Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Kinh tế tư nhân Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
III. Tình hình phát triển khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
1. Quá trình phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã mang lại hoà bình cho miền Bắc. Miền Nam vẫn thuộc ách thống trị của đế quốc Mỹ. Kinh tế hai miền phát triển theo hai hướng khác nhau. Sự phát triển của kinh tế tư nhân Việt Nam trong những năm này gắn với giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế tại miền Bắc. Còn tại miền Nam, kinh tế có sự phát triển vượt bậc, cơ cấu kinh tế có sự biến đổi. Những chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xoá bỏ những rào cản phong kiến, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói , do chính sách phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa nên khu vực kinh tế tư nhân tại miền Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong lĩnh vực thương nghiệp. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Thời kỳ 1976 – 1985 có thể đựơc coi là giai đoạn mà những tồn tại bất cập, vốn đã xuất hiện nhưng vẫn được che đậy ở các giai đoạn trước, đã được bộc lộ rõ nét. Trong môi trường như vậy, kinh tế tư nhân mới manh nha xuất hiện trong nông nghiệp đã nhanh chóng bị tiêu diệt. Trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, kinh tế tư nhân đã không còn cơ hội để tồn tại. Có thể thấy rằng, tình trạng kém phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn này gắn liền, nếu không muốn nói là xuất phát từ việc không thừa nhận vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế.
Trước tình hình đó, tháng 9/1979 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá IV) đã hé mở tư duy mới, đặt ra nhiệm vụ phải tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế quốc doanh, công ty hợp doanh, tập thể, cá thể, tư bản tư nhân được kinh doanh hợp pháp. Tuy nhiên, cho tới năm 1990 khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa phát triển mạnh.
Từ năm 1990 nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VII ( năm 1991), khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô vốn kinh doanh , lao động cũng như những đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế. Giá trị tài sản cố định của các doanh nghiệp tư nhân đều có xu hướng tăng, số lượng lao động bình quân trong doanh nghiệp tư nhân cũng tăng dần. Nhìn chung các loại hình kinh tế tư nhân có tốc độ tăng trưởng và phát triển khá cao.
Giai đoạn từ năm 2017 đến nay sẽ được xem xét cụ thể trong Chương II của Khoá luận này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
2. Thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
2.1 Số lượng doanh nghiệp
Thuộc về khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam là các loại hình doanh nghiệp mà các nhà thống kê xếp vào nhóm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bao gồm: Tập thể, tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần có vốn nhà nước, công ty cổ phần không có vốn nhà nước. Số liệu thống kê cho thấy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh cả về số lượng và về tỉ trọng của nó so với tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Số doanh nghiệp nhà nước giảm dần từ 5.759 năm 2017 xuống 3.706 năm 2023, tức là giảm tỉ trọng từ 13,62% năm 2018 xuống còn 2,8% năm 2023. Trong khi đó, số doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng từ 35.004 năm 2017 đến 392 năm 2023, tức tăng tỉ trọng từ 82,77% năm 2017 lên 93,96% năm 2023. Nếu tính vào khu vực kinh tế tư nhân gồm cả bộ phân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì xu hướng này còn rõ nét hơn (xem bảng 2.1).
Bảng 2.1 : Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp
Hộ kinh doanh cá thể là loại hình đơn vị sản xuất khá phổ biến biến ở Việt Nam. Hình thức kinh doanh này tăng nhanh qua các thời kỳ. Từ năm 2017 đến năm 2023 có khoảng 800.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh, đưa tổng số hộ kinh doanh cá thể trong cả nước lên khoảng hơn 2,5 triệu hộ. Trong số hộ kinh doanh cá thể thì số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 51,89%, số hộ sản xuất công nghiệp chiếm 31,21%, giao thông vận tải chiếm 11,63%, xây dựng 0,81%, các hoạt động khác chiếm 5,46%.
Những chính sách hỗ trợ của nhà nước trong nông nghiệp là chỗ dựa vững chắc để các hộ kinh doanh nông nghiệp yên tâm đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Sự mở rộng quy mô của các hộ kinh doanh cá thể tất yếu nảy sinh một mô hình mới, mô hình trang trại. Có thể nói, đâu là một mô hình mới của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp. Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa với quy mô tương đối lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp. Trong những năm gần đây kinh tế trang trại nước ta đã có bước phát triển nhanh. Theo số liệu thống kê của 45 tỉnh, thành phố cho biết, tính đến cuối năm 2007 cả nước có 116.062 trang trại, bình quân đạt 2.580 trang trại/ tỉnh, nếu so sánh với con số 55.852 trang trại của năm 2017 thì mỗi năm có khoảng 8.600 trang trại mới, đạt mức tăng trưởng 20%/năm. Hiện nay vùng đồng bằng sông Cửu Long có số lượng trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ lệ trên 50% tổng trang trại trong cả nước. Theo Cục HTX & PTNT – Bộ NN & PTNT, giá trị sản phẩm bình quân một trang trại đạt 165 triệu đồng, thu nhập bình quân đạt 83 triệu/ 1 trang trại. Năm 2007, tổng vốn đầu tư của kinh tế trang trại đạt 14.803 tỷ đồng (không kể giá trị đất), trong đó vốn chủ trang trại chiếm 60%. Hầu hết các chủ trang trại đều trực tiếp lao động và quản lý trang trại, đồng thời thuê thêm lao động thường xuyên hoặc thời vụ. Năm 2007, các chủ trang trại đã sử dụng hơn 500.000 lao động, bình quân đạt 5 lao động/ trang trại, trong đó có đến 56% lao động thuê ở thị trường tự do, đem lại mức thu nhập trung bình từ 500-700 nghìn/lao động/tháng. Như vậy, sự ra đời của các trang trại đã làm cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ngày càng phát triển mạnh, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển trong nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp.
Luật Doanh nghiệp 2017, Luật Doanh nghiệp 2022 đã mở ra cơ hội kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Theo các Báo cáo sơ kết thực thi Luật Doanh nghiệp, tính đến hết năm 2007 tổng số doanh nghiệp tư nhân ở nước ta đã tăng nhiều, hiện nay có khoảng 300 ngàn doanh nghiệp. Số doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh cũng liên tục tăng nhanh với tốc độ chưa từng thấy: số doanh nghiệp mới đăng ký trong 9 năm, từ 1991 đến 1999, là 45.000 doanh nghiệp. Trong khi, con số này từ 2017 đến 2007 khoảng 260.000. Như vậy, tốc độ tăng số các doanh nghiệp tư nhân hàng năm hiện nay gấp 5,75 lần so với tốc độ trung bình hàng năm của thời kỳ 1991-1999. Tổng số vốn đăng ký mới đạt 869.268 tỷ đồng, tương đương 54 tỷ USD, số vốn đăng ký bổ sung trong quá trình hoạt động là 373.039 tỷ đồng, tương đương 23 tỷ USD .Tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân/ tổng đầu tư toàn xã hội tăng qua các năm: năm 2017 là 20%, năm 2020 là 27%, năm 2022 là 33,6 %.
2.2. Quy mô vốn Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể gia tăng, phản ánh khả năng huy động vốn từ trong dân cư cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân là rất lớn. Yếu tố tích cực này đặc biệt rõ nét khi Luật doanh nghiệp được thực thi.
Bảng 2.2: Tổng vốn đăng ký và vốn đăng ký bình quân của DN
Vốn đăng ký mới ở tất cả các tỉnh, thành phố trong thời kỳ 2017 – 2023 đều cao hơn số vốn đăng ký thời kỳ 1991-1999. Trong đó 33 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao gấp hơn 4 lần, có 11 tỉnh đạt tốc độ tăng cao hơn 10 lần. Đặc biết một số tỉnh như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên,… đạt tốc độ tăng gấp hơn 20 lần . Ở Hà Nội, giai đoạn từ năm 2017 đến nay có 40.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập với số vốn xấp xỉ là 100.000 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2017- 2007 tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn Hà Nội là 143.268,1 tỷ đồng thì đầu tư của khu vực tư nhân là 35.817 tỷ đồng chiếm 25%. Tại thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư xã hội cũng tăng từ 14,2% năm 2017 lên 26,5% vào năm 2007. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Tốc độ tăng vốn của từng loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân diễn mạnh mẽ đã làm thay đổi tỷ trọng vốn của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn xã hội. Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội tương ứng là 20% và 18,5% năm 2017, đến năm 2007 thì tỷ trọng này là 32,67% và 25%. Như vậy, tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước liên tục tăng đã vượt lên hơn hẳn tỉ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước vẫn có sự khác biệt. Điều này thể hiện rõ qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 2017 tới năm 2020, đây là giai đoạn mà vốn đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ nhỏ. Năm 2017 vốn thuộc khu vực nhà nước là 89.417 tỷ đồng chiếm 59,1%, đến năm 2020 vốn thuộc khu vực kinh tế nhà nước vẫn là 126.558 tỷ đồng chiếm 52,9%. Cả khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 112.688 tỷ đồng, cũng mới chỉ chiếm 47,1% tính đến năm 2020 (xem bảng 2.2). Giai đoạn 2021-2007 đánh dấu bước phát triển về quy mô vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư . Năm 2021 vốn thuộc khu vực nhà nước là 139.831 tỷ đồng, chiếm 48,1 %, con số này năm 2007 là 208.100 tỷ , tương đương 39,9 %. Với khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì con số này lần lượt là 51,9% năm 2021 và 60,1% năm 2007 .
