Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam xuất khẩu hàng nông sản ra nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM

3.1.1. Xuất khẩu nông sản

3.1.1.1. Thuận lợi

Khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu hàng nông sản cao. Mở rộng thị trường là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu của quá trình chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa. Bên cạnh việc coi trọng thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản được coi là một trong những định hướng chiến lược của phát triển nông nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường quốc tế. Quá trình đó cũng tạo nên sức ép hữu hình thúc đẩy đổi mới quá trình sản xuất, ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ để phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, tài nguyên sinh học đa dạng và nguồn nhân lực dồi dào của nông thôn Việt Nam [4]. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Điều kiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nước ta rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất một số loại rau quả vụ đông có hiệu quả. Trong thời gian này nhiều nước khác không thể trồng trọt được gì, nhưng nhu cầu tiêu thị đó lại lớn. Các đối thủ cạnh tranh như: Thái Lan, Philippin lại kém thế hơn so với Việt Nam [18].

Một số nông sản được các nước trên thế giới ưa chuộng như: nhãn, điều, dứa, lạc…lại có thể trồng được ở Việt Nam trên các đất bạc màu, đồi núi trọc hay trên đất phèn, mặn, trên đất cát hoặc xen canh gối vụ mà không bị các cây trồng khác cạnh tranh, mà trên thực tế vẫn còn những khả năng mở rộng sản xuất.

Một số thị trường như Châu Phi, các nước Trung Đông, Cuba, Nga và các nước Đông Âu có nhu cầu lớn về sản phẩm gạo, cao su, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, rau quả…đồng thời đây cũng là những thị trường được coi là truyền thống và tương đối dễ tính phù hợp với hàng nông sản thực phẩm của Việt Nam [15].

Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại sẽ làm cho giá nhập khẩu các tư liệu sản xuất rẻ hơn, tức là hạ giá thành sản xuất và chế biến các loại hàng nông sản trong nước- tạo thêm ưu thế cạnh tranh.

Thể chế kinh tế chính trị luôn ổn định, môi trường đầu tư và hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng được cải thiện.

Sản xuất nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động. Trong khi đó, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn các nước trong khu vực.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

3.1.1.2. Khó khăn Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Nước ta vẫn là một nước nghèo và kém phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, hiệu quả kinh tế thấp đang là một khó khăn rất lớn tác động đến quy mô và tốc độ phát triển đến năm 2010. Dự kiến cơ cấu sản xuất sẽ được chuyển dịch theo hướng tiến bộ hơn: gia tăng phát triển khu vực công nghiệp, xây dựng và phát triển khu vực dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP, nền kinh tế về cơ bản vẫn còn lạc hậu hơn so với nhiều nước khác, điều đó ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu, hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu nông sản.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhìn chung còn chậm, tuy đã hoàn thành được một số vùng sản xuất tập trung, chuyên canh hàng hóa lớn nhưng do thiếu và không đồng bộ các yếu tố sản xuất (điện, nước, thị trường, vốn, kỹ thuật, công nghệ…) đã làm hạn chế khả năng khai thác, phát huy các tiềm năng và lợi thế so sánh. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa bám sát và theo kịp tín hiệu của thị trường, chưa phải là những chuyển đổi theo chiều sâu. Nên nhiều sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, bên cạnh đó năng suất, chất lượng, giá thành nhiều loại hàng nông sản không có tính cạnh tranh. Mặt khác, quy mô đầu tư vào các khâu để nâng cao khả năng cạnh tranh như: các khâu tiêu thụ của sản phẩm, hoạt động xúc tiến thương mại, lập các trung tâm thương mại, kho ngoại quan ở nước ngoài và các dịch vụ thu ngoại tệ…chưa thỏa đáng và chưa đúng vị trí của nó.

Công nghệ sau thu hoạch và chế biến đã được quan tâm, nhưng nhìn chung còn lạc hậu, chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính. Nhìn tổng thể thì hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn ở dạng thô và sơ chế là chính, hệ số sử dụng công suất các nhà máy chế biến ở nước ta thấp gây lãng phí và hao tổn nguyên vật liệu, nhưng chất lượng chế biến không cao. Đặc biệt sự hao hụt và thất thoát sau thu hoạch còn lớn. Kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc sản xuất và xuất khẩu yếu kém nên giá thành sản phẩm và phí gián tiếp khác tăng nhanh. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua vẫn là thị trường có sức mua thấp thiếu tính bền vững, tính rủi ro cao. Thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là các nước trong khu vực và thị trường Châu Á. Thị trường xuất khẩu tuy nhiều nhưng không vững chắc, nhiều loại nông sản và trong nhiều thời điểm còn phải xuất qua trung gian, nên bị ép cấp và thua thiệt về giá, dẫn đến hiệu quả không cao. Hơn nữa, với thị trường sức mua thấp hoặc tái chế, tái xuất không cho phù hợp với định hướng chiến lược xuất khẩu các sản phẩm có giá trị tăng cao của Việt Nam trong giai đoạn tới. Triển vọng về mở rộng thị trường các nước và khu vực (Châu ÂU, Châu Mỹ, EU, Nhật Bản, Mỹ…) vẫn gặp nhiều khó khăn trước yêu cầu đổi mới và cải tiến liên tục về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, chất lượng, mẫu mã và kể cả các quy định và thông lệ thương mại quốc tế.

Năng lực quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu trong điều kiện tự do hóa thương mại, đặc biệt là marketing, nghiên cứu và dự báo thị trường. Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất và kinh doanh chưa được thiết lập một cách vững chắc

Tổ chức hệ thống kinh doanh xuất khẩu nông sản tuy có nhiều thay đổi nhưng năng lực kinh doanh và tổ chức phối hợp còn bộc lộ nhiều mặt yếu kém, tình trạng lưu thông chồng chéo, tranh mua, tranh bán gây tổn hại tới lợi ích chung và của người sản xuất. Có ba lý do chủ yếu sau:

  • Thứ nhất là: thiếu quy hoạch tổ chức hợp tác, hợp lực một cách chặt chẽ, nên hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp của Trung ương địa phương và của nhiều ngành, nhiều cấp quản lý trên một vùng lãnh thổ cùng tham gia sản xuất kinh doanh một ngành hàng, mặt hàng; nhưng không hình thành rõ ràng quan hệ ngành (giữa sản xuất – chế biến – lưu thông tiêu thụ), vẫn nằm trong tình trạng nhiều nhưng vẫn thiếu, đông nhưng không mạnh, thiếu sự hướng dẫn, điều hành, phân công và phối kết hợp trong hoạt động kinh doanh đã dẫn đến tình trạnh lộn xộn trên thị trường mỗi khi có nhu cầu hàng cho xuất khẩu, mạnh ai nấy làm phân tán cục bộ, tranh mua tranh bán, làm suy yếu lẫn nhau.
  • Thứ hai là: tổ chức chưa tốt thị trường nội địa, đặc biệt thị trường nông thôn…dẫ đến tình trạnh hàng hóa nông sản chưa nhiều, nhưng có hiện tượng ứ đọng thi trường, khó tiêu thụ, giá cả không ổn định. Nông dân bị thua thiệt, mà Nhà nước cũng không được lợi. Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài một mặt thiếu đầu tư đúng mức về xây dựng chiến lược thị trường, mặt khác cơ chế chính sách thị trường và chính sách điều tiết quản lý vĩ mô luôn thay đổi, nhiều khi thiếu tính khách quan. Không ít các doanh nghiệp lúng túng, không định hướng được phương hướng hoạt động kinh doanh.
  • Thứ ba là: tình hình kinh tế, chính trị khu vực và thế giới diễn biến phức tạp dẫn đến việc mỗi Chính phủ phải đưa ra các chính sách tiền tệ, tỷ giá, giá sản phẩm ( nhất là giá tiêu thụ nông sản)… còn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn định, khó dự báo ảnh hưởng không nhỏ tới mở rộng buôn bán trong nước cũng như mở rộng thị trường quốc tế.

3.1.2. Xuất khẩu thủy sản Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

3.1.2.1. Thuận lợi

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam kể từ năm 2000 đến nay tăng trưởng mạnh và hàng thủy sản Việt Nam đã dần xác lập được vị thế của mình trên thị trường thủy sản thế giới. Năm 2000, Việt Nam đứng thứ 11 trong số các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, thứ 5 Châu Á và thứ 3 Đông Nam á. Đến năm 2023, với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 3,5 tỷ USD, và kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2008 đạt 4,53 tỷ USD. Điều đó chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của ngành thủy sản Việt Nam. Sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế đã được nâng cao hơn trước. Chính những thuận lợi sau đã tạo điều kiện cho ngành thủy sản nước ta phát triển [5].

