Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt và triển vọng phát triển tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:

Trên thị trường hiện nay sự cạnh tranh giữa các doanh ngiệp bán lẻ rất khốc liệt, không chỉ về sản phẩm, dịch vụ hay giá cả mà còn về phương thức bán hàng. Đáp ứng sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của người dân Việt Nam, nhất là những người tiêu dùng trẻ tuổi, trong thời gian gần đây đã xuất hiện một số mô hình bán hàng rất thành công như Siêu thị nội thất Mê Linh Plaza, Cửa hàng Thế giới di động, Siêu thị điện máy Media Mart, Siêu thị điện máy Nguyễn Kim, hay Quần áo xuất khẩu Made in Việt Nam… Những mô hình nêu trên không chỉ thành công về quy mô, doanh số mà cả cách thức quản lý và phân phối sản phẩm. Những mô hình bán hàng như thế gọi là mô hình bán lẻ chuyên biệt. Tuy rằng đây là một phương thức bán hàng khá mới mẻ nhưng đã nhanh chóng phát triển và được áp dụng rộng rãi tại thị trường Việt Nam. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Xác định được định hướng cho mô hình phân phối, cách thức quản lý và xúc tiến bán hàng là yếu tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp bán lẻ. Không giống với các loại hình khác, khi lựa chọn mô hình bán lẻ chuyên nghiệp, các doanh nghiệp chỉ tập trung vào một nhóm mặt hàng riêng biệt. Nhờ đó, hệ thống bán hàng sẽ chuyên sâu vào mặt hàng mình bán về nhãn hiệu, nhà sản xuất và chất lượng vì vậy, khách hàng cũng có xu hướng ưa thích những cửa hàng chuyên biệt với sự đa dạng của chủng loại mặt hàng trong một ngành sản phẩm, sự phục vụ, tư vấn chuyên nghiệp của đội ngũ bán hàng.

Với những lợi thế của mô hình bán lẻ chuyên biệt, các doanh nghiệp ngày càng có xu hướng lựa chọn mô hình này trong chiến lược kinh doanh của mình. Nhưng vì đây là mô hình khá mới mẻ ở Việt Nam nên các doanh nghiệp hầu như chưa được hiểu biết rõ ràng về đặc điểm thuận lợi cũng như hạn chế của mô hình. Bài học tiêu biểu nhất chính là sự sụp đổ của hệ thống chuyên bán lẻ điện thoại di động Nettra sau 13 tháng vận hành. Do đó, việc nghiên cứu những đặc điểm của mô hình này để áp dụng mô hình này cũng như triển phát triển trong điều kiện thị trường ở Việt Nam là hết sức cần thiết.

Bởi vậy, bài khóa luận với đề tài “Mô hình bán lẻ chuyên biệt và triển vọng phát triển ở Việt Nam” nghiên cứu một số mô hình bán lẻ chuyên biệt tiêu biểu trên thế giới, đồng thời phân tích sự sụp đổ của hệ thống kinh doanh điện thoại di động Nettra để rút ra bài học cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đẩy mạnh sự phát triển của mô hình bán lẻ chuyên biệt ở Việt Nam trong giai đoạn sau này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Khoá luận nhằm vào các mục đích chính sau:

  • Làm rõ những lý luận chung về mô hình bán lẻ chuyên biệt, các yếu tố cấu thành và tạo ra tính cạnh tranh cho mô hình.
  • Phân tích một số mô hình bán lẻ chuyên biệt tiêu biểu trên thế giới cũng như tại Việt Nam để thấy được nguyên do thành công và thất bại đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng mô hình.
  • Đánh giá triển vọng phát triển của mô hình này tại thị trường Việt Nam trong tương lai và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Mô hình bán lẻ chuyên biệt trên thế giới và tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình bán lẻ chuyên biệt và cách thức các doanh nghiệp xây dựng và quản lý mô hình, cách nhân tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến sự thành bại của mô hình.

Thời gian: từ năm 2000 trở lại đây (do mô hình mới phát triển mạnh) và triển vọng cho giai đoạn 2009 – 2011.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

  • Nghiên cứu tại bàn trên cơ sở các tài liệu trên mạng và sách in về các lý luận, lý thuyết bán lẻ và bán lẻ chuyên biệt.
  • Suy luận logic tổng hợp đối với các điều kiện xây dựng mô hình bán lẻ chuyên biệt, và các nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến mô hình.
  • Phân tích thống kê các số liệu
  • Ngoài ra, bài khóa luận còn sử dụng một số phương pháp khác để hoàn thiện nội dung nghiên cứu.

5. Bố cục nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục của bài khóa luận được chia ra như sau:

Chương I: Tổng quan về mô hình bán lẻ chuyên biệt

Chương II: Sự phát triển của mô hình bán lẻ chuyên biệt trên thế giới và tại Việt Nam

Chương III: Triển vọng phát triển của mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Phan Thị Thu Hiền, khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, cùng các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã cho em những kinh nghiệm bổ ích trong phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như đã dành thời gian quý báu, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này.

Trong quá trình nghiên cứu, do còn hạn chế về trình độ nghiên cứu, thông tin, tài liệu nên bài khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BÁN LẺ CHUYÊN BIỆT 

1.1 Lý thuyết chung về bán lẻ Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

1.1.1 Định nghĩa bán lẻ

Con người ai cũng có nhu cầu tối thiểu hàng ngày là ăn, mặc và di chuyển từ nơi này đến nơi khác và họ phải mua những sản phẩm và dịch vụ để thỏa mãn những nhu cầu này. Chính khi đó, họ đã tham gia vào thị trường bán lẻ. Vậy bán lẻ là gì?

“Bán lẻ là tất cả những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng để họ sử dụng cho bản thân chứ không phải để kinh doanh.”

(Nguồn: Mc Cant (2004)- Introduction to Retailing, trang 2) Như vậy, một nhà bán lẻ có thể được nhìn nhận như là những người kinh doanh tập trung nỗ lực bán hàng của mình tới những người tiêu dùng cuối cùng với mục đích bán được hàng hóa hay dịch vụ và thu được lợi nhuận. Những người cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho những người tiêu dùng cuối cùng, có thể là những người đến mua hàng trong một cửa hàng, một siêu thị, qua điện thoại, giao hàng tận nhà hay những người bán rong, đều là những doanh nghiệp bán lẻ.

Bán lẻ có một ảnh hưởng to lớn đối với xã hội của chúng ta trong thời đại hiện nay. Số lượng lớn các doanh nghiệp tham gia vào thị trường bán lẻ, số nhân công được tuyển dụng, mã lực bán hàng khổng lồ mà nó tạo ra đã khẳng định tầm quan trọng của bán lẻ đối với xã hội. So với các cơ sở sản xuất và bán buôn, số lượng các doanh nghiệp bán lẻ đông gấp 7 lần. Chỉ riêng Mỹ các nhà bán lẻ đã có doanh thu đến hàng ngàn tỷ đô la và tuyển dụng khoảng 25 triệu công nhân; mười hãng bán lẻ hàng đầu đã đạt doanh số từ 8 tỷ đến 40 tỷ đô la hàng năm. (Nguồn: www.forbes.com)

Những nhà bán lẻ đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ cuối cùng. Điều này đảm bảo cho việc những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng được thỏa mãn. Những người bán lẻ là một gạch nối quan trọng giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng bởi họ tạo ra môi trường cho việc trao đổi hàng hóa với những người tiêu dùng cuối cùng. Khách hàng chính là người được hưởng lợi từ những nỗ lực marketing mà các doanh nghiệp bán lẻ thực hiện, tạo ra sự phong phú cho các mặt hàng có mặt trên thị trường.

1.1.2 Các loại hình bán lẻ Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Có rất nhiều loại hình bán lẻ khác nhau, do đó cũng có rất nhiều tiêu thức để phân loại bán lẻ. Sau đây là các tiêu thức phân loại bán lẻ thông dụng

Theo mức độ phục vụ khách hàng cung cấp cho người mua, có ba loại cửa hàng bán lẻ: cửa hàng tự phục vụ; cửa hàng bán lẻ cung cấp dịch vụ hạn chế và các cửa hàng bán lẻ cung cấp đầy đủ các dịch vụ.

Bán lẻ tự phục vụ

Cửa hàng bán lẻ tự phục vụ cung cấp rất ít dịch vụ khác hàng, do vậy hàng hóa có thể được bán với mức giá thấp. Ví dụ ở Mỹ các trạm xăng hầu hết được xây dựng theo mô hình này, trong đó không có sự xuất hiện của các nhân viên phục vụ bơm xăng cho người mua như vẫn hay thấy ở Việt Nam. Thay vào đó, khách hàng tự bơm xăng cho phương tiện của mình và trả tiền tại cửa hàng tiện lợi (mở cửa 24/24h) đặt ngay cạnh cây xăng.

