền. Nhiều Đảng Cộng sản chuyển sang đấu tranh vũ trang (Philippin, Mianma, Malaysia, Inđônêxia). Các cuộc bạo động do Đảng Cộng sản lãnh đạo lần lượt thất bại và bị đàn áp ở một số nước, chủ nghĩa chống cộng được coi là quốc sách và nền tảng tư tưởng, các đạo luật chống cộng lần lượt được ban hành (Thái Lan, Philippin). Phong trào công nhân bị chia rẽ, phá vỡ. Giai cấp tư sản câu kết với đại địa chủ với sự hỗ trợ của quân đội lần lượt nắm chính quyền và gạt bỏ các lực lượng cánh tả, trong đó có Đảng Cộng sản khỏi liên minh giải phóng dân tộc.
Tại các nước này, cách mạng giải phóng dân tộc mặc dù hết sức kiên cường, ý chí độc lập và tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân rất cao, bối cảnh chung của cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập cơ bản giống nhau, thế nhưng sự lựa chọn con đường phát triển lại khác nhau: phần lớn các nước từ chỗ chống thực dân đế quốc lại lựa chọn sự phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa thân đế quốc và dựa vào đế quốc. Một vài nước khác: Việt Nam, Miến Điện, Lào lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa hay theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng sự lựa chọn con đường phát triển phụ thuộc quyết định vào lập trường, vị trí và lực lượng của giai cấp lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Mặt khác, sau khi các nước này giành được độc lập thì các nước thực dân “mẫu quốc” cũ đều đã dùng mọi thủ đoạn, kể cả xâm lược vũ trang với lực lượng rất lớn nhằm khôi phục lại địa vị thống trị của mình.
Trong bối cảnh sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Nam Á trở thành một khu vực tập trung sự đối đầu căng thẳng của hai hệ thống chính trị – xã hội thế giới: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy vì phong trào giải phóng dân tộc ở đây đã giáng một đòn quyết định mở đầu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của các thế lực thực dân, trở thành ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽ nhất cho phong trào giải phóng dân tộc ở các khu vực khác, trước hết là Châu Á và Châu Phi. Vì vậy, các đế quốc phương Tây đã tìm mọi cách can thiệp, duy trì và củng cố các chế độ phi xã hội chủ nghĩa ở các nước này. Cuộc đối đầu trực tiếp của hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa thể hiện qua sự xâm lược vũ trang của Mỹ vào Đông Dương.
Về mô hình chính trị: Vào những năm 50 – 60, các nước Đông Nam Á không xã hội chủ nghĩa đã tiếp thu mô hình dân chủ Nghị viện phương Tây. Trong điều kiện vừa mới thoát ra khỏi sự đô hộ thực dân, với một cơ sở xã hội gần tuyệt đại đa số là nông dân, các tầng lớp trung gian còn nhỏ bé (chủ yếu là lực lượng ít ỏi các tiểu chủ), vai trò và ảnh hưởng của quân đội rất lớn và là một lực lượng chính trị độc lập chi phối nhà nước, và là chỗ dựa của chính quyền, sự tranh giành quyền lực trong các thế lực chóp bu, các phong trào ly khai, phản kháng, bạo động của các lực lượng đối lập, nền dân chủ chưa có gốc này đã không đủ sức đưa ra và thực hiện đến cùng các chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Bất ổn chính trị mà phổ biến là các cuộc đảo chính và sự thay đổi chính phủ thường xuyên xảy ra là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội chứng tỏ cần phải có một nhà nước mạnh để tiến hành các cải cách kinh tế. Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Như vậy, sau khi giành độc lập (trong khoảng cuối những năm 40 đến đầu những năm 60) các nước ASEAN đã tiếp thu nhưng không thành công mô hình hiện đại hóa chính trị theo kiểu dân chủ Nghị viện phương Tây. Hay nói cách khác, mô hình dân chủ phương Tây không thích ứng ngay được với điều kiện chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa, dân tộc, truyền thống v.v…đặc thù ở đây (cũng như nhiều nước thế giới thứ ba nói chung) và đã không trở thành động lực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa xã hội. Hạn chế lớn nhất của mô hình dân chủ này là không đủ sức xác lập và duy trì sự thống nhất xã hội (Consensus) ở một mức độ nhất định, không có trung tâm lãnh đạo ổn định để hoạch định và tiến hành đến cùng các chính sách kinh tế xã hội. Hầu hết các chính phủ chỉ tồn tại rất ngắn, mặc dù có nhiều chính phủ được bầu theo con đường hợp hiến với đa số phiếu của Nghị viện. Các thiết chế dân chủ phương Tây chỉ có thể trở thành tác nhân của hiện đại hóa xã hội khi có những điều kiện và trong những điều kiện xã hội – lịch sử nhất định, trên cơ sở tập hợp thống nhất được xã hội. Điều này ở một mức độ nhất định có thể có được chỉ ở Thái Lan và Malaysia. Các nước còn lại vào giữa những năm 60 đến 70 nền dân chủ Nghị viện đã bị thay thế bằng chế độ độc đoán chuyên quyền hoặc chế độ độc tài.
