Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiễt của đề tài:
Vận tải giao nhận là yếu tố không tách rời buôn bán quốc tế. Nói tới buôn bán quốc tế là nói tới giao nhận vận tải. Những năm qua, thực hiện đường lối mở cửa, kim ngạch xuất nhập khẩu, mà đặc biệt là xuất khẩu của Việt Nam không ngừng gia tăng. Hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng phất triển đã thúc đẩy dịch vụ vận tải giao nhận phát triển. Kinh doanh vận tải giao nhận hiện nay rất đa dạng và phong phú với nhiều thành phần, nhiều dịch vụ được cung cấp, đáp ứng nhu cầu đặt ra trong vận chuyển của xã hội đặc biệt là hàng hoá xuất nhập khẩu. Song thực tế cho they hoạt động vận tải giao nhận Việt Nam những năm qua còn tồn tại nhiều bất cập, mà nổi trội là quy mô và hiệu quả của hoạt động. Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực giao nhận vận tải đều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMEs ). Các doanh nghiệp này phát triển dịch vụ rất đa dạng, phong phú nhưng hiệu quả thì không cao, hiện gặp nhiều khó khăn cũng như còn nhiều điểm tồn tại trong kinh doanh. Vì vậy thực tiễn đòi hỏi cần có một phương hướng và giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Mục đích của đề tài: Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Đề tài nhằm các mục đích sau đây:
- Chỉ ra những khó khăn cũng như những điểm còn yếu kém của các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam.
- Trên cơ sở đó, đưa ra một số các giải phát nhằm phát triển các doanh nghiệp doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi đề tài :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp vận tải giao nhận vừa và nhỏ của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: về mặt thời gian, đề tài sẽ nghiên cứu các doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ của Việt Nam trong thời gian năm 2007 trờ lại đây.
Phạm vi giải pháp : các giải pháp được đưa ra chủ yếu là các giải pháp từ phía doanh nghiệp. Các giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước được đưa ra dưới hình thức đề xuất.
4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như tổng hợp, so sánh, phân tích, diễn giải, thống kê.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài nghiên cứu gồm ba chương:
- Chương I : Tổng quan và cơ sở lý thuyết
- Chương II : Thực trạng ,những khó khăn và yếu kém của các công ty giao nhận vận tải nhỏ và vừa tại Việt Nam
- Chương III : Giải pháp phát triển doanh nghiệp giao nhận vận tải vừa và nhỏ ở Việt Nam
Do thời gian nghiên cứu, nguồn tài liệu ,năng lực có hạn ,và vấn đề hiện đang còn mới, nên trong quá trình nghiên cứu và viết khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót và nhầm lẫn rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô cũng như bạn đọc.
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ( DNNVV) Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
1.1.1. Khái niệm DNNVV.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thông nhất về DNNVV. Các quốc gia cũng như các liên kết kinh tế trên thế giới tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mình đưa ra các định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV khác nhau.
Tại Mỹ, định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV có tính đến sự khác biệt giữa các ngành kinh tế. Theo đó:
- Xét theo tiêu chí số lao động tối đa: với ngành sản xuất và khai khoáng có số lao động dưới 500 người, ngành thương mại dưới 100 người.
- Xét theo tiêu chí doanh thu hàng năm: với ngành dịch vụ và thương mại bán lẻ là dưới 6 triệu USD, ngành xây dung vừa và nặng là dưới 28,5 triệu USD, các ngành thương mại đặc biệt là 12 triệu USD, ngành nông nghiệp là 0,75 triệu USD.
Theo EU, DNNVV được xác định theo 3 tiêu chí: số nhân viên, bảng tổng kết tài sản và thu nhập hàng năm. Những DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ là những DN có số lao động dưới 250 người và doanh thu hàng năm không vượt quá 50 triệu Euro hoặc bảnh tổng kết tài sản hàng năm không vượt quá 43 triệu Euro.
Bảng 1. Căn cứ xác định doanh nghiệp vừa, nhỏ, siêu nhỏ của EU
Tại Nhật, tuỳ theo pháp luật hay chế độ mà SMEs trở thành đối tượng được hưởng những ưu đãi chính sách khác nhau, ví dụ như theo Luật thuế doanh nghiệp, SMEs đựơc hưởng mức thuế thấp nằm trong phạm vi những doanh nghiệp có vốn dưới 100 triệu Yên. Theo Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Công thương Nhật Bản định nghĩa như sau: Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Bảng 2. Căn cứ xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật
Tuy nhiên theo nghị định của cơ quan quản lý tài chính SMEs thì những DN sản xuất các sản phẩm cao su có nguồn vốn dưới 300 triệu Yên hoặc có số lao động dưới 900 người, những DN kinh doanh thương mại du lịch có số vốn dưới triệu Yên hoặc có dưới 200 lao động, hay những DN hoạt động trong lĩnh vực phần mềm và xử lý thông tin mà có số vốn dưới 300 triệu Yên hoặc có số lao động dưới 300 người được coi là các SMEs. Còn các DN quy mô siêu nhỏ được định nghĩa như sau:
Bảng 3. Căn cứ xác định doanh nghiệp siêu nhỏ ở Nhật
Các nước ASEAN cũng đưa ra các quy định khác nhau về DNNVV. Theo Singapore, DNNVV có số lao động nhỏ hơn 200 người và tài sản cố định nhỏ hơn 15 triệu đôla Singapore. Malaysia lai chia DNNVV thành DN nhỏ và DN vừa, trong đó DN nhỏ là DN có số lao động dưới 50 người, doanh thu hàng năm dưới 10 triệu ringgit, DN vừa là DN có số lao động từ 51-150 người và doanh thu hàng năm từ 10-25 triệu ringgit.
