Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Văn hoá doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên những thành công của doanh nghiệp. Bên cạnh vốn, chiến lược kinh doanh thì sức mạnh của văn hoá doanh nghiệp đã bám sâu vào trong từng nhân viên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh. Do đó, để khẳng định chính mình, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một nét văn hoá riêng biệt. Văn hoá doanh nghiệp biểu thị sự thống nhất trong nhận thức của tất cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Văn hoá doanh nghiệp được mọi thành viên trong tổ chức chấp thuận có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Văn hoá doanh nghiệp mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng. Thiếu vốn doanh nghiệp có thể đi vay, thiếu nhân lực doanh nghiệp có thể tuyển dụng thêm, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng nhưng doanh nghiệp lại không thể đi mua được sự cống hiến, lòng tận tụy của từng nhân viên trong công ty. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn phải đối đầu với những nguy cơ về môi trường kinh doanh luôn thay đổi và cần có những biện pháp thích hợp để quản lý doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thích nghi được với những sự thay đổi đó, làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Vì vậy xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp đã trở thành một xu hướng chủ đạo, chiến lược quan trọng trong định hướng phát triển của doanh nghiệp.

Một trong những ví dụ điển hình về xây dựng văn hoá doanh nghiệp thành công trên thế giới là tập đoàn Wal-Mart. Sự thành công của Wal-Mart sẽ là một bài học quý giá cho các doanh nghiệp Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp của chính công ty mình để có thể cạnh tranh được trên thị trường.

Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Văn hoá doanh nghiệp tác động như thế nào đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp? Làm thế nào để xây dựng thành công một nền văn hoá doanh nghiệp? Để trả lời cho những câu hỏi này “Xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal-Mart” đã được chọn làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Trên cơ sở xây dựng những lý luận về văn hoá doanh nghiệp và làm rõ thực trạng xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal-Mart, khoá luận đưa ra những bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam để có thể cạnh tranh được trên thị trường nội địa và thế giới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal-Mart

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: khoá luận chỉ dừng lại ở một số nội dung chủ yếu trong nội dung xây dựng văn hoá doanh nghiệp như: triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, niềm tin, môi trường làm việc, logo, khẩu hiệu thương mại, đồng phục cho nhân viên. Quảng bá thương hiệu cũng là một nội dung chủ yếu trong nội dung xây dựng văn hoá doanh nghiệp nhưng đây là một khái niệm có nội hàm rộng nên khoá luận tốt nghiệp không đề cập đến. Khoá luận đưa ra các bài học kinh nghiệm cho xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp tại tất cả các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam nói chung. Đề tài không đưa ra bài học kinh nghiệm riêng cho bất cứ doanh nghiệp bán lẻ cụ thể nào.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: tổng hợp, phân tích, luận giải, thống kê, hệ thống hoá, so sánh…

5. Bố cục của khoá luận

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo nội dung khoá luận gồm 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về văn hoá doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại Tập đoàn Wal-Mart

Chương III: Bài học kinh nghiệm từ xây dựng văn hoá doanh nghiệp của tập đoàn Walmart cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ của Việt Nam

Bởi thời gian thực hiện đề tài không dài, khả năng xét đoán mọi vấn đề nhiều khi còn mang tính chủ quan và tài liệu tham khảo chưa được phong phú và công phu nên chắc chắn bài khoá luận sẽ còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Rất mong sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thanh Bình đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

1. Khái niệm

1.1. Văn hoá

Văn hoá gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Nhưng mãi đến thế kỷ 17, nhất là nửa cuối thế kỷ 19 trở đi, các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung vào nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Bản thân vấn đề văn hoá rất đa dạng và phức tạp, nó là một khái niệm có ngoại diên rất lớn, được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tích chất và hình thức biểu hiện. Do đó, khi có những nghiên cứu tiếp cận khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa. Hiện chưa có một khái niệm thống nhất về văn hoá. Chúng ta có thể hiểu văn hoá theo một số khái niệm sau đây:

Theo UNESCO: “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng quốc gia, xã hội. Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng.”1

Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”2

Theo E.Herriot: “Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả.”3

Tóm lại, văn hoá là một tổng thể các sáng tạo vật chất và không vật chất của một cộng đồng người trong quá trình quan hệ với thiên nhiên và với những cộng đồng người khác. Và không chỉ có các quốc gia, các dân tộc mới có văn hoá mà mỗi một tổ chức, một doanh nghiệp cũng có văn hoá riêng của mình.

1.2. Văn hoá doanh nghiệp Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Trong xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ (doanh nghiệp) cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hoá riêng biệt. Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nên nền văn hoá lớn. Như Edgar Schein, một nhà quản trị nổi tiếng người Mỹ có nói: “Văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội. Văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.

Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ bắt đầu chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những thành công đó. Cụm từ “corporate culture/organizational culture” (văn hoá doanh nghiệp, còn gọi là văn hoá xí nghiệp, văn hoá công ty) đã được các chuyên gia nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một Hồ Chí Minh tuyển tập – tập 3 (1995), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.

Schein, F. (2004), Corporate Culture and Leadership, Jossey Bass Publisher. trong những tác nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của các công ty Nhật trên khắp thế giới.

Đầu thập kỷ 90, người ta bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những nhân tố cấu thành cũng như những tác động to lớn của văn hoá đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Đã có rất nhiều khái niệm văn hoá doanh nghiệp được đưa ra nhưng cho đến nay chưa có một định nghĩa chuẩn nào được chính thức công nhận. Sau đây là một số khái niệm về văn hoá doanh nghiệp mang tính phổ biến:

Văn hoá doanh nghiệp là lối tư duy và lối làm việc đã thành thói quen và truyền thống, nó được chia sẻ ở mức độ nhiều hay ít giữa tất cả các thành viên; những điều đó các thành viên mới phải học và ít nhất phải chấp nhận một phần để hoà đồng với các thành viên và tổ chức. Theo nghĩa đó, văn hoá doanh nghiệp bao quát một phạm vi rộng cách ứng xử; các phương pháp sản xuất; kỹ năng nghề nghiệp và tri thức kỹ thuật; thái độ đối với các quy định của tổ chức; các thói quen và tập quán ứng xử trong quản lý; những mục tiêu đang quan tâm; cách tiến hành công việc kinh doanh; phương pháp thanh toán; những quy định cho các công việc khác nhau; niềm tin vào cách sống dân chủ và cùng nhau tham khảo ý kiến; các quy ước ít tự giác và những điều cấm đoán. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Văn hoá là một kiểu cách tín ngưỡng và hy vọng được các thành viên của tổ chức chia sẻ. Những niềm tin ấy, hy vọng ấy sinh ra các tiêu chí, chúng hình thành một cách mạnh mẽ cách ứng xử của các cá nhân, các nhóm trong tổ chức.6