Các cửa hàng bán lẻ cung cấp đầy đủ dịch vụ thêm thường bán với giá cao, nhằm phục vụ cho khách hàng có nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo. Các nhà hàng trong khách sạn cao cấp thuộc loại này, khách hàng xem thực đơn và đặt món chế biến theo yêu cầu riêng. Mỗi bồi bàn chỉ phục vụ một bàn để đảm bảo mọi nhu cầu của thực khách đều được đáp ứng một cách nhanh chóng. Thực khách đến với những nhà hàng này không chỉ để thưởng thức những món ăn ngon mà còn để có được sự phục vụ chu đáo và chuyên nghiệp nhất. Tuy nhiên những cửa hàng này cũng gặp một số bất lợi do chỉ có thể cung cấp dịch vụ của mình cho một số lượng rất hạn chế khách hàng, giá cả cao do chi phí về mặt bằng và nhân công cao. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Theo tiêu thức mặt hàng bán lẻ, người ta chia ra cửa hàng bán lẻ chuyên doanh, cửa hàng bách hóa, siêu thị, cửa hàng tiện dụng, cửa hàng cao cấp

Cửa hàng chuyên doanh chuyên bán các dòng sản phẩm hẹp, chuyên sâu như cửa hàng bán quần áo trẻ em, cửa hàng bán nội thất, điện thoại di động v.v… Đối với lĩnh vực bưu chính viễn thông, đó có thể là các điểm cung cấp dịch vụ Internet bán lẻ, các cửa hàng chuyên bán tem.

Cửa hàng bách hóa (hay trung tâm thương mại) bán nhiều loại hàng hóa khác nhau, chia ra thành nhiều chủng loại: quần áo, đồ gia dụng, đồ điện tử…Mỗi loại hàng hóa được bày bán trong một khoang riêng trong cửa hàng và được điều hành bởi những nhân viên am hiểu về loại mặt hàng đó. Trong những năm gần đây, lọai hình cửa hàng này đang bị lấn át bởi những cửa hàng bán lẻ chuyên doanh do hoạt động tập trung và linh hoạt hơn hoặc những cửa hàng bán lẻ hạ giá hay giá thấp.

Siêu thị, cũng như bách hóa, bán nhiều loại hàng hóa, nhưng khách hàng tự phục vụ cho nên giá hạ hơn. Trong những năm gần đây, siêu thị phát triển nhanh ở những đô thị lớn ở Việt Nam và trở thành hình thức mua sắm văn minh, lịch sự với giá cả chấp nhận được. Có thể kể tên một số siêu thị lớn đã có mặt tại nước ta hiện nay như Metro Cash & Carry, Big C, Co.op…

Cửa hàng tiện dụng là các cửa hàng nhỏ phân tán ở các khu dân cư, bán các mặt hàng phụ vụ nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng, mở cửa vào tất cả các ngày trong tuần từ sáng sớm đến tối, giá cả do đó có thể cao hơn đôi chút. Chuỗi cửa hàng G7 Mart, Citimart Best & Buy là ví dụ điển hình của mô hình này.

Theo hình thức bán, có thể chia thành hai loại là bán lẻ qua cửa hàng và bán lẻ không qua cửa hàng.

Bán lẻ không dùng cửa hiệu có thể có nhiều hình thức như đặt hàng qua thư, mua hàng qua điện thoại, mua hàng qua máy bán hàng tự động, mua hàng qua mạng (e-commerce), bán lẻ tại nhà.

Các máy bán hàng tự động cung cấp nhiều loại hàng hóa thông thường như tem thư, thuốc lá, nước ngọt, báo, kẹo… tuy nhiên hình thức này lại chưa phổ biến ở Việt Nam do khó khăn trong cách thức thanh toán.

Các hình thức còn lại như đặt hàng qua thư, điện thoại hiện cũng dần quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam do đơn giản và có chi phí thấp. Bán hàng qua mạng Internet hiện nay đang trở nên phố biến nhất là với các mặt hàng như quần áo, thời trang, sách báo…

Theo hình thức sở hữu, bao gồm các loại cửa hàng bán lẻ độc lập, các chuỗi cửa hàng của một công ty, các hợp tác xã bán lẻ, các đại lý độc quyền và nhượng quyền thương mại.

Các cửa hàng độc lập rất phổ biến ở Việt Nam, do một chủ tư nhân sở hữu và quản lý, sử dụng nhà của mình hoặc thuê của hàng để kinh doanh.

Chuỗi cửa hàng gồm nhiều cửa hàng do một công ty sở hữu, bán các mặt hàng tương tự như nhau, việc mua bán có tính chất tập quyền và có thể có kiểu kiến trúc cửa hiệu y hệt nhau. Chuỗi cửa hàng có cùng chung sở hữu và kiểm soát, có kiến trúc với phong cách đồng nhất để làm nổi bật mỗi cửa hàng đơn vị và giúp khách hàng dễ nhận ra hơn. Chuỗi cửa hàng có lợi thế hơn các cửa hàng độc lập nhờ khả năng có thể bán giá hạ và tiêu thụ được khối lượng lớn hàng hóa.

Hợp tác xã bán lẻ bao gồm các nhà bán lẻ độc lập tự nguyện liên kết lại thành một tổ chức nhằm điều hành thống nhất công việc kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Các đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà trên một địa bàn nhất định bên ủy thác chỉ giao cho một đại lý thực hiện việc mua, bán một hoặc một số hàng hóa của mình.

Nhượng quyền thương mại là sự liên kết theo hợp đồng giữa bên chủ quyền (franchiser) và bên nhận quyền (franchisees). Bên chủ quyền cho phép bên nhận quyền được độc quyền kinh doanh dưới thương hiệu của mình trong một khu vực. Bên nhận quyền sẽ phải tuân theo các quy định quản lý của bên chủ quyền để đảm bảo chất lượng, thu nhập của bên nhận quyền được hai bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng. Người kí phát độc quyền sẽ nhận được nhiều khoản lợi như: phí gia nhập, tiền bản quyền tính theo doanh số, lệ phí cho thuê trang các thiết bị được chia một phần lớn. Ví dụ: Hãng Mc. Donald thu lệ phí gia nhập là 150.000 đô la cho mỗi người được nhượng đặc quyền; lệ phí bản quyền là 3%, lệ phí thuê mướn trang thiết bị là 8,5% doanh số của người mua đặc quyền. Công ty còn buộc họ phải tới học ở Hamburger University trong 3 tuần để biết cách kinh doanh ra sao. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Theo mức giá cả hàng hóa bán tại cửa hàng:

  • Các cửa hàng giảm giá (Discount stores): bán những hàng hóa bình thường ở mức giá thấp, chấp nhận lãi suất thấp nhưng bán với số lượng lớn ví dụ như Metro Cash & Carry, Wal – Mart
  • Cửa hàng bán lẻ giá thấp (Off-Price Retailers): Khác với những cửa hàng giảm giá bình thường mua hàng ở mức giá bán buôn bình thường và chấp nhận lãi suất thấp để duy trì giá thấp, các cửa hàng bán lẻ giá thấp mua hàng ở mức giá buôn thấp hơn bình thường và bán hàng ở mức giá thấp hơn giá bán lẻ. Có 3 loại cửa hàng bán lẻ giá thấp chủ yếu sau:
  • Cửa hàng bán lẻ giá thấp độc lập (Independent off-price retailers): là cửa hàng hàng do nhà kinh doanh độc lập sở hữu hoặc điều hành hoặc là một đơn vị của một tập đoàn bán lẻ lớn hơn. Ví dụ: các cửa hàng bán lẻ T.J.Maxx và Marshall’s tại Mỹ, do công ty TJX sở hữu.
  • Cửa hàng bán lẻ của nhà máy (Factory outlets): là những cửa hàng bán lẻ giá thấp do nhà sản xuất sở hữu hoặc điều hành, thường bán những hàng hóa dư thừa, hàng không đúng quy cách hoặc không còn sản xuất nữa. Những cửa hàng bán lẻ này thường tập trung lại với nhau thành một khu bán lẻ của các nhà máy (factory outlet malls) hoặc trung tâm bán lẻ giảm giá (value- retail centers) và bán các sản phẩm ở mức giá có khi chỉ bằng 50% mức bán lẻ tại các cửa hàng khác. Các khu bán lẻ này thường ở xa khu vực dân cư nên chi phí kho bãi cũng thấp hơn những cửa hàng bán lẻ trong thành phố rất nhiều. Trước đây, những khu bán lẻ kiểu này chỉ bán các loại hàng của nhà máy sản xuất và không bán nhiều hàng hiệu cao cấp, song gần đây các khu bán hàng này cũng chuyển hướng sang bán cả những mặt hàng nhãn mác nổi tiếng. Ví dụ, khi đến khu cửa hàng bán lẻ Leesburg Corner Premium Outlets bang Virginia, ta có thể tìm thấy những sản phẩm hàng hiệu của Coach, Polo Ralph Lauren, Dolce & Gabbana, Gucci, Bostonian… Ở Mỹ, các khu bán lẻ của các nhà máy có lượng bán hàng tăng trưởng nhanh nhất trong những năm vừa qua.
  • Cửa hàng bán lẻ thu phí thành viên (warehouse club hoặc membership warehouse hoặc wholesale club): là những cửa hàng bán lẻ giá thấp bán hàng tại những kho chứa hàng lớn, thô sơ không trang trí nhiều. Tại đây, bán đủ các loại mặt hàng từ rau quả, đồ điện, quần áo đến máy tính, đồ trang sức… với mức giá rất thấp cho những khách hàng thành viên phải trả phí hàng năm. Những cửa hàng này thường không chấp nhận thẻ tín dụng và không có dịch vụ vận chuyển về nhà cho khách hàng.