  • Sản phẩm thủy sản có cơ hội thâm nhập thị trường thế giới nhiều hơn, được nhiều nước biết đến Việt Nam nhiều hơn, doanh nhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, trong đó có sản phẩm thủy sản.
  • Trong quá trình mở cửa hội nhập, nhờ có sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những lợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng mà hàng thủy sản Việt Nam có nhiều cơ hội khẳng định vị trí và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
  • Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, các cơ chế chính sách cũng như các quy định về đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh, thú y, thủy sản, về bao bì, nhãn, mác… thường xuyên được rà soát, điều chỉnh và quy định cụ thể, ngày càng thông thoáng. Đồng thời các doanh nghiệp thủy sản sẽ phải tích cực đầu tư mới, đầu tư nâng cấp, đổi mới trang thiết bị với công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề cho người lao động. Vì vậy, năng suất lao động sẽ tăng lên, hạ giá thành sản phẩm và ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đó là tiền đề để hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có mặt sâu, rộng trên thị trường quốc tế và ngày càng được người tiêu dùng các nước ưa chuộng.
  • Việt Nam là nước có tiềm năng lớn để phát triển thủy sản, cùng với yêu cầu mở cửa của tiến trình hội nhập sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tư vào phát triển các mặt hàng thủy sản ở Việt Nam, là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng, sản lượng với giá thành hợp lý, góp phần nâng cao sức năng lực cạnh tranh của mặt hàng này trên trường quốc tế.
  • Nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thế giới có xu hướng tăng lên, cung tăng chậm hơn cầu, tạo điều kiện để thúc đẩy hàng thủy sản của ta vươn ra thị trường thế giới nhiều hơn, thúc đẩy mở rộng thị trường thuỷ sản
  • Quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với các nước tiếp tục phát triển với khuôn khổ pháp lý và tầm quan hệ kinh tế quốc tế mới, tạo điều kiện để xúc tiến các hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản, quảng bá sản phẩm, thương hiệu thủy sản.

3.1.2.2. Khó khăn Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Cạnh tranh về thủy sản trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản của nước ta hiện nay còn thấp do giá nguyên liệu và các yếu tố đầu vào như điện nước, thông tin, vận tải…. của ta cao so với các nước; tỷ trọng cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất còn thấp, năng suất lao động từ khâu sản xuất nguyên liệu đến chế biến thấp, nhiều loại vật tư phục vụ cho nuôi thủy sản còn phụ thuộc vào nhập khẩu như thức ăn, thuốc, hóa chất… trong khi các loại vật tư này chiếm tỷ trọng lớn (60-70%) trong giá thành tôm, cá. Vì vậy, giá thành một số loại sản phẩm cao so với mặt hàng cùng loại của các nước [23].

Quy mô các trại nuôi thủy sản quá nhỏ, việc tổ chức liên kết lại và quản lý xuyên suốt quá trình sản xuất, tiêu thụ và việc áp dụng công nghệ mới trong nuôi thủy sản còn nhiều bất cập, là những thách thức không nhỏ trước yêu cầu đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, an toàn vệ sinh của thị trường thế giới, và trước yêu cầu về môi trường cho phát triển bền vững.

Quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản còn lúng túng các khâu sản xuất nguyên liệu, bảo quản và dịch vụ, chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các thị trường lớn và chưa an toàn trước những rào cản ngày càng cao của các thị trường, chưa hình thành hệ thống quản lý liên hoàn theo chuỗi của từng sản phẩm, từ khâu đầu tiên sản xuất nguyên liệu, đến khâu tiêu dùng trên thị trường và xuất khẩu, trong khi nhiều thị trường đang đòi hỏi phải thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm [21].

Với diễn biến về giá và xu hướng tiêu dùng hiện nay thì xuất khẩu dưới dạng sơ chế, đông block sẽ khó có hiệu quả. Đây là thách thức và ảnh hưởng đáng kể đến khả năng duy trì và tăng cường xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa đầu tư công nghệ và thiết bị mới. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu, cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực chế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm. Tình hình thiếu nguyên liệu vẫn thường xuyên xảy ra, đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn nguyên liệu từ khai thác ngày càng suy giảm, nguồn nguyên liệu từ nuôi trồng có thời vụ và bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh. Số đối tượng xuất khẩu có sản lượng hàng hóa lớn còn nghèo nàn.

Với yêu cầu hạ thấp mức thuế nhập khẩu thủy sản của WTO, cũng như của các nước trong tiến trình hội nhập kinh tế, thủy sản Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm thủy sản đến từ các nước, nhất là thủy sản của các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia.

Là nước đang phát triển ở trình độ thấp nên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, vì vậy, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn thấp. Công tác đào tạo, quản lý vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều doanh nghiệp còn hạn chế về khả năng nắm vững luật pháp quốc tế, nhất là hiểu rõ về pháp luật trong tranh chấp thương mại quốc tế.

Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn, vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không quảng bá được sản phẩm.

Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sẽ chịu tác động rất lớn từ những khó khăn về sản xuất trong nước, cũng như tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, sẽ làm cho các nước nhập khẩu có xu hướng giảm nhập hàng hoá để cân bằng cán cân thương mại và bảo hộ cho nền sản xuất trong nước. Điều đó sẽ dẫn đến sụt giảm trong lĩnh vực xuất khẩu.

3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN

3.2.1. Quan điểm chung về xuất khẩu nông thủy sản

Xuất phát từ mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2010 là thu nhập bình quân đầu người phải đạt 1000 USD, vì thế ngành nông nghiệp và thủy sản có vai trò rất quan trọng và phải giữ vững vị trí ngành kinh tế chủ chốt của nhà nước. Ngành nông nghiệp và thủy sản phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu để thu về nhiều ngoại tệ cho Quốc gia, góp phần vào xây dựng và phát triển kinh tế Việt Nam. Để thực hiện được chức năng của mình, xuất khẩu nông thủy sản phải phát triển dựa trên những quan điểm sau:

  • Xuất khẩu nông thủy sản tiếp tục là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế nông nghiệp, giữ vai trò và vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Quốc gia.
  • Xuất khẩu nông thủy sản phải chuyển sang khai thác lao động kỹ thuật và công nghệ là chủ yếu, phải thường xuyên đổi mới công nghệ, kỹ thuật để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông thủy sản trên thị trường quốc tế.
  • Cơ cấu hợp lý việc sản xuất nông sản và khai thác, nuôi trồng thủy sản, tạo cơ sở vững chắc cho xuất khẩu. Hơn nữa, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
  • Đổi mới công tác quản lý trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông thủy sản, đào tạo để nâng cao trình độ nguồn nhân lực .

3.2.2. Định hướng xuất khẩu nông sản Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

3.2.2.1. Dự báo thị trường nông sản thế giới

Theo dự báo của FAO, nhu cầu về nông sản trên thế giới sẽ tăng mạnh trong nhiều năm tới, và nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng có thể xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, không chỉ ở những nước đói nghèo. Nguyên nhân là do sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc sản xuất nông sản [25]. Bên cạnh đó, diện tích trồng cây lương thực cũng như các loại cây nông nghiệp, mà chủ yếu là lúa gạo đang có xu hướng giảm dần do các nước trên thế giới đang tập trung vào trồng các loại cây nguyên liệu cung cấp cho việc sản xuất các nguyên liệu sinh học thay thế. Vì thế, theo dự báo xuất khẩu nông sản của Việt Nam vẫn sẽ tăng mạnh do nhu cầu về gạo, một mặt hàng chủ lực tăng nhưng xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác sẽ có xu hướng tăng chậm lại do khủng hoảng kinh tế kéo dài và các nước thắt chặt chi tiêu [21].

Trung Quốc: kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng từ 400-500 triệu USD/năm hiện nay lên 700 – 800 triệu USD/năm, gồm các mặt hàng chủ yếu là rau quả, cao su, hạt điều, tinhbột

Nhật Bản: hiện nay, kim ngạch xuất khẩu của nước ta mới đạt khoảng 0,3- 0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản. Mỗi năm, Nhật Bản nhập khẩu khoảng 30 tỷ USD, gồm thịt các loại, rau quả, chè, cà-phê.

Khối ASEAN: kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang các quốc gia thuộc khối này không ổn định, dao động 400-900 triệu USD/năm, chủ yếu là sản phẩm gạo. Theo dự báo, Hiệp định AFTA sẽ tạo cơ hội để nước ta xuất khẩu cà phê, gỗ, vật tư, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến.

Các nước EU: kim ngạch xuất khẩu của nước ta hiện đạt 600 triệu USD/năm với các sản phẩm cà phê, hạt điều, chè, hồ tiêu, rau quả chế biến, đồ gỗ. Thị hiếu tiêu dùng ở thị trường này thường hướng tới sản phẩm có bao bì đẹp, chất lượng cao [23].