Một phẩm chất thuộc cái riêng biệt về tổ chức – nó thể hiện mình có những phẩm chất khác thường, nó làm cho khác với những tổ chức khác trong cùng lĩnh vực.7

“Văn hoá” đề cập đến những niềm tin, giá trị, nguyên tắc ngầm tạo thành cơ sở cho việc quản lý một tổ chức cũng như cho tập hợp các hành động quản lý, hành vi quản lý, cả hai điều đó làm gương điển hình và tăng cường các nguyên tắc cơ bản ấy.8

Các định nghĩa trên đã phản ánh các cách hiểu khác nhau về văn hoá doanh nghiệp. Để làm rõ hơn khái niệm này, có thể sắp xếp các định nghĩa theo hai loại: ẩn dấu và thể hiện.

Loại định nghĩa theo kiểu ẩn dấu xem văn hoá doanh nghiệp là những yếu tố chứa đựng những nguyên tắc ẩn dấu được chia sẻ, được chấp nhận bởi một nhóm người trong tổ chức, quyết định nhận thức, suy nghĩ, hành động của họ và của tổ chức đối với các sự biến đổi của môi trường xung quanh.9

Theo hình thức thể hiện, văn hoá doanh nghiệp là hệ thống chia sẻ quan điểm nhận thức, quan điểm của các thành viên trong tổ chức, để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác 10

Tóm lại, văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên. Văn hoá doanh nghiệp biểu thị sự thống nhất trong nhận thức của tất cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng giúp phân biệt giữa tổ chức này với các tổ chức khác. Chúng được mọi thành viên trong tổ chức chấp thuận có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng và làm theo. Chính vì vậy, chúng còn được gọi là bản sắc văn hoá của một tổ chức.11

Văn hoá doanh nghiệp là hệ thống giá trị tinh thần, là cái hồn của doanh nghiệp, vậy phải chăng nó là vô hình, chỉ có thể cảm nhận chứ không có biểu hiện cụ thể? Theo quan điểm của một số nhà kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp vừa có tính hữu hình, vừa có tính vô hình. Nó có thể được thể hiện qua một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể nhưng cũng có thể chỉ là cảm nhận rất chủ quan của một khách hàng hay cộng đồng kinh doanh đối với doanh nghiệp. Cũng có ý kiến cho rằng văn hoá doanh nghiệp không phải là cái gì vô hình, ngược lại, thể hiện rõ trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp: trong mọi hành vi kinh doanh, giao tiếp của công nhân, cán bộ trong doanh nghiệp (kể cả trong nội bộ doanh nghiệp và với đối tác bên ngoài doanh nghiệp) và trong các hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp (từ mẫu mã, kiểu dáng, đến nội dung và chất lượng).

2. Chức năng của văn hóa doanh nghiệp

2.1. Xây dựng đoàn kết nội bộ

Một trong những chức năng của văn hoá doanh nghiệp là tạo ra cảm giác thống nhất của mọi thành viên, tạo ra hình ảnh “chúng tôi”, tập thể, bảo đảm sự hài hoà giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Trong văn hoá doanh nghiệp ở mỗi cương vị, mỗi vị trí từng thành viên đều nhận thức được vai trò của mình, nhận thức được những gì mà doanh nghiệp mong đợi và có thể đáp lại những mong đợi đó như thế nào? Văn hoá doanh nghiệp tạo điều kiện cho các thành viên nhận ra được những sắc thái riêng mà một tổ chức muốn vươn tới. Nó cũng tạo ra sự cam kết tự nguyện đối với những gì vượt ra ngoài phạm vi niềm tin và giá trị của mỗi cá nhân. Chúng giúp các thành viên mới nhận thức được ý nghĩa của các sự kiện và hoạt động của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp có tác dụng từ mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong doanh nghiệp, dần dần hình thành nên một giá trị định hướng, qua đó huy động tập thể công chức đồng tâm hiệp lực phấn đấu cho mục đích của toàn doanh nghiệp.

2.2. Tạo ra khuôn mẫu văn hoá Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Trong mỗi doanh nghiệp đều tồn tại những chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tôn trọng một cách thiêng liêng và truyền từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá doanh nghiệp thể hiện sự thống nhất cao trong nhận thức của mọi các thành viên về những giá trị đó và mỗi doanh nghiệp đều có hệ thống những chuẩn mực đặc trưng riêng. Trong môi trường cạnh tranh để phát triển, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều vấn đề thách thức thì những giá trị chuẩn mực tác động trực tiếp mỗi thành viên ở mọi khâu, mọi vị trí trong doanh nghiệp và sẽ hướng họ phải hành động và ra quyết định như thế nào để đưa doanh nghiệp vượt lên. Nhờ đó mà doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển

2.3. Tạo ra các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội

Các giá trị chuẩn mực đó được truyền bá, lưu trữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc; trở thành hệ thống các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao gồm chính trị đạo đức, luật pháp, khoa học, văn học nghệ thuật, các thể chế, thiết chế văn hoá, tập quán lối sống… tạo nên nền tảng tinh thần của mỗi dân tộc. Trong vai trò nền tảng tinh thần của xã hội và của mỗi doanh nghiệp, văn hoá là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Trước hết thông qua chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân và cộng đồng. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, phải hướng đến một xã hội công bằng dân chủ, văn minh, con người được hưởng hạnh phúc và phát triển toàn diện; chính vì vậy, văn hoá đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài của phát riển kinh tế xã hội. Như vậy thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ, lành mạnh sẽ không có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

3. Vai trò của văn hoá doanh nghiệp Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

3.1. Về mặt tích cực

Là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như: chất lượng sản phẩm, chi phí, sự linh hoạt (trước phản ứng của thị trường), thời gian giao hàng… Để có được những lợi thế này doanh nghiệp phải có những nguồn lực như nhân lực, tài chính, công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu, phương pháp làm việc (phương pháp 5M: man, money, material, machine, method). Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệu đóng vai trò lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng. Nguồn nhân lực đóng vai trò tham gia toàn bộ quá trình chuyển hoá các nguồn lực khác thành sản phẩm đầu ra, vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranh như chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng…

Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hoá (văn hoá doanh nghiệp). Nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách, nó tạo ra tính định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược đã lựa chọn của doanh nghiệp. Môi trường văn hoá của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ, động cơ lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác. Môi trường văn hoá càng trở nên quan trọng hơn trong các doanh nghiệp liên doanh, bởi vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá của các dân tộc, các nước khác nhau.