Tại Việt Nam, khái niệm DNNVV mới chỉ được biết đến từ những năm 1990s trở lại đây. Trước năm 1998, đã có một số tổ chức, địa phương xác định DNNVV dựa trên một số tiêu chí khác nhau như: số lao động (dưới 500 người), giá trị tài sản cố định (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động (dưới 8 tỷ đồng) và doanh thu hàng năm (dưới 20 tỷ đồng). Tại TP HCM, các DN có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người, doanh thu hàng năm trêm 10 tỷ đồng là DN vừa, còn dưới giới hạn trên là DN nhỏ.
Ngày 20/6/1998 Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KCN về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNNVV. Theo công văn này, DNNVV là những DN có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và có số lao động thường xuyên dưới người. Đây có thể coi là văn bản chính thức đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định DNNVV.
Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo qui định của Nghị định này, DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hàng, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá người. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức qui định về DNNVV, là cơ sở để Nhà nước cũng như các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các chính sách và biện pháp hỗ trợ bộ phận DN này.
Các xác định DNNVV của Việt Nam cũng giống như các nước khu vực EU và ASEAN, chưa tính đến sự khác biệt giữa các ngành. Trong khi thực tế là đặc điểm kinh tế giữa các ngành nhiều khi quyết định quy mô DN. Mặt khác định ngành được đề cập trong Nghị định 90 chưa quy định tiêu chí phân chia các DNNVV theo DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa. Điều này đã gây một số khó khăn trong việc xác định trọng tâm hỗ trợ dựa trên quy mô DN trong nôi bộ khu vực DNNVV.
1.1.2. Đặc điểm của DNNVV. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Các ưu điểm của DNNVV
- Linh hoạt trong xử lý tình huống: Với quy mô gọn nhẹ công tác tổ chức sản xuất, được thực hiện nhanh chóng. Công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp cũng góp phần tiết kiệm chi phí quản lý cho DN. Ngoài ra, DNNVV dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh theo đòi hỏi của hoàn cảnh, của thị trường. Trong điều kiện, cạnh tranh quyết liệt hiện nay, DNNVV có thể nhanh chóng thay đổi quyết định, kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ, thậm chí, chuyển đổi mặt hàng để đáp ứng kịp thời sự thay đổi nhanh chóng về sở thích của các nhóm khách hàng tiềm năng.
- Tận thu được nguồn tiềm tàng trong dân: Để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự tích luỹ DNNVV phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn trong dân. Trực tiếp vay vốn từ người dân với những thoả thuận riêng, DNNVV dễ dàng huy động được số vốn cần thiết cho kế hoạch, chiến lược phát triển của mình. Vốn nhàn rỗi từ khu vực tư nhân, từ người thân được tập trung một cách nhanh chóng sẽ giúp họ ứng biến kịp thời với những biến đổi của hoàn cảnh, nâng cao được khả năng cạnh tranh để duy trì, khuyếch trương thương hiệu hoặc thâm nhập thị trương mới, mở rộng thị phần truyền thống.
- Vốn đầu tư ban đầu thấp: Đối với DNNVV, vốn đầu tư ban đầu cho việc xây dung cơ sở vật chất, đất đai, nhà xưởng không lớn, thậm chí có thể tận dụng được mọi nguồn lực có sẵn để tiến hành sản xuất kinh doanh ngay. Ngoài ra, DNNVV cũng có thể hoạt động trong điều kiện phân tán nhỏ lẻ để giảm thiểu mọi chi phí cho các yếu tố đầu vào thông qua việc thuê nhân công giá rẻ, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, giảm công vận chuyển…
Các nhược điểm của DNNVV
- DNNVV hạn chế về quy mô kinh tế tạo nên chi phí lớn: Do tính quy mô về kinh tế mà DNNVV sẽ thu được lợi nhuận ít hơn so với các công ty lớn khác, thông tin mang tính hệ thống và cạnh tranh không hoàn hảo của thị trường tín dụng ngăn cản DNNVV tiếp cận với thị trường tín dụng và những chi phí dành cho hoạt đông nghiên cứu và phát triển không bù đắp được lợi nhuận đã gây ra hiệu ứng dưới mức đầu tư do chuyển giao công nghệ và huấn luyện đào tạo. Do hoạt động của các DNNVV không có tầm ảnh hưởng như các công ty lớn nên tạo ra những chi phí giao dịch như mua nguyên vật liệu và máy móc thiết bị.
- DNNVV thường gặp khó khăn về vốn: DNNVV thường hay gặp vấn đề về thiếu vốn sản xuất và để mở rộng sản xuất. Có thể có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu có nhiều DNNVV không có đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục lập dự án, thủ tục về thế chấp và điều kiện lãi suất, đồng thời, các DNNVV cũng gặp khó khăn và ít có khả năng huy động vốn trên thị trường. Phần lớn các DNNVV luôn ở tình trạng thiếu vốn. Điều này khiến cho khẳ năng thu lợi nhuận của DNNVV bị giới hạn ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất, kéo theo sự hạn chế khả năng tích luỹ.
- Hạn chế trong phát triển khả năng: DNNVV thiếu khả năng quản lý, yếu kém trong phân tích thông tin cũng như không thể tự mình cung cấp những dịch vụ như tài chính, nhân lực, tính hợp pháp….Điều đó có anh hưởng tiêu cực đến tính hiệu quả của DNNVV.