Nga và khối Đông Âu: kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân hơn 100 triệu USD với các mặt hàng rau quả, thịt, chè, hồ tiêu. Tuy nhiên, các doanh nghệp nước ta thường gặp khó khăn trong khâu thanh toán và thuế nhập khẩu cao.

Mỹ: là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới với kim ngạch khoảng 1.400 tỷ USD, chiếm 17% tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm sản của nước ta mới đạt 0,4- 0,5% kim ngạch nhập khẩu nông, lâm sản của Mỹ với các mặt hàng rau quả, đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ.

Theo dự báo, trong những năm tới, các thị trường nhập khẩu nông sản của Việt Nam đều có khả năng tăng kim ngạch nhập khẩu. Theo đó, đối với thị trường Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ tăng từ 400 – 500 triệu USD/năm hiện nay lên 700 – 800 triệu USD/năm, gồm các mặt hàng chủ yếu là cao su, hạt điều, tinh bột sắn. Đối với thị trường Mỹ, hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm sản của chúng ta mới chiếm khoảng 0,4 – 0,5% tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm sản của nước này. Đây thực sự là một con số khiêm tốn so với tiềm năng hiện có của ngành nông sản Việt Nam cũng như nhu cầu nhập khẩu của thị trường Mỹ. (Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang các nước thuộc khối ASEAN vẫn luôn phập phù, dao động từ 400 – 900 triệu USD/năm với mặt hàng chủ yếu là gạo. Theo dự báo, Hiệp định AFTA sẽ tạo cơ hội để nước ta xuất khẩu cà phê, vật tư, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biến sang khu vực này [23].

3.2.2.2. Dự báo khả năng xuất khẩu một số mặt hàng Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Gạo

Theo dự báo của FAO, nhu cầu gạo có chất lượng cao sẽ tăng mạnh và nhu cầu gạo có chất lượng thấp sẽ giảm nếu không có những đột biến về thiên tai, khủng hoảng kinh tế hoặc tăng nhu cầu gạo phẩm cấp thấp dành cho chăn nuôi. Kết quả dự báo của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn 2022-2010 là 3,25%/ năm, giới hạn tối đa của xuất khẩu gạo theo phương án ở mức cao là 4 triệu tấn/năm [15]

Cà phê

Lượng xuất khẩu cà phê trong giai đoạn 2022-2010 được dự báo là giảm 2,05%/năm về lượng và tăng 12,86%/năm về giá trị.

Chè

Khả năng cung về chè được dự báo là sẽ cao hơn cầu, và xu hướng dự trữ chè đã chuyển dịch từ các nước xuất khẩu chính sang các nước nhập khẩu chính, đặc biệt là với chè chất lượng cao. Do vậy, nhập khẩu chè trong giai đoạn tới sẽ có mức tăng trưởng thấp hơn. Do vậy, từ nay đến hết năm 2010, xuất khẩu chè Việt Nam sẽ có khả năng chậm lại và chỉ đạt mức tăng bình quân là 5%/năm về lượng và 8,34%/năm về giá trị [15].

Cao su

Giai đoạn cuối năm 2023 đến đầu năm 2008, giá cao su trên thị trường thế giới giảm mạnh do nhu cầu giảm. Dự báo đến hết năm 2010, xuất khẩu cao su tăng không nhiều 2,0%/năm về lượng và 5,1% về giá trị [15].

Hạt điều

Dự báo xuất khẩu điều của Việt Nam sẽ tăng mạnh trong giai đoạn từ 2022 đến hết năm 2010 với tốc độ cao đạt 8,95% về lượng và 18,7% về giá trị xuất khẩu [15].

3.2.3. Định hướng xuất khẩu thủy sản Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

3.2.3.1. Dự báo về thị trường thuỷ sản thế giới

Theo FAO, nhu cầu thực phẩm thủy sản đến năm 2020 sẽ tăng lên khoảng 130-145 triệu tấn do dân số tăng và cung trên đầu người sẽ tăng lên khoảng 17-19kg/người/năm[5].

Trung tâm thủy sản thế giới dự báo đến năm 2020, các nước đang phát triển sẽ chiếm tới 77% tổng lượng tiêu thụ thủy sản toàn cầu và 79% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới. Như vậy từ năm 1997 đến năm 2020, tiêu thụ thủy sản các nước đang phát triển sẽ tăng từ 62,7 triệu tấn lến 98,6 triệu tấn (57%), trong khi các nước phát triển sẽ tăng 4%, từ 28,1 triệu tấn lên 29,2 triệu tấn [6].

Do nghề khai thác thủy sản tự nhiên hiện nay đã hoạt động hết hoặc vượt công suất, Trung tâm thủy sản thế giới cũng dự báo đến năm 2020, trên 40% khối lượng thủy sản được tiêu thụ sẽ do các cơ sở nuôi cung cấp và sản lượng nuôi trồng thủy sản trong hai thập kỷ tới sẽ tăng gấp đôi, từ 28,6 triệu tấn năm 1997 lên 53,6 triệu tấn năm 2020 [7].

Về thị hiếu, dân chúng sẽ chuyển hướng sang tiêu thụ hàng thủy sản tươi sống, đặc biệt là có giá trị cao và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Tuy nhiên, do cạnh tranh giữa các nước sản xuất ngày càng quyết liệt và các thị trường tiêu thụ cũng gây nhiều sức ép nhằm bảo hộ thương mại, nên giá có xu hướng giảm nhẹ. Một số mặt hàng đặc sản bảo đảm các yêu cầu và có chất lượng cao vẫn không có nhiều trên thị trường nên duy trì được giá trị cao.

Trong số các mặt hàng thủy sản, cá hồi, cá ngừ, cá biển vẫn đóng vai trò chính dự báo sẽ tăng ở mức 3,8%. Tôm cũng sẽ tăng, nhưng chỉ ở mức 2,5%. Cá rô phi có nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhờ các lợi thế như giá thành nuôi thấp, sản lượng tăng nhờ nuôi bền vững về mặt sinh thái trong khi các loài cá hồi và tôm đòi hỏi thức ăn có chất lượng cao, môi trường nuôi tốt. Cá có hương vị nhẹ, có thể chế biến theo nhiều khẩu vị khác nhau và được đại đa số người tiêu dùng chấp nhận [21].

Trong bối cảnh chung thế giới đang có nhiều biến động khó có thể lường trước được sẽ ảnh hưởng tới mọi mặt của nền kinh tế, không loại trừ đối với ngành hàng thủy sản xuất khẩu. Tuy nhiên, thực phẩm là nhu yếu phẩm quan trọng, thủy sản vẫn sẽ là loại thực phẩm được sử dụng ngày càng nhiều hơn vì là loại thực phẩm mang lại nhiều chất bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe và ít gây bệnh tật ở người như các bệnh tim mạch, ung thư…., nhất là

trong tình hình các loại dịch bệnh như bệnh bò điên, cúm gia cầm, lở mồm long móng ở các loài gia súc, gia cầm vẫn đang tiếp diễn. Nhu cầu về thủy sản trên thế giới có xu hướng tăng do dân số thế giới ngày càng tăng. Do đó, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu vẫn có nhiều cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, cần đa dạng hóa được mặt hàng, tập trung vào các sản phẩm có lợi thế giá trị cao, giá thành hạ, các loại đặc sản như tôm hùm, nhuyễn thể, rong biển, cua ghẹ…. và để có lợi thế cạnh tranh cần phải có kế hoạch nuôi trồng bền vững, bảo vệ môi trường, nuôi thâm canh đạt năng suất cao và bảo đảm an

Như vậy, dự báo tiêu thụ thủy sản của thị trường thế giới là rất lạc quan và tích cực đối với khả năng tăng trưởng và nhu cầu ngày càng cao đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt nam.

3.2.3.2. Khả năng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu, thứ nhất là do nền kinh tế thế giới đang lâm vào tình trạng khủng hoảng, các thị trường trọng điểm đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền kinh tế suy thoái như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Ý…, và rất khó khăn để có cơ hội phục hồi nhanh chóng; thứ hai là sự cạnh tranh rất khốc liệt giữa các nước sản xuất để có thể nâng cao được giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, và thứ ba là yêu cầu ngày càng cao của các thị trường đối với mặt hàng này, nhất là trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường.

Tiềm năng về diện tích và sản lượng nguyên liệu từ nuôi trồng thủy hải sản được dự báo sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới với quy mô phát triển theo hướng bền vững, gắn liền bảo vệ môi trường sinh thái, hiện đại hóa nhằm phục vụ cho cơ cấu sản phẩm chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển xuất khẩu thủy sản.