Vai trò phối hợp và kiểm soát

Nhìn một cách rộng hơn, văn hoá thúc đẩy sự thống nhất trong nhận thức, cũng chính là tạo thuận lợi trong phối hợp và kiểm soát. Văn hoá biểu hiện trong truyền thống của tổ chức, tạo ra khuôn mẫu ứng xử của tổ chức, được các thành viên chấp thuận và tuân thủ, thể hiện sự hoà đồng bên trong tổ chức nói chung, cũng như việc ra quyết định trong những trường hợp cụ thể. Đặc biệt là trong việc ra quyết định gặp phải những thực tế phức tạp, thì văn hoá doanh nghiệp sẽ có tác động để phạm vi hoá sự lựa chọn. Văn hoá không chỉ xem như một yếu tố thuận lợi cho phối hợp, mà trong hình thái giá trị, niềm tin, cách ứng xử, đặc biệt là cách nhận thức chung, văn hoá còn tạo ra sức mạnh để kiểm soát tổ chức. Những chính kiến văn hoá đã hạn chế một cách có hiệu quả hành vi của các thành viên trong tổ chức, họ chỉ được tự do thể hiện chính kiến cá nhân của mình trong khuôn khổ chung của tổ chức. Nhiều tổ chức cố gắng để tạp hợp văn hoá của họ cho lợi thế cạnh tranh, đây chính là một minh chứng về sức mạnh văn hoá để tạo ra những ứng xử mong muốn, và đảm bảo thực hiện được nguyên tắc.

Giúp giảm rủi ro trong công việc hàng ngày cấp độ cá nhân, một trong những chức năng của văn hoá là truyền tải những “nhận thức chung” qua quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên mới.

Điều này được thực hiện thông qua ý tưởng của văn hoá, mà các thành viên mới phải học để hiểu và thực hiện trong công việc. Thực hiện được điều này sẽ tạo cơ sở suy nghĩ cho mọi người để giảm sự lo âu buồn phiền, bình thường hoá mọi việc xung quanh, để có những lựa chọn dễ dàng và những hành động có suy nghĩ hơn, hợp lý hơn. Ở cấp độ tổ chức, với những biểu tượng, truyền thống văn hoá, một tổ chức có thể tạo ra một thế giới riêng cho tổ chức mình, trong đó sự phức tạp và các yếu tố rủi ro được giảm bớt. Trên cơ sở đó, tổ chức sẽ có khả năng kiểm soát các hoạt động của mình, tối đa hoá những hoạt động có hiệu quả.

Thu hút nhân tài, tăng cường sự gắn bó của người lao động 11

Hầu hết các tổ chức đều cố gắng để tạo động cơ làm việc cho nhân viên của họ thông qua cơ chế thưởng phạt. Mặc dù những yếu tố này rõ ràng có tác dụng, tuy nhiên, mong muốn làm việc của các nhân viên còn chịu tác động của các động cơ khách quan như ý nghĩa và sự thích thú đối với công việc, mục tiêu của họ với mục đích của tổ chức, họ cảm nhận giá trị của công việc và được đảm bảo, an toàn trong công việc. Một hình thái văn hoá phù hợp và thống nhất có tác động tạo ra sự trung thành, thúc đẩy niềm tin và giá trị chân chính, khuyến khích mọi thành viên mang hết nhiệt huyết để phục vụ cho doanh nghiệp

Tạo nên bản sắc của doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp và phân biệt doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác tạo nên bản sắc (phong thái, sắc thái, nền nếp, tập tục) của doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp di truyền, bảo tồn cái bản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế hệ thành viên, tạo ra khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp như là “bộ gen” của doanh nghiệp.

Những doanh nghiệp thành công thường là những doanh nghiệp chú trọng xây dựng, tạo ra môi trường văn hoá riêng biệt khác với các doanh nghiệp khác… Bản sắc văn hoá không chỉ là tấm căn cước để nhận diện doanh nghiệp mà còn là phương thức sinh hoạt và hoạt động chung của doanh nghiệp. Nó tạo ra lối hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là bầu không khí, tình cảm, sự giao lưu, mối quan hệ và ý thức trách nhiệm, tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiện công việc. Ví dụ như trong ngành điện dân dụng, từ xưa người ta đã đặt tên cho từng xí nghiệp theo một phong cách riêng như: Hitachi: Võ sĩ hoang dã (Nobushi), Matsushita: Thương nhân (Shonin), Mitsubisi: Quý nhân (Donosama), Toshiba: Võ sĩ đạo (Samurai) Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược 12

Văn hoá doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định chiến lược phát triển của tổ chức thông qua việc chọn lọc thông tin thích hợp (áp dụng kinh nghiệm, mô hình phù hợp), đặt ra những mức tiêu chuẩn theo giá trị của tổ chức, cung cấp những tiêu chuẩn, nguyên tắc cho các hoạt động. Hoạch định chiến lược phát triển của tổ chức sẽ giúp cho các thành viên thấy hết vai trò của họ trong tổ chức, cung cấp những cơ sở quan trọng để các thành viên tổ chức hiểu được môi trường của họ và vị trí của doanh nghiệp trong môi trường đó.

Văn hoá doanh nghiệp cũng sẽ có ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chiến lược của tổ chức. Bởi vì một nền văn hoá mạnh, tức là tạo được một sự thống nhất và tuân thủ cao đối với giá trị, niềm tin của tổ chức sẽ là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công chiến lược của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp với chức năng tạo được cam kết cao của các thành viên trong tổ chức, yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng suất lao động của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp, chính vì vậy sẽ góp phần quan trọng tạo nên một “công thức thành công” cho các doanh nghiệp trên con đường hội nhập.

3.2. Về mặt hạn chế

Văn hoá doanh nghiệp ngăn cản sự thay đổi

Văn hoá doanh nghiệp có thể sẽ tạo ra một lực cản đối với những mong muốn thay đổi để thúc đẩy hiệu quả của doanh nghiệp. Điều này sẽ xuất hiện trong một môi trường năng động, thay đổi nhanh chóng. Văn hoá doanh nghiệp lúc đó có thể sẽ trở thành lực cản đối với sự thay đổi.