1.1.3 Các loại hình bán lẻ tại Việt Nam Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Có thể thấy các mô hình bán lẻ phân chia theo giá bán tại cửa hàng mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ và Châu Âu chứ vẫn còn rất lạ lẫm tại thị trường Việt Nam. Thị trường bán lẻ nước ta hiện nay đang tồn tại song song hai kênh phân phối là kênh bán lẻ truyền thống và kênh bán lẻ hiện đại.

Kênh phân phối truyền thống: tiêu biểu là chợ và các cửa hàng tạp hóa và kiốt bán lẻ độc lập nằm rải rác trên toàn quốc. Tính đến thời điểm hiện đại, ước tính Việt Nam có khoảng hơn 300.000 chợ lớn nhỏ và vẫn đang thống trị thị trường bán lẻ Việt Nam với 68% hàng hóa được phân phối qua các chợ, gần 20% là qua các cửa hàng bán lẻ.

Kênh phân phối hiện đại: Tuy mới chỉ chiếm hơn 10% tổng lượng hàng hóa nhưng ở Việt Nam cũng đã xuất hiện hầu hết các mô hình phân phối hiện đại với các quy mô khác nhau. Hiện tại có thể chia thành 6 loại hình phân phối hiện đại trên thị trường bán lẻ với từng đặc điểm nhận dạng đặc trưng, bao gồm: đại siêu thị, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi và các siêu thị chuyên doanh.

Đầu tiên là loại hình đại siêu thị (hyper market): mang dáng dấp của đại siêu thị nước ngoài hiện chỉ có Big C Đồng Nai nhưng quy mô còn nhỏ hơn nhiều so với các đại siêu thị trên thế giới; có thể nhà đầu tư đã điều chỉnh loại hình này cho phù hợp điều kiện thị trường Việt Nam. Sở dĩ gọi Big C Đồng Nai là mô hình đại siêu thị của nước ngoài là dựa vào vị trí nằm ở rìa thành phố, có diện tích lớn, chủng loại hàng hóa phong phú, đặc biệt có hàng điện gia dụng, cơ khí điện máy, nông ngư cụ, quầy kệ thì lớn, cao. Riêng hệ thống các trung tâm của tập đoàn Metro Cash & Carry ở Việt Nam có vẻ giống với đại siêu thị nhưng lại không phải, bởi khách hàng mà Metro nhắm tới là người tiêu dùng có tổ chức, mua hàng của họ để bán lẻ, còn đại siêu thị thì bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Sau đại siêu thị là siêu thị (super market). Đây là mô hình đang phát triển rất mạnh và có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Co.opmart, Maximart hay Big C (trừ Big C Đồng Nai) là một số mô hình siêu thị tiêu biểu.

Thứ ba là các trung tâm thương mại (department store), thường bán hàng cao cấp, giá đắt; ngay cả siêu thị bên trong department store cũng có giá đắt hơn các siêu thị thông thường. Ở TPHCM, các department store nổi tiếng như Diamond Plaza, Parkson…còn tại Hà Nội là Trung tâm thương mại Vincom hay Tràng Tiền Plaza.

Thứ tư là trung tâm mua sắm (shopping mall), một khái niệm khá mới mẻ và ở TPHCM hiện nay mới chỉ có Lotte Mart được xem như như shopping mall. Đặc điểm của loại hình này là rộng lớn hơn cả đại siêu thị, thậm chí ở Singapore, loại hình này bên trong nó chứa cả đại siêu thị, siêu thị, trung tâm thương mại, rạp chiếu phim, siêu thị chuyên doanh…

Thứ năm là cửa hàng tiện lợi, phục vụ hàng ngày cho người tiêu dùng. các nước, loại hình cửa hàng tiện lợi len lỏi trong các khu dân cư, được gọi là cửa hàng bán hàng bổ sung, tức bổ sung cho việc quên mua hàng ở đại siêu thị, siêu thị, hay hết hàng trong nhà mà chưa có thời gian đi siêu thị. G7 Mart, Shop & Go hiện nay đang đi theo mô hình cửa hàng tiện lợi. Các cửa hàng chuyên bán thực phẩm Co.op Food của Saigon Co.op hiện nay cũng có thể xếp vào loại hình này, tức vừa nhỏ hơn siêu thị, vừa len lỏi trong khu dân cư và bán các mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu gia đình. Tuy nhiên, Co.op Food cũng có thể xếp vào loại hình cuối cùng là cửa hàng chuyên biệt như các siêu thị điện thoại di động, trung tâm điện máy hiện nay, vì nó chuyên một nhóm hàng thực phẩm.

1.2 Mô hình bán lẻ chuyên biệt Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

1.2.1 Khái niệm:

Lịch sử phát triển của ngành kinh doanh bán lẻ có liên quan mật thiết đến sự phát triển và hình thành của các đô thị. Những bước phát triển đầu tiên của hệ thống phân phối bán lẻ được đánh dấu bằng việc kinh doanh qua các trạm thông thương đến các cửa hàng tạp hóa, các cửa hàng chuyên biệt một mặt hàng rồi đến các cửa hàng bán lẻ quy mô lớn hiện nay, bao gồm các đại siêu thị, cửa hàng và các chuỗi cửa hàng. Những thay đổi này bắt nguồn từ sự thay đổi trong suy nghĩ của những nhà kinh doanh và khách hàng, những người luôn luôn tìm kiếm sự thuận tiên và sự đa dạng trong các chủng loại hàng hóa được bày bán.

Những lý do cho sự phát triển của cửa hàng bán lẻ chuyên biệt có thể là:

  • Những cửa hàng bách hóa thông thường thiếu không gian để bày bán nhiều mặt hàng nằm trong cùng một chủng loại hàng hóa.
  • Thị trường trở nên đủ lớn để có thể phân chia thành những phân đoạn nhỏ hơn cho từng loại mặt hàng.
  • Cửa hàng bán lẻ chuyên biệt cung cấp thông tin sâu về một dòng sản phẩm nào đó, điều rất hữu dụng và được các khách hàng mong chờ.

Các cửa hàng tạp hóa thống trị thị trường bán lẻ của Mỹ đầu thế kỷ XIX. Các cửa hàng bán lẻ này bán tất cả mọi thứ từ thực phẩm đến đồ khô và quần áo; không chịu sự quản lý của công ty nào và thiếu những sản phẩm chuyên doanh. Trái lại, những cửa hàng bán lẻ chuyên biệt đầu tiên ở Mỹ chính là những cửa hàng của các nhà sản xuất đồng thời là nhà bán lẻ như những người thợ thủ công bán hàng hóa của chính mình làm ra trong một cửa hàng, hay các cửa hàng chuyên biệt ở giữa thế kỷ XIX chuyên bán các loại bánh làm từ bột mỳ; bán sách và đồ văn phòng phẩm; giày dép; đồ sứ; thủy tinh; bát đĩa. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Việt Nam, có thể nói mô hình bán lẻ chuyên biệt cũng đã có một lịch sử phát triển từ rất lâu. Bằng chứng rõ ràng nhất chính là Hà Nội xưa với 36 phố phường và những con phố được đặt tên theo chính những mặt hàng mà các cửa hiệu tại phố đó kinh doanh. Ví dụ như phố Hàng Bạc kinh doanh các sản phẩm được chế tác từ bạc; phố Hàng Chiếu chuyên bán chiếu và các sản phẩm làm từ mây, tre, cói; phố Hàng Đường chuyên kinh doanh các loại bánh, kẹo v.v…Tuy nhiên dần theo thời gian, những con phố mất dần tính chuyên biệt của mình, các cửa hàng cũng quay ra kinh doanh tất cả các loại mặt hàng. Những cửa hàng chuyên biệt hiện nay còn tồn tại trên các con phố này chủ yếu có quy mô nhỏ và mang tính chất gia đình, thu hút một lượng khách hàng nhỏ. Sự xuất hiện của các loại hình cửa hàng bán lẻ chuyên biệt mới chuyên kinh doanh máy tính và điện thoại di động và sự phát triển của các dịch vụ mới, thị trường đang đón nhận một lượng lớn khách hàng mới tham gia thị trường mỗi ngày.