Các đối tượng nuôi trồng và khai thác cung ứng cho sản xuất và chế biến xuất khẩu có khả năng tăng theo đích đến năm 2010 cả về năng suất lẫn chất lượng, theo nhóm các sản phẩm chủ lực , cụ thể như sau:

Nhóm sản phẩm tôm: dự kiến đến 2010, sản lượng tôm nuôi đạt khoảng 483.000 tấn để cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu khoảng 385.000-390.000 tấn (khoảng 75-80% tùy từng đối tượng). Trong đó: Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Tôm sú: là đối tượng nuôi chính, mặc dù một số diện tích nuôi tôm sú sẽ chuyển sang nuôi đối tượng khác, nhưng không nhiều và bù lại bằng việc nâng cao năng suất, giảm tỷ lệ tôm chết. Sản lượng tôm sú nuôi đến năm 2010 là 360.000 tấn tôm nguyên liệu, tỷ lệ đưa vào chế biến xuất khẩu khoảng 80%, sản phẩm tôm sú xuất khẩu vào năm 2010 là 160.000 tấn. Vùng nuôi tập trung ở các vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long [5].

Tôm thẻ chân trắng: đây là sản phẩm có hàm lượng giá trị cao mà hiện nay các nước như Thái Lan, Trung Quốc đã chuyển sang nuôi rất có hiệu quả. Do đó, tiềm năng để chuyển sang phát triển nuôi trồng đối tượng này là rất lớn. Diện tích để chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng đến năm 2010 là 22600 ha, sản lượng tôm nuôi đạt 60.000 tấn, đạt sản phẩm xuất khẩu từ tôm thẻ chân trắng là 25.000 tấn. Vùng nuôi tập trung ở khu vực miền Bắc và miền Trung [5].

Tôm hùm: tập trung nuôi tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Định) và một số tỉnh khác, đến năm 2010 khả năng đạt 3.000 tấn, năm 2020 đạt 5000 tấn [5].

Tôm càng xanh: diện tích nuôi đến năm 2010 đạt 32.000 ha, sản lượng đạt 60.000 tấn, tập trung tại các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Tôm từ khai thác: mức sản lượng tôm khai thác từ biển khả năng đạt khoảng 100.000 tấn/năm, tỷ trọng tôm từ khai thác vào chế biến xuất khẩu đạt 50%.

Cá tra, ba sa: cá tra, cá ba sa được nuôi trồng nhiều tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, đến năm 2020 phát triển rộng ra các hồ chứa phía Bắc. Khả năng phát triển đến năm 2010 đạt 800.000-850.000 tấn.

Cá ngừ đại dương: đây là đối tượng có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao, đến năm 2020 khả năng khai thác đạt 50.000 tấn.

Mực và bạch tuộc: sản lượng các loại mực và bạch tuộc đạt khoảng 180.000 tấn, như vậy là có 135.000 tấn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, tương ứng là có 75.000 tấn sản phẩm xuất khẩu [5].

Nhuyễn thể hai mảnh vỏ: diện tích nuôi nhuyễn thể đến 2010 có thể đạt được 20.000 ha bãi, 2000 ha bao, 4000 ha xen canh với tôm và 5000 lồng bè trên biển, khả năng đạt sản lượng chung là 380.000 tấn. Sản lượng khai thác nhuyễn thể hai vỏ ổn định hàng năm là khoảng 150.000 tấn, đưa tổng sản lượng nhuyễn thể hai vỏ đến 2010 đạt khoảng 530.000 tấn [5].

Nuôi cá biển: đối tượng cá biển có thể nuôi khắp trên các vùng biển, diện tích nuôi cá biển có thể đạt 6000 ha đăng quầng, 3.500 ha ao và 70.000 lồng, đối tượng nuôi chủ yếu là cá song, hồng, cam, vược, giò….. Sản lượng có khả năng đạt được là 200.000 tấn, trong đó tỷ lệ cho xuất khẩu đạt 80% [5].

Cá rô phi: với quy mô sản xuất như hiện nay, đảm bảo đủ giống năng suất, chất lượng cao đến năm 2010 có thể đạt được sản lượng cá rô phi khoảng 250.000 tấn, trong đó sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho xuất khẩu từ 130.000 đến 150.000 tấn [5].

Như vậy, với những tiềm năng dự báo như vậy cho thấy xuất khẩu thủy sản trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng trưởng.

3.3. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ HÓA CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Để hoạt động xuất khẩu nông thủy sản phát triển theo định hướng quốc gia đã đề ra ở trên thì rất cần thiết phải xây dựng chiến lược có tầm nhìn dài hạn để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển ngành hàng nông thủy sản nước ta, đặc biệt là đối với các DNN&V. Tuy nhiên, để từng bước xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược này đòi hỏi Chính phủ phải để ra những giải pháp nhằm định hướng cho các doanh nghiệp xuất khẩu và phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước và các doanh nghiệp. Trong phần này, tác giả xin đề xuất một số các giải pháp nhằm cụ thể hóa chiến lược xuất khẩu nông thủy sản cho các DNN&V từ phía Chính phủ.

3.3.1. Các giải pháp vĩ mô thúc đẩy xuất khẩu hàng nông thủy sản Việt Nam

3.3.1.1. Hoàn thiện tổ chức ngành xuất khẩu nông thủy sản

Quy hoạch vùng sản xuất và phát triển hệ thống tiêu thụ phục vụ cho chế biến

Xác định và quy hoạch đầu tư một cách đồng bộ cho các vùng sản xuất hàng hóa tập trung tạo vùng nguyên liệu cao cho chế biến và xuất khẩu. Trên cơ sở các vùng sản xuất, tiến hành xây dựng các công trình dự án cụ thể phát triển từng mặt hàng, ngành hàng để thu hút vốn đầu tư trên từng vùng cụ thể cần có những chính sách ưu tiên xác thực để khuyến khích và hấp dẫn mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế vùng. Tổ chức sản xuất kinh doanh theo vùng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lớn và hiện đại.

Áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với hàng xuất khẩu

Chất lượng hàng hóa xuất khẩu có thể được nâng cao, phải gắn liền với các biện pháp giám sát và kiểm tra chặt chẽ với những chỉ tiêu quy định đối với các mặt hàng và thị trường. Trên cơ sở xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn hàng hóa – dịch vụ xuất khẩu cho phù hợp với thị trường, từ đó mới tạo ra sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam [4]. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Chính sách xuất khẩu

  • Tuy chính sách xuất khẩu đã có nhiều tiến bộ tạo điều kiện thông thoáng và môi trường thương mại thuận lợi với xu hướng chung khuyến khích xuất khẩu nông thủy sản, nhưng cũng có không ít những khó khăn cần tháo gỡ.
  • Một là, bãi bỏ giấy kinh doanh xuất khẩu đối với những mặt hàng nông thủy sản không nằm trong danh mục các mặt hàng Nhà nước quản lý xuất khẩu
  • Hai là, các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế sau khi ĐKKD được tự do giao dịch và quan hệ trực tiếp với thị trường quốc tế và xuất khẩu.
  • Ba là, tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như: cung cấp miễn phí các thông tin về thị trường và các văn bản liên quan đến xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp. Còn các loại thông tin chuyên sâu, thông tin chiến lược, thông tin theo yêu cầu cụ thể thì doanh nghiệp tự mua.

Chính sách thuế xuất nhập khẩu

Đây phải là công cụ định hướng và hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế được xác định là có lợi thế cạnh tranh trong thương mại khu vực và quốc tế, cần được sửa đổi, bổ sung thêm những quy định về giá tính thuế, kê khai, nộp thuế và thời hạn nộp thuế một cách rõ ràng, chặt chẽ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định được nghĩa vụ phải nộp thuế đầy đủ, nghiêm túc.

  • Thứ nhất, điều chỉnh tỷ lệ thuế để lại cho địa phương theo hướng tăng dần để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.
  • Thứ ba, miễn giảm thuế nông nghiệp trong một thời gian cần thiết đối với những sản phẩm cần phát triển mở rộng quy mô.
  • Thứ tư, thực hiện chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp phục vụ xuất khẩu tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
  • Thứ năm, để hỗ trợ cho đổi mới công nghệ nên giảm thuế nhập khẩu với những trang thiết bị máy móc và công nghệ sản xuất – chế biến các nông sản
  • Thứ sáu, nghiên cứu các hình thức bảo hiểm cho các loại cây trồng, các khu nuôi trồng thủy hải sản, hình thành quỹ bảo hiểm từng ngành sản phẩm. Quỹ này dùng để can thiệp thị trường khi giá thị trường đột biến xuống dưới giá sàn định hướng và giúp đỡ sản xuất trong những trường hợp đặc biệt khó khăn do thiên tai. Quỹ được trích từ phần thuế xuất khẩu và các khoản thu và đóng góp khác đối với từng loại hàng hóa.
  • Thứ bảy, tiếp tục triển khai áp dụng các quy định giá tối thiểu cho các loại nông thủy sản xuất khẩu chủ yếu.
  • Thứ tám, chính sách thuế xuất nhập khẩu phải phù hợp với những yêu cầu của thông lệ quốc tế, chống lại những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh.