- Bất lợi khi cạnh tranh trên thị trường: Do quy mô nhỏ, các DNNVV không thể có nhiều vốn và trường vốn, không thể có những chiến dịch quảng cáo và tiếp thị lớn nhằm thu hút người tiêu dùng như các DN lớn và cũng không có mạng lưới phân phối rộng khắp như các DN lớn. Do vậy, khả năng phá sản là rât cao
1.1.3. Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế quốc dân Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Góp phần quan trọng vào việc phát triển và ổn định kinh tế xã hội: Luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nhiều nền kinh tế DNVVN luôn có những đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng GDP. Đối với các nền kinh tế ở trình độ thấp, DNNVV thường đạt được tỷ trọng giá trị gia tăng và GDP lớn. Chẳng hạn như ở Malaixia, tỷ trọng giá trị gia tăng mà các DNNVV tạo ra là 36,4%. Phân bố rộng khắp trong các vùng, miền, DNNVV còn đảm bảo cho nguồn thu nhập ổn định của một bộ phận lớn dân cư, góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng.
Tạo việc làm: DNNVV là nguồn thu hút lao động lớn nhất tạo việc làm cho ít nhất là 1/2, thậm chí tới 2/3 lực lượng lao động tuỳ từng quốc gia. Chẳng hạn, ở Canada, các DNNVV tạo ra 42% chỗ làm, ở Đức là 50%, ở Pháp là 47,7%, Đài Loan 79%, Nhật Bản 80,6%. Không chỉ có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực DNNVV với tư cách là DN vệ tinh, còn có mối quan hệ chặt chẽ với các DN lớn, khi tiếp nhận những công đoạn nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh, như gia công chác chi tiết, cung cấp nguyên vật liệu….
Chuyển dịch cơ cấu: Với tính năng động cao, DNNVV tỏ ra nhạy cảm trước những biến động của nền kinh tế và dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh sang những ngành hàng có mức sinh lợi cao. Trong giai đoạn hiện nay, khi những thành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng nhiều vào quá trình tạo ra của cải, dịch vụ cho xã hội, DNNVV với tính linh hoạt cao, chấp nhận rủi ro, càng có điều kiện đi tiên phong trong việc sử dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm tăng năng suất, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị phần, hoặc sẵn sàng mạo hiểm để chuyển sang lĩnh vực tạo được nhiều giá trị gia tăng. Phát triển theo hướng đó, trong khả năng tài chính cho phép, DNNVV dễ dàng rời bỏ những ngành hàng có hàm lượng lao động cao, vốn thấp, giá trị thấp, lợi nhuận thấp chuyển sang những lĩnh vực, ngành hàng có hàm lượng công nghệ cao, vốn cao, giá trị cao, lợi nhuận cao. Điều này góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu để đưa nền kinh tế tiến dần lên trình độ cao hơn. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Hình thành đội ngũ doanh nhân năng động: Do thường xuyên phải thay đổi để giải thích nghi với những biến động của môi trường kinh doanh, các DNNVV tồn tại và phát triển được là nhờ bản lĩnh của chủ doanh nghiệp. Đó là những người dám chấp nhận rủi ro trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với những nguồn vốn hạn hẹp, trong một môi trường chưa thể có đầy đủ những điều kiện thuận lợi cho DNNVV hình thành và phát triển. Song cũng chính những bối cảnh không thuận lợi đó được xem là chất xúc tác đẩy nhanh quá trình hình thành một đội ngũ doanh nhân biết dựa vào chính sức mình. Biết vận dụng trình độ học vấn kết hợp với khả năng nhận thức, khả năng thu thập thông tin, phân tích tình hình thị trường, chủ doanh nghiệp luôn nhanh chóng nắm bắt cơ hội kinh doanh, có những quyết định mạo hiểm, dám đi đầu trong đổi mới, khám phá những lĩnh vực mới, tìm ra những hướng phát triển mới cho DN của mình.
Khai thác tiềm năng phong phú của mọi vùng, miền, của cộng đồng dân cư : Trí tuệ, tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề, kinh nghiệm dân gian, làng nghệ truyền thống với những hương ước nghề nghiệp; những cây, con đặc sản, danh lam thắng cảnh, điều kiện tự nhiên… là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển, mở rộng sản xuất, kinh doanh của DNNVV ở mọi địa phương. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi xu hướng liên kết khu vực và liên kết thế giới đang diễn ra mạnh mẽ tính dân tộc, việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc được tôn vinh thì việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống sẽ là cơ hội để các DNNVV vươn lên, củng cố địa vị và khuyếch trương thương hiệu của mình.
Ưu thế về chi phí và thời gian tiếp cận thị trường: Đây được coi là yếu tố thuận lợi nhất của DNNVV Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu không lớn, DNNVV được tạo lập dễ dàng với chi phí cố định thấp. Và cũng chính bởi quy mô nhỏ, nên chỉ trong thời gian ngắn, DNNVV được thành lập và nhanh chóng tiếp cận với thị trường.
DNNVV dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực mang tầm cỡ quốc tế và nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật: Đây là một lợi thế lớn, DNNVV cần những nhà cung cấp mang lại những lợi thế có sẵn như công nghệ và tri thức nhân loại, nguồn nhân lực có kỹ năng hay cac giải pháp KHCN tiến tiến,…Bên cạnh đo, DNNVV dễ thu hút vốn đầu tư từ nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng do tính hiệu quả, quy mô đòi hỏi nguồn vốn không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh và có khả năng tận dụng hết những tiềm lực về lao động, tài nguyên tại địa phương, trong khi đó các doanh nghiệp lớn vẫn còn gặp khó khăn.