Văn hoá doanh nghiệp ngăn cản tính đa dạng của doanh nghiệp

Việc tuyển dụng những thành viên mới có nguồn gốc đa dạng về kinh nghiệm, xuất xứ, dân tộc hay trình độ văn hoá dường như làm giảm bớt những giá trị văn hoá mà mọi thành viên của doanh nghiệp đang cố gắng để phù hợp và đáp ứng. Văn hoá doanh nghiệp vì vậy có thể tạo ra rào cản sức mạnh đa dạng mà những người với những kinh nghiệm khác nhau muốn đóng góp cho doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp ngăn cản sự đoàn kết và hiệp lực của việc hợp tác giữa các doanh nghiệp

Nếu như trước đây sự hoà hợp về các yếu tố cơ bản trong kinh doanh có thể là cơ sở tốt cho một liên doanh, nhưng ngày nay điều đó chưa đủ nếu chúng ta không tính đến yếu tố văn hoá doanh nghiệp. Nhiều liên doanh đã vấp phải thất bại do sự đối nghịch của văn hoá được hợp thành bởi hai tổ chức thành viên. Lấy ví dụ một công ty nhà nước với phong cách làm việc quen theo kiểu các kế hoạch, công việc được chỉ định từ nhà nước xuống và mọi người không cần thiết phải nỗ lực trong công việc của mình bởi nếu không làm việc cũng không bị đuổi việc; hợp tác với một công ty tư nhân nước ngoài với phong cách làm việc năng động, sáng tạo, tự chủ, và mọi nhân viên phải tận dụng tối đa thời gian cho công việc, không được ngồi nói chuyện trong giờ làm. Kết quả của việc hợp tác này là lãnh đạo và nhân viên không hiểu nhau, không thể hợp tác làm việc với nhau được. Vậy công ty liên doanh này liệu sẽ đi về đâu, sẽ có thể tồn tại được bao lâu?

4. Các yếu tố của văn hoá doanh nghiệp Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

4.1. Các giá trị vô hình

Sứ mệnh của doanh nghiệp

Sứ mệnh của doanh nghiệp là một bản tuyên bố “lý do tồn tại” của doanh nghiệp, còn gọi là quan điểm, tôn chỉ, tín điều, nguyên tắc, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Sứ mệnh là phát biểu của doanh nghiệp mô tả doanh nghiệp là ai, doanh nghiệp làm những gì, làm vì ai và làm như thế nào.

Triết lý kinh doanh

Các triết lý kinh doanh thể hiện quan điểm của doanh nghiệp về khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, việc tuân thủ luật pháp, con người, trách nhiệm xã hội về sản phẩm và dịch vụ… Triết lý này phải được các thành viên trong doanh nghiệp chấp nhận và tự giác tuân theo.

Đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Tính cách của doanh nghiệp nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có nền văn hoá mạnh thường đặt lên hàng đầu một nét đặc trưng văn hoá nhằm định hướng cho doanh nghiệp đó và phong cách hoạt động của các thành viên. Sự khác nhau về đặc trưng văn hoá mà các doanh nghiệp đã chọn là tính cách riêng của doanh nghiệp đó. Tính cách riêng của doanh nghiệp bao gồm:

  • Tính cách ưa mạo hiểm
  • Tích cách chú trọng chi tiết
  • Tính cách chú trọng kết quả
  • Tính cách chú trọng con người
  • Tính cách chú trọng tập thể
  • Tính cách chú trọng sự nhiệt tình của người lao động
  • Tính cách chú trọng sự ổn định

Lý tưởng

Theo Schein, lý tưởng là những động lực, giá trị, ý nghĩa cao cả, sâu sắc, giúp con người cảm thông, chia sẽ và dẫn dắt họ trong nhận thức, cảm nhận và xúc động trước sự vật và hiện tượng14. Lý tưởng của tổ chức có thể là sứ mạng, lợi nhuận, đỉnh cao công nghệ trong khi lý tưởng của nhân viên là kiếm được nhiều tiền, là danh phận. Do vậy, nhiều tổ chức đã cố kết hợp lý tưởng của tổ chức và của nhân viên làm một qua thoả mãn các nhu cầu của nhân viên.

Thái độ

Thái độ là chất gắn kết niềm tin và chuẩn mực đạo đức thông qua tình cảm, thái độ phản ảnh thói quen theo tư duy, kinh nghiệm để phản ánh mong muốn hay không mong muốn đối với sự vật hiện tượng. Như vậy thái độ luôn cần đến những phán xét dựa trên cảm giác, tình cảm. ở đây ta thường nói ý kiến, thái độ của một người xét đến khía cạnh nào đó có thể cùng nghĩa với khái niệm ý kiến.

Niềm tin

Khái niệm niềm tin đề cập đến quan điểm của mọi người về các sự việc là đúng hay sai. Niềm tin khác lý tưởng ở chỗ, nó hình thành một cách có ý thức, được xét đoán và rõ ràng, trong khi lý tưởng thì khó giải thích hơn, lý tưởng có thể đến từ sau trong tiềm thức. Niềm tin được hình thành từ ở mức độ nhận thức đơn giản trong khi lý tưởng được hình thành không chỉ ở niềm tin mà con bao gồm cả các giá trị về cảm xúc và đạo đức của họ. Xây dựng niềm tin trong doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản lý phải có trình độ kiến thức và kinh nghiệm.

4.2. Các giá trị hữu hình Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Đó là những cái có thể nhìn thấy, nghe they được khi tiếp xúc với doanh nghiệp, đây là những biểu hiện bên ngoài của hệ thống văn hoá doanh nghiệp bao gồm: ngôn ngữ, công nghệ, sản phẩm, phong cách của tổ chức đó và được thể hiện qua cách ăn mặc, cách biểu lộ cảm xúc của nhân viên, những truyền thuyết về người sáng lập doanh nghiệp…

Những quá trình và cấu trúc hữu hình của văn hoá doanh nghiệp bao gồm các nội dung sau:

  • Kiến trúc của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố như mặt bằng, cổng, cây cối, quầy, bàn ghế, lối đi, nhà xưởng, các bức tranh, bằng khen. Tất cả được sử dụng tạo cảm giác thân quen với khách hàng, nhân viên cũng như tạo môi trường làm việc tốt nhất cho nhân viên. Kiến trúc chứa đựng lịch sử về sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp, trở thành biểu tượng cho sự phát triển của doanh nghiệp, ngôi nhà của toàn thể nhân viên công ty.
  • Sản phẩm: giống như nền văn minh lúa nước, chúng ta chưa nói đến tốt xấu nhưng nghe đến phở là người ta nhắc đến người Việt. Vậy thì khi sản phẩm, dịch vụ phát triển đến mức cao, trở thành thương hịêu, nó sẽ là biểu tượng lớn nhất của doanh nghiệp, xét về mặt giá trị, nó cũng là một yếu tố của văn hoá doanh nghiệp..
  • Máy móc, công nghệ.
  • Các nghi lễ: Đây là các hoạt động từ trước và được chuẩn bị kỹ lưỡng gồm các hoạt động, sự kiện văn hoá chính trị được thực hiện chính thức hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ tổ chức. Các nghi lễ gồm các loại sau đây:
  • Nghi lễ chuyển giao: Mục đích chính nhằm để giới thiệu các thành viên mới, bổ nhiệm, ra mắt. Tác dụng của chúng là tạo thuận lợi cho cương vị mới, vai trò mới.