3.3.1.2. Đổi mới chính sách đầu tư Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Nhà nước cần đặc biệt quan tâm về đầu tư đồng bộ tới quá trình sản xuất – chế biến – tiêu thụ và xuất khẩu, cụ thể đầu tư cho các yêu cầu sau:

  • Thứ nhất, đầu tư cho vùng sản xuất tập trung, hình thành các vùng nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, đặc biệt là thủy lợi)
  • Thứ hai, đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, trong đó chú ý đầu tư nghiên cứu cải tạo giống cây và các giống thủy sản cho năng suất và chất lượng cao được thị trường ưa thích, ứng dụng các kỹ thuật sản xuất tiến bộ gắn liền với chính sách khuyến nông từ trung ương đến cơ sở.
  • Thứ ba, đầu tư cho nâng cấp và đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao khả năng cạnh tranh. Áp dụng chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng bắt buộc đối với các sản phẩm nông sản xuất khẩu để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công nghệ, đặc biệt là công nghệ sạch.
  • Thứ tư, đầu tư trực tiếp cho sản xuất, phải dành sự đầu tư thỏa đáng cho công tác nghiên cứu và phát triển thị trường ở cả tầm vĩ mô và vi mô, tiêu thụ sản phẩm như xây dựng các trung tâm thương mại, các kho ngoại quan ở nước ngoài, các hoạt động xúc tiến thương mại (tham gia triển lãm, hội chợ, cử các đoàn đi khảo sát mở rộng thị trường ở nước ngoài, tìm kiếm đối tác, thu thập và cung cấp thông tin, hướng dẫn cho các doanh nghiệp về luật lệ, tiêu chuẩn, mẫu mã thị trường đòi hỏi…) nhằm xây dựng chiến lược thị trường một cách vững chắc.

Nguồn vốn đầu tư nên được xác định là: Nhà nước tập trung đầu tư cho những khâu đòi hỏi vốn lớn, có tác dụng đến nhiều doanh nghiệp như nghiên cứu khoa học, xây dựng các cơ sở hạ tầng, thành lập các trung tâm thương mại và kho ngoại quan ở nước ngoài, trong các lĩnh vực còn lại Nhà nước chỉ ban hành các chính sách ưu đãi để khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp chủ động đầu tư sản xuất, kinh doanh, hạn chế tới mức thấp nhất, nhanh chóng tiến tới xóa bỏ hoàn toàn cơ chế “xin – cho” trong cung ứng vốn đầu tư, bao cấp trực tiếp hoặc gián tiếp.

Các dự án FDI nuôi trồng, chế biến nông thủy sản phần lớn thiết bị máy móc đã qua sử dụng, đây là một sự chuyển dịch của các nước NICs nhằm đổi mới công nghệ và thiết bị hiện đại tại chính quốc, tận dụng giá trị sử dụng còn lại của thiết bị và khai thác nhân công rẻ tại Việt Nam. Cần áp dụng chính sách đồng bộ để giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự phân biệt về chính sách giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Duy trì môi trường đầu tư ổn định để tạo tâm lý tin tưởng cho các nhà đầu tư. Phát triển hợp lý các khu chế xuất, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài gia tăng xuất khẩu. Mở rộng thị trường nhất là thị trường Mỹ để lôi kéo các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta, xuất khẩu sang các thị trường có dung lượng tiêu thụ lớn.

Tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra thị trường nước ngoài, nhất là đầu tư trong khâu hoàn thiện sản phẩm nông sản, thực phẩm (ví dụ như chế biến và đóng gói chè, cà phê,…) để tránh các hàng rào thuế và phi thuế do nước nhập khẩu đặt ra. Xóa bỏ thủ tục cấp phép thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài và đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản để phục vụ giao dịch trên thị trường nước ngoài.

3.3.1.3. Nghiên cứu thị trường Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản và hành lang pháp lý cho cơ chế vận hành thị trường nước ta, do trình độ sản xuất hàng hóa của các vùng có sự chênh lệch nhau khá lớn, cơ sở hạ tầng lại yếu kém nên câu trúc thị trường còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ cả về mặt pháp lý. Sự điều tiết vĩ mô của Chính phủ trong bối cảnh đó còn bộc lộ nhiều mặt tiêu cực làm cho thị trường và giá cả còn biến động khá lớn, sự khan hiếm và dư thừa nông sản cục bộ và giả tạo (thóc gạo, cà phê, chè, hạt điều, cao su…) Mặt khác chưa khai thác và phát huy tốt thị trường trong nước, nhất là thị trường nông thôn sức mua thấp, nhiều vùng còn hoang sơ, đơn giản, cạnh tranh hỗn loạn và còn nhiều yếu tố đầu cơ trục lợi…[14].

Để thực hiện chủ trương của Đảng trong việc xây dựng đồng bộ các loại thị trường, tạo môi trường cho sự vận động của hàng hóa theo cơ chế thị trường có trật tự, chúng ta cần phải:

  • Một là: không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng cường giao lưu nông sản trên tất cả các vùng đáp ứng nhu cầu sản xuất – tiêu dùng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động xã hội và tăng cường áp dụng đổi mới công nghệ. Từng bước tham gia vào phân công lao động hợp tác quốc tế, thực hiện chính sách thương mại mở. Khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng ở nước ngoài mạng lưới phân phối, đại lý, kho ngoại quan, trung tâm trưng bày sản phẩm hàng hóa, áp dụng các hình thức mua bán thanh toán linh hoạt.
  • Hai là: đa dạng hóa các kênh và cấp độ lưu thông để hàng hóa lưu thông một cách xuyên suốt và nhanh nhất, chi phí thấp nhất từ sản xuất đến các địa chỉ tiêu dùng (trong nước và xuất khẩu). Chú trọng các kênh vừa và nhỏ tương ứng với “quy mô cung – cầu” ở thị trường khu vực. Đồng thời, từng bước xây dựng các kênh và cấp độ lưu thông hàng hóa lớn, thúc đẩy và thống nhất thị trường toàn quốc, đáp ứng cho nhu cầu của các thị trường trên thế giới. Hoàn thiện thương mại trung gian, tạo ra các kênh tiêu thụ hàng hóa lớn, góp phần giải quyết và điều chỉnh quan hệ “cung – cầu” và hướng dẫn sản xuất ( bao gồm: hỗ trợ vốn, khoa học công nghệ cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm…)
  • Ba là: trong cấu trúc thị trường đa dạng nói trên, coi trọng vai trò của mô hình đặc thù: “chợ, tụ điểm thương mại” ở nông thôn. Sự gắn kết các chợ nông thôn, để từng bước hiện đại thị trường thông qua hình thức phát triển các cụm kinh tế – văn hóa kỹ thuật – thương mại – dịch vụ cho các vùng sản xuất hàng hóa và các cơ sở chế biến bảo quản. Quy hoạch hệ thống thương mại góp phần thúc đẩy nhân tố thương mại trong các vùng và nông thôn.

Đối với các vùng sản xuất tập trung nông thủy sản xuất khẩu thì khuyến khích hình thành các hệ thống tiêu thụ dài, sâu và rộng với cấp độ lưu thông tiêu thụ hàng hóa lớn đủ sức cạnh tranh. Tức là, thực hiện tổ chức xây dựng mô hình gắn kết kinh doanh với sản xuât, cơ sở chế biến với vùng nguyên liệu…Tạo nên sự gắn kết giữaTrung ương và người sản xuất bằng các yếu tố: kỹ thuật, vốn, công nghệ và thị trường. Hình thành nguồn hàng và bạn hàng đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới mà được thể hiện trên những vùng nông thôn mới phát triển toàn diện cả về kinh tế – văn hóa – kỹ thuật – dịch vụ – thương mại. Hạn chế độc quyền bằng việc mở rộng các đầu mối xuất khẩu, có các thành phần kinh tế và công ty đa quốc gia tham gia trực tiếp xuất khẩu, độc lập và bình đẳng. Nên tổ chức và quy hoạch lại hệ thống thương mại (bao gồm cả hệ thống thương mại trung gian), tránh các biểu hiện về “nhiễu kênh” gây thiệt hại cho sản xuất và tiêu dùng. Giảm đầu mối thương mại trung gian kinh doanh theo kiểu “ chụp giập, đầu cơ trục lợi” làm rối loạn thị trường. Xác định và quyết định các tổ chức thương mại trung gian, từ đó phải có sự hỗ trợ dưới hình thức như hỗ trợ vốn và kỹ thuật công nghệ cho các hộ sản xuất và nuôi trồng nông thủy sản, định hướng và hướng dẫn nông dân sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. Khuyến khích mở văn phòng đại diện và đại lý ở nước ngoài, gắn kết trách nhiệm lâu dài giữa sản xuất – chế biến và tiêu thụ, nâng cao vị thế của các ngành hàng xuất khẩu. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Đối với những vùng nguyên liệu tập trung cho công nghệ chế biến nông thủy sản, khuyến khích các công ty chế biến, thương mại mở rộng đại lý thu gom nông thủy sản nguyên liệu dưới hình thức hợp đồng với nông dân, tạo gắn kết thương mại chế biến và sản xuất cho hộ nông dân, mở rộng đại lý tiêu thụ sản phẩm từng bước mở rộng và chiếm lĩnh thị trường góp phần ổn định điều hòa thị trường toàn quốc.