DNNVV năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường: thường có những mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yếu cầu của thị trường chuyên môn hóa, đặc biệt có khẳ năng “len” vào các thị trường “ngách”, Cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn cũng giúp DNNVV dễ dàng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hay điều chỉnh qui mô của mình mà không gây hậu quả lớn cho xã hội. DNNVV cũng có khả năng tạo ra một lượng cung về hàng hóa dịch vụ có thể đáp ứng đầy đủ, kịp thời với giá hợp lý đối với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội.
1.1.4. Các chính sách nhà nước liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Được coi như những tế bào quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, do vậy trong những năm gần đây, Đảng , nhà nước và chính phủ đã có những quan tâm đặc biệt cho việc phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thể hiện cho sự quan tâm này là nghị định số 90/2001/NĐ-CP của chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chính sách trợ giúp được thể hiện từ điều 6 đến điều 11 của nghị định:
Điều 6. Khuyến khích đầu tư
- Chính phủ trợ giúp đầu tư thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng, áp dụng trong một thời gian nhất định đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào một số ngành nghề, bao gồm ngành nghề truyền thống và tại các địa bàn cần khuyến khích.
- Chính phủ khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và thể nhân góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Điều 7. Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ chức tín dụng.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng đề án tổ chức và Quy chế hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Điều 8. Mặt bằng sản xuất
Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng sản xuất phù hợp; chỉ đạo dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản xuất hoặc di dời từ nội thành, nội thị ra, bảo đảm cảnh quan môi trường. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Thị trường và tăng khả năng cạnh tranh
- Các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các thông tin về thị trường, giá cả hàng hoá, trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm.
- Các địa phương trợ giúp việc trưng bày, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm có tiềm năng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để tạo điều kiện mở rộng thị trường.
- Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng hàng hoá và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà nước; các Bộ, ngành và địa phương có kế hoạch ưu tiên đặt hàng và các đơn hàng theo hạn ngạch phân bổ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất hàng hoá và dịch vụ bảo đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu.
- Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp, tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp khác về hợp tác sản xuất sản phẩm, sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây dựng…, nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Thông qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát triển sản phẩm mới, hiện đại hoá quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Điều 10. Về xúc tiến xuất khẩu
- Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cường xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết hợp tác với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ. Thông qua chương trình trợ giúp xúc tiến xuất khẩu, trợ giúp một phần chi phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu thị trường ở nước ngoài. Chi phí trợ giúp được bố trí trong Quỹ hỗ trợ xuất khẩu.
- Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các chương trình xuất khẩu của Nhà nước.
Điều 11. Về thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực
- Chính phủ, các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân địa phương cung cấp các thông tin cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng in-tơ-nét cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa) phối hợp với các cơ quan liên quan và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Chính phủ trợ giúp kinh phí để tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua chương trình trợ giúp đào tạo. Kinh phí trợ giúp về đào tạo được bố trí từ ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo.
- Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực.
- Chính phủ khuyến khích việc thành lập các “vườn ươm doanh nghiệp nhỏ và vừa” để hướng dẫn, đào tạo doanh nhân trong bước đầu thành lập doanh nghiệp.
Sau nghị định 90/2001/NĐ-CP, thủ tướng chính phủ ký quyết định số 236/2006/QĐ-TTg về kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm ( 2006 –2010):
- Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục hành chính và chính sách tài chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
- Đánh giá tác động của các chính sách đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, định kỳ tổ chức đối thoại giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó hướng dẫn và giải đáp các yêu cầu bức thiết cho phát triển kinh doanh.
- Điều chỉnh hệ thống thuế phù hợp nhằm khuyến khích khởi sự doanh nghiệp, đổi mới chế độ kế toán, các biểu mẫu báo cáo theo hướng đơn giản hoá, khuyến khích doanh nghiệp tự kê khai và nộp thuế, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa chống thất thu thuế.
- Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tạo điều kiện để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có quy mô hợp lý và giá thuê đất phù hợp với khả năng của doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại các khu dân cư và đô thị đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
- Sửa đổi, bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các địa phương; khuyến khích phát triển các loại hình ngân hàng, ngân hàng thương mại cổ phần chuyên phục vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó bao gồm cả việc phát triển nghiệp vụ cho thuê tài chính và áp dụng biện pháp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản thế chấp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có dự án khả thi, có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và kinh doanh.
- Đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng cao năng lực quản lý kỹ thuật; khuyến khích việc hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau; phát triển có hiệu quả các chương trình nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ban hành hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng và chứng nhận chất lượng phù hợp với quốc tế. Khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển công nghiệp phụ trợ.
- Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp để có cơ sở dữ liệu đánh giá về tình trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ công tác hoạch định chính sách và cung cấp các thông tin phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kinh nghiệm, ý chí kinh doanh và làm giàu hợp pháp tới mọi đối tượng. Nghiên cứu thí điểm việc đưa các kiến thức về kinh doanh vào chương trình học ở trường phổ thông, đại học, cao đẳng, trung học kỹ thuật và các trường dạy nghề nhằm thúc đẩy tinh thần kinh doanh, phát triển văn hoá doanh nghiệp, tạo sự ủng hộ trong toàn xã hội đối với doanh nghiệp kinh doanh theo pháp luật.
- Phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh (cả về phía cung và phía cầu), hoàn thiện môi trường pháp lý về hoạt động cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh, chú trọng quản lý về chất lượng các dịch vụ. Khuyến khích các tổ chức Hiệp hội thực hiện các dịch vụ phát triển kinh doanh; tích cực triển khai các chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tham gia xây dựng thể chế, chính sách và các chương trình trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường vai trò hỗ trợ của Hiệp hội và thực sự là đại diện lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường năng lực cho các địa phương về quản lý, xúc tiến, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các nhóm giải pháp
- Nhóm giải pháp 1: đơn giản hoá các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh, gia nhập thị trường và các hoạt động của doanh nghiệp.