Lịch sử cho thấy, dân chủ chỉ tồn tại trong một xã hội cơ bản có sự nhất trí hòa hợp, nói cách khác, dân chủ đòi hỏi phải có sự tự nguyện. Nếu như quyền lực chuyên chế, độc đoán có thể áp đặt nhanh chóng thì dân chủ khó có được khả năng đó. Sự bất ổn nhiều hay ít của xã hội là đương nhiên mỗi khi dân chủ chưa có cơ sở kinh tế – xã hội tương đối chín muồi, ý thức dân chủ của quảng đại quần chúng chưa được xác lập một cách phổ biến. Điều này cũng đã thể hiện các nước châu Phi, ngay cả vào những năm cuối 80 đầu 90, sự yếu kém của dân chủ trên thực tế đã dẫn đến sự phục hồi các thể chế độc đoán, chuyên quyền.
Tại các nước ASEAN, điều này cũng trong một mức độ nào đó biểu hiện ở Philippin dưới chính quyền Côraxôn Akinô, sau khi xóa bỏ chế độ độc tài của Mác-côx (1986) và là nước có truyền thống dân chủ nhiều hơn so với các nước ASEAN khác.
Như vậy có thể nói rằng sự thất bại của nền dân chủ Nghị viện mô phỏng ở các nước ASEAN trong giai đoạn giành và giữ độc lập chủ yếu vì những nguyên nhân sau:
- Mặt trận yêu nước và phong trào chống thực dân giành độc lập dân tộc do các lực lượng của giai cấp tư sản lãnh đạo nhưng là giai cấp tư sản của xã hội gia trưởng phong kiến phương Đông cấu kết với địa chủ.
- Trước khi giành được độc lập, các thiết chế dân chủ Nghị viện đã được thiết lập trong lòng xã hội thực dân nửa phong kiến chỉ là những thiết chế hình thức, được bảo trợ bởi thực dân phương Tây. Sau khi giành được độc lập thì các thiết chế dân chủ đó không thể duy trì được vì không có một lực lượng xã hội thống nhất, thay vào đó là tranh giành quyền lực “giữa ta với mình”, giữa các phe phái.
- Nguy cơ của lực lượng cánh tả sử dụng các thiết chế dân chủ để giành chính quyền làm gay gắt thêm các xung đột xã hội, các phong trào ly khai và kể cả nội chiến. Chính trị trở thành mặt trận chính của các nước này chứ không phải là kinh tế. Ngay cả khi chính quyền đã thuộc về giai cấp tư sản, nhưng đường lối chính trị vẫn chưa hoàn toàn ngả về cánh hữu, lực lượng của liên minh giai cấp tư sản địa chủ vẫn bị đe dọa bởi các lực lượng cánh tả (như thời kỳ “dân chủ chỉ đạo” của Xu-các-nô cuối những năm 50 đầu năm 60).
- Các nước phương Tây quyết tâm giữ vị trí thống trị ở các nước này, mà cách tốt nhất là thông qua một thế lực chính trị độc đoán chuyên quyền thậm chí độc tài, phát xít (một nhóm chóp bu, một tập đoàn, một gia đình hoặc một cá nhân)
2. Từ dân chủ đến độc đoán chuyên quyền Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Cho đến nay có nhiều cách đánh giá về chế độ chính trị độc đoán ở các nước thuộc thế giới thứ ba.
Trước hết, quan điểm phổ biến và phù hợp với thực tế là chế độ độc đoán chuyên quyền trở nên thịnh hành và là chế độ chính trị chủ yếu ở các nước chậm phát triển vào giữa thế kỷ XX khi các nước Á, Phi giành độc lập về chính trị, còn các nước Châu Mỹ la-tinh thì giành được ở một mức độ nhất định sự tự chủ về kinh tế, và chế độ chính trị đó đã trở thành lực lượng quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhiều nước đang phát triển. Vì vậy nhiều người cho rằng chế độ độc đoán chuyên quyền hình như đã trở thành một giai đoạn tất yếu trong quá trình hiện đại hóa chính trị của các nước chậm tiến (2).
Những nhận định trên đây cũng cơ bản phù hợp với các quá trình chính trị diễn ra ở các nước Đông Nam Á.