Nghi lễ củng cố: là các lễ phát phần thưởng, nhằm mục đích củng cố hình thành bản sắc văn hoá doanh nghiệp và tôn thêm vị thế của các thành viên. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Nghỉ lễ nhắc nhở: gồm các hoạt động sinh hoạt văn hoá, chuyên môn, khoa học. Mục đích của nghi lễ này là duy trì cơ cấu xã hội và làm tăng thêm năng lực tác nghiệp của tổ chức. Các cuộc hội họp thường kỳ của công ty cũng mang tính chất này. Ngày thành lập doanh nghiệp, ngày giỗ tổ ngành…cũng thuộc dạng này.

Nghỉ lễ liên kết: gồm lễ, tết, liên hoan, dã ngoại, các cuộc thi đấu thể thao…mục đích là khôi phục và khích lệ, chia sẽ tình cảm và sự cảm thông gắn bó giữa các thành viên trong tổ chức.

Giai thoại: giai thoại thường được thêu dệt từ các sự kiện có thực của tổ chức, được mọi thành viên chia sẻ và nhắc lại với các thành viên mới. Những câu chuyện, truyền thuyết, giai thoại về các năm tháng gian khổ và vinh quang của doanh nghiệp, về nhân vật anh hùng của doanh nghiệp (nhất là hình tượng người thủ lĩnh khởi nghiệp)

Biểu tượng: gồm logo, kiểu chữ, đồng phục, thẻ nhân viên. Bản thân các yếu tố khác như lễ nghi, kiến trúc cũng truyền đạt các giá trị, ý nghĩa tiềm ẩn bên trong về tổ chức.

Khẩu hiệu thương mại: Nhiều tổ chức sử dụng các câu chữ đặc biệt, khẩu hiệu hay một ngôn từ để truyền tải một ý nghĩa cụ thể của nhân viên mình và những người hữu quan. Khẩu hiệu thương mại luôn được coi là một vũ khí quảng cáo, tiếp thị, xây dựng thương hiệu, và cạnh tranh vô cùng hiệu quả. Nó không chỉ nhắc nhở khách hàng về sự tồn tại của doanh nghiệp, thúc đẩy họ mua sản phẩn mà còn trở thành tôn chỉ hoạt động của công ty. Đấy là lý do mà gắn cùng với các nhãn hiệu với mỗi đợt sản phẩm mới phải là những slogan ấn tượng.

Các hành vi giao tiếp đối với khách hàng và đối tác kinh doanh: gồm giao tiếp thông qua lời nói và giao tiếp thông qua lời nói của nhân viên trong doanh nghiệp đối với xã hội. Giao tiếp thông qua lời nói là sự giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) hoặc gián tiếp (qua điện thoại) của những con người thuộc doanh nghiệp với xã hội như người bán hàng, người trực điện thoại, người gác cổng…Giao tiếp của nhân viên trong doanh nghiệp với xã hội là tập hợp tất cả các yếu tố để doanh nghiệp thể hiện mình là một tổ chức văn hóa với thế giới bên ngoài. Nhờ đó, xã hội cảm nhận được các giá trị văn hoá của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp được ăn sâu vào tâm trí của mọi người và họ chấp nhận mua sản phẩm của doanh nghiệp. Phương thức giao tiếp của nhân viên trong doanh nghiệp với xã hội chính là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối tác, nhà nước. Chính vì vậy để hoàn thiện được văn hoá doanh nghiệp của mình, các doanh nghiệp phải hoàn thiện văn hoá giao tiếp cho các nhân viên của mình thông qua các lớp học về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục.

Các phép ứng xử giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau: Ngày nay doanh nghiệp không chỉ là nơi làm việc mà còn là nơi để con người cống hiến và phục vụ. Đó còn là nơi con người sống, khôi phục và tái tạo sức lao động, sáng tạo, phát triển và hoàn thiện nhân cách của người lao động. Do vậy doanh nghiệp không chỉ là môi trường làm việc tốt mà còn là môi trường sống tối ưu cho người lao động – đó chính là môi trường văn hoá doanh nghiệp. Trong môi trường đó mối quan hệ giữa các thành viên hết sức cởi mở, thân thiện, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Mối quan hệ này lâu dần thành hệ thống tập quán, nề nếp, thói quen, thái độ, chuẩn mực hành vi ứng xử hàng ngày trong công việc và sinh hoạt của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.

II. NỘI DUNG XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

1. Quy trình xây dựng văn hoá doanh nghiệp

1.1. Xây dựng hệ thống định chế của doanh nghiệp

Triết lý kinh doanh cho doanh nghiệp

Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Theo định nghĩa này, cần lưu ý rằng con đường chung của sự hình thành các triết lý kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đi đến các tư tưởng triết học về kinh doanh bằng triết lý kinh doanh; tác giả của các triết lý kinh doanh thường là những người hoạt động kinh doanh – doanh nhân từng trải. Các triết lý kinh doanh đều có tính đặc thù nghề nghiệp cao; do vậy, không thể coi các quy luật và nguyên tắc triết học là triết lý kinh doanh; không phải cứ vận dụng triết học vào kinh doanh là rút ra được các triết lý kinh doanh. Các triết lý về các lĩnh vực khác của thế giới hay đời sống như chính trị, tình cảm gia đình, tình yêu… đều không phải là triết lý kinh doanh. Nhà kinh doanh phải dựa vào và tuân theo một triết lý nào đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình. Có thể tóm tắt vai trò của triết lý kinh doanh trong một số điểm sau:

Triết lý kinh doanh là cốt lõi của văn hoá doanh nghiệp, tạo ra phương thức phát triển bền vững của nó.