Bốn là: mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản nước ngoài: xúc tiến thành lập tổ chức khuyến khích thương mại thộc Chính phủ, có nhiệm vụ khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trao đổi thông tin, khoa học và công nghệ. Tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin về hệ thống thương mại thị trường của Việt Nam và các nước khác, cung cấp dịch vụ điều tra thông tin kinh doanh của các công ty nước ngoài của Việt Nam cho các bên đối tác, dịch vụ thương mại thanh toán quốc tế và các nước có mối quan hệ thương mại với Việt Nam, dịch vụ thông tin quốc tế tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.

Định hướng mở rộng xuất khẩu

Qua nghiên cứu lợi thế, đặc điểm và triển vọng thị trường nước ngoài, thời gian tới với ngành hàng nông thủy sản cần mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong chiến lượng xâm nhập và mở rộng thị trường, cần chọn thị trường trọng điểm, sản phẩm mũi nhọn (có tính chiến lược) cho từng khối, từng khu vực (gây uy tín, tạo hình ảnh sản phẩm Việt Nam…) và lấy đó làm điểm tựa để mở rộng và lan tỏa váo các nước khác trong khu vực và trong cả khối.

Một là: phát triển mạnh công tác thị trường cả ở tầm vĩ mô và vi mô, khắc phục đồng thời hai biểu hiện “chông chờ vào Nhà nước” và “để mặc cho doanh nghiệp”. Đẩy mạnh đàm phán thương mại song phương và đa phương để tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp, cụ thể là đàm phán mở cửa thị trường mới, đàm phán để tiến tới thương mại cân bằng với những thị trường mà ta thường nhập siêu, đàm phán để thống nhất hóa các tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến thực phẩm và đàm phán để nới lỏng các hàng rào phi thuế quan. Tăng cường mạnh mẽ các thông tin về các thị trường từ tình hình chung cho tới cơ chế chính sách nhập khẩu nông sản của các nước bạn hàng, dự báo các chiều hướng cung cầu trên thị trường thế giới và khu vực về các loại hàng hóa xuất nhập khẩu chủ lực của nước ta.

Hai là: đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến xuất khẩu, tăng cường công tác dự báo để định hướng cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản. Tăng cường nghiên cứu các công trình xuất khẩu trọng điểm để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nông sản, thủy sản cho nông dân, nhất là các tỉnh miền Bắc xa xôi thông qua các hoạt động từ điều tra quy hoạch đến tổ chức sản xuất, tổ chức tiêu thụ. Trong lúc tăng cường tìm kiếm thị trường xuất khẩu không được xem nhẹ tiêu thụ hàng hóa nông thủy sản trên thị trường nội địa. Có chế độ khuyến khích thỏa đáng đối với tổ chức và cá nhân (các cơ quan đại diện ngoại giao, ngoại thương của nước ta và nước ngoài) tham gia các hoạt động môi giới, trợ giúp, tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế. tầm vĩ mô, các doanh nghiệp có trách nhiệm dựa vào khung pháp lý và các chính sách khuyến khích của Nhà nước để tổ chức tiếp cận và phân tích, khai thác thông tin; trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với thị trường thế giới thông qua các hội thảo khoa học, hội chợ triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị.

Ba là: để đảm bảo xuất khẩu tốt các sản phẩm, chúng ta cần có sự hiểu biết đầy đủ sâu sắc về các thị trường riêng biệt, cần xây dựng chính sách thích hợp với từng thị trường riêng biệt, chú trọng các thị trường truyền thống, mở rộng ra những thị trường mới.

  • Thị trường ASEAN.
  • Thị trường Trung Quốc.
  • Thị trường Nhật Bản.
  • Thị trường Nga và Đông Âu.
  • Thị trường EU.
  • Thị trường Mỹ.
  • Thị trường Châu Phi.

3.3.2. Các giải pháp hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNN&V xuất khẩu hàng nông thủy sản Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

3.3.2.1. Giải pháp về vốn và công nghệ

Tăng cường năng lực tài chính cho DNN&V

Đây được coi là nhóm chính sách trọng tâm cần giải quyết trong thời gian tới. Để nâng cao năng lực vốn, từ đó làm đòn bẩy để thúc đẩy DNN&V phát triển. Chính phủ nên xem xét thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh việc thành lập và vận hành quỹ bảo lãnh tín dụng, giúp DNN&V có thể vay vốn khi gặp khó khăn về tài sản thế chấp. Quỹ bảo lãnh tín dụng có thể bảo lãnh tín dụng cho các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các dự án kinh doanh có hiệu quả. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quỹ bảo lãnh tín dụng hiện đang được xem là một trong những biện pháp hiệu quả để cải thiện năng lực nguồn vốn cho DNN&V [10].

Ngày 20/12/2017, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 193/2017/ QĐ – TTG về việc thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNN&V. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn cho các DNN&V vẫn là điều mong mỏi với các DNN&V khi chưa tìm ra phương án huy động vốn hiệu quả cho Quỹ. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, phần lớn các quỹ bảo lãnh tín dụng đều có một tỷ lệ nhất định từ ngân sách Nhà nước, số còn lại huy động từ khu vực ngân hàng và các nguồn khác. Trong trường hợp của Việt Nam, chính phủ có thể cân nhắc một phần vốn hoạt động cho quỹ có thể bố trí tư ngân sách Nhà nước và phần còn lại có thể huy động từ nguồn vốn của các tổ chức nước ngoài như JBIC, SNV, UNDP…

Thứ hai, điều chỉnh chính sách về tài sản thế chấp đối với các khoản vay. Hiện nay phần lớn các DNN&V không thể vay vốn ngân hàng vì không có tài sản thể chấp. Do đó nhiều ngân hàng đã cho phép doanh nghiệp dùng tài sản được hình thành từ các khoản vay để thế chấp hoặc dùng hàng hóa làm tài sản thể chấp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu này của ngân hàng về tài sản thể chấp. Trong những trường hợp nhất định, ngân hàng có thể đánh giá tiềm năng và giá trị của các dự án kinh doanh khả thi để cho vay và cùng với doanh nghiệp giám sát việc thực hiện kế hoạch kinh doanh đó để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Lúc đó, ngân hàng có thể coi bản kế hoạch kinh doanh tốt đó như một tài sản thể chấp có giá trị thay cho các tài sản khác.

Thứ ba, mở rộng hình thức tín dụng thuê mua. Mở rộng hình thức tín dụng thuê mua là giải pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn về vốn để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Với hình thức này, các ngân hàng thương mại tháo gỡ được tình trạng “đóng băng” về vốn và đảm bảo an toàn hơn hình thức thế chấp tài sản. Tín dụng thuê mua là loại hình tín dụng trung gian dài hạn, người có nhu cầu vay vốn không nhận tiền mua sắm thiết bị, tài sản cho mình mà nhận trực tiếp tài sản phù hợp với nhu cầu sử dụng. Người đi thuê sẽ thanh toán bằng tiền thiết bị đó theo phương thức trả dần và sau một thời hạn sử dụng nhất định có thể mua lại chính tài sản đó.

Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế được dự báo là sẽ mạnh mẽ hơn và kéo dài đến hết năm 2009 như hiện nay, các ngân hàng thương mại gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh, việc cho vay vốn trung hạn và dài hạn gặp khó khăn.

Thứ tư là giải pháp thị trường hóa các khoản nợ. Hiện nay các DNN&V chiếm dụng vốn lẫn nhau rất nhiều khiến cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn giả tạo. Nhiều khi ngân hàng thương mại cũng phải đeo đẳng các khoản nợ cho vay mà không có cách gì thu hồi vốn trước ngày đáo hạn hoặc đã quá hạn. Vì thế, nhiều nhà kinh tế cho rằng trong nền kinh tế Việt Nam, tín dụng danh nghĩa là ngắn hạn nhưng thực tế nợ phát sinh kéo dài gần như trung hạn và dài hạn. Việc thị trường hóa các khoản nợ thực chất sẽ giúp các DNN&V thoát khỏi tình trạng thiếu vốn do bị chiếm dụng. Thương phiếu sẽ được dùng để ghi giá trị các khoản nợ và được coi là công cụ tín DNN&Vụng thương mại có tác dụng làm lưu thông hóa các khoản nợ ở nhiều nước trên thế giới. Với tờ thương phiếu, khi chủ nợ cần thu hồi vốn trước ngày đáo hạn họ có thể bán món nợ này cho ngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu. Khi ngân hàng thương mại thiếu hụt vốn có thể bán lại món nợ này cho ngân hàng Trung ương với hình thức tái chiết khấu. Nhờ đó, thương phiếu sẽ giúp các doanh nghiệp và các ngân hàng thoát khỏi tình trạng thiếu hụt vốn triền miên trong kinh doanh và giúp cho nhiều DNN&V vượt qua những khó khăn về tài chính.