2.1 Nguyên nhân và điều kiện hình thành chế độ độc đoán chuyên quyền
- Nền chính trị độc đoán chuyên quyền ra đời là phản ứng và là kết quả tất yếu của sự bất lực của chế độ dân chủ hay dân chủ nửa vời, hệ quả của những mâu thuẫn và khủng hoảng kinh tế đã tích tụ trong suốt thời kỳ của nền dân chủ đó (Xu-các-nô ở Indonexia, những năm 50 đến 60; Thái Lan những năm 60 đến 70). Tại thời điểm đó “Tư sản bản địa cần chính quyền mạnh, đó là chính quyền độc đoán”(3).
- Chế độ độc đoán chuyên quyền cũng chưa thể thay thế được chế độ dân chủ nếu chỉ vì khủng hoảng kinh tế – xã hội. Ở đây mâu thuẫn của các thế lực chóp bu về chính trị và kinh tế trong việc lựa chọn con đường phát triển, về các chính sách kinh tế cũng là một nguyên nhân. Chính lực lượng quân đội không chỉ làm nhiệm vụ hậu thuẫn chính trị mà trước hết quân đội cũng có lập trường kinh tế, tham gia quyết định các chiến lược kinh tế khi các lực lượng dân chủ cầm quyền không đưa ra được những chương trình kinh tế, những kế hoạch phát triển kinh tế phù hợp. Về sau, chính các chương trình kinh tế đúng đắn và được bảo đảm thực hiện có hiệu quả là cơ sở để duy trì, củng cố chế độ độc đoán chuyên quyền.
- Cũng phải kể đến vai trò cá nhân của “người cầm lái” và thế lực thân cận (Lý Quang Diệu ở Singapore
- Xu-hát-tô ở Indonexia). Đây là những nhân vật không chỉ có bàn tay cứng rắn để duy trì trật tự mà hơn thế biết đưa ra những tư tưởng chiến lược đúng đắn và tập hợp một lực lượng các chuyên gia đủ sức tiến hành thành công các chương trình, chiến lược đó. d) Chính quyền độc đoán đã nhanh chóng tiếp cận với những thành tựu hiện đại hóa phương Tây, thông qua việc phát hiện, nâng đỡ, sử dụng có hiệu quả những tư tưởng cải cách, trước hết là giới trí thức kỹ nghệ như “nhóm Berkey” ở Indonexia, tin tưởng và giao trọng trách cho họ, giúp chính phủ hoạch định chính sách phát triển kinh tế.
- Sự hậu thuẫn của quân đội, khi lực lượng này nhất trí với chiến lược hiện đại hóa kinh tế của chính quyền và lãnh tụ. Đó không phải là lực lượng trấn áp thuần túy. Quân đội là chỗ dựa để duy trì, ổn định và tiến hành cải cách.
- Xác lập và duy trì một mức độ nhất định các thể chế và thiết chế dân chủ nhằm tạo điều kiện để các tầng lớp xã hội biểu hiện thái độ, ý chí, quan điểm. Các thiết chế chính trị dân chủ tồn tại với vai trò lãnh đạo của giới cầm quyền thông qua một Đảng cầm quyền (Singapore; Indonexia) hay hai đảng chủ yếu (Thái Lan). Những thể chế dân chủ đó là: tự do ngôn luận có giới hạn, đa đảng, nghị viện, các cơ chế hiệp thương khi thành lập chính phủ.
- Chiến lược hiện đại hóa kinh tế xã hội và thành tựu của nó sẽ mở rộng dần cơ sở xã hội của chính quyền, bắt đầu từ sự phát triển về số lượng tầng lớp tiểu chủ tư sản, tử sản lớp trung và trí thức.