Bảng 2.3: Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
Nếu so sánh đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư tư nhân nước ngoài, thì có một thực tế khá rõ nét là, nếu đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ diễn ra ở khoảng 15 tỉnh, thành phố, thì đầu tư của khu vực tư nhân trong nước đã được thực hiện và đang có xu hướng tăng nhanh trên tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ có thể đến được với các địa phương có đặc thù riêng hoặc có vị trí địa lý thuận lợi, thì đầu tư tư nhân trong nước xuất hiện ở tất cả các vùng, với nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả những vùng nghèo, với điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn. Đầu tư của khu vực tư nhân trong nước cũng tăng nhanh hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngay ở các địa phương vốn tập trung chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực tế cho thấy, thu hút vốn đầu tư tư nhân trong nước dễ được thực hiện và có tính khả thi cao hơn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đã và đang đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương. Ví dụ, đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh năm 2023 ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 48% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước gộp lại (42%).
Hộp 2. Vốn thực tế của doanh nghiệp tư nhân như thế nào?
Số vốn hoạt động thực tế của các doanh nghiệp tư nhân cũng là vấn đề cần được quan tâm. Tuy chưa có điều tra thực tế đầy đủ, nhưng khảo sát thực tế ở một số khu, cụm công nghiệp cho thấy, doanh nghiệp tư nhân trong nước đang là các nhà đầu tư chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn. Chỉ riêng số đầu tư thực tế của các doanh nghiệp tư nhân hiện tại ở các khu, cụm công nghiệp đã cao hơn số vốn đăng ký ở địa phương trong cùng thời kỳ. Ví dụ, ở Nam Định, số vốn đăng ký của các doanh nghiệp năm 2019 là 84,5 tỷ đồng, nhưng số vốn thực tế tại khu công nghiệp Hòa Xá lên tới gần 700 tỷ đồng; ở Lào Cai các con số tương ứng là 93,422 tỷ đồng. Tình hình ở Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình cũng diễn ra tương tự. Theo đánh giá của Sở kế hoạch và Đầu tư, thì mặc dù có khai khống trong một số trường hợp đăng ký hành nghề xây dựng, nhưng nhìn chung, vốn đầu tư thực hiện trên thực tế cao hơn tổng vốn đăng ký. Có không ít doanh nghiệp đã đầu tư vài chục, thậm chí vài trăm tỷ đồng.
Theo Báo cáo 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, nguồn vốn trong dân đã dần dần được sử dụng hiệu quả, thúc đẩy quy mô đầu tư của nền kinh tế. Năm 2017, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 31.542 tỷ đồng, chiếm 24,03% tổng vốn đầu tư xã hội, nhưng kết quả đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP đạt 81.455 tỷ đồng, chiếm 31,7% GDP toàn quốc. Đến năm 2007, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 184.000 tỷ đồng chiếm hơn 34,4% tổng vốn đầu tư xã hội. Như vậy, trong giai đoạn 2017- 2007, tỷ trọng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân trong tổng vốn đầu tư xã hội liên tục tăng qua các năm và đóng góp nhiều hơn vào GDP toàn quốc, chứng tỏ kinh tế tư nhân ngày càng sử dụng vốn hiệu quả hơn.
2.3. Cơ cấu theo ngành, địa bàn Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Cùng với sự lớn mạnh về số lượng và quy mô vốn, các doanh nghiệp có xu hướng đăng ký kinh doanh nhiều loại ngành nghề kinh doanh khác nhau
Bảng 2.4 : Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phần theo thành phần kinh tế
Khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển mạnh của công nghiệp cả nước nói chung. Năm 2017, giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân là 82499,1 tỷ đồng, tương đương 24,5 %.
Năm 2023 con số này là 401492,8 tỷ đồng, tương đương 33,3%.
Bảng 2.5: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế
Cùng với sự phát triển của xã hội nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, lĩnh vực dịch vụ ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu của con người. Đặc điểm của lĩnh vực thương mại và dịch vụ là đa dạng ngành nghề, vốn đầu tư ít, lợi nhuận cao nên lĩnh vực này thu hút một lượng lớn các hộ và các doanh nghiệp tham gia. Trong những năm gần đây số lượng doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này ngày càng tăng. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước. Số lượng thống kê cho thấy, nếu năm 2017 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mới đạt 177.743,9 tỷ đồng, chiếm 69,6% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của toàn xã hội, thì các con số này năm 2007 đã là 629.000,3 tỷ đồng chiếm 85,9%. Nếu tính vào khu vực kinh tế tư nhân cả bộ phận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài này thì xu hướng này còn thể hiện đậm nét hơn (xem bảng 2.4). Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Như vậy, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc cung ứng hàng hóa và doanh thu dịch vụ cho nền kinh tế ngày càng to lớn. Điều này cũng thể hiện thế mạnh của khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
Trong những năm gần đây, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân cũng vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ, trong khi đó dịch vụ phát triển mạnh ở những nơi tập trung đông dân cư, chính điều này dẫn tới sự mất cân bằng giữa các vùng trong quá trình phát triển.
Bảng 2.6: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo địa phương
Doanh nghiệp
Theo bảng số liệu 2.5, số lượng doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại ba khu vực đó là đồng bằng sông Hồng (27,37%); Đông Nam Bộ (36,89%) và đồng bằng sông Cửu Long (11,8%). Đó là nơi tập trung của những thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương,… ở đó có môi trường kinh doanh thuận lợi.
Tốc độ tăng các doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương rất khác nhau. Tại 18 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền Nam Trung Bộ, số doanh nghiệp đăng ký trong thời kỳ 2017-2022 thấp hơn nhiều so với thời kỳ 1991-1999, chẳng hạn, Trà Vinh, bằng 21% so với thời kỳ 1991-1999, Bến Tre, Đồng Tháp bằng 36%, Kiên Gian bằng 41%. Trong khi đó, ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Cạn, Lai Châu,… số doanh nghiệp mới đăng ký tăng gấp 4-8 lần so với thời kỳ 1991-1999.
Trong số các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất: doanh nghiệp tư nhân chiếm 55,76%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 33,68%, công ty cổ phần chiếm 2,55%, công ty hợp danh chiếm 0,01%.
Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.Trong giai đoạn 2017-2023 , TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thành lập gần 65.000 doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn đăng kí hơn 169.000 tỷ đồng và gần 100.000 chi nhánh, văn phòng đại diện. Thành phố Hà Nội cũng được coi là một trong số những địa phương có số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhiều nhất. Nếu như giai đoạn 1992-1999 thực hiện Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 4.449 doanh nghiệp ra đời, thì trong 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, Hà Nội có thêm gần 40.000 doanh nghiệp đăng ký mới. Cũng trong thời gian này, có hơn 20.000 lượt doanh nghiệp đăng ký sửa đổi nội dung đăng ký kinh doanh, trong đó có 7.163 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với tổng vốn đăng ký 26.400 tỷ đồng.
3. Đánh giá về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
3.1 Thành tựu
3.1.1. Đóng góp ngày càng lớn trong GDP
Năm 2017, GDP cả nước là 441.646 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế tư nhân (tính cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) đóng góp 271.505 tỷ đồng, tương đương 61,48 %. Năm 2020 con số này đạt 605.586 tỷ đồng, với sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP toàn quốc ngày càng đáng kể. Năm 2007 GDP cả nước là Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam 1.144.015 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh đóng góp 727.221 tỷ đồng, tương đương 63,57% (xem bảng 2.6 ).
Bảng 2.7: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế và phân theo ngành kinh tế
Điều này thể hiện sự lớn mạnh của khu vực tư nhân trong hầu hết các lĩnh vực và ngày càng đóng góp vị trí quan trọng trong GDP cả nước. Trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, rõ ràng không thể thiếu vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.