Thứ năm, cần phải tạo ra một “sân chơi bình đẳng” để tất cả các loại hình doanh nghiệp tuân thủ các thể lệ tín dụng như nhau và được hưởng những ưu đãi và điều kiện tín dụng của Nhà nước như nhau. Về vấn đề này, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm qua đã chứng minh một điều quan trọng là phải đảm bảo để tất cả các khoản tín dụng được thực hiện trên cơ sở phân tích tài chính, chứ không phải bởi các quyết định chính trị, bao gồm cả vốn vay cho các DNN&V. Để đảm bảo được điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải nắm bắt được các thông tin của khác hàng từ nhiều kênh khác nhau, chấn chỉnh hệ thống kế toán, đảm bảo khả năng cập nhập số liệu hằng ngày. Ngoài ra, ngân hàng có thể tư vấn cho các DNN&V cách thức xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh khả thi, quản lý tốt đồng vốn. Xóa bỏ được tình trạng ngân hàng không giải ngân được trong khi các DNN&V lại thiếu vốn.

Giải pháp về công nghệ

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu sắc như hiện nay, các DNN&V Việt Nam sẽ phải giảm bớt sự phụ thuộc của mình vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước và những sản phẩm dựa trên chi phí lao động thấp, để chuyển dịch lên trên trong chuỗi giá trị và tránh cái bẫy chi phí lao động thấp phải có chính sách mới để đảm bảo sự năng động cho nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức, nâng cao năng lực khoa học công nghệ và đảm bảo liên tục năng suất chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ.

Thứ nhất, tạo áp lực đổi mới công nghệ. Nhà nước phải thực thi các chính sách nhằm tạo ra áp lực đổi mới công nghệ, tạo thế chủ động trong quan hệ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với hàng hóa của các nước khác. Chính phủ có thể ban hành các chính sách quy định về thời gian, thời hạn đình chỉ hoạt động đối với DNN&V sử dụng công nghệ cần thay thế, loại bỏ gồm có: công nghệ các ngành thuộc nhóm sản phẩm cạnh tranh và công nghệ tạo mức ảnh hưởng lớn về môi trường. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Thứ hai, cần có các văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thuê mua tài chính, bán trả góp để các DNN&V thiếu vốn có thể nâng cấp máy móc thiết bị tốt hơn. Cho thuê tài chính cho phép các DNN&V tiếp cận được công nghệ hiện đại chỉ với một hợp đồng cho thuê tài chính thay vì phải bỏ ra một khoản tài chính khổng lồ. Sau khi ký hợp đồng, DNN&V sẽ lựa chọn cho mình nững công nghệ hợp lý nhất và tiến hành thuê theo từng kỳ. Trong giai đoạn này, các DNN&V sẽ nhận được những lời khuyên về việc áp dụng công nghệ nào là phù hợp từ các công ty cho thuê có nhiều kinh nghiệm chọn thiết bị , đánh giá tình hình. Như vậy DNN&V vẫn có cơ hội áp dụng những công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh trong điều kiện eo hẹp về vốn.

Cho thuê tài chính cũng giúp cho các DNN&V tránh được tình trạng “ mắc kẹt” trong công nghệ. Nếu như các DNN&V bỏ ra một khoản tài chính không nhỏ đầu tư vào công nghệ thì khi có những biến động nào đó họ sẽ không có cơ hội thay đổi, điều này đặc biệt hay xảy ra trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển hết sức mạnh mẽ như hiện nay, công nghệ rất nhanh chóng bị lạc hậu, vòng đời công nghệ ngày càng bị rút ngắn. Nừu các doanh nghiệp dùng một khoản tài chính lớn đầu tư vào công nghệ và với tình trạng thiếu vốn và quản lý của các DNN&V Việt Nam hiện nay thì họ sẽ có nguy cơ lạc hậu, kết quả là sản phẩm làm ra không đủ sức cạnh tranh. Trong khi đó, máy móc thiết bị chưa khấu hao hết và họ lại rơi vào tình trạng “mắc kẹt” trong công nghệ.

Kinh nghiệm của một số nước trong vấn đề này là họ mở cửa thị trường cho máy móc thiết bị cũ nhằm thu hút kỹ thuật từ nước ngoài, nhưng họ chỉ chấp nhận miễn thuế cho những thiết bị phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế được xác định cho từng thời kỳ. Vì vậy, chúng ta nên áp dụng giống như họ để giúp các DNN&V nâng cao năng lực sản xuất của mình một cách tiết kiệm hơn mà không biến đất nước thành một “bãi rác công nghệ”.

Ngoài ra, nhà nước cần đẩy mạnh việc hỗ trợ về công nghệ cho các DNN&V như thông tin về thị trường công nghệ, các thông tin trợ giúo về mặt kỹ thuật, đào tạo … để các DNN&V chọn lựa được công nghệ thích hợp

Thứ ba, nâng cao chất lượng các dự án đầu tư đổi mới công nghệ. Hiện nay phần lớn các DNN&V ở nước ta đang gặp phải một thực tế là mặc dù đã tiến hành đầu tư nhưng giá thành, chất lượng chưa được cải thiện, hoặc đầu tư quá lớn, không sử dụng hết công suất, vượt quá khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Như vậy để nâng cao chất lượng các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, cần phải tiến hành một số vấn đề sau:

Phải làm tốt khâu nghiên cứu thị trường, từ đó xác định nhu cầu đổi mới công nghệ. Phân tích đối thủ hiện tại và tiềm năng để dự đoán được công nghệ mới đi đôi với các sản phẩm thay thế tiềm ẩn.

  • Phân tích thực trạng công nghệ của doanh nghiệp.
  • Xác định rõ mục tiêu cụ thể của dự án đầu tư đổi mới công nghệ để có giải pháp phù hợp
  • Thứ tư, thay đổi phương thức hỗ trợ vốn phát triển công nghệ. Trước đây, các DNN&V thường chỉ sử dụng phương thức vay tín dụng với các điều kiện thế chấp, tín chấp. Phương thức này vừa hạn chế khả năng huy động vốn tín dụng ngân hàng của các DNN&V, lại vừa tạo ra khe hở. Do đó, phải đa dạng hóa các phương thức hỗ trợ để giải quyết thông suốt trong khâu chuyển giao vốn đầu tư tín dụng nhà nước tới DNN&V. Các phương thức này bao gồm:

Hình thành quỹ nghiên cứu triển khai, chuyển giao thiết bị công nghệ trên cơ sở sử dụng một bộ phận chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học – công nghệ doanh nghiệp. Nguồn vốn từ Quỹ này sẽ hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, tổ chức nghiên cứu khoa học – công nghệ cho DNN&V.

Ứng dụng, phát triển mô hình Nhà nước tổ chức hoạt động thu, đổi thiết bị công nghệ cũ, bán trả góp thiết bị công nghệ mới cho DNN&V. Theo phương thức này, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ tài trợ vốn trả góp cho các đơn vị thương mại thiết bị công nghệ và các đơn vị thương mại giao dịch trực tiếp với các DNN&V với hai nội dung: thu mua thiết bị cũ và bán trả góp thiết bị mới.

3.3.2.2. Giải pháp về quản lý và nguồn nhân lực Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Thiết lập hệ thống giáo dục đào tạo và nâng cao kỹ năng cho các giám đốc và nhà quản lý DNN&V

Hiện nay, số lượng các DNN&V ở nước ta đang tăng lên rất nhanh chóng. Họ tham gia ở tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh luôn luôn thay đổi. Do vậy, đào tạo và quản lý là một quá trình tiếp diễn liên tục và nhu cầu đào tạo quản lý cũng khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Vì vậy, cần có một hệ thống các trung tâm đào tạo chuyên nghiệp để có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu và mục tiêu của từng đối tượng nhà quản lý. Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp có thể là hệ thống các trường đào tạo quản lý cấp Trung ương, rồi sau đó đào tạo lại ở các địa phương:

Tiến hành cung cấp các chương trình đào tạo và nâng cao kỹ năng cho giám đốc DNN&V trong những lĩnh vực mà các trung tâm ở cấp trung ương chưa cung cấp.

Tổ chức các khóa đào tạo cho các cán bộ mới bước vào kinh doanh ở các tỉnh, thành phố.

Cung cấp hỗ trợ về đào tạo quản lý và đào tạo nghề cho DNN&V ở địa phương đó.