Như vậy, chế độ độc đoán chuyên quyền công khai hay có che đậy đều hình thành trong điều kiện khủng hoảng kinh tế – xã hội do sự bất lực của nền dân chủ non yếu hay đúng hơn là sự bất lực của một xã hội không người chèo lái. Và chế độ độc đoán chuyên quyền được đứng vững và củng cố chủ yếu dựa trên một chiến lược phát triển là “ưu tiên kinh tế so với chính trị” , lấy hiện đại hóa kinh tế làm nhiệm vụ chung của quốc gia. Ở những nước ASEAN, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, nếu lấy chính trị làm đầu thì hầu như đều dẫn đến khủng hoảng kinh tế và cuối cùng lại dẫn đến khủng hoảng chính trị (như Philippin). Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Tại Đông Nam Á, trừ Việt Nam, Lào theo mô hình chính trị xã hội chủ nghĩa, còn có Miến Điện đã từng chọn mô hình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với một nền chính trị độc đảng cầm quyền với những thiết chế quyền lực tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ (1962 – 1988). Nhưng Miến Điện đã không đủ sức hiện đại hóa vào những năm 70 – 80 và cuối cùng cũng phải đổi mới và thực hiện thể chế dân chủ. Nói như vậy để thấy rằng đối với các nước thế giới thứ ba, trong đó có các nước ASEAN, độc đoán chuyên quyền có vai trò thúc đẩy hiện đại hóa hơn là dân chủ. Nhưng độc đoán chuyên quyền phải nhằm mục đích hiện đại hóa, có chiến lược hiện đại hóa kinh tế phù hợp với điều kiện đất nước, thực sự kết hợp được những thành tựu khoa học – kỹ thuật, tranh thủ được đầu tư nước ngoài, mở cửa kinh tế v.v…
Chế độ độc đoán chuyên quyền và chế độ độc tài quân sự nói riêng ở các nước Đông Nam Á hình như là một giai đoạn cần thiết của quá trình phát triển chính trị. Điều này cũng gần như là một bước phổ biến cho thấy rằng ở đa số các nước đang phát triển, nền dân chủ tự do không nhất thiết trở thành tiền đề cho hiện đại hoá xã hội. Hầu như tại các nước đang phát triển, những năm 60 – 80 là những năm bước ngoặt, vì chế độ chuyên quyền độc đoán, thậm chí độc tài đã có vai trò lớn trong công cuộc hiện đại hóa (Hàn Quốc, Đài Loan, Chi-lê, Bra-xin, Indonexia, Thái Lan (sau 1980), Singapore). Ở đây, mục tiêu hiện đại hóa kinh tế một cách rõ ràng, với xu hướng chủ yếu là phi tập trung hóa, phi nhà nước hóa, cải cách cơ cấu theo hướng tự do hóa, thị trường hóa thì chính quyền độc tài đều dần dần giành được sự ủng hộ của đa số những lực lượng xã hội theo lập trường hiện đại hóa (trí thức, trung và tiểu chủ, technocrat, và kể cả giới quân sự). Ngược lại, ở một số nước có nền dân chủ bén rễ trong lòng của chế độ thực dân cũ nhưng định hướng hiện đại hóa sai, thì nền chính trị có phần dân chủ tiến bộ hơn đó, lại không phải là phương tiện hữu hiệu để thúc đẩy phát triển đất nước (Ấn Độ, Sri-lan-ca, Ma-đa-gát-ca).
2.2 Hình thức chính trị độc đoán, chuyên quyền ở các nước Đông Nam Á dĩ nhiên có sự khác nhau, biểu hiện thông qua cơ chế bầu cử, đảng phái, vai trò của quân đội, vai trò của chính phủ.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong những năm đầu độc lập, tại các nước Malaysia, Philippin, các hiến pháp được ban hành trong quá trình chuyển giao chủ quyền giữa “mẫu quốc” và thuộc quốc đã chủ
yếu dựa theo khuôn mẫu hiến pháp “mẫu quốc” nhưng thực chất các thiết chế kiểu cộng hòa nghị viện hay cộng hòa tổng thống đều không phù hợp với thực tế của các nước. Kết quả là những năm 60 đầu 70, tại Indonexia, Malaysia, Philippin đều sửa đổi hiến pháp theo hướng độc tài hóa.
Hiến pháp Philippin cũng như hiến pháp Indonexia, đã tăng cường vai trò độc tài của tổng thống và biến các cấu trúc khác của quyền lực nhà nước thành tượng trưng và chịu sự điều khiển của tổng thống và quân đội.
Singapore trong suốt thời kỳ chuyên quyền, thì chính quyền liên tục do Đảng Nhân dân hành động nắm giữ. Nhìn bề ngoài thì là nền dân chủ nghị viện phương Tây, còn trên thực tế cũng là chế độ độc đoán chuyên quyền vì nhà nước do một đảng lãnh đạo. Lãnh tụ Đảng trong ba chục năm là thủ tướng chính phủ, ông Lý Quang Diệu, chính phủ trên thực tế đã quyết định mọi vấn đề và lãnh đạo cơ quan lập pháp. Cho đến nay Đảng Nhân dân hành động vẫn là đảng cầm quyền ở Singapore. Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Cũng là thiết lập chế độ độc đoán chuyên quyền nhưng nếu ở Indonesia, Philipin thực hành chế độ tổng thống và do đó hàng chục năm quyền lực thuộc về cá nhân tổng thống câu kết với giới chóp bu quân đội và tư sản mại bản thì ở Thái Lan trong khuôn khổ quân chủ nghị viện, chế độ độc đoán chuyên quyền được thiết lập bằng các cuộc đảo chính quân sự tuy về hình thức, sự thay thế các chính phủ quân sự không làm thay đổi nền tảng chính trị của quốc gia và hình thức quân chủ lập hiến. Như vậy, mặc dù Thái Lan là nước ít có dấu hiệu độc đoán chuyên quyền nhưng trên thực tế trong những năm cuối 60 và những năm 70, trong bối cảnh kinh tế – chính trị và quân sự tại khu vực và do quyền lợi của các phe nhóm tư sản và quân sự nên chế độ độc đoán chuyên quyền mặc dù không liên tục nhưng cũng đã tồn tại phần lớn thời gian này. Vì vậy, có thể nói “Thái Lan là nước có nền chính trị ổn định trong bất ổn” nghĩa là thường xuyên đảo chính quân sự nhưng chỉ thay thế chính phủ mà không động chạm đến nền tảng kinh tế chính trị chung và do đó không dẫn đến những hành động phản ứng lớn của dân chúng.