Văn hoá doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố cấu thành, mỗi thành tố của văn hoá doanh nghiệp có một vị trí, vai trò khác nhau trong một hệ thống chng, trong đó hạt nhân của nó là các triết lý và hệ giá trị

Do vạch ra sứ mệnh – mục tiêu, phương thức thực hiện mục tiêu, một hệ thống các giá trị có tính pháp lý và đạo lý, chủ yếu là giá trị đạo đức của doanh nghiệp, nên triết lý doanh nghiệp tạo nên một phong thái văn hoá đặc thù của doanh nghiệp. Nói ngắn gọn hơn, triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của phong cách – phong thái của doanh nghiệp đó.

Triết lý kinh doanh là cái ổn định, rất khó thay đổi, nó phản ánh cái tinh thần – ý thức của doanh nghiệp ở trình độ bản chất, có tính khái quát, cô đọng và hệ thống hơn so với các yếu tố ý thức đời thường và tâm lý xã hội. Một khi đã phát huy được tác dụng thì triết lý doanh nghiệp trở thành ý thức lý luận và hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp, bất kể có sự thay đổi về lãnh đạo. Triết lý doanh nghiệp ít hiện hữu với xã hội bên ngoài; nó là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là cái tinh thần “thấm sâu vào toàn thể doanh nghiệp, từ đó hình thành một sức mạnh thống nhất”, tạo ra một lực hướng tâm chung. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Triết lý doanh nghiệp là công cụ định hướng và cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vốn rất phức tạp và biến đổi không ngừng. Để tồn tại được doanh nghiệp cần có tính mềm dẻo, linh hoạt và hơn thế nữa, muốn phát triển được lâu dài, nó cần thêm năng lực chủ động kinh doanh với tính khôn ngoan, sáng suốt. Tính định tính, sự trừu tượng của triết lý kinh doanh cho phép doanh nghiệp có sự linh hoạt nhiều hơn trong việc thích nghi với môi trường đang thay đổi và các hoạt động bên trong. Nó tạo ra sự linh động trong việc thực hiện, sự mềm dẻo trong kinh doanh. Nó chính là một hệ thống các nguyên tắc tạo nên cái “dĩ bất biến ứng vạn biến” của doanh nghiệp

Triết lý doanh nghiệp có vai trò định hướng, là một công cụ để hướng dẫn cách thức kinh doanh phù hợp với văn hoá doanh nghiệp. Nếu thiếu một triết lý doanh nghiệp có giá trị thì chẳng những tương lai lâu dài của doanh nghiệp có độ bất định cao mà ngay trong việc lập các kế hoạch chiến lược và dự án kinh doanh của nó cũng rất khó khăn vì thiếu một quan điểm chung về sự phát triển giữa các tầng lớp, bộ phận của tổ chức doanh nghiệp. Sự trung thành với triết lý kinh doanh còn làm cho nó thích ứng với những nền văn hoá khác nhau ở các quốc gia khác nhau đem lại thành công cho các doanh nghiệp.

Triết lý kinh doanh là cơ sở để quản lý chiến lược của doanh nghiệp. Đối với tầng lớp cán bộ quản trị, triết lý doanh nghiệp là một văn bản pháp lý và cơ sở văn hoá để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược, trong những tình huống mà sự phân tích kinh tế lỗ – lãi vẫn chưa giải quyết được vấn đề.

Triết lý doanh nghiệp là một phương tiện để giáo dục, phát triển nguồn nhân lực và tạo ra một phong cách làm việc đặc thù của doanh nghiệp.

Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên quan đến công tác tuyển dụng, đào tạo, tổ chức và sử dụng, đãi ngộ và thúc đẩy đội ngũ của nó. Nếu đặt ra mục tiêu xây dựng một nguồn nhân lực thống nhất, phát huy các yếu tố nhân văn của nguồn lực trung tâm này để làm chủ thể cho phương thức phát triển bền vững của doanh nghiệp thì trong các công việc trên, cần được định hướng bằng một triết lý chung. Triết lý doanh nghiệp cung cấp các giá trị, chuẩn mực hành vi nhằm tạo nên một phong cách làm việc, sinh hoạt chung của doanh nghiệp, đậm đà bản sắc văn hoá của nó.

Công tác giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quyết định sự thành hay bại của doanh nghiệp. Và vấn đề đầu tiên mà các cán bộ, công nhân viên mới phải học là sự hoà nhập của họ với môi trường văn hoá của công ty. Triết lý doanh nghiệp là nội dung của bài học thứ nhất đối với mọi thành viên trong doanh nghiệp. Với việc vạch ra lý tưởng và mục tiêu kinh doanh (thể hiện rõ ở phần sứ mệnh), triết lý kinh doanh giáo dục cho công nhân viên chức đầy đủ về lý tưởng, về công việc và trong một môi trường văn hoá tốt, nhân viên sẽ tự giác hoạt động, phấn đấu vươn lên, ở họ có lòng trung thành và tinh thần lao động hết mình vì doanh nghiệp.

Do triết lý kinh doanh đề ra một hệ giá trị đạo đức chuẩn làm căn cứ đánh giá hành vi của mọi thành viên nên nó có vai trò điều chỉnh hành vi của nhân viên qua việc xác định bổn phận, nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với doanh nghiệp, với khách hàng và xã hội nói chung. Triết lý kinh doanh chứa đựng trong nó những chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc hoạt động để biểu dương những hành vi tốt và hạn chế những hành vi xấu. Vì vậy mà những sự lựa chọn về đạo lý là cố hữu khi soạn thảo các quyết định trong kinh doanh, sự tôn trọng các nguyên tắc đạo đức là cơ sở để đánh giá tinh thần trách nhiệm cá nhân. Trong triết lý của các công ty ưu tú những đức tính tốt như trung thực, liêm chính, tính đồng đội và sẵn sàng hợp tác, tôn trọng cá nhân, tôn trọng kỷ luật thường được nêu ra.

Như vậy, vai trò của triết lý kinh doanh có thể so sánh với bất kỳ một nguồn lực nào khác của doanh nghiệp như vốn, tài sản hoặc công nghệ.

Triết lý doanh nghiệp được hình thành từ kinh nghiệm, thực tiễn thành công nhất định trong kinh doanh của người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp. Họ đã kiểm nghiệm rồi đi đến một sự tin tưởng rằng doanh nghiệp của họ cần có một cương lĩnh, một cách thức kinh doanh riêng và việc truyền bá, phát triển cương lĩnh, cách thức này là yếu tố rất quan trọng để tiếp tục thành công; do đó cần phải có một triết học quản lý được thể hiện bằng văn bản, gửi đến tất cả các nhân viên như một văn bản đạo lý giáo dục cho tất cả cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp.