Theo cách phân chia các loại hình bán lẻ theo mặt hàng được bày bán thì mô hình bán lẻ chuyên biệt có thể được định nghĩa như sau:

“Mô hình bán lẻ chuyên biệt là mô hình mà trong đó doanh nghiệp bán lẻ chỉ kinh doanh một sản phẩm hay một dòng sản phẩm nhất định nào đó.”

Những sản phẩm được bày bán và cung cấp bởi hệ thống cửa hàng bán lẻ chuyên biệt đơn thuần có thể là các mặt hàng của một nhà sản xuất nhất định nào đó như sản phẩm quần áo của một hãng thời trang nhưng cũng có thể là những sản phẩm có cùng một tính năng nhất định như điện thoại di động, camera, máy ảnh kĩ thuật số, thiết bị điện, điện tử… của nhiều hãng khác nhau hoặc những sản phẩm mang tính chất chất tương hỗ trong tương quan về mục đích sử dụng như vật liệu xây dựng hay đồ nội thất v.v…

Các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt này có thể là các cửa hàng độc lập, do một chủ tư nhân sở hữu và quản lý, kinh doanh một loại mặt hàng cụ thể nhưng cũng có thể là các chuỗi cửa hàng với quy mô lớn hơn kinh doanh một ngành hàng cụ thể nhằm có thể vươn đến số lượng nhiều khách hàng hơn ở các khu vực địa lý khác nhau.

Những ngày huy hoàng của cửa hàng bách hóa tổng hợp nay đã qua vì không chịu nổi sự cạnh tranh khốc liệt từ các loại hình bán lẻ khác, thêm vào đó là sự quản lý yếu kém, địa điểm cửa hàng không thuận lợi, các khoản nợ lớn và nhận thức chậm chạp về sự thay đổi trong hành vi mua sắm của khách hàng. Các khách hàng đến với những cửa hàng bán lẻ chuyên biệt không hi vọng sẽ có thể được hưởng lợi từ tất cả các dòng hàng trong cửa hàng bách hóa tổng hợp, thay vào đó những khách hàng này muốn sự chuyên sâu và đa dạng trong một loại mặt hàng nhất định. Chiến lược này giúp cho các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt nhắm đến một phân đoạn thị trường cụ thể. Chiến lược của cửa hàng chuyên biệt là tập trung vào một phân đoạn thị trường mục tiêu và một nhóm đối tượng khách hàng nhất định. Những nhà kinh doanh cung cấp các dịch vụ để thỏa mãn các khách hàng của cửa hàng như phân phối, tín dụng, dịch vụ khách hàng, đặt hàng qua thư, máy tính…Người ta tin tưởng rằng gia tăng dịch vụ sẽ giúp tạo ra sự thỏa mãn lớn hơn từ phía khách hàng. Các cửa hàng chuyên biệt có khả năng duy trì sự hiện diện quảng cáo ở mức độ cao bằng việc tập trung ngân sách quảng cáo và xúc tiến bán hàng một cách hiệu quả vào nhóm khách hàng mục tiêu.

Nghiên cứu sự thành công và thất bại của hàng loạt các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt cho thấy những cửa hàng tồn tại được đã có những điều chỉnh liên tục với những yếu tố như sự đổi mới, thị trường mục tiêu, hình ảnh và các yếu tố nguồn lực vật chất, môi trường và con người đồng thời cũng tận dụng sự tiến bộ của công nghệ thông tin. Phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt, chỉ có vận dụng linh hoạt những nhân tố này mới có thể mang đến thành công cho các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt trong môi trường marketing.

1.2.2 Đặc điểm của mô hình bán lẻ chuyên biệt Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Đối với mỗi mô hình kinh doanh thì việc nguyên cứu marketing là một việc tối quan trong để xây dựng chính sách kinh doanh.

Các thành phần cơ bản của Marketing là những phần tử tạo nên cấu trúc Marketing. Những phần tử đó là: Sản phẩm hay dịch vụ, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh. Nhiều nhà nghiên cứu marketing cho rằng đây là 4 vũ khí quan trọng của doanh nghiệp, là 4 nội dung quan trọng của bất kỳ một chính sách kinh doanh nào. Thật vậy, dù hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực nào, doanh nghiệp không thể thiếu các thành phần cơ bản ấy, nếu có khác chăng là ở hình thức biểu hiện của chúng trong các lĩnh vực kinh doanh cụ thể. Từ những thành phần cơ bản này của marketing, doanh nghiệp xây dựng những chính sách kinh doanh thích hợp với thị trường được lựa chọn như:

  • Chính sách sản phẩm;
  • Chính sách giá cả;
  • Chính sách phân phối;
  • Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh.

Marketing hỗn hợp là sự kết hợp cụ thể các thành phần cơ bản của marketing nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra và đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lựa chọn. Để thiết lập marketing hỗn hợp, doanh nghiệp phải có hàng loạt các quyết định và nhà hoạch định chiến lược marketing phải lựa chọn sự kết hợp linh hoạt và hiệu quả các yếu tố cơ bản đó của marketing.

Vấn đề cốt lõi trong xây dựng cấu trúc marketing hỗn hợp (marketing mix) là tính hợp lý và hoàn chỉnh của nó. Người hoạch định chiến lược marketing phải đặt ra nhiều câu hỏi để giải đáp vấn đề này. Ví dụ như các yếu tố của marketing có gắn liền với nhau? Sự phối hợp các yếu tố ấy có hài hòa và hợp lý chưa? Từng yếu tố một đã được sử dụng tốt nhất chưa? v.v…

Việc xây dựng thành công Marketing Mix có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thương trường. Tuy nhiên kết quả thu nhận được của các doanh nghiệp không phải như nhau, có người thành công nhiều, có người thành công ít và không phải không có doanh nghiệp đã thất bại. Vấn đề cốt lõi của sự thành công là ở tài năng phối hợp các yếu tố cơ bản này của Marketing có đạt ở mức hài hòa, hợp lý, đặc trưng cho thị trường (đoạn thị trường) mục tiêu mà doanh nghiệp lựa chọn hay không? Có phù hợp với những mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp hay không?

Dựa trên mô hình Marketing hỗn hợp (Marketing mix) người ta cũng xây dựng mô hình bán lẻ hỗn hợp (retailing mix) để giúp các doanh nghiệp bán lẻ xây dựng được một chiến lược đúng đắn để phục vụ phân đoạn thị trường mục tiêu. Bán lẻ hỗn hợp là sự kết hợp của 3 yếu tố: sản phẩm và dịch vụ; thông tin truyền thông và cuối cùng là phân phối.

  • Sản phẩm và dịch vụ bao gồm các yếu tố: dòng sản phẩm và giá cả, dịch vụ khách hàng và hình ảnh cửa hàng.
  • Thông tin truyền thông bao gồm: quảng cáo, trưng bày, xúc tiến bán hàng, nhận thức của khách hàng về thương hiệu, quan hệ công chúng.
  • Phân phối gồm các yếu tố như: vị trí cửa hàng, cách thức phân phối, mức độ và khả năng quản lý hàng tồn kho.

1.2.2.1 Sản phẩm và dịch vụ Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Sản phẩm

Sản phẩm là yếu tố làm nên sự khác biệt giữa mô hình bán lẻ chuyên

biệt với các mô hình bán lẻ còn lại. Trong khi các cửa hàng bách hóa hay siêu thị bán hầu hết tất cả các loại hàng hóa từ thực phẩm tươi, khô, đến cả hàng gia dụng hay quần áo thì tại các cửa hàng chuyên biệt chỉ một loại sản phẩm hoặc một dòng sản phẩm nào đó được bày bán.

Sản phẩm và dịch vụ là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp bán lẻ, và nó còn quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp đi theo mô hình bán lẻ chuyên biệt vì các doanh nghiệp này chỉ kinh doanh một loại hay một dòng hàng nhất định nào đó. Do đó, để xây dựng cơ cấu xây dựng và phát triển một mô hình bán lẻ chuyên biệt, trước hết chúng ta cần phải xác định được rõ mặt hàng chủ đạo có vai trò chủ chốt trong chiến lược kinh doanh của mình. Mặt hàng đó sẽ là yếu tố sống còn của cả mô hình cũng như việc nó sẽ tạo dựng nên một bộ khung nhất định cho các hoạt động kinh doanh. Dựa vào mặt hàng chủ đạo chúng ta sẽ tìm hiểu thị trường, gây dựng nguồn hàng, hoạch định chiến lược quảng bá và xúc tiến bán hàng.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta cùng xem xét đến một ví dụ được sử dụng trong những tiết học của khoa kinh doanh thuộc trường Đại học Shizuoka – Nhật Bản. Ở đó người ta đưa ra một đề án phát triển mô hình bán lẻ chuyên biệt với mặt hàng chủ đạo là rượu vang, một thứ đồ uống khá được ưa chuộng tại Nhật Bản.