Trong số các nước ASEAN thì vào những năm 60 – 70, chỉ có Malaysia là nước có chế độ chính trị dân chủ hơn cả, và trong số các nước đang phát triển, các nước có chế độ dân chủ như Malaysia là rất ít (Ấn Độ, Xi-ri-lan-ca và một vài nước khác).
Nhìn nhận về chế độ độc đoán chuyên quyền của giai đoạn những năm 60 – 70 ở các nước ASEAN như thế nào cho hợp lý với quan điểm hiện đại hóa, có thể có một vài nhận định như sau:
Sự thiết lập nền chính trị chuyên quyền độc đoán (với các hình thức khác nhau) vào thời kỳ này không phản ánh quá trình và bản chất của hiện đại hóa chính trị. Nói cách khác nếu xét về yêu cầu của hiện đại hóa chính trị thì đây là bước lùi so với những năm sau khi giành độc lập. Nhưng xét về vai trò của nó đối với hiện đại hóa xã hội nói chung thì đây là một bước tiến tích cực.
- Sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ dưới chế độ chuyên quyền độc đoán trong quỹ đạo của hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những cơ sở cho sự thay thế chế độ chuyên quyền bằng chế độ dân chủ nhưng là một chế độ dân chủ ít vững chắc.
- Quá trình hiện đại hóa chính trị ở các nước ASEAN cũng như hiện đại hóa nói chung chỉ mới trải qua trên dưới 40 năm là một thời gian quá ngắn. Chế độ độc đoán chuyên quyền trong những điều kiện nhất định là cần thiết vì nó đóng vai trò quyết định thúc đẩy quá trình hiện đại hóa xã hội. Đây là bước quá độ đi đến dân chủ của phần lớn các nước đang phát triển.
- Chế độ độc đoán chuyên quyền ở các nước Đông Nam Á (cũng như các nước đang phát triển theo định hướng tư bản chủ nghĩa) đều duy trì ở một mức độ nhất định những thiết chế và thể chế dân chủ chừng nào chúng không đe dọa sự tồn tại của chính quyền và không đòi hỏi chính quyền thay đổi đường lối chính trị-kinh tế.
- Chế độ độc đoán chuyên quyền ở các nước Đông Nam Á không xã hội chủ nghĩa gắn với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, vì vậy đó là “chế độ chuyên quyền vì sự phát triển”, hay còn gọi là “chuyên quyền của hiện đại hóa”.
3. Dân chủ hóa chính trị ở các nước ASEAN: Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Nửa cuối những năm 80 đầu những năm 90 được gọi là thời kỳ của những cuộc “cách mạng nhung lụa”: Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu nhanh chóng
sụp đổ và chế độ dân chủ với những mô hình cụ thể khác nhau được thiết lập. Cùng với trào lưu dân chủ hóa này là bắt đầu quá trình dân chủ hóa ở các nước thế giới thứ ba. Quá trình dân chủ hóa ở các nước sớm muộn ít nhiều khác nhau nhưng nhìn chung đều gắn liền với mấy nhân tố chủ yếu sau đây:
- Sự khủng hoảng của chế độ độc đoán chuyên quyền;
- Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế thế giới những năm 60 – 70;
- Sự thay đổi chính sách của các trung tâm chính trị thế giới: Mỹ, Liên Xô, cộng đồng Châu Âu, đặc biệt là chính sách cải tổ và dân chủ hóa của Liên Xô;
- Hiệu ứng Đô-mi-nô của quá trình dân chủ hóa bởi hệ thống thông tin toàn cầu.