- Nhóm giải pháp 2: tạo điều kiện tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Nhóm giải pháp 3: tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn vốn, ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, hàng có giá trị gia tăng cao.
- Nhóm giải pháp 4: các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực và cải thiện khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Nhóm giải pháp 5: phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2010.
- Nhóm giải pháp 6: tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Nhóm giải pháp 7: quản lý thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2010.
1.1.5. Các hiệp hội, tổ chức hỗ trợ và xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
- Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – trực thuộc bộ kế hoạch và đầu tư..
- Hội đồng khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
- Website thông tin hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa SMENET.COM.VN.
1.2. Vận tải hàng hóa Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
1.2.1. Khái niệm vận tải hàng hóa
Với ý nghĩa kinh tế, vận tải hàng hóa chỉ bao gồm những sự di chuyển của hàng hóa khi thỏa mãn đồng thời hai tính chất : là hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập.
1.2.2. Phân loại vận tải hàng hóa
Căn cứ vào môi trường và điều kiện sản xuất:
- Vận tải đường bộ ( ôtô ).
- Vận tải đường sắt.
- Vận tải đường hàng không.
- Vận tải đường biển.
- Ngoài ra còn vận tải đường ống.
Căn cứ vào cách tổ chức chuyên chở:
- Vận tải đơn phương thức : hàng hóa được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một loại công cụ vận tải duy nhất.
- Vận tải đa phương thức : hàng hóa được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng ít nhất hai loại công cụ vận tải trở lên, sử dụng một loại chứng từ vận tải duy nhất và chỉ một người chuyên chở chịu trách nhiệm trong suốt quá trình vận chuyển.
- Vận tải đứt đoạn : hàng hóa được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng hai hay nhiều công cụ vận tải khác nhau, sử dụng các chứng từ vận tải khách nhau và có nhiều người chuyên chở tham gia và mỗi người chuyên chở chỉ phải chịu trách nhiệm trong đoạn đường mình vận chuyển.
- Vận tải hàng nguyên : Khối lượng hàng hóa đủ lớn để xếp đầy một hay nhiều toa xe, ôtô, máy bay, tàu biển, container. Ngược lại là vận tải hàng lẻ.
1.2.3. Vận tải đa phương thức, điều kiện để phát trỉển ngành dịch vụ giao nhận vận tải.
Định nghĩa về vận tải đa phương thức.
Vận tải đa phương thức ( Multimodal Transport ) quốc tế hay còn gọi là vận tải liên hợp quốc tế ( International Combined Transport ) la phương pháp vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khách nahu, trên cở sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước này tới một điểm chỉ định một nước khác để giao hàng. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Người kinh doanh vận tải đa phương thức ( Multimodal Transport Operator – MTO ) Hành động như người chủ ủy thác chứ không phải như đại lý của người guiử hàng hay đại lý của người chuyên chở tham gia vào vận tải đa phương thức. MTO chịu trách nhiệm đối với hàng hóa, thời gian.. trong suốt quá trình chuyên chở cho tới khi giao xong hàng cho người nhận.
Hiệu quả của vận tải đa phương thức.
- Tạo ra một đầu mối duy nhất trong việc vận chuyển “door to door” . Người gửi hàng chỉ cần liên hệ với một người duy nhất là MTO để ký kết hợp đồng chuyên chở. Mọi việc liên quan đến chuyên chở hàng hóa, khiếu nại đòi bồi thường mất mát hư hang của hàng hóa đều do MTO lo liệu
- Tăng nhanh thời gian giao hàng : Đạt được điều này là do giảm được thời gian chuyển tải và thời gian hàng hóa lưu kho tại các nơi chuyển tải nhờ có kế hoạch phối hợp nhịp nhàng các phương thức vận tải .
- Giảm chi phí vận tải : Nhờ sự kết hợp của hai hay nhiều phương thức vận tải mà giảm được chiều chi phí và thơi gian vận tải.
- Đơn giản hóa chứng từ và thủ tục : Vận tải đa phương thức sử dụng một chứng từ duy nhất, vận tải đơn đa phương thức. Các thủ tục hải quan và quá cảnh cũng được đơn giản hóa trên cơ sở các hiệp định, công ước quốc tế đa phương hoặc song phương đã được ký kết.
- Tạo ra điều kiện tốt hơn để sử dụng có hiệu quả các công cụ vận tải, phương tiện xếp dỡ và cơ sở hạ tầng, tiếp nhận công nghệ vận tải mới và quản lý hiệu quả hơn hệ thống vận tải thống nhất
- Vận tải đa phương thức tạo ra những dịch vụ vận tải mới góp phần giải quyết công ăn việc làm cho xã hội.
Với những hiệu quả nêu trên của vận tải đa phương thức, có thể nói rằng vận tải đa phương thức chính là công cụ chính của những người giao nhận vận tải, vốn được coi là người tổ chức quá trình vận tải
Tuy nhiên cần phải chú ý rằng, hệ thống vận tải đa phương thức phát triển cần phải dựa vào một nền tẩng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và khoa học công nghệ vận tải phát trỉển.
1.3. Giao nhận trong ngoại thương Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
1.3.1 Khái niệm
Giao nhận là những hoạt động nằm trong khâu lưu thông phân phối, một khâu quan trọng nối liền sản xuất với tiêu thụ, hai khâu chủ yếu của chu trình tái sản xuất xã hội. Giao nhận thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, hoàn thành mặt thứ hai của lưu thông phân phối là phân phối vật chất, khi mặt thứ nhất là thủ tục thương mại đã hình thành.