Các sinh viên được chia làm ba nhóm tương ứng với ba chiến lược phát triển khác nhau xoay quanh một trục chủ đạo là mặt hàng rượu vang.

Nhóm thứ nhất: Nghiên cứu về các cửa hàng bán rượu vang kèm theo đó là các nguyên liệu tạo nên một bữa ăn hoàn chỉnh như: phô mai, mỳ spaghetti, gia vị, nước sốt…(Ở Nhật người ta rất ưa chuộng các loại mỳ ống của Ý hay pizza ăn kèm các loại nước sốt và đặc biệt là uống cùng các loại rượu vang).

Như vậy trong nhóm đầu tiên này chúng ta có thể thấy rõ ràng về chiến lược bán hàng được đưa ra là tạo dựng một mô hình cửa hàng rượu vang và các sản phẩm kèm theo có tính chất tương hỗ trong tương quan mục đích sử dụng rất rõ ràng là cung cấp nguyên liệu để khách hàng có thể tạo nên một bữa ăn hoàn chỉnh cho mình.

Nhóm thứ hai: là hệ thống các cửa hàng chuyên bán về đồ uống, ngoài rượu vang là thành phần chính họ còn cung cấp thêm các loại đồ uống khác như bia, nước ngọt hay các loại rượu khác nhau. Mục đích kinh doanh của các cửa hàng do nhóm hai nghiên cứu là chuyên về các loại đồ uống, trong đó rượu vang vẫn là mặt hàng chủ đạo

Nhóm thứ ba: Các sinh viên trong nhóm này theo dõi tình hình kinh doanh của các cửa hàng chỉ bán một loại sản phẩm duy nhất là rượu vang. Đây có thể coi là hình thức đơn giản nhất trong các mô hình bán lẻ chuyên biệt đó là kinh doanh chỉ một mặt hàng.

Sau một thời gian theo dõi kết quả mà ba nhóm sinh viên thu được là rất khác nhau: Nhóm sinh viên theo dõi về các cửa hàng chỉ bán rượu vang và các loại đồ uống khác đưa ra nhận định rằng doanh thu của cửa hàng chỉ đạt ở mức vừa phải. Thế nhưng kinh doanh nhỏ giọt và không mấy khả quan là kết luận mà các sinh viên thuộc nhóm ba đưa ra cho chuỗi cửa hàng chỉ bán chuyên về các loại rượu vang. Cuối cùng, kết quả kinh doanh ấn tượng thuộc về chuỗi các cửa hàng cung cấp rượu vang và các nguyên liệu đồ ăn. Vậy điều gì đã tạo nên những kết quả khác nhau như thế?

Câu trả lời chính là cơ cấu và đường lối mà từng chuỗi cửa hàng đã lựa chọn. Cùng với một mặt hàng chủ đạo là rượu vang nhưng mỗi chuỗi cửa hàng lại chọn cho mình một phân đoạn thị trường khác nhau từ đó tạo nên những chiến lược kinh doanh hoàn toàn khác nhau. Nắm bắt được tâm lý của người tiêu dùng, tạo nên dịch vụ cung cấp hoàn hảo đó là nguyên nhân thành công của chuỗi cửa hàng kinh doanh rượu vang kèm theo các nguyên liệu cho một bữa ăn. Như ở ví dụ trên chúng ta có thể nhận ra rằng khi một người khách Nhật vào cửa hàng rượu vang, ngoài mặt hàng chủ đạo họ luôn muốn mua thêm những thứ để có thể hoàn thiện bữa ăn của mình. Tất nhiên nếu cửa hàng chỉ có rượu vang, khách hàng vẫn sẽ mua rượu ở đó và đến một cửa hàng khác để hoàn thiện nốt thực đơn của mình nhưng nếu có thể họ sẵn sàng mua hàng dù có thể giá cả chênh lệch chút ít để ngay lập tức có thể sở hữu những món đồ mà mình muốn thay cho việc phải đến một cửa hàng khác. Điều này chính là mấu chốt tạo nên doanh thu khả quan cho chuỗi cửa hàng mà những sinh viên thuộc nhóm một theo dõi.

Ta có thể lấy thêm một mô hình bán lẻ chuyên biệt tiêu biểu của Nhật Bản để hiểu thêm về vấn đề này. Nhắc đến Nhật Bản là chúng ta nghĩ ngay đến những sản phẩm về điện tử, và tại Tokyo cũng như các vùng lân cận chắc hẳn không một người Nhật nào không biết đến chuỗi cửa hàng bán đồ điện tử của Yodobashi Camera. Với sản phẩm chủ đạo ban đầu là máy ảnh, ông chủ của chuỗi cửa hàng này đã tạo dựng nên một thương hiệu lớn mạnh với các sản phẩm liên quan về đồ điện tử.

Có thể đưa ra một ví dụ nhỏ rằng: khi bạn mua một chiếc máy ảnh kĩ thuật số bạn sẽ muốn có một chiếc thẻ nhớ đi kèm và bạn sẽ tìm thấy dãy hàng thẻ nhớ và các loại USB ngay trong cửa hàng của Yodobashi Camera. Và để xem được ảnh từ máy ảnh kĩ thuật số chắc chắn bạn phải dùng đến máy tính và những chiếc máy in, với bản tính tò mò, chắc hẳn các khách hàng cũng không bỏ qua gian hàng máy tính và những chiếc máy in, với máy tính bạn sẽ còn chú ý đến cả những phụ kiện đi kèm với nó; bên cạnh chiếc máy tính bao giờ cũng là chiếc máy in ảnh chắc hẳn cũng sẽ được người xem chú ý, vả hẳn nhiên người ta cũng muốn biết một cuộn giấy in ảnh có giá bao nhiêu. Với việc nắm bắt tâm lý ấy của người tiêu dùng Yodobashi Camera đã xây dựng nên một chuỗi các cửa hàng mà chỉ cần bước và đó bạn sẽ được cung cấp tất cả những gì mình muốn về các loại đồ điện tử với một mức giá hợp lý cùng các loại dịch vụ hoàn hảo. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Tất nhiên nói như vậy không phải các cửa hàng chỉ bán nguyên một dòng sản phẩm là không khả thi mặc dù những cửa hàng này có thể gặp rất nhiều nguy cơ rủi ro do thị trường bó hẹp và sức mua nhỏ. Điều này đòi hỏi một kế hoạch nguyên cứu thị trường tỉ mỉ của doanh nghiệp để phát hiện ra những “kẽ thị trường” về một sản phẩm nào đó, và nhu cầu và sở thích của nhóm khách hàng mục tiêu. Lấy ví dụ như Subway, chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh của Mỹ phục vụ sandwich hải sản. Không giống như McDonald’s hay các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh khác luôn nỗ lực để mở rộng thực đơn của mình, thì Subway lại chỉ tập trung vào một loại sản phẩm duy nhất là bánh mỳ sandwich; thậm chí những người điều hành công ty thấy như vậy cũng còn là quá rộng nên đã thu hẹp lại hơn nữa – chỉ là loại bánh mỳ sandwich hải sản, một thứ bánh với các loại nhân hải sản khác nhau. Sự tập trung hẹp này giúp cho mọi người đều biết chính xác là mình muốn gì và sẽ được phục vụ những gì khi đến với Subway, và nhanh chóng đưa thương hiệu Subway trở thành một trong những người khổng lồ về thức ăn nhanh và là đối thủ cạnh tranh đáng gờm của McDonald’s.

Do đó, để xây dựng được một chiến lược kinh doanh thành công, trước hết doanh nghiệp phải chú ý đến dòng mặt hàng mà mình sẽ kinh doanh và sau đó xác định phân đoạn thị trường mục tiêu mà mình sẽ hướng tới để tiếp tục xây dựng chiến lược về sau.

Giá cả

Giá cả phụ thuộc rất nhiều vào dòng sản phẩm doanh nghiệp kinh doanh và chiến lược mà doanh nghiệp lựa chọn. Giá cả cũng chính là một yếu tố làm nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp bán lẻ.

Xu hướng của rất nhiều các cửa hàng bán lẻ là đưa ra một mức giá thấp hơn so với các cửa hàng bách hóa. Để giảm giá các doanh nghiệp này có thể áp dụng rất nhiều phương pháp. Ví dụ như các nhãn hàng T.J.Maxx, Marshalls, và Syms bán các loại hàng hóa với giá thấp hơn tại các cửa hàng bách hóa đến 30 – 40%. Để giảm giá thì những cửa hàng này thường được đặt tại bên lề các đường cao tốc chính, nơi mà có giá thuê mặt bằng rẻ hơn nhiều. Hay như 2 chuỗi cửa hàng bán giày dép giảm giá lớn nhất của Nhật là Chiyoda và Marutomi, họ cũng áp dụng những chiến lược để đưa ra mức giá thấp nhất có thể. Hai doanh nghiệp này nhập hàng với số lượng lớn, duy trì mối quan hệ khăng khít với những nhà xuất khẩu ở các nước Đông Nam Á. Họ giảm chi phí thông qua việc áp dụng tối đa công nghệ thông tin trong việc quản lý và kiểm soát hàng hóa và giữ chi phí nhân công ở mức tối thiểu và đầu tư một cách rất hạn chế vào dịch vụ khách hàng.