Trong số các nguyên nhân kể trên thì nguyên nhân đầu tiên là quan trọng nhất: nó chứng tỏ vai trò và khả năng có hạn của chế độ độc đoán chuyên quyền, rằng các chế độ chuyên quyền của nhiều nước đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó, đã tạo ra một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hội nhập thế giới, bước vào ngưỡng cửa cùng các nước công nghiệp phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ….), và một cơ sở xã hội hoàn toàn khác về chất so với ba chục năm về trước. Những tiền đề của dân chủ được hình thành. Chế độ chuyên quyền độc đoán ở nhiều nước đã không thể bảo đảm được một sự tăng trưởng ổn định về kinh tế và tiếp tục nâng cao mức sống của nhân dân. Một số nước đã rơi vào khủng hoảng kinh tế, nhất là các nước Châu Phi và một vài nước Châu Á và Mỹ La Tinh đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, ở một số nước khác, sự tăng trưởng về kinh tế và mức sống của nhân dân (Hàn Quốc, Singapore, Ảrập Sau-đi, Thổ Nhĩ Kỳ…) đã tạo được các tiền đề để mở rộng quyền tự do dân chủ. Nhìn chung, có sự khác nhau nhất định ở các nước nhưng quá trình dân chủ hóa đều phản ánh đòi hỏi cải tổ mô hình chính trị độc đoán chuyên quyền trong đó đã tập trung vai trò của nhà nước quá lớn vào các qúa trình kinh tế là điều phù hợp trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa nhưng không còn phù hợp với giai đoạn tự do hóa. Dĩ nhiên, bên cạnh đó là sự phản ứng xã hội trước những tệ nạn của chế độ độc đoán chuyên quyền trước hết là tham nhũng và đặc quyền đặc lợi. Các thế lực cầm quyền không thể áp dụng những biện pháp trấn áp khủng bố bằng bạo lực các lực lượng đối lập cũngnhư những trào lưu dân chủ như trước nữa.
Các nước Đông Nam Á cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Philipin với sự thay thế chế độ Maccos năm 1986 bằng chính phủ của bà A-ki-no; Mianma 1988: Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa từ bỏ địa vị thống trị và chuyển sang chế độ đa đảng và dân chủ; Thái Lan: cuộc bầu cử khá dân chủ tháng 7-1986; đặc biệt Indonexia: năm 1997 đã kết thúc chế độ độc tài Xuhactô bằng một làn sóng dân chủ hóa; Việt Nam, Lào cũng bước vào đổi mới (1986) và từng bước dân chủ hóa về chính trị. Riêng Singapore: Đảng Nhân dân hành động vẫn là đảng nắm chính quyền nhưng các cuộc bầu cử đã được tiến hành với sự tham gia của các đảng đối lập.
Quá trình dân chủ hóa trong khoảng thời kỳ từ đầu những năm 80 đến nay chưa phải là dài và do đó khó có thể đưa ra một nhận định nào về khả năng bền vững của các thể chế dân chủ ở các nước ASEAN (cũng như ở các nước đang phát triển nói chung), vì những lý do sau đây: Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
- Việc thiết lập những thể chế dân chủ ở các nước Đông Nam Á vẫn trên cơ sở và trong điều kiện xã hội rất phức tạp: tôn giáo, sắc tộc, đặc biệt là trào lưu ly khai, những tư tưởng độc đoán, gia trưởng Phương Đông ăn sâu trong ý thức của nhiều thế hệ, trình độ kinh tế vẫn chưa phải là đồng đều ngoại trừ Singapore, Malaysia.
- Chưa hình thành một ý thức chính trị dân chủ thực sự kiểu phương Tây mà vẫn là sự cạnh tranh chính trị không lành mạnh, nhất là vẫn chưa hình thành được một thể chế chính trị đa đảng được thành lập theo lập trường chính trị- tư tưởng. Đối đầu vẫn có thể thay thế cho đối lập còn đang ở giai đoạn hình thành.
- Mâu thuẫn và xung đột xã hội giữa các tầng lớp và giai cấp vẫn xảy ra. Quân đội vẫn đang tiếp tục có vai trò chính trị to lớn. Nói cách khác chưa có cơ sở xã hội bảo đảm cho dân chủ tồn tại ổn định, mặc dù tầng lớp giữa – trung lưu – đã là lực lượng chủ yếu của hiện đại hóa.
- Những điều kiện về xã hội bảo đảm cho sự nhất trí và hòa hợp (consensus) vẫn chưa đủ chín muồi: còn có khoảng cách quá lớn giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân và tầng lớp hưởng lộc nhiều của sự tăng trưởng: Giới kinh doanh, quan chức nhà nước, trí thức và giới tội phạm. Nói cách khác, xã hội vẫn đang phân hóa gay gắt giữa giàu và nghèo. Tuy nhiên, ý thức độc lập, tinh thần dân tộc nếu được các lực lượng hiện đại hóa biết phát huy như mấy chục năm qua thì đó sẽ là nhân tố đặc biệt quan trọng để đảm bảo cho sự nhất trí, hòa hợp xã hội. Cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và sự nỗ lực chung nhằm khắc phục khủng hoảng, chứng tỏ ý thức tự cường và tinh thần dân tộc ở các nước Đông Á và Đông Nam Á là quan trọng biết chừng nào.