Giao nhận gắn liền với vận tải, nhưng nó không chỉ đơn thuần là vận tải. Giao nhận mang trong nó một ý nghĩa rộng hơn, đó là tổ chức vận tải, lo liệu cho hàng hoá được vận chuyển, rồi bốc xếp, lưu kho, chuyển tải, đóng gói, thủ tục, chứng từ…Với nội hàm rộng như vậy, nên có rất nhiều định nghĩa về giao nhận.
Theo qui tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA), dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là “bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”.
Theo luật Thương Mại Việt Nam thì “dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục, giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác”.
Như vậy về cơ bản, giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
1.3.2. Đặc điểm của dịch vụ giao nhận.
Do cũng là một loại hình dịch vụ nên dịch vụ giao nhận cũng mang những đặc điểm chung của dịch vụ, đó là nó là hàng hóa vô hình nên không có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của người được phục vụ.
Nhưng do đây là một hoạt động đặc thù nên dịch vụ này cũng có những đặc điểm riêng:
- Dịch vụ giao nhận vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất, nó chỉ làm cho đối tượng thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động về mặt kỹ thuật làm thay đổi các đối tượng đó. Nhưng giao nhận vận tải lại có tác động tích cực đến sự đến sự phát triển của sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân.
- Mang tính thụ động: Đó là do dịch vụ này phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng, các qui định của người vận chuyển, các ràng buộc về luật pháp, thể chế của chính phủ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, nước thứ ba)…
- Mang tính thời vụ: Dịch vụ giao nhận là dịch vụ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu nên nó phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Mà thường hoạt động xuất nhập khẩu mang tính chất thời vụ nên hoạt động giao nhận cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ.
- Ngoài những công việc như làm thủ tục, môi giới, lưu cước, người làm dịch vụ giao nhận còn tiến hành các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, bốc xếp nên để hoàn thành công việc tốt hay không còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh nghiệm của người giao nhận.
1.3.3. Yêu cầu của dịch vụ giao nhận Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Cũng như bất kỳ một loại dịch vụ nào, dịch vụ giao nhận hàng hóa tuy không có những chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng nhưng nó cũng có những yêu cầu đòi hỏi riêng mà người giao nhận phải đáp ứng mới thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng. Một số yêu cầu của dịch vụ này bao gồm:
- Giao nhận hàng hóa phải nhanh gọn. Nhanh gọn thể hiện ở thời gian hàng đi từ nơi gửi đến nơi nhận, thời gian bốc xếp, kiểm đếm giao nhận. Giảm thời gian giao nhận góp phần đưa ngay hàng hóa vào đáp ứng nhu cầu của khách hàng, muốn vậy người làm giao nhận phải nắm chắc quy trình kỹ thuật, chủng loại hàng hóa, lịch tàu và bố trí hợp lý phương tiện vận chuyển.
- Giao nhận chính xác an toàn. Đây là yêu cầu quan trọng để đảm bảo quyền lợi của chủ hàng và người vận chuyển. Chính xác là yếu tố chủ yếu quyết định chất lượng và mức độ hoàn thành công việc bao gồm chính xác về số lượng, chất lượng, hiện trạng thực tế, chính xác về chủ hàng, nhãn hiệu. Giao nhận chính xác an toàn sẽ hạn chế đến mức thấp nhất sự thiếu hụt, nhầm lẫn, tổn thất về hàng hóa.
- Bảo đảm chi phí thấp nhất. Giảm chi phí giao nhận là phương tiện cạnh tranh hiệu quả giữa các đơn vị giao nhận. Muốn vậy phải đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, xây dựng và hoàn chỉnh các định mức, các tiêu chuẩn hao phí, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiệp vụ.
1.3.4. Người giao nhận
Chưa có một định nghĩa thống nhất nào về người giao nhận được quốc tế chấp nhận. Người ta thường hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay các doanh nghiệp giao nhận là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding Agent). Theo FIATA, “người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá”.
Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo luật Thương mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra nhận xét:
- Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ lợi ích của chủ hàng.
- Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải. Anh ta có thể sử dụng, thuê mướn người vận tải. Anh ta cũng có thể có phương tiện vận tải, có thể tham gia vận tải, nhưng đối với chủ hàng ủy thác, anh ta là người giao nhận, ký hợp đồng ủy thác giao nhận, không phải là người vận tải.
- Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo những điều khoản đã cam kết.
Dù ở các nước khác nhau, tên gọi của người giao nhận có khác nhau, nhưng tất cả đều cùng mang một tên chung trong giao dịch quốc tế là “ người giao nhận hàng hóa quốc tế” (international freight forwarder), và cùng làm một dịch vụ tương tự nhau, đó là dịch vụ giao nhận.
1.3.5. Địa vị pháp lý của người giao nhận Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Do chưa có luật lệ quốc tế quy định về lĩnh vực này nên địa vị pháp lý của người giao nhận ở từng nước có khác nhau, tùy theo luật pháp ở nước đó. những nước có luật tập tục (common law) – luật không thành văn, thông dụng trong các nước thuộc khối liên hiệp Anh, hình thành trên cơ sở tập quán phổ biến trong quan hệ dân sự từ nhiều thế kỷ – thì địa vị pháp lý của người giao nhận dựa trên khái niệm về đại lý. Người giao nhận lấy danh nghĩa của người ủy thác (người gửi hàng hay người nhận hàng) để giao dịch cho công việc của người ủy thác.