Để thực hiện hệ thống này, trong ngắn hạn cần tạo cơ sở vật chất và trung tâm hỗ trợ DNN&V và các trung tâm quản trị kinh doanh đảm nhiệm việc cung cấp các khóa đào tạo ở cấp trung ương, phối hợp với trung tâm hỗ trợ DNN&V của phòng thương mại côn nghiệp, Cục DNN&V thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu Tư. ở cấp địa phương, việc thực hiện các khóa đào tạo sẽ được giao cho các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp sẵn có thuộc các hiệp hội, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện.

Nội dung của các chương trình đào tạo, bao gồm: nhóm kiến thức nhằm trang bị cho chủ doanh nghiệp những hiểu biết khái quát và hệt thống, hỗ trợ họ phá triển chiến lược và kế hoạch kinh doanh; nhóm các chương trình giúp giám đốc doah nghiệp tăng cường khả năng tổ chức kinh doanh của họ; nhóm tiếp theo hỗ trợ các giám đốc doanh nghiệp tiếp cận phương pháp quản lý hiện đại nhằm cải thiện khả năng quản lý và năng suất lao động

Phương pháp đào tạo quản lý cho doanh nghiệp. Hầu hết các phương pháp đào tạo quản lý cho doanh nghiệp đều mang tính tư duy cũ, thụ động và cần phải thay thế bằng một hệ thống phương pháp mới tập trung vào phát huy tính sáng tạo của học viên. Các phương pháp này bao gồm đạo tạo thông qua tình huống thực tế (case study); làm việc nhóm để giải quyết một vấn đề phức tạp … để các học viên có thể học hỏi lẫn nhau. Những phương pháp này sẽ giúp học viên nâng cao khả năng quản lý phù hợp với thực tế

Hỗ trợ tài chính cho đào tạo và đào tạo lại giám đốc, các nhà quản lý DNN&V

Để hỗ trợ càng sớm càng tốt hệ thống đào tạo cho các nhà quản lý DNN&V nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong hiện tại và tương lai, hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước là rất cần thiết. Các hỗ trợ tài chính này sẽ được sử dụng vào các yếu tố quan trọng khác nhau của khóa đào tạo, và tùy vào điều kiện từng địa phương.

3.3.2.3. Giải pháp về tên tuổi thương hiệu và tiếp cận thị trường Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Tổ chức các kênh thông tin thương mại hiệu quả đến doanh nghiệp và tổ chức tuyên truyền thương hiệu.

Tìm kiếm và xử lý thị trường để nắm bắt các cơ hội kinh doanh là khâu yếu kém nhất của các DNN&V Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin từ phía các cơ quan chức năng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp khi chưa có những thông tin chuyên sâu cho doanh nghiệp để giúp họ đưa ra các quyết định kinh doanh của mình. Chúng ta có thể học tập các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật… tổ chức dịch vụ nghiên cứu thông tin theo yêu cầu của doanh nghiệp. Các cơ quan chức năng cần xem xét, tăng cường hoạt động của các kênh thông tin thương mại để chúng hoạt động thật sự hiệu quả, đem đến cho doanh nghiệp những thông tin cần thiết, kiph thời.

Chúng ta nên thành lập nhiều hơn nữa những sàn giao dịch điện tử có uy tín cao để các doanh nghiệp có cơ hội trưng bày, giới thiệu sản phẩm trên internet. Đây sẽ là đầu mối cung cấp thông tin thị trường, đối tác, sản phẩm và là nơi hỗ trợ giao dịch trực tuyến cho phép các doanh nghiệp tham gia đam phán, ký kết hợp đồng, thực hiện nhiệm vụ xúc tiến thương mại và phát triển thương mại. Phương pháp giao dịch này mang lại cho doanh nghiệp sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam tiếp cận thị trường rộng lớn và người tiêu dùng rộng lớn, sử dụng công nghệ giao dịch hiệu quả với những thông tin chi tiết, sinh động, mà không bị giới hạn về không gian, đồng thời giảm được chi phí quảng cáo, giao dịch. Tuy nhiên, để tạo ra các sàn giao dịch kiểu này, các doanh nghiệp phải đủ năng lực xuất khẩu và các DNN&V cũng phải cam kết về khả năng cung cấp hàng theo như hợp đồng để từng bước nâng cao chất lượng của các sàn giao dịch điện tử này. Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

Hàng năm, Cục sở hữu trí tuệ nên có thông báo tương tự như niên giám để công bố tất cả những nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã đã đăng ký trong năm đó. Hiện nay, có một thực tế là nhiều doanh nghiệp muốn biết về các nhãn hiệu đã đăng ký trước nhãn hiệu của mình để tránh trung lặp thì không thể tìm được nguồn thông tin. Vì thế, các cơ quan chức năng nên công bố rộng rãi các thông tin này để tạo điều kiện tìm hiểu thông tin về đăng ký nhãn hiệu cho các DNN&V.

Một vấn đề hết sức cấp thiết là Nhà nước nên bỏ tiền và mời các chuyên gia tổ chức ngay những đợt tập huấn rộng rãi cho các DNN&V xuất khẩu về luật sở hữu công nghệ, xây dựng và bảo vệ thương hiệu trên thị trường trong nước và nước ngoài. Bởi vì thực tế hiện nay, các doanh nghiệp chỉ quan tâm tới làm thế nào để có nhiều khách hàng, và xuất khẩu với số lượng lớn mà không chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu, cũng như bảo vệ sản phẩm của mình theo luật sở hữu công nghiệp.

Hỗ trợ DNN&V trong việc xây dựng, quảng bá thương hiệu ở nước ngoài 102 Để hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và quản bá thương hiệu thì xúc tiến thương mại là một hoạt động rất quan trọng. Để thực hiện các biện pháp này, các cơ quan chức năng cần:

Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại của các tổ chức xúc tiến thương mại cho DNN&V như:

  • Tổ chức các đoàn doanh nghiệp ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam nghiên cứu, khảo sát thị trường.
  • Tìm kiếm bạn hàng và cơ hội kinh doanh
  • Tổ chức hoặc tham gia hội chợ triển lãm thương mại ở trong nước và nước ngoài
  • Quảng cáo hàng hóa
  • Phát triển thông tin thương mại
  • Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài.

Tăng cường cử cán bộ để tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến khích các doanh nghiệp đặt cơ sở ở nước ngoài dưới các hình thức thích hợp như đại diện thường trú, văn phòng liên lạc, đại diện ủy thác để tiến hanh xuất khẩu

  • Thành lập quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại
  • Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu và hoạt động xúc tiến thương mại
  • Tổ chức cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở kết quả điều tra, dự báo.

KẾT LUẬN

Một quốc gia đang phát triển và chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ như Việt Nam, thì khu vực DNN&V, điển hình là các DNN&V xuất khẩu ngành hàng nông thủy sản còn được khẳng định với vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Đó là: xóa bỏ đói nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo sự cân bằng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, tạo ra sự phát cân bằng cho nền kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế đang chịu những tác động mạnh mẽ, có những mối đe dọa nghiêm trọng tới toàn ngành xuất khẩu nông thủy sản và đặc biệt là khu vực DNN&V còn non yếu về nhiều mặt này.

Như vậy, tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam phải nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNN&V để khu vực doanh nghiệp này để hạn chế thấp nhất những bất lợi cho các DNN&V khi hội nhập với thị trường quốc tế. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải xây dựng một chiến lược có tầm nhìn dài hạn để phát triển cho khu vực các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông thủy sản ra nước ngoài, để từ đó đẩy mạnh tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu ngành hàng nông thủy sản và thực hiện những mục tiêu phát triển quốc gia. Mặc dù chiến lược được thiết lập trong dài hạn, nhưng trong bối cảnh kinh tế hiện nay, những biến động kinh tế thường xuyên diễn ra, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang được dự báo là sẽ kéo dài đến hết năm 2009 sẽ khiến cho cả nền kinh tế thế giới lao đao và làm giảm mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng nông thủy sản Việt Nam, nên em cũng phân tích những thực trạng cũng như những giải pháp hiện thời nằm trong chiến lược để thích nghi một cách linh hoạt với những sự biến động kinh tế đang và sẽ diễn ra.

Để thực hiện thành công chiến lược, phải có sự phối hợp chặt chẽ cả từ phía các DNN&V và về phía Nhà nước, nhưng những tác động từ phía Nhà nước để hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho các DNN&V hoạt động là quan trọng hơn và yêu cầu phải được thực hiện một cách kịp thời, nhanh chóng. Vì thế, trong bài viết này, em chỉ cố gắng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược vĩ mô từ phía Chính Phủ để tạo ra điều kiện thuận lợi giúp khu vực DNN&V từng bước phát triển Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Giải pháp xây dựng chiến lược lâu dài cho các DN

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464