Sự thống nhất ý chí xã hội, tuy nhiên, vẫn không có cơ sở nào chắc chắn hơn là sự phát triển kinh tế. Khủng hoảng kinh tế vẫn là nguyên nhân chính của mọi biến động chính trị – xã hội. Vì vậy, nền dân chủ ở các nước ASEAN chỉ có thể được củng cố trên cơ sở phát triển kinh tế. Khác với các nước công nghiệp phát triển, hình như ở hầu hết các nước đang phát triển, giữa dân chủ và độc đoán chuyên quyền là bức tường ngăn cách thật yếu ớt, kinh tế là hàn thử biểu của dân chủ, các thiết chế dân chủ bị xóa bỏ một cách dễ dàng, các chính phủ lên cầm quyền viết lại Hiến pháp cho mình chứ không phải cho đất nước ngoại trừ một số rất ít các quốc gia như Ấn Độ, Malaysia. Chính vì vậy, các nước ASEAN chỉ có thể hiện đại hóa chính trị, duy trì được dân chủ khi thực sự dựa vào sức mạnh chung của dân tộc (như đã dựa vào nó trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập chứ không phải là lợi ích giai cấp). Thành công của hiện đại hóa xã hội nói chung ở các nước Đông Nam Á đã đạt được cũng xuất phát trước hết chính ở khả năng phát huy nhân tố này. Ở đây cũng cần so sánh trở lại với quá trình hiện đại hóa chính trị truyền thống (hiện đại hóa chính trị tư bản chủ nghĩa) với hiện đại hóa chính trị đang diễn ra trên thế giới với những con đường không thuần nhất hiện nay.
Đặc điểm cơ bản nhất của hiện đại hóa chính trị tư bản chủ nghĩa (trong nhiều thế kỷ) là hiện đại hóa chính trị đi trước hiện đại hóa kinh tế. Các cuộc cách mạng tư sản Châu Âu và Bắc Mỹ đều có mục đích là xóa bỏ các thiết chế chính trị phong kiến và thiết lập chế độ dân chủ tự do, mở đường cho sự phát triển của quan hệ kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Nhà nước dân chủ tư sản trở thành công cụ bảo đảm cho nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát huy hết khả năng trong điều kiện cạnh tranh tự do.
Quá trình dân chủ hóa ở các nước hậu xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ và Đông Âu) là sự tiếp thu vẻ bề ngoài mô hình dân chủ phương Tây, nhưng không thể hòa nhập nhanh chóng vì vậy rất có thể vẫn cần những yếu tố của độc đoán chuyên quyền và những yếu tố của dân chủ XHCN tồn tại hàng chục năm qua, để ổn định việc hiện đại hóa kinh tế.
Không nên tuyệt đối hóa rằng sự tiếp nhận máy móc nền dân chủ phương Tây ở giai đoạn đầu sau khi giành được đôc lập đã không thành công thì phương Đông phải có nền dân chủ riêng của mình. Nhật Bản, cho dù được coi là có một mô hình dân chủ riêng nhưng đó là cách xây dựng nền dân chủ với những yếu tố dân tộc và văn hóa truyền thống mà thôi còn về nội dung thì mô hình dân chủ Nhật Bản cuối cùng cũng là mô hình dân chủ phương Tây. Cải cách Minh Trị trước hết là cuộc cách tân kinh tế, tạo sự đột phá vào cách mạng công nghiệp, khác với cuộc cách mạng tư sản ở Châu Âu là những cuộc cách mạng xã hội giải quyết vấn đề chính quyền. Chế độ quân chủ chuyên chế Nhật Hoàng đã khởi xướng và lãnh đạo quá trình hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa ở Nhật Bản. Nhưng về sau, nền chính trị Nhật Bản đã hiện đại hóa theo những chuẩn mực cơ bản của nền dân chủ phương Tây. Những năm 60 – 80 của thế kỷ XX, dường như nền chính trị ở nhiều nước trong đó có các nước Đông Á và Đông Nam Á đã lặp lại chặng đường hiện đại hóa này của Nhật Bản.
Nếu so sánh mô hình hiện đại hóa chính trị ở các nước Đông Nam Á với các nước Châu Phi và Mỹ La-tinh ta sẽ thấy nhiều điều khác biệt:
Mỹ La-tinh: phần lớn cách mạng tư sản diễn ra vào thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng tư sản Mỹ và mô hình nhà nước Hoa Kỳ. Và như vậy, chế độ cộng hòa dân chủ ở Mỹ La-tinh (trong rất nhiều trường hợp là dân chủ hình thức) mang các yếu tố của nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là mô hình dân chủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những yếu tố dân chủ của Mỹ La tinh không tồn tại bền vững ở nhiều nước, và ở nhiều giai đoạn khác nhau. Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á
Nền dân chủ của Mỹ La-tinh mang nhiều yếu tố chuyên quyền: các chính phủ thay thế nhau bằng nhiều con đường không hợp hiến và mỗi thế lực cầm quyền mới lại ban bố cho mình một hiến pháp nhằm tăng cường quyền lực của chính phủ độc tài và do đó nhiều hiến pháp Châu Mỹ La-tinh chỉ là những lời tuyên ngôn trống rỗng.