Một đặc điểm rõ nét là, tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân luôn gắn với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.8: Tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng trưởng khu vực KTTN từ 2017- 2007
Hộp 3. Kinh tế tư nhân Việt Nam trong công nghiệp
Riêng về sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp dân doanh đã tăng một cách đột biến, từ 11% năm 1999 lên 18,3% năm 2017, và năm 2020 là 18,4%. Giá trị sản xuất công nghiệp ở một số địa phương tăng với tốc độ cao như Hà Nội: 25,8%, Hải Phòng: 23%, Hà Tây: 38,4%, Hải Dương 25,2%, Vĩnh Phúc 27,2%, Bình Dương: 25,6% và Cần Thơ: 50,3%. Công nghiệp dân doanh đang đóng góp không nhỏ trên hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu; đã chiếm 50% giá trị công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp giấy bìa; 30% công nghiệp may mặc; 26,5% tổng giá trị sản lượng công nghiệp cả nước.
Tổng hợp từ Báo cáo 3 năm và Sơ kết 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp
Các ngành phi nông nghiệp năm 2007 đóng góp vào GDP được 119.337 tỷ đồng, chiếm 63,6% của khu vực tư nhân. Trong đó, hộ kinh doanh cá thể có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp; lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với sản xuất công nghiệp. GDP của các ngành phi nông nghiệp tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây, xấp xỉ tốc độ tăng GDP toàn quốc. Năm 2007, GDP khu vực phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân đạt 86.929 tỷ đồng, tăng 28,94% so với năm 2017, bình quân tăng hơn 7%/năm. Năm 2007, kinh tế tư nhân trong các ngành phi nông nghiệp chiếm 29,87% GDP toàn quốc (trong đó, tỷ trọng của hộ kinh doanh cá thể là 73,4%, chiếm 19,72% GDP toàn quốc; doanh nghiệp là 26,6% chiếm 7,15% GDP toàn quốc; lĩnh vực nông nghiệp là 20,22%; xây dựng là 9,36%, giao thông vận tải là 3,32%; thương mại dịch vụ 33,34%; các hoạt động khác là 33,49%).
3.1.2. Tạo nguồn bổ sung vào ngân sách Nhà nước Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Giai đoạn 2017-2023, đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp vào ngân sách trung ương nhìn chung vẫn còn nhỏ nhưng đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Nếu năm 2017, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước đóng góp 6,39% thu ngân sách nhà nước thì năm 2023 con số này là 7,9% ( nếu tính cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì con số này là 11,61% năm 2017 và năm 2023 là 17,15% ) trong khi phần của doanh nghiệp nhà nước giảm từ 21,7% xuống còn 16,58% trong cùng thời kỳ. (xem bảng 2.7).
Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước (%)
- Không kể thuế xuất nhập khẩu
- Gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp, viện trợ, thuế đối với người có thu nhập cao, khoản thu về nhà đất, thu phí xăng dầu v v
Giai đoạn từ năm 2017, do doanh thu từ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng. Tỉ trọng doanh thu từ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân trong tổng doanh thu của toàn bộ nền kinh tế ngày càng lớn, từ 25,09% năm 2017 đến 45,96% năm 2023. Điều này đã tạo khả năng đóng góp của khu vực kinh tế này vào ngân sách nhà nước ( xem bảng 2.8)
Bảng 2.10: Doanh thu thuần của doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp
Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân vào ngân sách trung ương vẫn còn nhỏ, nhưng đang có xu hướng tăng lên. Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2023 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2022. So với ngân sách trung ương, thì đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh trong nguồn thu của ngân sách địa phương lớn hơn nhiều. Ví dụ, ở thành phố Hồ Chí Minh đóng góp của doanh nghiệp dân doanh trong tổng thu ngân sách địa phương là khoảng 15%, Tiền Giang 24%, Đồng Tháp 16%, Gia Lai 22%, Ninh Bình 19%, Yên Bái 16%, Thái Nguyên 17%, Quảng Nam 22%, Bình Định 33% v.v.
Ngoài đóng góp trực tiếp vào ngân sách, một phần không nhỏ các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp còn tích cực tham gia và có đóng góp đáng kể vào xây dựng các công trình văn hóa, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc lợi xã hội khác ở tất cả các địa phương trong cả nước.
Sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân góp phần làm tăng hiệu quả của công tác thu thuế. Trước kia, khi nền kinh tế chỉ tồn tại các xí nghiệp quốc doanh, hiệu quả của công tác thu thuế thấp, do nhà nước đã bao cấp toàn bộ đầu vào và đầu ra cho các xí nghiệp này. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực. Thêm vào đó, nhà nước không còn bao cấp cho các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này phải bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, hiệu quả của công tác thu thuế được nâng lên đáng kể.
Hộp 4. Đóng góp của kinh tế tư nhân Việt Nam cho ngân sách nhà nước
Theo Tổng cục thuế thì năm 2023 khu vực kinh tế tư nhân nộp ngân sách Nhà nước được 11.033 tỷ đồng chiếm 16,1% tổng thu ngân sách. Năm 2007 là 11.075 tỷ đồng tăng 0,38%, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách. Giai đoạn 2017-2023 đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh vào ngân sách Nhà nước khoảng 12,1%. Quý I/2008 số thu từ doanh nghiệp dân doanh chiếm 11% tổng thu tăng 28,7% so với cùng kỳ và đạt 26,8% kế hoạch. Tuy nhiên, sự đóng góp vào nguồn thu ngân sách của kinh tế tư nhân còn nhỏ, chưa tương xứng với tốc độ phát triển của khu vực kinh tế này. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 nguồn thu từ khu vực kinh tế tư nhân là 2.200 tỷ đồng, tăng 3,9% so với năm 2022, năm 2007 tăng 15%. ở Hà Nội thì tỷ lệ này thấp hơn khoảng 3,5%.
Về cơ cấu thu ngân sách Nhà nước của các loại hình thuộc kinh tế tư nhân cho thấy 47,2% tiền nộp ngân sách là thuế doanh thu, 27% là thuế lợi tức; 24,3% thuế xuất nhập khẩu và 1,5% là các loại thuế khác.
3.1.3. Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Việt Nam, hàng năm có thêm khoảng 1,2 đến 1,4 triệu người đến tuổi lao động, ngoài ra số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng tăng đáng kể. Yêu cầu mỗi năm phải tạo thêm hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội lớn đối với nhà nước và các cấp chính quyền địa phương. Việc tạo thêm công ăn việc làm rõ ràng không chỉ giải quyết vấn đề xã hội, mà là giải quyết vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế hiện nay của nước ta. Sự tăng lên nhanh chóng số lượng doanh nghiệp tư nhân cùng với các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trên khắp các lĩnh vực đã tạo khả năng thu hút một lực lượng lớn lao động trong xã hội. Các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp mới được thành lập và sự mở rộng quy mô, cũng như địa bàn kinh doanh của các doanh nghiệp hiện có đã, đang và sẽ thực sự là nguồn cung to lớn về chỗ làm việc mới cho xã hội.
Năm 2017 khu vực kinh tế nhà nước thu hút được 2.088.531 lao động trong tổng số 3.536.998 lao động cả nước, chiếm 59,05%. Khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 1.448.467 lao động, chiếm 40,95%. Năm 2023, khu vực kinh tế nhà nước thu hút được 1.899.937 lao động trong tổng số 6.715.166 lao động cả nước, chiếm 28,29%. Khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 4.815.229 lao động, chiếm 71,71% (xem bảng 2.9).
Bảng 2.11: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp
Báo cáo điều tra của Viện nghiên cứu quản lý Trung ương cho thấy, các doanh nghiệp tư nhân với trung bình 70 đến 100 triệu đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra được một chỗ làm việc, trong khi con số này đối với doanh nghiệp nhà nước là 210 đến 280 triệu đồng. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trung bình mỗi doanh nghiệp đăng ký thành lập mới sẽ sử dụng 17 đến 20 lao động; mỗi chi nhánh, văn phòng đại diện sử dụng khoảng 4 đến 5 lao động. Như vậy, trong giai đoạn 2020-2007 đã có khoảng 700.000 đến 750.000 chỗ làm việc mới được tạo ra nhờ doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng mới đăng ký tăng vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, do đó tăng thêm việc làm mới khoảng 1,2 đến 1,4 triệu lao động. Năm 2007, số lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp khoảng 1.345.790 người, trong đó, lao động trong các doanh nghiệp khoảng 1.257.144 người, hộ sản xuất kinh doanh cá thể khoảng 88.464 lao động.
Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, một đóng góp mang ý nghĩa không nhỏ của các cơ sở dân doanh là đào tạo và bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động làm việc cho doanh nghiệp. Một thực tế là, phần lớn lao động đến làm việc trong các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp trong thời gian qua đều là lao động đơn giản hơn. Họ xuất thân từ nông thôn, trình độ văn hóa thấp, chưa quen với lối sống và làm việc theo tác phong công nghiệp. Vì vậy, không ít chủ các doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện nhiệm vụ đào tạo tay nghề cho người lao động, hướng dẫn họ về nếp sống mới, thay đổi thói quen tập quán của người nông dân, rèn cho họ tính kỷ luật trong lao động công nghiệp… Nhiều cơ sở đã tổ chức xưởng học việc, tổ chức cho người có tay nghề cao hơn kèm cặp và hướng dẫn người mới vào việc, hoặc gửi lao động đến các trung tâm hay trường dạy nghề v.v. Hình thức đào tạo ở đây rất đa dạng, linh hoạt và mang lại hiệu quả cao.
3.1.4. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu
Tỷ trọng tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào các lĩnh vực của nền kinh tế có sự thay đổi đáng kể qua các giai đoạn. Tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân trong ngành sản xuất công nghiệp giảm nhanh từ 35% giai đoạn 1991-1996 còn 15% giai đoạn 1998-2017 và 10% trong giai đoạn 2018- 2007, trong ngành thương mại tăng nhanh từ 39% lên 54% và 59,4%. Chính sự thay đổi này của khu vực tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ. Năm 2017, tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước ta là 38,6% tăng lên 44,1% năm 2022 và sau đó năm 2007 là 49,1%. Như vậy, với sự đóng góp của khu vực tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng dần tỷ trọng các ngành thương mại và dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Hộp 5. Kinh tế trang trại và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam
Sự phát triển mạnh kinh tế trang trại trong những năm qua có tác động mạnh tới quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn. Trong quá trình phát triển nhìn chung cơ cấu các loại hình trang trại có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng trang trại nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, giảm tỷ trọng trang trại cây lâu năm. Đột phá mạnh mẽ nhất trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn chính là nuôi trồng thủy sản. Trang trại nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, từ loại hình trang trại đến đối tượng nuôi trồng theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến nay, cả nước có trên 26.000 trang trại nuôi trồng thủy sản các loại. Tất cả các trang trại này đều khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, mặt nước, thu hút hàng chục vạn lao động, tạo điều kiện phân bổ lại lao động nông thôn. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, nuôi trồng thủy sản được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn sau cây lúa. Số trang trại nuôi trồng thủy sản vùng này đang chiếm tới 48% số trang trại toàn vùng và 78% số trang trại nuôi trồng thủy sản của cả nước.
Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 23/08/2021
Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến bộ, số lượng hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu tăng lên. Chất lượng nhiều mặt hàng tăng đã góp phần đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại. Bên cạnh việc thực hiện sản xuất đồng bộ sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, khu vực kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Kim ngạch xuất nhập khẩu trực tiếp của khu vực phi nông nghiệp trong kinh tế tư nhân đến nay đã tăng khá nhanh, năm 2007 nhập khẩu đạt 7,336 tỷ USD, xuất khẩu đạt 6,851 tỷ USD.
Có một số doanh nghiệp dân doanh đã được xếp vào hạng 10 doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước theo ngành hàng như Công ty TNHH Kim Anh (Sóc Trăng) có kim ngạch xuất khẩu hơn 100 triệu USD, đứng đầu cả nước.
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của nước ta hiện nay như hàng thủy sản, các sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ v.v. đều do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu hàng may mặc, đồ da v..v. Tuy vậy, theo báo cáo của các Sở kế hoạch và Đầu tư, tỷ trọng của các doanh nghiệp dân doanh trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước cũng như của từng địa phương vẫn còn nhỏ và sự khác nhau giữa các vùng và các tỉnh còn khá lớn. Doanh nghiệp dân doanh ở các tỉnh phía Nam đóng góp nhiều hơn vào kinh ngạch xuất khẩu ở địa phương, so với các doanh nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Bắc. Ở Hà Nội, các doanh nghiệp dân doanh chỉ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương và khoảng hơn 7% toàn bộ xuất khẩu trên địa bàn. Tỷ lệ tương ứng với thành phố Hồ Chí Minh là 12,5%. Nhìn chung, tỷ lệ này ở các địa phương là dưới 10%. Tuy nhiên, cũng có một số cá biệt như Hà Giang chiếm 60% xuất khẩu của địa phương, Quảng Ngãi là 34%, Bình Thuận 45%,…
Bảng 2.12: Tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong số 474 doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, thì có tới 3/4 sản lượng sản xuất ra được xuất khẩu, trong đó hàng dệt may và giày da chiếm tỷ lệ xuất khẩu cao nhất 80,5% và 80%. Đây là hai ngành công nghiệp khá quan trọng của nước ta có kim ngạch xuất khẩu lớn. Điều này thể hiện sự đóng góp to lớn của khu vực tư nhân vào xuất khẩu.
3.1.5. Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thị trường hoạt động rất đơn điệu và chỉ mang tính hình thức. Yếu tố cạnh tranh gần như không tồn tại, do các doanh nghiệp không phải cạnh tranh với nhau để mua các yếu tố sản xuất và bán sản phẩm. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều do nhà nước chi phối.
Quan hệ cung cầu, giá cả cũng mang tính mệnh lệnh chỉ huy, các thị trường không được thừa nhận.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, quan hệ hàng hóa tiền tệ mới thực sự hình thành và phát triển. Các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh với nhau trên thị trường, các loại thị trường dần dần được thừa nhận và mở rộng. Nhìn chung, thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển khá mạnh, ngày càng phong phú và đa dạng. Hàng hóa trên thị trường được tự do lưu thông đã có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển. Thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ,… dần dần được hình thành. Thị trường nước ngoài được mở rộng, các quan hệ thị trường từng bước được xác lập. Nguyên tắc tự do cạnh tranh về cơ bản được áp dụng, tín hiệu giá cả do cung cầu quy định. Những khó khăn do cơ chế kế hoạch hóa tập trung gây ra dần được tháo gỡ, tạo tiền đề để thị trường ngày càng được mở rộng. Chính sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân sau đổi mới đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên cả thị trường đầu vào và đầu ra. Với sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân cùng với các thành phần kinh tế khác, hàng hóa tiêu dùng được tự do lưu thông trong nước, cung cầu giá cả hàng tiêu dùng được xác lập theo nguyên tắc của thị trường. Những chính sách có tính chất “ngăn sông, cấm chợ” đối với khu vực kinh tế tư nhân được xóa bỏ hoàn toàn. Thị trường hàng hóa, đặc biệt là ở các thành phố lớn ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Nhằm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, thị trường tài chính cũng bước đầu được hình thành. Hoạt động của ngân hàng góp phần cung cấp vốn cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất. Như vậy, sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân đã kích thích việc ra đời và phát triển các loại thị trường. Nền kinh tế thị trường bước đầu được xác lập đã trở thành mảnh đất tốt nuôi dưỡng và phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
3.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
3.2.1. Về nguồn lực
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đã góp phần sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư xã hội. Tuy nhiên, với tiềm năng phát triển của khu vực kinh tế này thì vốn là một vấn đề đang đặt ra cho kinh tế tư nhân.
Thiếu vốn thể hiện ở tình trạng quy mô nhỏ của các cơ sở thuộc kinh tế tư nhân. Như đã phân tích ở trên, hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân đều có quy mô vừa và nhỏ. Năm 2007, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh của một hộ phi nông nghiệp là 35 triệu đồng, một trang trại là triệu đồng, vốn đầu tư phát triển của một hộ nông nghiệp khoảng 2,4 triệu đồng, một doanh nghiệp phi nông nghiệp là 5,7 tỷ đồng. Hầu hết các hộ kinh doanh cá thể đều có quy mô nhỏ, vốn ít, sử dụng lao động gia đình là chính. Trong các hộ kinh doanh phi nông nghiệp, trung bình mỗi hộ có 2,78 lao động, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh của mỗi hộ là 35 triệu đồng. Số hộ kinh doanh phi nông nghiệp sử dụng 1-10 lao động chiếm tỷ trọng lớn 98,7%. Số hộ sử dụng 10-15 lao động là 1,2%. Những hộ sử dụng nhiều lao động hơn, từ 51-100 lao động chỉ chiếm 0,1%. Các trang trại thường có quy mô lớn hơn, tuy nhiên vẫn nhỏ, trung bình mỗi trang trại sử dụng 6,5 lao động. Trong đó, một nửa là sử dụng lao động gia đình.