Một số doanh nghiệp có thể duy trì một giá bán cao hơn thị trường một chút do họ đầu tư một khoản tiền lớn vào đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp và có kiến thức sâu rộng hơn những người làm việc tại cửa hàng bách hóa hay siêu thị để tư vấn cho khách hàng ngay tại cửa hàng. Những doanh nghiệp này thường kinh doanh các mặt hàng cao cấp hướng vào các khách hàng có thu nhập cao, do đó họ không quá chú ý đến sự chênh lệch giá cả. Nhóm khách hàng này có nhu cầu cao hơn và sẵn sàng trả một giá cao hơn để nhận được một dịch vụ hoàn hảo. Những cửa hàng này tập trung vào việc làm cho khách hàng hài lòng và cách khách hàng được đối xử trong cửa hàng. Sự hài lòng này thể hiện ở việc khách hàng thấy thoải mái và kinh nghiệm mua hàng thú vị bên trong cửa hàng từ những chi tiết rất nhỏ như cách bài trí và sắp xếp các sản phẩm trong cửa hàng đến đội ngũ bán hàng.

1.2.2.2 Thông tin truyền thông

Chính sách thông tin truyền thông có vai trò to lớn đối với tất cả các doanh nghiệp. Nhờ có các công cụ thông tin truyền thông, việc chào hàng, bán hàng, thâm nhập thị trường được thúc đẩy, do dó làm tăng doanh thu, quay vòng vốn nhanh, và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hoạt động thông tin truyền thông không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý, sự thích thú và tạo tâm lý thoải mái cho người mua đối với sản phẩm mà còn nâng cao uy tín cũng như doanh tiếng của doanh nghiệp. Về lâu dài, hoạt động thông tin truyền thông sẽ lôi kéo được những khách hàng tiềm năng đối với sản phẩm của doanh nghiệp, điều đó giúp cho doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác. Đối với những cửa hàng bán lẻ chuyện biệt, lợi thế của họ trong yếu tố thông tin truyền thông nằm ở chỗ mặt hàng và nhóm khách hàng mục tiêu của họ được xác định rõ do đó họ không phải tốn nhiều thời gian và tiền bạc cho việc quảng bá và làm hài lòng mọi đối tượng khách hàng. Ví dụ như một showroom chuyên kinh doanh nội thất ôtô sẽ tập trung phần lớn nỗ lực quảng cáo trên các tạp chí ôtô xe máy chứ không cần quảng cáo tràn lan trên tất cả các mặt báo, nhờ đó tiết kiệm được khá lớn ngân sách dành cho quảng cáo. Với chuỗi cửa hàng sandwich hải sản Subway đã được nêu ở trên thì lợi thế về mặt truyền thông đến từ chính mặt hàng mà họ kinh doanh. Không giống như những thương hiệu thức ăn nhanh khác, Subway luôn được đánh giá là một sản phẩm có lợi cho sức khỏe vì nhân bánh được làm từ những sản phẩm không chứa nhiều chất béo đó là hải sản và salad. Thông qua việc tuyên truyền cho một chế độ ăn có lợi cho sức khỏe, và với những slogan như “Stay Fit, Stay Fresh”; “Choose Well” Subway không chỉ đơn thuần quảng cáo và khuyếch trương cho sản phẩm của mình mà còn ngầm đánh bật những đối thủ cạnh tranh như McDonald’s, Burger King hay KFC. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Sự tập trung vào một dòng sản phẩm nào đó hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc nâng cao nhận thức thương hiệu của người tiêu dùng. Nếu một thương hiệu chỉ đại diện cho một sản phẩm duy nhất, nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu đó sẽ rõ ràng hơn. Mọi người đều biết chính xác là mình muốn gì và sẽ được phục vụ những gì ở những cửa hàng bán lẻ chuyên biệt. Sựu chú tâm chặt chẽ này cũng giúp xây dựng được một cái tên tốt cho thương hiệu. Ví dụ Subway (làm người ta liên tưởng đến Submarine có nghĩa là “dưới biển”) là một cái tên tuyệt vời bởi nó thể hiện sản phẩm của chính họ chứ không chỉ đơn thuần là phát âm nó ra. Hay như Toys “R” Us đã bao hàm được ý định của thương hiệu này “Đồ chơi là chúng tôi”, để ngay khi người ta nhìn thấy tên thương hiệu thì đã biết đây là nơi bán đồ chơi.

Tuy nhiên lợi thế về mặt truyền thông cũng nằm trong chính nhân tố con người của những cửa hàng này. Với đội ngũ bán hàng được đào tạo tốt và có kiến thức chuyên sâu về các sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh, chính những nhân viên này đã thực hiện công việc tuyên truyền cho cửa hàng một cách hiệu quả. Khi chi phí trên các phương tiện thông tin đại chúng tăng lên và khán giả có ít thiện cảm hơn với các chương trình quảng cáo thì các doanh nghiệp chú trọng hơn đối với mối quan hệ với công chúng. Hầu hết trong các trường hợp, quan hệ công chúng có chi phí nhiều hơn song lại hiệu quả hơn so với quảng cáo, vì nói chung quan hệ với công chúng đáng tin hơn quảng cáo. Một số chuyên gia cho rằng, người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng bởi các sự kiện của quan hệ công chúng hơn gấp 5 lần so với quảng cáo. Trong trường hợp với các doanh nghiệp bán lẻ chuyên biệt, khi sử dụng chính các nhân viên bán hàng của mình như các tuyên truyền viên, doanh nghiệp hầu như không tốn một chi phí nào cho việc khuyếch trương sản phẩm và dịch vụ của mình.

Ngoài ra việc tuyên truyền và quảng cáo trên mạng đang là cách thúc đẩy bán hàng rất được các doanh nghiệp bán lẻ chuyên biệt chú ý đến và sẽ là tương lai của ngành bán lẻ này. Việc tuyên truyền trên mạng tốn ít chi phí hơn các phương pháp truyền thông cổ điển khác như quảng cáo truyền hình hay trên báo chí mà hiệu quả lại tốt không kém do bùng nổ của Internet trong thời đại hiện nay. Người tiêu dùng sẽ không phải di chuyển mà vẫn có thể mua được hàng, người bán cũng không tốn chi phí cho việc thuê mặt bằng và nhân công do đó có thể giảm tối đa giá bán. Ngoài ra, việc các doanh nghiệp xây dựng trang web trên mạng cũng mang lại tiện ích rất lớn cho khách hàng, họ có thể dễ dàng và nhanh chóng tham khảo được giá cả cũng như so sánh giá giữa các loại sản phẩm và giữa các cửa hàng khác nhau thay vì việc đi tham khảo giá từ hết cửa hàng này sang cửa hàng khác. Doanh nghiệp bán hàng thành công nhất trên mạng hiện nay có thể kể tới trang web bán sách Amazon.com, những công ty bán lẻ chuyên biệt khác như Gap, Toys “R” Us cũng đã kinh doanh và quảng bá trên mạng.

1.2.2.3 Phân phối Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Đối với một doanh nghiệp, việc nghiên cứu thị trường để đưa ra được một sản phẩm phù hợp, một chính sách giá hợp lý thôi chưa đủ mà doanh nghiệp còn phải xét xem nên đưa sản phẩm đó ra thị trường như thế nào, bằng những hình thức như thế nào để người tiêu dùng tiếp nhận sản phẩm nhất. Chính sách phân phối có vai trò quan trọng trong chính sách bán lẻ. Một chính sách phân phối hợp lý sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh an toàn hơn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa nhanh và hiệu quả. Có thể nói đơn giản – phân phối hàng hóa bao gồm toàn bộ các hoạt động để đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng hoặc người sử dụng. Trước kia hoạt động phân phối hàng hóa do người sản xuất không chế và kiểm soát nhưng nay do kinh tế ngày càng phát triển, sự thay đổi của công nghệ và các nhân tố xã hội v.v… đã trao vai trò này cho những nhà bán lẻ.