Hoạt động của người giao nhận khi đó phụ thuộc vào những quy tắc truyền thống về đại lý, như việc phải mẫn cán khi thực hiện nhiệm vụ của mình, phải trung thực với người ủy thác, tuân theo những chỉ dẫn hợp lý của người ủy thác, mặt khác được hưởng những quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm phù hợp với vai trò của một đại lý.
Trong trường hợp người giao nhận đảm nhận vai trò của người ủy thác (hành động cho lợi ích của mình), tự mình ký kết hợp đồng với người chuyên chở và các đại lý, thì người giao nhận sẽ không được hưởng những quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm nói trên, anh ta phải chịu trách nhiệm cho cả quá trình giao nhận hàng hóa kể cả khi hàng nằm trong tay những người chuyên chở và đại lý mà anh ta sử dụng.
Những nước có luật dân sự (civil law) – luật quy định quyền hạn và việc bồi thường của mỗi cá nhân – thì địa vị pháp lý quyền lợi và nghĩa vụ của người giao nhận ở các nước khác nhau có khác nhau. thông thường những người giao nhận phải lấy danh nghĩa của mình giao dịch cho công việc của người ủy thác, họ vừa là người ủy thác vừa là đại lý. Đối với người ủy thác (người nhận hàng hay người gửi hàng) họ được coi là đại lý còn đối với người chuyên chở họ lại là người ủy thác. Tuy nhiên thể chế mỗi nước sẽ có những điểm khác biệt.
Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) đã soạn thảo Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn để các nước tham khảo xây dựng các điều kiện cho ngành giao nhận của nước mình, giải thích rõ ràng các nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của người giao nhận.
Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy định người giao nhận phải:
- Tiến hành chăm sóc chu đào hàng hóa được ủy thác.
- Điều hành và lo liệu vận tải hàng hóa được ủy thác theo chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề có liên quan đến hàng hóa đó.
- Người giao nhận không nhận đảm bảo hàng đến vào một ngày nhất định, có quyền cầm giữ hàng khi khách hàng của mình không thanh toán các khoản phí.
- Chỉ chịu trách nhiệm về lỗi lầm của bản thân mình và người làm công cho mình, không chịu trách nhiệm về sai sót của bên thứ ba, miễn là đã tỏ ra cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba đó.
Những điều kiện này thường được hình thành phù hợp với tập quán thương mại hay thể chế pháp lý hiện hành ở từng nước.
Những nước chưa có Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng sẽ quy định quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mỗi bên.
1.3.6. Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Dù ở địa vị đại lý hay người ủy thác người giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hóa được ủy thác, thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hóa.
Khi đóng vai trò là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân mình và những người dưới quyền (cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp) như giao hàng trái chỉ dẫn, lập chứng từ nhầm lẫn, quên thông báo khiến hàng phải lưu kho, lưu bãi tốn kém, làm sai thủ tục hải quan… Người giao nhận không chịu trách nhiệm về tổn thất do lỗi lầm, sai sót của bên thứ ba (người chuyên chở, người ký hợp đồng phụ, nhận lại dịch vụ…) miễn là người giao nhận đã thể hiện sự cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba đó.
Khi đóng vai trò là người ủy thác thì ngoài những trách nhiệm của đại lý nói trên, người giao nhận còn chịu trách nhiệm về cả những hành vi và sơ suất của bên thứ ba mà người giao nhận sử dụng để thực hiện hợp đồng. Trong vai trò này người giao nhận thường đưa ra “giá trọn gói” chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như đại lý. Người giao nhận thường đóng vai trò người ủy thác khi thu gom hàng lẻ, khi kinh doanh vận tải đa phương thức, khi đảm nhận tự vận chuyển hàng hóa hay nhận bảo quản hàng hóa trong kho của mình. Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Trong việc hình thành những Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người giao nhận được hưởng một số miễn trừ trách nhiệm mà lẽ ra họ phải chịu. Trong luật tập tục, người giao nhận khi hoạt động như người chuyên chở, họ phải chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trừ trường hợp tổn thất do nội tì của hàng hóa, do thiên tai hay những nhân tố khác được miễn trừ trách nhiệm theo luật tập tục.
Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, điều 167 quy định người làm dịch vụ giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người giao nhận có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
- Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thỉ phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.
- Trong trường hợp hợp đồng không có sự thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.
Theo Luật Thương mại Việt Nam, người làm dịch vụ giao nhận không phải chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;
- Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền.
- Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp.
- Do khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ quyền thực hiện việc xếp dỡ hàng hóa.
- Do khuyết tật của hàng hóa.
- Do có đình công.
- Trường hợp bất khả kháng.
- Người giao nhận không chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng về sự chậm trễ hoặc giao nhận hàng sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.3.7. Mối quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Như trên đã nói, người giao nhận là người nhận sự ủy thác của chủ hàng để lo liệu việc vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, mà trong quá trình vận chuyển hàng hóa phải qua rất nhiều giai đoạn, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của rất nhiều cơ quan chức năng. Do đó, người giao nhận cũng phải tiến hành các công việc có liên quan đến rất nhiều bên.
Sơ đồ 1: mối quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan
Chính phủ & các cơ quan chức năng:
- Bộ Thương Mại
- Hải quan
- Cơ quan quản lý ngoại hối
- Giám định, kiểm dịch, y tế,…
Sơ đồ trên biểu thị mối quan hệ giữa người giao nhận với các bên liên quan nhưng không phủ nhận mối quan hệ giữa các bên với nhau, nhưng do phạm vi nghiên cứu giới hạn nên bài viết này không đề cập đến.
Trước hết là quan hệ với khách hàng, có thể là người gửi hàng hoặc người nhận hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, mang nhiều quốc tịch khác nhau. Mối quan hệ này được điều chỉnh bằng hợp đồng ủy thác giao nhận.