Các doanh nghiệp của khu vực tư nhân trong thời gian qua tăng lên nhanh chóng, Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ chiếm tỷ trọng 97,71%. Các doanh nghiệp của khu vực tư nhân chiếm số lượng và có tỷ trọng lớn đối với loại doanh nghiệp có quy mô nhỏ từ 300 đến dưới 500 lao động. Đối với loại doanh nghiệp có quy mô lao động lớn hơn thì doanh nghiệp tư nhân chiếm vị trí khiêm tốn dần, đặc biệt là loại doanh nghiệp có sử dụng từ 5000 lao động trở lên (11/81 doanh nghiệp, chiếm tỉ trọng 13,59%). Tình trạng vốn nhỏ, thiếu vốn đã làm cho các doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong việc quay vòng vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
Bảng 2.13: Số doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2023 phân theo quy mô lao động và phân theo loại hình doanh nghiệp
Hộp 6. Số lượng doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam còn rất khiêm tốn
Số lượng doanh nghiệp bình quân đầu người ở nước ta còn rất thấp, bình quân gần 800 người có một doanh nghiệp (gồm cả DNNN và doanh nghiệp FDI). ở thành phố Hồ Chí Minh bình quân 140 người/ doanh nghiệp, thuộc địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp bình quân đầu người cao nhất cả nước, tiếp đến là Hà Nội, 200 người/ doanh nghiệp, thấp nhất là ở Sơn La 7.500 người/ doanh nghiệp. Trong khi, tại Trung Quốc các con số đó là 200 người/ doanh nghiệp ở tỉnh Triết Giang; 42 người/ doanh nghiệp ở huyện Từ Hy; 264 người/ doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Đông. ở Singapore con số này là 4 người/ doanh nghiệp. ở Vương quốc Anh là 8 người/ doanh nghiệp, ở Australia 21 người/ doanh nghiệp, ở Đức 13 người/ doanh nghiệp,… Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Theo báo cáo 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp
Quy mô vừa và nhỏ không phải không đem lại cho doanh nghiệp những ưu thế nhất định. Chính nó tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân trong việc dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thị trường,… Tuy nhiên, vốn ít lại trở thành rào cản cho chính doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Quy mô nhỏ của doanh nghiệp thực sự là một điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam vì doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc khó tiếp cận được các nguồn vốn vay từ ngân hàng thương mại. Tuy vậy, với tính năng động vốn có , khu vực kinh tế tư nhân có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng không chính thức, nơi diễn ra các hoạt động tín dụng nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, hoặc không chịu sự quản lý giám sát của chính quyền các cấp. Trên thực tế, thị trường không chính thức đã trở thành nguồn huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra, tỷ trọng vốn huy động từ thị trường tín dụng không chính thức của công ty cổ phần là 43%, công ty trách nhiệm hữu hạn là 37%, doanh nghiệp tư nhân 29%, hộ kinh doanh 29%. Tuy nhiên, chi phí cho những khoản vay này rất lớn, lãi suất của thị trường này do cung cầu điều tiết, thường cao hơn lãi suất ngân hàng 2,3 lần, thậm chí lên tới 6 lần. Lãi suất đi vay tại thị trường không chính thức rất cao đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời làm cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giảm xuống. Điều này thực sự gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.
Trong tiến trình phát triển chung, với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ có lợi thế trên thương trường so với các Tập đoàn và các Công ty quy mô lớn. Đặc biệt là trong các thời điểm chuyển đổi công nghệ hoặc đối phó với khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, để có thể tồn tại và không bị nuốt chửng dưới áp lực của các công cụ tài chính và các dòng lưu chuyển tư bản hiện đại, các doanh nghiệp phải cập nhật các thành tựu khoa học cả trên lĩnh vực công nghệ sản xuất, quản lý lẫn thương mại, dịch vụ. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải cần đến vốn lớn.
3.2.2. Chất lượng lao động thấp. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Mặc dù lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội và gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng chất lượng của nguồn nhân lực còn thấp và chưa được cải thiện đáng kể. Nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân còn thiếu những lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu đội ngũ công nhân lành nghề.
Theo kết quả điều tra của Viện Khoa học xã hội, trình độ học vấn của lao động trong khu vực tư nhân rất thấp, phần lớn lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân là lao động phổ thông. Những lao động này hầu như chưa qua đào tạo, trình độ kỹ năng lao động còn thiếu. Trong 1.475.716 lao động được điều tra thì có 1.097.598 (chiếm 74,4%) là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Số lao động có chuyên môn là 369.118, chiếm 25,3%, trong đó chỉ có 90.042 lao động có trình độ cao đẳng đại học, chiếm 6,18%. Do quy mô của các doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ nên nguồn vốn để đầu tư đào tạo chuyên môn cho người lao động còn thấp. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân không đủ kinh phí để đầu tư nâng cao trình độ chuyên môn người lao động. Hơn nữa, đầu tư cho nhân lực là đầu tư dài hạn, không mang lại lợi ích một cách trực tiếp cho doanh nghiệp trong ngắn hạn. Điều này lại càng không khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực.
Bản thân các chủ doanh nghiệp cũng thiếu trình độ, kiến thức, họ còn thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý, đến hiểu biết về công nghệ và thị trường.
Bảng 2.14: Trình độ của đội ngũ chủ doanh nghiệp tư nhân (%)
Vấn đề đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn ở mức rất thấp. Có thể nói, ở Việt Nam vẫn còn thiếu đội ngũ doanh nhân có đủ phẩm chất của một nhà kinh doanh.
Sự lớn mạnh của kinh tế tư nhân gắn liền với quá trình hình thành nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Đây là mảnh đất duy nhất tốt để sản sinh nuôi dưỡng đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Đội ngũ những doanh nhân có tri thức, bản lĩnh hoạt động kinh doanh trong môi trường kinh tế đầy cạnh tranh và biến động không thể xuất hiện trong nền kinh tế tự cung tự cấp, với sự thống trị của các quan điểm phong kiến, lạc hậu. Nhưng, kinh tế bao cấp, tập trung quan liêu cũng chỉ làm xuất hiện những chủ doanh nghiệp thiếu năng lực và phẩm chất. Chủ doanh nghiệp trong kỷ nguyên hiện đại thực sự là một nghề nghiệp cần có những phẩm chất hoàn toàn mới so với tập quán làm ăn thời kỳ phường hội. Đây là điều mà đại bộ phận giới chủ doanh nghiệp Việt Nam còn phải phấn đấu nhiều.
Những hạn chế của chủ doanh nghiệp thể hiện:
Ý thức chấp hành phát luật kém
Nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiền công, bảo hộ lao động, giờ làm việc,… đối với người lao động. Có không ít đơn vị kinh doanh vi phạm pháp luật, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép. Theo số liệu thống kê của 48 địa phương, tính đến 30/5/2007 có 25% số doanh nghiệp tư nhân không kê khai nộp thuế, có một bộ phận không nhỏ hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế, không đăng ký nộp thuế. Theo Tổng cục Thuế, nợ tồn đọng của kinh tế tư nhân năm 2023 là 618 tỷ đồng, chiếm 5% số thuế nộp; năm 2007 khoảng 803 tỷ đồng, chiếm 7% số thuế đã nộp. Một hiện tượng khá phổ biến là ghi hóa đơn không trung thực, ghi giá bán thấp hơn giá thực, dẫn tới thất thu thuế của Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng việc hoàn thuế giá trị gia tăng để rút tiền của ngân sách. Năm 2007, tại thành phố Hồ Chí Minh, trong 215 doanh nghiệp được hoàn thuế có 107 doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm.
Trốn thuế là hiện tượng khá phổ biến của khu vực kinh tế tư nhân. Năm 2022 kiểm tra 363 doanh nghiệp phát hiện số thuế kê khai bị giảm đi 11,969 tỷ đồng; năm 2023 kiểm tra 480 doanh nghiệp, số thuế bị kê khai giảm đi 22,9 tỷ đồng; năm 2007 kiểm tra 390 doanh nghiệp, số thuế bị giảm đi 9,15 tỷ đồng,…
Một số chủ cơ sở sản xuất kinh doanh đã vi phạm quy định của pháp luật như: khai man tên địa chỉ để thành lập doanh nghiệp, đăng ký thành lập doanh nghiệp nhằm buôn bán hóa đơn kiếm lời, tiến hành sản xuất hàng hóa có chất độc hại trong khu dân cư; vi phạm kiểu dáng sở hữu công nghiệp, chế độ bản quyền, vệ sinh an toàn thực phẩm,v.v.