Các yếu tố niềm tin và giá trị cho văn hoá doanh nghiệp dựa trên triết lý kinh doanh của doanh nghiệp

Dựa trên triết lý kinh doanh mà doanh nghiệp đã xây dựng ở bước trên, ban lãnh đạo cần xây dựng những giá trị cốt lõi cho doanh nghiệp. Đây sẽ là phương hướng, mục tiêu, kim chỉ nam để các nhân viên trong doanh nghiệp thực hiện theo, coi đó là mục đích làm việc để hướng tới. Dần dần, những giá trị này sẽ trở thành thói quen, đương nhiên và sẽ trở thành ngầm định. Lúc đó, việc đưa một giá trị mong muốn vào doanh nghiệp đã thành công.

Định hướng và tầm nhìn chiến lược

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp hợp lý thì không chỉ dừng lại ở việc họp hành đề xuất ý kiến trong mấy ngày nghỉ cuối tuần tại một khu nghỉ nào đó của công ty. Trái lại cần phải có một cam kết lâu dài ghi nhớ những nội dung cốt yếu và buộc mọi người trong công ty thực hiện chúng nhằm đem lại những kết quả như mong muốn. Tuy nhiên những nỗ lực bỏ ra để làm được việc này cũng khá là đáng kể.

Vai trò trước tiên của những người lãnh đạo đứng đầu công ty là xác định một kế hoạch rõ ràng và đặt ra một định hướng chiến lược cho công ty của mình. Kế hoạch và định hướng này giúp cho công ty có thể cạnh tranh trên thị trường và phát triển hoạt động của mình trong một thời gian dài. Việc làm này cần phải giúp công ty trong việc đưa ra quyết định nên tập trung nguồn lực của công ty vào đâu, đầu tư vào đâu thì có thể đem lại lợi nhuận tối đa. Nó cũng phải là một quá trình mà qua đó những người điều hành công ty phát hiện ra được những ý tưởng mới trong khi tìm ra điểm yếu, điểm mạnh của công ty, những cơ hội và khó khăn mà công ty đã, đang và sẽ phải đối mặt. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Vai trò của những người lãnh đạo công ty không chỉ dừng ở việc vạch ra kế hoạch chiến lược mà còn phải tiếp xúc trao đổi với nhân viên của mình và thay đổi suy nghĩ của họ nhằm thực hiện được những cam kết của mình về hướng phát triển mới của công ty. Những người lãnh đạo cũng phải giải thích tường tận những giá trị và niềm tin chung mà mọi nhân viên trong công ty cần phải ghi nhớ để đạt được kế hoạch mục tiêu của công ty. Điều này chắc chắn sẽ tác động đến cách thức làm việc của họ.

Đạo đức kinh doanh

Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh – do kinh doanh là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử về đạo đức không hoàn toàn giống với vác hoạt động khác: tính thực dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế… hoặc sang các quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ, con cái thì đó lại là những thói xấu bị xã hội phê bình. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.

Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:

  • Tính trung thực: không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh, nhất quán trong lời nói và làm, trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục, trung thực trong giao tiếp với bạn hàng và người tiêu dùng…
  • Tôn trọng con người: Đối với những cộng sự và dưới quyền cần tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác. Đối với khách hàng phải tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng. Đối với đối thủ cạnh tranh cũng phải tôn trọng lợi ích của đối thủ.
  • Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội
  • Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt

1.2. Xây dựng môi trường làm việc

Kiến thức, kĩ năng, tinh thần, thái độ đối với các thành viên trong doanh nghiệp.

Trong bước này, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần đặt ra một hệ thống quy định những tiêu chuẩn về kiến thức, trình độ chuyên môn đối với các nhân viên trong doanh nghiệp ví dụ như yêu cầu về trình độ học vấn, yêu cầu về kĩ năng. Điều này là rất cần thiết vì nó giúp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp có cơ sở để tuyển chọn nhân viên phù hợp với từng vị trí cũng như đánh giá được chất lượng và hiệu quả công việc trong quá trình làm việc. Đồng thời, đây là cơ sở để các nhân viên không ngừng phấn đấu, rèn luyện mình sao cho đáp ứng được yêu cầu của công việc. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng riêng cho mình những tiêu chuẩn về thái độ của nhân viên đối với nhân viên, của nhân viên với khách hàng, nhân viên với lãnh đạo và ngược lại lãnh đạo với nhân viên. Đây là việc làm hết sức quan trọng vì nó tạo nên bộ mặt của doanh nghiệp khi giao tiếp với khách hàng, với đối tác, tạo nên những ấn tượng tốt đẹp trong mắt người tiêu dùng.

Môi trường làm việc thân thiện và cởi mở

Một môi trường làm việc cởi mở sẽ là nơi mà người nhân viên có thể chia sẻ thông tin và kiến thức một cách tự do, thoải mái và chắc chắn điều này sẽ giúp doanh nghiệp có thể đạt được những mục tiêu của mình. Thực tế là nếu như người lãnh đạo không tạo ra được một môi trường làm việc cởi mở thì sẽ chẳng nhận được ý kiến phản hồi nào từ phía nhân viên, dẫn đến tình trạnh mù mờ về thông tin. Nhân viên không có cơ hội đưa ra ý kiến của mình, dần dần đưa đến tình trạng bất mãn. Hậu quả là họ không làm việc hết mình, họ không muốn tìm tòi những ý tưởng mới hay ngại thay đổi vì sợ bị cấp trên khiển trách. Môi trường làm việc thân thiện sẽ có sự tồn tại của niềm vui, sự chia sẻ, cộng tác và kết nối.

Cơ chế khen thưởng, kỉ luật

Việc khen thưởng, đề bạt vào các chức danh, các biểu tượng về địa vị và các tiêu chí đề bạt cần nhất quán với các tuyên bố về nhiệm vụ, về giá trị mà doanh nghiệp hướng tới. Kinh nghiệm của Mai Linh là không bỏ qua việc khen thưởng, động viên những nhân viên biết trả lại của rơi của khách hàng, những hành vi cứu giúp người bị nạn…Điều này nhằm củng cố thêm uy tín cho doanh nghiệp trước xã hội.

Xây dựng cơ chế khen thưởng trên cơ sở công bằng: khen thưởng không công bằng chính là con đường ngắn nhất huỷ hoại sự thành công của một doanh nghiệp. Khen thưởng như nhau đối với mọi nhân viên cho dù kết quả công việc họ làm khác nhau là một việc làm thiếu công bằng. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải xây dựng những tiêu chí khen thưởng để đánh giá hiệu quả công việc để không gặp phải những vấn đề gì khi gắn công việc với khen thưởng. Tuy nhiên, khen thưởng không chỉ dừng lại ở việc khen thưởng bằng vật chất mà còn khen thưởng bằng tinh thần như động viên, khích lệ, cổ vũ tinh thần nhân viên mỗi khi họ đạt được một thành tích nhất định.