Trong hoạt động phân phối hàng hóa, sự di chuyển hàng hóa đồng thời với sự di chuyển quyền sở hữu từ người bán lẻ tới người tiêu dùng. Tuy nhiên doanh nghiệp bán lẻ không tự sản xuất ra sản phẩm, do đó doanh thu của doanh nghiệp bán lẻ có được là do sự chênh lệch giữa giá cả đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên doanh nghiệp bán lẻ cũng có hàng loạt các chi phí cộng vào giá cả đầu ra như chi phí quản lý, thuê nhân công và địa điểm… Do đó, mỗi doanh nghiệp cần phải tự tìm kiếm cho mình những thị trường có lợi nhất phù hợp với tiềm lực và khả năng của mình. Trong quá trình bán hàng, doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng. Mối quan hệ này diễn ra thường xuyên liên tục tạo điều kiện cho việc xây dựng củng cổ hình ảnh của doanh nghiệp, nhãn hiệu của hàng hóa. Nắm vững được hoạt động phân phối cũng như dự kiến được sự biến động của hàng hóa phân phối trên thị trường là điều kiện bảo đảm thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Địa điểm đặt cửa hàng là một yếu tố rất quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bất kì doanh nghiệp bán lẻ nào, nhất là đối với doanh nghiệp bán lẻ chuyên biệt. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn việc đặt cửa hàng đâu, diện tích như thế nào để phù hợp nhất với nhóm khách hàng mà mình hướng tới. Những cửa hàng chuyên bán lẻ đồ cao cấp không nhất thiết phải có một không gian rộng nhưng cần phải nằm ở những nơi thuận tiện cho cả khách hàng và cho việc kinh doanh. Một cửa hàng chuyên doanh đồ nữ trang hay đồng hồ cao cấp thường nằm ở những khu trung tâm mua bán cao cấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng tiềm năng hơn. Tuy nhiên những của hàng nằm ở những khu vực trung tâm và tập hợp nhiều tòa nhà văn phòng rất có thể gặp trường hợp rất vắng khách vào những dịp cuối tuần. Hay như những cửa hàng bán lẻ điện thoại di động không nên nằm ở quá cách xa thành phố vì không ai bỏ thời gian đi một quãng đường quá xa vì một vật dụng mang tính chất phổ thông như vậy; tuy nhiên nếu đặt ở vị trí trung tâm thì lại vướng phải chi phí mặt bằng cao và có thể gặp khó khăn về chỗ để xe cho khách đến mua hàng.Trái lại, những cửa hàng hay siêu thị nội thất hay đồ xây dựng lại có thể được đặt ở vùng ngoại ô, không những là do giá cả thuê mặt bằng thấp mà còn do nó yêu cầu một diện tích trưng bày lớn và khách hàng cũng không ngại đi một quãng đường xa để thõa mãn việc chọn lựa các mặt hàng như vậy. Nhưng trong trường hợp này thì doanh nghiệp lại vướng thêm một chi phí vận chuyển hàng từ cửa hàng vào nội thành cho khách hàng. Quyết định việc đặt cửa hàng ở đâu là một lựa chọn rất quan trọng trong chính sách phân phối cũng như chính sách giá cả do đó doanh nghiệp cần phải cân nhắc một cách hợp lý. Như hãng bán lẻ cà phê Starbucks, họ chọn địa điểm mở cửa hàng mới những thành phố nơi có lượng đặt hàng qua thư cao. Bằng việc nghiên cứu điện chỉ đặt hàng qua thư để tìm ra địa điểm tập trung đông khách hàng nhất, Starbucks có thể chắc chắn rằng những cửa hàng mới mở này đã có sẵn một lượng khách hàng đông đảo.

Địa điểm đặt cửa hàng là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên cách thức để mở một cửa hàng cũng là điều mà doanh nghiệp bán lẻ rất quan tâm. Một số trung thành với cách thức tự mình mở tất cả các cửa hàng, nắm quyền sở hữu và điều hành tuyệt đối. Theo cách đó họ có thể quản lý chặt chẽ mặt hàng kinh doanh, chất lượng, nhân viên bán hàng… để đảm bảo danh tiếng và lợi nhuận của công ty. Mặc dù vậy việc hoàn toàn độc lập trong việc xây dựng các cửa hàng mới cũng đòi hỏi những nghiên cứu thị trường hết sức tỉ mỉ từ phía công ty, vì rất dễ đưa ra những quyết định sai lầm tại những nơi mà doanh nghiệp có ít hiểu biết về thị trường cũng như văn hóa tiêu dùng hay các vấn đề về pháp lý. Một số khác lại ưa thích nhượng quyền thương mại như là một công cụ hữu hiệu để vươn đến những thị trường mà công ty chưa thể hướng tới. Cách này đưa cho doanh nghiệp bán lẻ chuyên biệt rất nhiều thuận lợi, trong khi không phải lo lắng về các vấn đề trong việc mở cửa hàng mới mà vẫn thu được lợi nhuận từ hợp đồng nhượng quyền thương mại. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Một điều nữa mà các doanh nghiệp bán lẻ chuyên biệt cũng cân nhắc chính là cách thức phân phối. Không chỉ là đa dạng các loại hình phân phối như bán hàng qua thư, qua điện thoại, qua máy bán hàng tự động mà các doanh nghiệp còn phải sáng tạo trong những hình thức phân phối truyền thống. Sự sáng tạo của Starbucks trong hoạt động Marketing cũng nằm trong việc họ sử dụng rất nhiều loại hình phân phối. Trong khi từ chối việc bán cà phê của mình trong các cửa hàng thực phẩm, Starbucks tìm ra được rất nhiều kênh phân phối khác. Bên cạnh những cửa hàng độc lập, họ cũng mở những cửa hàng cà phê trong bệnh viện, ngân hàng, các toàn nhà văn phòng, siêu thị và các trung tâm mua sắm. Chuỗi của hàng sách của Barnes & Noble đã đi đến một thống nhất với Starbucks vào năm 1993 để mở ra các cửa hàng cà phê – sách. Starbucks cũng kí hợp đồng với Nordstrom’s, chuỗi cửa hàng bách hóa cao cấp ở Seattle để Nordstrom’s bán cà phê Starbucks trong của hàng của mình. Đến tháng 9 năm 1992, Nordstrom’s đã chọn Starbucks là công ty cung cấp cà phê độc quyền cho các nhà hàng, cơm trưa nhân viên và hoạt động đưa hàng của mình. Vào thời điểm đó Nordstrom’s đang điều hành 62 nhà hàng và 48 cửa hàng espresso.

Những hợp đồng phân phối khác bao gồm những nhà cung cấp cà phê cho văn phòng, khách sạn và các hãng máy bay. Cà phê cho văn phòng là một thị trường rộng lớn và có tiềm năng phát triển cho Starbucks. Associated Services (một nhà cung cấp cà phê cho các văn phòng) đã cung cấp cà phê Starbucks độc quyền đến hơn 5000 công ty ở California. Tháng 11 năm 1995 Starbucks kí hợp động với United Airlines để cung cấp cà phê của Starbucks tớ gần 75 triệu hành khách của United mỗi năm. Có thể nói ý tưởng sáng tạo nhất để phân phối cà phê của Starbucks chính là hợp đồng với Smith Brothers, một trong những công ty sữa lâu đời nhất ở vùng Tây Bắc nước Mỹ. Smith Brothers hiện bán cà phê của Starbucks trên tuyến đường giao hàng của mình. Ý tưởng liên minh này thực chất xuất phát từ chính Smith Brothers, nhà cung cấp sữa cho Starbucks trong thời gian dài. Những nhà quản lý của Smith Brothers lo lắng rằng sự phát triển nhanh chóng của Starbucks có thể sẽ khiến cho công ty này tìm đến những nhà cung cấp sữa khác tuy nhiên nếu như Smith Brothers cũng là một khách hàng thì Starbucks sẽ khó rời bỏ mình hơn. Sự liên minh này có lợi cho cả hai vì hai doanh nghiệp này đều hướng tới sự tươi mới của sản phẩm và Starbucks cúng đang tìm kiếm một cách thuận tiện hơn để khách hàng có thể mua được cà phê với số lượng lớn. Vào năm 1992, Smith Brothers đã giao khoảng 1000 pound cà phê rang nguyên hạt mỗi tuần với giá bằng với các cửa hàng bán lẻ của Starbucks.