Cá biệt có những chủ doanh nghiệp bất chấp pháp luật, tham gia những hoạt động phi pháp như; kinh doanh văn hóa độc hại, rửa tiền, lừa đảo, mua chuộc cán bộ thoái hóa, biến chất trong cơ quan công quyền và doanh nghiệp nhà nước để trục lợi,…
Tình trạng buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả còn khá phổ biến. Hàng giả bao gồm nhiều mặt hàng tiêu dùng, thuốc tây,… các đối tượng là hàng giả thường chế biến với quy mô nhỏ, không có cửa hàng, không có đăng ký kinh doanh. Số vụ bị xử lý về buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, kinh doanh trái phép vẫn gia tăng qua các năm. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Trình độ và khả năng đổi mới kỹ thuật, công nghệ thấp
Nhìn chung, máy móc, thiết bị công nghệ của khu vực kinh tế tư nhân còn rất lạc hậu, chắp vá và chậm đổi mới. Nhiều doanh nghiệp mới thành lập những vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu từ nước ngoài hay của doanh nghiệp Nhà nước. Thiết bị trong hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều lạc hậu từ 10 đến 30 năm so với khu vực và thế giới. Số doanh nghiệp được trang bị máy móc hiện đại không nhiều, khoảng 24% doanh nghiệp tư nhân và 25% công ty trách nhiệm hữu hạn. Còn lại, khoảng 37,2% số doanh nghiệp tư nhân và 20% công ty trách nhiệm hữu hạn sử dụng công nghệ truyền thống. Do thời gian hình thành và phát triển của khu vực kinh tế này chưa lâu, tiềm lực về vốn còn yếu nên khu vực kinh tế tư nhân có ít khả năng đầu tư đổi mới công nghệ. Mặt khác, trong thời gian qua, khu vực kinh tế tư nhân chỉ chú trọng đầu tư vào thương mại, dịch vụ nên nhu cầu đổi mới công nghệ là chưa cần thiết. Mỗi doanh nghiệp chỉ đầu tư khoảng 0,2% doanh thu cho khoa học công nghệ (ở Hàn Quốc con số này là 7-10%). Do trình độ của chủ doanh nghiệp còn thấp, thiếu thông tin kinh tế, kinh nghiệm quản lý, thêm vào đó họ chưa thực sự tin tưởng vào chính sách phát triển của Nhà nước. Vì vậy, họ không dám mạnh dạn đầu tư để mở rộng quy mô theo chiến lược phát triển ổn định lâu dài.
3.2.3. Thiếu vắng các doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng và sự phân bổ không đều giữa các vùng trong nền kinh tế
Như phân tích ở trên, tỷ trọng các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ ngày càng tăng, trong khi đó, tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp giảm dần ( Tỷ trọng các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tham gia vào lĩnh vực dịch vụ gia tăng qua các giai đoạn, giai đoạn 1991-1996 là 39%, giai đoạn 1997-2017 là 49% và 2018-2007 là 59,4%. Trong khi đó trong lĩnh vực công nghiệp thì tỷ trọng lại giảm qua các giai đoạn, giai đoạn 1991-1995 là 35%, giai đoạn 1997-1999 là 22%, giai đoạn 1999-2017 là 15%); giai đoạn 2018- 2007 là 10%. Sở dĩ như vậy là do hầu hết các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít, khả năng huy động vốn thấp. Trong khi đó, lĩnh vực thương mại dịch vụ cần lượng vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận cao nên đã thu hút được các doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Trên phạm vi một địa phương, số lượng doanh nghiệp thường tập trung chủ yếu ở thị xã hay thành phố trực thuộc tỉnh. Trong khi số lượng doanh nghiệp ở các huyện, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thực sự không đáng kể. Nhiều huyện mới chỉ có một vài doanh nghiệp. Trên phạm vi cả nước, số doanh nghiệp tập trung chu yếu tại đồng bằng sông Hồng, Đông nam bộ, đồng bằng sông Cửu long…rõ ràng việc tập trung phát triển tại một số vùng như vậy sẽ tạo ra khoảng cách giữa các vùng, phá vỡ cơ cấu kinh tế vùng.
3.2.4. Khả năng tiếp cận thị trường yếu. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Việt Nam có một thị trường rộng lớn với khoảng 86 triệu dân. Nhu cầu thị trường về chất lượng hàng hóa dịch vụ còn ở mức thấp, nhất là ở thị trường nông thôn, nơi cư trú của hơn 80% dân số cả nước. Tuy nhiên, hiện tại thị trường nước ta đang bị ảnh hưởng rất lớn của hàng hóa nhập lậu qua biên giới. Điều này có tác động trực tiếp đến khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hầu hết chưa đủ năng lực cạnh tranh với hàng lậu. Trên phạm vi thị trường nội địa, khu vực kinh tế tư nhân này thường gặp những khó khăn trong khâu tiếp thị, chủ yếu là do chất lượng sản phẩm và dịch vụ còn hạn chế, kỹ năng tiếp thị quảng cáo chưa tốt. Trên phạm vi thị trường quốc tế, khu vực tư nhân lại càng khó khăn hơn. Có thể nói, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, đặc biệt của các doanh nghiệp tư nhân ở thị trường trong nước và nước ngoài đều rất thấp.
Hộp 7. Chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam
Chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam là rất cao. Năm 2023, Ngân hàng Thế giới tiến hành điều tra, nghiên cứu và đánh giá hệ thống các quy định gia nhập thị trường ở 85 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Số liệu điều tra bao gồm thủ tục phải làm, thời hạn và chi phí chính thức phải có để gia nhập thị trường. Kết quả công trình nghiên cứu cho thấy, số thủ tục bình quân của 85 quốc gia nghiên cứu là 10,48 thủ tục với thời hạn chính thức là 47,4 ngày và chi phí bằng tiền là 47% thu nhập bình quân đầu người hàng năm (nếu cộng cả chi phí thời gian thì tổng chi phí là 65,98%). Canada và Australia có quy định ít nhất về số thủ tục (2) và thời hạn ngắn nhất (2 ngày). Chi phí thấp nhất thuộc về New Zealand bằng 0,53% GDP/người hàng năm. Còn Việt Nam là quốc gia có chi phí gia nhập thị trường cao với 16 thủ tục, 112 ngày và chi phí (không tính phí thời gian) bằng 133,7%GDP/người/hàng năm.
Theo Nguyễn Ngọc Trinh.Đầu tư chứng khoán, số 365 ngày 3/11/2007
3.2.5. Hiệu quả kinh doanh nhìn chung còn thấp
Trong những năm qua, tuy số lượng các doanh nghiệp và hộ đăng ký kinh doanh gia tăng nhiều, nhưng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp còn yếu. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã khảo sát 3.181 doanh nghiệp tư nhân tại 10 địa phương thì có 14,6% doanh nghiệp bị lỗ, 20% doanh nghiệp có lãi, nhưng rất ít. Hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhìn chung thấp. Tỷ suất lợi nhuận/ vốn và tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu của các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân đều thấp hơn so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu chung của toàn bộ các doanh nghiệp trong cả nước. Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn rất thấp.
Bảng 2.15: Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
(Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 12/07/2023 ) Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu tính chung cho cả khu vực tư nhân năm 2023 tuy có suy giảm so với các năm trước nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ chung của ngân hàng và chiếm tỷ trọng lớn trên tổng nợ xấu của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của khu vực tư nhân chiếm 50,8% và 43,3% tổng nợ xấu của ngân hàng.
Như vậy, kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, đội ngũ doanh nghiệp dân doanh đã phát triển mạnh có cả về số lượng, quy mô và đã tham gia vào hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, nhờ đó, đã huy động được ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư trực tiếp phát triển kinh doanh. Kinh tế tư nhân thực sự đang đóng vai trò là một khu vực quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả nền kinh tế.
3.3. Những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
3.3.1. Về nhận thức chung
Quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân chưa được làm rõ để tạo sự thống nhất cao. Tuy có những chuyển biến căn bản trong nhận thức về khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế ở Việt Nam, song vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng vẫn chưa được làm rõ ở mức cần thiết để có thể triển khai trong thực tiễn. Những vấn đề như: đặc điểm và vai trò cụ thể của khu vực kinh tế tư nhân nước ta, cũng như quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và trong suốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy mô, trình độ phát triển kinh tế tư nhân cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể; về quan hệ nhà nước và doanh nghiệp tư nhân về vai trò của các chủ doanh nghiệp tư nhân,v.v. vẫn còn dừng lại ở quan điểm lớn, mang tính chung chung, chưa được cụ thể để tạo ra sự thống nhất cao trong chỉ đạo thực hiện. Chính vì vậy, trong suốt thời gian dài chúng ta chưa có được các Nghị quyết của Trung ương về kinh tế tư nhân. Điều này gây nên những lúng túng, e ngại dè dặt cho nhiều cấp ủy đảng và chính quyền địa phương trong việc cụ thể hóa chủ trương chung của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân.
Về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong quan hệ với kinh tế nhà nước hiện nay có một số vấn đề vẫn còn nhiều tranh cãi. Cụ thể:
a) Quan điểm về bóc lột
“Bóc lột” là vấn đề cơ bản trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về kinh tế sản xuất hàng hóa trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn trong gần 20 năm qua đang đặt ra hàng loạt các câu hỏi cần có giải đáp hợp lý.
Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”.