Cơ chế kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân và doanh nghiệp

Không phải lợi ích cá nhân và lợi ích của doanh nghiệp bao giờ cũng thống nhất, cũng quy về một mối do vậy lãnh đạo doanh nghiệp cần phải kiên trì, bền bỉ, quyết đoán trong việc kết hợp hài hoà hai lợi ích này. Lợi ích cá nhân và doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó với nhau. Lợi ích cá nhân nằm trong tổng thể lợi ích chung của cả một tập thể và ngược lại lợi ích tập thể tạo điều kiện cho lợi ích cá nhân được thực hiện. Doanh nghiệp cần phải xây dựng được một cơ chế kích thích và thúc đẩy sao cho mỗi cá nhân hăng hái thực hiện lợi ích của mình đồng thời thực hiện lợi ích của doanh nghiệp.

1.3. Xây dựng yếu tố vật chất cho doanh nghiệp Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Thiết kế biểu tượng: logo, khẩu hiệu thương mại

Các lôgô, khẩu hiệu, ngôn ngữ, huyền thoại trong công ty, kiến trúc và màu sắc trang trí… cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi ứng xử của nhân viên, đến đời sống văn hoá của doanh nghiệp. Có hai sản phẩm thường cho ta hiểu sâu về cơ cấu của văn hoá một tổ chức là lôgô và những tuyên bố về nhiệm vụ. Lôgô của hãng Volvo dùng hình ảnh tay nắm cổ tay, biểu hiện không che giấu giá trị của các mối quan hệ hợp tác. Hãng Apple dùng hình ảnh nhiều màu sắc của quả táo cấm Eden, có mất đi một miếng – tượng trưng cho sự sinh thành một tri thức mới.

Các doanh nghiệp của chúng ta phần lớn chưa nhận thức ra ảnh hưởng của các yếu tố trên trong việc tạo ra nét văn hoá riêng, ấn tượng riêng của doanh nghiệp trong một thế giới cạnh tranh. Lôgô của Mai Linh có thể chưa tạo ra ấn tượng trong khách hàng của họ song rõ ràng màu xanh cây lá (màu áo lính sau chiến tranh gác súng cùng nhau gây dựng công ty, màu của môi trường trong sạch) trên tấm các giao dịch, trên phù hiệu, trên cà vạt nhân viên, trên màu sơn ở ôtô… cùng cung cách ứng xử tận tình chu đáo thể hiện trong lời nói, trong hành động đã gợi nhớ về Mai Linh.

Đồng phục cho nhân viên

Việc xây dựng đồng phục cho nhân viên là rất quan trọng trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, việc thực hiện đồng phục tại các doanh nghiệp còn rất nhiều vấn đề đáng bàn. Ví dụ như cùng là đồng phục áo dài nhưng mỗi một nhân viên lại mặc một màu, một kiểu. Đó chưa thể coi là đồng phục được. Do vậy nếu chọn áo dài làm đồng phục cần phải thống nhất màu, thống nhất kiểu cũng như chất liệu.

Về mẫu bảo hộ lao động: theo quan điểm của các nhà nghiên cứu và quản lý thì việc nghiên cứu thống nhất mẫu đồng phục và quần áo bảo hộ lao động cho từng chức danh trong đó có giao dịch viên là việc làm cần thiết để đảm bảo an toàn vệ sinh cho người lao động, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý lao động và tạo tác phong hiện đại văn minh của cán bộ công nhân viên khi giao dịch với khách hàng, làm nổi bật văn hoá doanh nghiệp.

2. Các rào cản đối với quá trình xây dựng văn hoá doanh nghiệp Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

Xây dựng văn hoá doanh nghiệp không phải là ngày một ngày hai mà đòi hỏi rất nhiều cố gắng và công sức. Văn hoá doanh nghiệp phục vụ nhiều đối tượng khác nhau, xong khách hàng của công ty là một trong những điểm quan trọng nhất khi xác định các yếu tố văn hoá doanh nghiệp. Thực tế có nhiều vấn đề cần xác định khi xây dựng văn hoá doanh nghiệp xong hai yếu tố chi phí và thời gian là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả của chương trình thực hiện. Vấn đề gây đau đầu nhất với các chủ doanh nghiệp là không có tiền thực hiện hoạt động kinh doanh, lấy đâu ra tiền để thực hiện chương trình? Việc thực hiện văn hoá doanh nghiệp không phải ngày một ngày hai, mà là một quá trình lâu dài gồm các bước thực hiện khác nhau, thực hiện cái nào trước, cái nào sau. Hơn nữa, thời gian của doanh nghiệp còn để thực hiện kinh doanh, lấy đâu thời gian để thực hiện văn hoá? Chính vì vậy áp lực về chi phí và thời gian rất lớn, là rào cản chính cho việc thực hiện văn hoá hay không. Giải pháp cho vấn đề này là phải phân chi phí thực hiện thành nhiều “gói” khác nhau, xác định các loại chi phí hợp lý nhất. Ngoài ra, phải tiến hành tổ chức, kiểm tra quá trình thực hiện đầy đủ và chuyên nghiệp.

Tóm lại, văn hoá doanh nghiệp là một vấn đề rất lớn, quyết định sự trường tồn, phát triển của doanh nghiệp, nó không chỉ đơn thuần là hình thức bên ngoài, hành vi ứng xử thông thường mà còn là giá trị cốt lõi của mỗi một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải có cách hiểu đúng đắn về tổng thể văn hoá doanh nghiệp và các bước cơ bản để xây dựng nó. Xây dựng văn hoá doanh nghiệp không đơn thuần là liệt kê các giá trị doanh nghiệp mong muốn mà đòi hỏi sự khởi xướng, cổ vũ, động viên của lãnh đạo doanh nghiệp, sự thấu hiểu, nỗ lực của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là mục tiêu hướng tới nhằm tạo ra những giá trị văn hoá riêng biệt với các doanh nghiệp khác đồng thời cũng là động lực để phát triển doanh nghiệp mang tính nhân văn và bền vững. Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Khái quát về văn hóa tập đoàn Wal – Mart

One thought on “Khóa luận: Văn hoá doanh nghiệp tại tập đoàn Wal – Mart

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp xây dựng văn hóa DN tại Wal - Mart

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464