Tuy nhiên, các cuộc cải cách hiến pháp diễn ra trong những năm 90 với xu hướng dân chủ đã phản ánh những đòi hỏi và xu thế chung của quá trình dân chủ hóa ở Mỹ Latinh.
Đối với Châu Phi: nền dân chủ ra đời vào những năm 80 – 90 chủ yếu chỉ là sự thích ứng (adaptation) của thế lực cầm quyền trước xu thế chung trên thế giới. Nguy cơ phục hồi chế độ độc đoán chuyên quyền ở Châu Phi có căn cứ hơn so với các khu vực khác. Đặc điểm lớn nhất ở Châu Phi là sự phức tạp về tôn giáo, sắc tộc, dòng tộc, trình độ văn hóa lạc hậu, sự cách biệt quá lớn giữa nông thôn và thành thị, sự đói nghèo v.v… là những nhân tố biến các thế lực chính trị ở nhiều nước Châu Phi thành những tầng lớp đặc quyền đặc lợi, thao túng và nắm yết hầu kinh tế và của cải của đất nước. Vì thế, khó nói đến một nền dân chủ đích thực có thể được thiết lập ở Châu Phi trong cùng nhịp độ với các khu vực khác. Bởi lẽ không phải đa đảng và tự do bầu cử là dân chủ mà là ai đang điều khiển những công cụ tự do dân chủ đó.
Như vậy, Châu Á với mô hình hiện đại hóa kinh tế – xã hội khá thành công đã có những yếu tố bảo đảm cho dân chủ có thể thực sự hình thành và tồn tại. Hàn Quốc, Đài Loan có nhiều nét của nền dân chủ Nhật Bản. Các nước Đông Nam Á đang cố gắng thiết lập được một nền dân chủ ổn định, mặc dù không ít nguy cơ quay lại chế độ độc đoán chuyên quyền nếu như chính quyền không đủ sức tiến hành những chiến lược kinh tế mới. Xung đột tôn giáo, sắc tộc, chủ nghĩa ly khai, sự khủng hoảng kinh tế, tình trạng đói nghèo của một bộ phận lớn dân cư (như Philippin, Indonexia…) đều là những nhân tố có thể gây mất ổn định và đe dọa những thiết chế dân chủ đang hình thành tại khu vực. Vì vậy, dân chủ hóa và hiện đại hóa chính trị tại các nước Đông Nam Á vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố của chuyên quyền. Điều này, đang là một thực tế. Cũng chính vì vậy mà Huntington S.P. – Giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược của Đại học Havard, một trong những người khởi xướng lý thuyết hiện đại hóa đã phải phủ nhận quan điểm của chính mình về sự thiết lập nền dân chủ phương Tây tại các nước thế giới thứ ba. Vào năm 1991, Huntington trong chuyên luận Làn sóng thứ ba: Dân chủ hóa nửa cuối thế kỷ 20” đã vội vàng coi quá trình dân chủ hóa diễn ra cuối những năm 80 là quá trình tiếp nhận tất yếu mô hình dân chủ truyền thống phương Tây. Nhưng chỉ hai năm sau (1993) Huntington đã đột ngột thay đổi quan điểm của mình trong hai bài báo “Sự đụng độ của những nền văn minh” (The clash of the civilizations) và “Những mô hình sau chiến tranh lạnh” (Paradigms of the post- cold war period), Huntington đã phủ nhận quan điểm trước đó của mình. Xuất phát từ sự phân tích các yếu tố văn hóa và truyền thống của các nền văn minh, trước hết là văn minh phương Đông, Huntington cho rằng sự đụng độ của các nền văn minh sẽ quy định nền chính trị thế giới trong tương lai, rằng phương Tây không thể giữ được vị trí độc tôn của mình trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của phương Đông và nhiệm vụ của phương Tây không phải áp đặt mà là duy trì và phát triển những giá trị chân chính của nền dân chủ phương Tây trong sự hòa nhập với phương Đông mà thôi.
Có thể nói rằng quan điểm này của Huntington là phù hợp với triển vọng hiện đại hóa chính trị tại các nước Đông Nam Á, đó là xây dựng một nền chính trị dân chủ kết hợp với việc phát huy những giá trị nhân văn truyền thống, đồng thời khắc phục sự trì trệ, bảo thủ, gia trưởng của chính ý thức phương Đông ấy. Báo cáo: Hiện đại hóa chính trị tại các nước ĐÔNG NAM Á

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