Như vậy, quá trình phân phối sản phẩm hướng tới sự công bằng hợp lý phải căn cứ vào các yếu tố như: lao động, hiệu quả kinh tế, mức độ góp vốn và một số yếu tố khác, chẳng hạn, quyền sử dụng đất, tri thức và kinh nghiệm, công nghệ và bí quyết kỹ thuật, v.v. Có thể nói, nhận định trên là một bước tiến về tư duy so với quan niệm truyền thống về chế độ phân phối theo quan điểm Mác-Lênin. Trong nền kinh tế thị trường, lao động, vốn và các nguồn lực khác trong sản xuất đều là hàng hóa. Chủ doanh nghiệp phải mua các yếu tố đó trên thị trường. Giá cả của chúng do quan hệ cung cầu quy định và hàng hóa nào khan hiếm hơn so với nhu cầu thì giá của hàng hóa đó phải cao hơn. Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ có người lao động trực tiếp, mà cả những người chủ doanh nghiệp. Những người lao động có thể chỉ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất khoảng 8 giờ/ ngày (trừ trường hợp làm thêm giờ). Nhưng đóng góp lao động của chủ sở hữu doanh nghiệp thì khó thể tính theo giờ cụ thể như vậy được. Họ luôn nghĩ đến công việc không phải chỉ trong “thời gian lao động”. Đây là một loại đặc biệt và không thể thay thế được bởi các lao động cụ thể trong những hoàn cảnh nhất định. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Với những thay đổi trong cách nhìn về chế độ phân phối như trên, quan niệm về “bóc lột” trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cũng cần có thay đổi. Bóc lột chỉ xảy ra khi người phải làm việc trong môi trường lao động không có đủ điều kiện tối thiểu về vệ sinh và an toàn như quy định của pháp luật và không được trả lương tương xứng với sức lao động bỏ ra. Hiện tượng bóc lột theo quan niệm như vậy rõ ràng vẫn có thể xảy ra ở ngay trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chứ không chỉ ở các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân. Ở Trung Quốc, khái niệm “bóc lột” đã không còn được sử dụng trong tất cả các văn kiện của Đảng cộng sản Trung Quốc và “bóc lột” không còn mang tính giai cấp, không phải là sự bóc lột của tư bản đối với lao động. Do đó, cách xử lý về vấn đề “bóc lột” cũng theo hướng khác rộng hơn, tức là theo quan điểm công bằng xã hội. b)Nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Có thể nói, cho đến nay, khái niệm “vai trò chủ đạo” vẫn chưa được lý giải một cách khoa học, nhất quán và rõ ràng. Việc xác định kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế cần phải được cụ thể hơn. Chính sự không rõ ràng, thiếu cụ thể về nội dung “vai trò chủ đạo” của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế thị trường đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng đối xử thiếu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tính thiếu ổn định và nhất quán trong chính sách của Đảng về thành phần kinh tế. Hơn nữa, thực tế cho thấy, mặc dù, Đảng ta vẫn luôn khẳng định kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng, nhưng uy tín của doanh nghiệp nhà nước lại đang ngày càng giảm trong đánh giá của nhân dân và dư luận xã hội. Nói cách khác, vai trò và tác động thực tế của doanh nghiệp nhà nước đã không thể hiện đúng, thậm chí còn rất xa so với kỳ vọng của xã hội và vai trò chính trị của nó, như đường lối kinh tế của Đảng đã chỉ ra. Vì vậy, cần phải xác định rõ, nhất quán và phù hợp với thực tế nội hàm của “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước. Vai trò chủ đạo nên giải thích và phát triển theo hướng phát huy tối đa địa vị và lợi thế của doanh nghiệp nhà nước đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời, không làm giảm vai trò hoặc hạn chế quyền kinh doanh của các thành phần kinh tế khác.
“Vai trò chủ đạo” có thể hiểu bao gồm các nội dung sau:
Một là, chủ đạo không phải là phải chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng lớn hơn trong GDP, tính chất chủ đạo thể hiện ở sự tiên phong đi đầu. Tính chủ đạo phải gắn với năng suất, chất lượng, khả năng thúc đẩy phát triển và chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp nhà nước sẽ được thành lập và phát triển trong các ngành công nghệ cao mà các doanh nghiệp tư nhân trong nước chưa có khả năng đảm nhận, nhằm nâng cao năng lực công nghệ quốc gia. Song trong tiến trình phát triển, ngay trong những lĩnh vực này, vai trò của doanh nghiệp nhà nước sẽ được giảm dần cùng với sự lớn mạnh và phát triển về công nghệ của khu vực kinh tế tư nhân trong nước.
Hai là, vai trò chủ đạo cũng bao hàm cả chức năng “bà đỡ” cho kinh tế thị trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Doanh nghiệp nhà nước trước hết và chủ yếu chỉ thành lập và hoạt động trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, những lĩnh vực thuộc về an ninh quốc phòng, trong các ngành, lĩnh vực mà tư nhân cả trong và ngoài nước, chưa hoặc không muốn đầu tư,…
Ba là, việc tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực kể trên hoàn toàn không có nghĩa hạn chế, hay ngăn cản sự tham gia của các thành phần kinh tế khác, trái lại, cùng hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực dịch vụ kết cấu hạ tầng, các ngành công nghệ cao, không hạn chế cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác đối với doanh nghiệp nhà nước bằng các biện pháp hành chính.
Xác định rõ nội hàm của “vai trò chủ đạo” với các đặc điểm trên đây có thể tạo ra tác động tích cực đối với môi trường kinh doanh cho khu vực kinh tế tư nhân. Môi trường kinh doanh thực sự bình đẳng sẽ dần được xác lâp. Xác định đúng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần tăng thêm tính cương quyết, nhất quán trong chỉ đạo và thực hiện cổ phần hóa, bán, khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, giảm được nguy cơ sử dụng quyền lực nhà nước nhằm hạn chế quyền kinh doanh của các thành phần kinh tế khác, bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Xác định đúng “vai trò chủ đạo” của DNNN sẽ góp phần tạo ra nhận thức xã hội đúng đắn về vai trò của các doanh nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ, thống nhất của dư luận xã hội đối với các biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước, cũng như có thái độ tôn vinh đúng đắn đối với các doanh nghiệp tư nhân.
3.3.2. Về cơ chế chính sách của Nhà nước Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với đặc điểm của kinh tế tư nhân đã tạo nên những khó khăn khách quan cho khu vực kinh tế này. Những khó khăn thể hiện:
Khó khăn trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực. Cụ thể:
Khó khăn trong việc tiếp cận với đất đai
Như chúng ta đã biết khu vực tư nhân hiện nay rất thiếu đất đai để sử dụng làm mặt bằng sản xuất. Tình trạng thiếu đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề chung của khu vực kinh tế tư nhân. Trong khi đó, các doanh nghiệp Nhà nước được ưu đãi về đất đai hơn. Năm 2023 đất giao cho doanh nghiệp nhà nước là 58,6 triệu m2 đất với 52 dự án còn khu vực tư nhân là 2,4 triệu m2 đất cho 35 dự án. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân không đủ vốn lớn để đầu tư vào đất đai nên phải đi thuê đất của các doanh nghiệp nhà nước hoặc các tổ chức với giá cao hơn nhiều, 51% số doanh nghiệp sử dụng đất tự có để tiến hành sản xuất kinh doanh, 49% là thuê của doanh nghiệp nhà nước hoặc các tổ chức khác.
Hiện tượng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do thủ tục thuê và chuyển nhượng đất phức tạp, có những quy định không rõ ràng gây khó khăn cho các nhà đầu tư, làm mất nhiều thời gian, chi phí. Theo quy định thì Nhà nước giao cho các tỉnh thành trực tiếp giải quyết thủ tục cấp đất, giao đất và cho thuê nhưng việc quản lý đất đai vẫn do Nhà nước quyết định cho nên không đáp ứng kịp thời cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó quy trình giao đất, cho thuê còn phức tạp, qua nhiều khâu, cấp chính quyền,…
Thứ hai, do quy hoạch đất không rõ ràng, nhiều nơi diện tích đất không sử dụng, đất hoang hóa, đất sử dụng sai mục đích còn lớn, trong khi khu vực tư nhân lại thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh. Cho đến nay, cả nước có 3,5 triệu m2 đất bị hoang hóa và sử dụng sai mục đích, riêng Hà Nội có 472.800m2.
Thứ ba, do quy mô vốn của doanh nghiệp còn nhỏ không đủ khả năng để thuê đất ở những địa điểm có lợi thế vì ở những địa điểm đó giá đất cho thuê cao làm tăng chi phí đầu vào.