Quan hệ với Chính phủ và các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ như: Bộ Thương mại, Hải quan, Giám định, Cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y tế,…
Quan hệ với người chuyên chở và đại lý của người chuyên chở: đó có thể là chủ tàu, người môi giới, hay bất kỳ người kinh doanh vận tải nào khác, mối quan hệ này được điều chỉnh bằng hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, người giao nhận còn có mối quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng, người bảo hiểm.
1.3.8. Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Từ trước đến nay các “Forwarders” vẫn được coi như những người trung gian trong quá trình vận chuyển và giao nhận hàng hoá. Nhiều người cho rằng sự tồn tại của nghề này sẽ không còn được bao lâu nữa bởi lẽ công nghệ thông tin trên mạng toàn cầu đã phát triển mạnh mẽ và trở nên phổ biến, các chủ hàng có thể giao dịch trực tiếp với các nhà vận chuyển lớn.
Tuy nhiên, nhận định như vậy còn quá sớm vì người giao nhận vẫn đóng một vai trò rất quan trọng. Họ là người điều phối làm sao để toàn bộ quá trình vận chuyển hàng hóa được thông suốt. Chúng ta biết thương mại điện tử là rất tốt, nhưng người ta vẫn phải cần một ai đó thực giao nhận món hàng. Các hãng tàu chỉ quan tâm làm sao cho các container của họ được đầy hàng. Các nhà cung cấp hàng hóa đôi khi cũng có thể chấp nhận vận chuyển một container đầy hàng của họ cho một khách hàng nào đó. Nhưng nếu một container lại chứa hàng của rất nhiều người mua thì có lẽ chẳng ai khác ngoài người giao nhận có thể đưa chúng đến tay người mua hàng. Có thể nói, người giao nhận đóng một vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế.
1.3.9. Phạm vi của dịch vụ giao nhận Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Nguời giao nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại lý và thuê dịch vụ của những bên thứ ba khác.
Những dịch vụ mà người giao nhận thường tiến hành là:
- Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở.
- Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi ga cảng.
- Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá.
- Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước.
- Làm thủ tục nhận hàng, gừi hàng.
- Làm thủ tục hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch.
- Mua bảo hiểm cho hàng hoá.
- Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng.
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ.
- Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận.
- Gom hàng, lực chọn tuyến đưòng vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp.
- Đóng gọi bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa.
- Lưu kho, bảo quản hàng hoá.
- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hoá
- Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi..
- Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải.
- Thông báo tổn thất với người chuyên chở.
- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường.
- Không chỉ có vậy, các đại lý giao nhận còn cung cấp gần như mọi nhu cầu đặc biệt của chủ hàng. Trong những năm gần đây, người giao nhận thường cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là MTO và phát hành cả chứng từ vận tải.
1.3.10. Hiệp hội của các doanh nghiệp giao nhận vận tải tại Việt Nam
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam ( Vietnam Freight Forwarders Association ) – VIFFAS
Hiệp hội đại lý và môi giới hàng hải Việt Nam ( Vietnam Ship Agents and Brokers Association ) – VISABA
1.4. Dịch vụ giao logistics, sự phát triển của dịch vụ giao nhận vận tải.
1.4.1 Định nghĩa sơ lược về dịch vụ logistics
Dịch vụ logistics được định nghĩa theo điều 233 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 như sau : Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khách có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để nhận thù lao.
1.4.2. Những nhà cung cấp dịch vụ logistics Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
Logistics bên thứ hai – 2PL ( Second Party Logistics ) : người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ như vận tải, kho bãi, thanh toán,…. để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa có tích hợp hoạt động logistics.
Logistics bên thứ ba – 3PL ( Third Party Logistics ) : Người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, do đó 3 PL tích hợp các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin trong dây chuyền cung ứng.
Logistics bên thứ tư 4PL (Fourth Party Logistics) được coi như tổng thầu của logistics, chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cùng ứng, hoạch định, tư vấn logistics , quản trị vận tải giao nhận….
4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics như nhận hàng từ nơi sản xuất , làm thủ tục xuất nhập khẩu đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng
Logistics bên thứ năm 5PL ( Fifth Party Logistics ) Đây là một khái niệm logistics xuất hiện cùng với sự phát triển của thương mại điện tử. 5PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL, đứng ra quản lý toàn chuối phân phối trên nền tảng thương mại điện tử.
1.4.3 Dịch vụ logistics – sự phát triển cao hơn của dịch vụ giao nhận vận tải.
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như : thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục hải quan… cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho ( door to door ) đúng nơi đúng lúc để phục vụ yêu cầu của khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người được ủy thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh đối với những hành vi của mình. Không phải như trước kia chỉ cần vài chiếc xe tải , kho chứa hàng … là có thẻ triển khai cung cấp dịch vụ vạn tải giao nhận cho khách hàng. Ngày nay, yêu cầu dịch vụ cung cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ phải tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi kiểm tra. Hoạt động vận tải giao nhận đã chuyển sang hoạt động tôt chức quản lý toàn bộ dây chuyền phân phối vật chất và trở thành một bộ phận khăng khí của chuỗi mắt xích cung cầu … Rõ ràng dịch vụ giao nhận vận tải không còn đơn thuần như trước mà được phát triển ở mức độ cao với đầy tính phức tạp. Nguời vận tải giao nhạn trở thành người cung cấp dịch vụ logistics ( Logistics Service Provider ). Khóa luận: Các doanh nghiệp giao nhận vận tải của Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về doanh nghiệp vận tải của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển các DN vận tải ở Việt Nam