Như đã được đề cập ở phần trước, kinh doanh trên mạng sẽ là tương lai của ngành bán lẻ vì những lợi ích mà nó đem lại là rất to lớn. Sự đổi mới là nguyên nhân cho hàng loạt các loại hình mới của mô hình bán lẻ chuyên biệt và công nghệ mới đồng thời cũng đóng góp cho việc các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt đang dần dần nắm được một thị trường rộng lớn hơn. Thêm vào đó, công nghệ mới cũng cho phép các nhà bán lẻ phát triển các trang Web do đó khách hàng không còn phải rời khỏi nhà để đi mua sắm. Những công ty như eBay cung cấp dịch vụ đấu giá 1-1 lớn nhất trên mạng, kết nối khoảng 4 triệu người mua và bán trên toàn thế giới. Đấu giá bao gồm khoảng 3 triệu mặt hàng như đồ sưu tập, đồ cổ và các mặt hàng khác được bán thông qua các mẩu quảng cáo. Những công ty khác như Amazon.com giúp mọi người tìm được bất cứ thứ gì họ muốn mua trên mạng. Amazon.com khởi đầu bằng việc bán sách nhưng hiện nay đã bán cả phần mềm, đồ chơi và đồ điện tử. Trang web này có khoảng 8.4 triệu khách hàng và được 52% người trưởng thành ở Mỹ nhận ra. Những nhà bán lẻ thành công trên Internet hiện nay có thể kế đến những tên tuổi như Gap Inc., Toys “R” Us, Barnes & Noble. Để việc kinh doanh ở trên mạng được thành công, những nhà bán lẻ chuyên biệt cần cung cấp đầy đủ các mặt hàng trong chuỗi sản phẩm của họ, có trang Web dễ sử dụng và có khả năng giao hàng nhanh chóng, thêm vào đó là việc hoàn thành các thủ tục trên mạng một cách tiện lợi. Ngoài ra để giảm tối đa chi phí thì các doanh nghiệp này cũng phải xây dựng được một hệ thống quản lý và kiểm soát hàng tồn kho một cách rất hiệu quả, do đó giảm thời gian giao hàng và tránh sai sót có thể xảy ra.

1.2.3. Tính cạnh tranh của mô hình Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Nhân tố quan trọng nhất trong thành công của bất cứ một doanh nghiệp hay tổ chức nào nằm ở việc làm khách hàng hài lòng. Một số ý kiến cho rằng việc tập trung vào chăm sóc khách hàng có thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh bên vững và mang nhiều ý nghĩa hơn cả việc tiếp cận gần hơn đến khách hàng. Điều làm nên sự thành công của mô hình bán lẻ chuyên biệt so với các mô hình bán lẻ khác chính là cách thức và mức độ thỏa mãn người tiêu dùng của mô hình bán lẻ chuyên biệt tỏ ra vượt trội.

1.2.3.1 Số lượng sản phẩm:

Các cửa hàng với quy mô kinh doanh nhỏ lẻ đồng nghĩa với việc số lượng sản phẩm bày bán ít và mẫu mã cũng rất hạn chế do hạn chế về vốn và hệ thống kho bãi; còn các siêu thị tổng hợp thì có số lượng hàng hóa quá lớn nên chỉ có thể cung cấp cho khách hàng sự đa dạng về chủng loại hàng hóa chứ không thể cung cấp sự đa dạng trong từng ngành hàng. Chẳng hạn siêu thị tổng hợp có 30.000 sản phẩm nhưng có tới 10.000 mã hàng, như vậy mỗi mã hàng chỉ có 3 sản phẩm, còn ở siêu thị chuyên biệt chỉ có 10.000 sản phẩm nhưng có 100 mã hàng, một mã hàng như cái cốc chẳng hạn có 10 nhà cung cấp khác nhau như vậy thỏa mãn được sự lựa chọn của người tiêu dùng”.

Hiện nay, thói quen mua hàng của người tiêu dùng cũng đã thay đổi rất nhiều. Đối với người tiêu dùng thì cái quan trọng nhất là sự lựa chọn. Vào một siêu thị, người ta không đơn thuần chỉ là mua sản phẩm mà quan trọng là thỏa mãn được sự lựa chọn của họ. Điều này có thể giải thích vì sao có nhiều nơi bán điện thoại di động nhưng người ta lại thích vào các siêu thị điện thoại di động hay các siêu thị số, nơi có đầy đủ chủng loại sản phẩm, mẫu mã để mua.

1.3.2.2 Dịch vụ khách hàng Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Giá cả có thể không còn đóng một vai trò quá quan trọng trong quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Họ không những mua sản phẩm hiện thực mà còn hi vọng vào những dịch vụ chăm sóc khách hàng và hoạt động hậu mãi hoàn hảo. Ở khía cạnh này thì những cửa hàng chuyên doanh dường như chiếm ưu thế tuyệt đối do đào tạo được đội ngũ nhân viên có trình độ và am hiểu về mặt hàng được kinh doanh. Họ có kỹ năng bán hàng, đưa ra được những lời khuyên và tư vấn trong suốt quá trình mua hàng nên dễ dàng chiếm được niềm tin của khách hàng về chất lượng của sản phẩm và đồng thời nâng cao vị thế của chính cửa hàng. Do đó, dù giá của các mặt hàng trong các siêu thị chuyên biệt này trong một số trường hợp có thể cao hơn một chút so với các cửa hàng nhỏ do phải đầu tư về mặt bằng và các chi phí khác, tuy nhiên người mua hàng coi đây là một điểm đến lý tưởng vì họ tin tưởng vào chất lượng của mặt hàng và uy tín của nhà cung cấp. Người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền nhiều hơn cho mặt hàng mà họ chọn lựa vì họ muốn chắc chắn mình mua được một sản phẩm tốt và chính hãng và sẽ được đảm bảo quyền lợi sau này trong trường hợp có vấn đề phát sinh.

1.2.3.3 Truyền thông hiệu quả

Ưu thế thứ ba của mô hình bán lẻ chuyên biệt xuất phát chính từ quy mô kinh doanh của cửa hàng và sự tập trung của ngành hàng được kinh doanh. Với vốn đầu tư lớn cho phép các cửa hàng này có thể đào tạo được một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, tổ chức chiến dịch quảng cáo rầm rộ cũng như các chương trình khuyến mãi và kích cầu tiêu dùng, chương trình cung cấp tín dụng cho khách hàng. Các cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ rất khó có khả năng tiếp cận khách hàng một cách rộng rãi, họ bị nhạt nhòa trong hàng loạt các cửa hàng nhỏ khác kinh doanh cùng một loại mặt hàng và không tạo được nét riêng biệt. Tuy nhiên chuỗi cửa hàng bán lẻ chuyên biệt với trang trí bắt mắt như chuỗi cửa hàng kinh doanh điện thoại di động của thegioididong hoặc cửa hàng với các chương trình khuyến mãi quanh năm suốt tháng như Siêu thị điện máy Nguyễn Kim trước hết cũng thu hút được sự hiếu kì của người tiêu dùng. Ít nhất nếu họ không có nhu cầu mua hàng thì họ cũng rất sẵn lòng bước vào cửa hàng để xem và từ đó có thể phát sinh nhu cầu và cân nhắc quyết định mua hàng. Đây là điều mà các cửa hàng kinh doanh nhỏ lẻ không làm được.

1.2.3.4 Am hiểu thị trường Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

Mô hình bán lẻ chuyên biệt được tổ chức một cách hợp lý và khoa học, các cửa hàng chuyên doanh không chỉ chú trọng vào khâu bán hàng và còn nghiên cứu thị trường và khách hàng một cách rất tỉ mỉ. Nghiên cứu khách hàng là nội dung đầu tiên của việc nghiên cứu thị trường đối với doanh nghiệp. Khách hàng là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, nếu không có khách hàng thì mọi nỗ lực kinh doanh đều trở nên vô ích. Mục đích của một doanh nghiệp là tạo ra khách hàng và giữ chân khách hàng. Nghiên cứu khách hàng là để hiểu biết, nhu cầu, sở thích của khách hàng và bao gồm những nội dung: xác định khách hàng của doanh nghiệp, những yếu tố quyết định việc mua hàng, tập tính mua hàng hay những thói quen mua hàng của khách hàng. Quy mô kinh doanh lớn cho phép các cửa hàng này có thể thu thập được những thông tin chính xác về nhu cầu, thói quen mua sắm cũng như sở thích của người tiêu dùng. Từ đó ra những quyết định chính xác về việc kinh doanh loại mặt hàng nào, mẫu mã như thế nào để phù hợp với thị hiếu của thị trường nói chung hoặc phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp hướng tới.

Mô hình bán lẻ chuyên biệt với những ưu thế như sự tập trung kinh doanh một dòng hoặc một mặt hàng nhất định; một phân khúc thị trường mục tiêu cùng với một đội ngũ bán hàng có hiểu biết sâu về sản phẩm đã chứng tỏ sự ưu việt của mình với những mô hình bán lẻ đã tồn tại lâu đời như cửa hàng bách hóa hay siêu thị. Trong tương lai gần, các cửa hàng và siêu thị chuyên biệt sẽ trở thành điểm đến mua sắm lý tưởng của người tiêu dùng do ở đây mọi nhu cầu về sản phẩm, thông tin và dịch vụ bán hàng hay hậu mãi đều được đáp ứng một cách hoàn hảo; do đó việc xây dựng các cửa hàng bán lẻ theo mô hình bán lẻ chuyên biệt cũng sẽ là một xu hướng mới trong ngành bán lẻ. Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Khái quát về mô hình bán lẻ tại Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Mô hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp phát triển mô hình bán lẻ tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464