Khó khăn trong thu hút và đào tạo nguồn nhân lực
Khó khăn chung của khu vực tư nhân là thiếu lao động có trình độ, kỹ năng, tay nghề của người lao động. Điều này do khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự tạo được lòng tin để xóa bỏ những định kiến trong xã hội. Do vậy, chỉ có những lao động có trình độ thấp, cần công việc, ít có cơ hội lựa chọn nơi làm việc mới chấp nhận làm việc trong khu vực này. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Một nguyên nhân nữa là trong khi các doanh nghiệp Nhà nước đều được hưởng chính sách của Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực miễn phí thì khu vực tư nhân khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ này.
Hiện tại, nền giáo dục của ta chưa chú tâm vào đào tạo theo nhu cầu của xã hội, có những ngành, những lĩnh vực còn thiếu quá nhiều trong khi đó có một số ngành đào tạo tràn lan. Chương trình đào tạo còn nặng nề về lý thuyết, ít thực hành, nội dung đào tạo chậm không bắt kịp sự thay đổi trong thực tế cho nên không bắt kịp với công việc thực tế.
Khó khăn trong tiếp cận với nguồn vốn
Đối với nguồn vốn của ngân hàng:
Hiện tại các doanh nghiệp mới đăng ký thành lập nguồn vốn chủ yếu huy động từ bản thân chủ doanh nghiệp, người thân, bạn bè,… Nguồn vốn huy động được từ các tổ chức tín dụng là rất khó khăn. Thực tế cho thấy, 69% doanh nghiệp sử dụng vốn tự tích lũy, 45% doanh nghiệp là vay vốn từ người thân, bạn bè. Và chỉ có 21% doanh nghiệp vay vốn được tư các ngân hàng thương mại quốc doanh, 11% vay từ ngân hàng thương mại cổ phần.
Bảng 2.16: Nguồn huy động vốn của các doanh nghiệp tư nhân năm 2007
Nguồn vốn vay từ các ngân hàng thường nhỏ và chủ yếu lại là vốn ngắn hạn. Chỉ có khoảng 30% vốn tồn đọng của khu vực tư nhân là vốn vay trung và dài hạn. Như vậy, việc tiếp cận thị trường tín dụng chính thức của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là rất khó khăn (thị trường tín dụng chính thức và thị trường trong đó hình thức huy động vốn và cho vay được hiện thực thông qua các trung gian tài chính có đăng ký và hoạt động công khai theo luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền Nhà nước các cấp) do hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân còn thấp, không đủ tin cậy để các ngân hàng cho khu vực này vay vốn.
Hiện tại khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự tạo được lòng tin nên ngân hàng chưa tin tưởng để cho khu vực kinh tế này vay vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn. Thêm vào đó, khu vực tư nhân có quy mô nhỏ nên lượng vốn vay thường nhỏ trong khi đó chi phí giao dịch, điều tra, giám sát lại cao. Vì vậy, ngân hàng thường cho khu vực nhà nước vay là chính, do khu vực này thường được Nhà nước bảo đảm.
Ngân hàng cho vay theo hai hình thức: vay có bảo đảm và không bảo đảm. Nguồn vay không có bảo đảm khu vực tư nhân không thể tiếp cận được thường chỉ dành cho khu vực nhà nước. Trong khi tài sản của khu vực tư nhân không lớn, lại khó khăn trong việc thuê đất làm mặt bằng sản xuất nên việc thế chấp còn ngặt nghèo, các doanh nghiệp khó mà đáp ứng được những điều kiện của ngân hàng đưa ra.
Một nguyên nhân nữa là do sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. Sự yếu kém thể hiện ở mạng lưới giao dịch còn mỏng, phương thức thanh toán chậm, thủ tục rườm rà,… Mặc dù trong thời gian qua việc cải cách hệ thống ngân hàng cũng thu được những kết quả nhưng còn chậm chưa bắt kịp với sự phát triển.
Chính những nguyên nhân trên làm cho ngân hàng còn dè dặt không muốn cho khu vực tư nhân vay trong khi nguồn vốn của ngân hàng còn đang đọng, không tìm được nơi đầu tư, còn khu vực tư nhân phải đi vay vốn ở thị trường tín dụng phi chính thức.
Đối với nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển:
Tính đến 26/10/2023 các dự án đầu tư của các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân được vay bình quân là 850 triệu đồng/ 1 dự án và hộ kinh doanh cá thể là 55 triệu đồng/ 1 dự án từ quỹ hỗ trợ phát triển. Tuy nhiên số vốn mà khu vực tư nhân vay được từ quỹ này chỉ chiếm 8% tổng số vốn cho vay của quỹ. Nguyên nhân là do thủ tục và các điều kiện cho vay còn quá chặt chẽ. Trong khi đó các thủ tục pháp lý về điều kiện cho vay của Quỹ còn bất bình đẳng giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân làm cho khu vực kinh tế này khó vay được vốn từ nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước.
Các văn bản pháp luật của ta hiện nay chưa nắm bắt kịp được với sự thay đổi của thực tiễn. Sự chậm chạp ra đời các văn bản cộng với bộ máy cồng kềnh làm cho nhiều doanh nghiệp đã lỡ mất cơ hội kinh doanh.
Mặc dù hiện nay các văn bản phát luật đều có xu hướng dẫn tới tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế, nhưng giữa văn bản và việc thực thi vẫn còn khoảng cách lớn. Vẫn còn có nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động mà doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng vẫn bị hạn chế.
b) Thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà nước.
Thiếu cơ chế cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Ngày nay, sự phát triển các ngành dịch vụ đang thúc đẩy mọi mặt của đời sống kinh tế trong đó có dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh có tác dụng làm tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua ủy nhiệm những công việc chuyên biệt cho các chuyên gia chuyên ngành. ở các nước phát triển, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chiếm tỉ lệ ít nhất là 1/3 giá trị đầu vào của các doanh nghiệp. Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh rất đa dạng và thực hiện những chức năng khác nhau. Chất lượng cung ứng các dịch vụ sẽ tác động lớn đến khả năng phát triển và cạnh tranh của nền kinh tế khi sử dụng dịch vụ này. Theo các nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu á, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp là bộ phận đầu vào mang tính cạnh tranh nhất, tiếp theo mới đến truyền thông, giáo dục thương mại và đào tạo. Thực tế cũng cho thấy, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thường phải phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nhập khẩu để tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, khi ở trong nước những dịch vụ này không đáp ứng được yêu cầu chất lượng.
Đối với khu vực tư nhân thì dịch vụ này có vai trò đặc biệt quan trọng, việc sử dụng nó mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Tuy nhiên dịch vụ này ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, một mặt là do cả những nhà hoạch định chính sách cũng như doanh nghiệp chưa thấy hết tầm quan trọng của các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Mặt khác, bản thân các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hiện có Việt Nam vừa ít vừa có chất lượng chưa cao. Bản thân những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ còn thiếu năng lực chuyên môn, chưa có kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ có chất lượng cao. Ngoài ra, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng chưa chú trọng đến việc định hướng khách hàng, marketing còn yếu kém.
Hộp 8. Nguồn tư vấn kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước
Từ bạn bè có công việc kinh doanh tương tự và đồng hương 42,6% -Các nhà tư vấn chuyên nghiệp 24,9%
Từ nhân viên của tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp 18,8% -Công chức nhà nước 5,3%
Giáo sư đại học 4,6%
Doanh nghiệp nhà nước 3,8%
Cơ chế cung cấp thông tin thị trường cho kinh tế tư nhân cũng rất hạn chế. Không ít các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân không chỉ muốn mở rộng thị trường trong nước mà còn muốn vươn ra thị trường quốc tế. Để sản phẩm của các doanh nghiệp có mặt trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp phải nắm bắt được những thông tin về cung cầu, giá cả, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, thông tin về pháp luật,… Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
Khả năng nắm bắt thông tin của các doanh nghiệp còn yếu do không đủ kinh phí để đầu tư cho công tác thông tin như đào tạo cán bộ, trang thiết bị hiện đại,… Các thông tin doanh nghiệp thu nhập được thường không đầy đủ và chính xác do thu được từ nhiều nguồn khác nhau. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn và xác định thông tin đúng.
Bảng 2.17: Tỷ lệ khai thác thông tin về xuất khẩu của khu vực kinh tế tư nhân
Như vậy, các doanh nghiệp chủ yếu lấy thông tin qua sách, báo, tạp chí.
Dịch vụ cung cấp thông tin của các tổ chức gần như chưa có. Tỷ lệ khai thác thông tin từ các tổ chức này của các doanh nghiệp là rất không đáng kể.
Thiếu cơ chế tạo sự ủng hộ của xã hội đối với kinh tế tư nhân
Các quan điểm, văn kiện Đại hội Đảng đều thể hiện sự nhất quán trong chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Song, trên thực tế vẫn tồn tại sự e ngại với sự phát triển của thành phần kinh tế này chưa thực sự tạo được lòng tin cho xã hội. Những hiện tượng doanh nghiệp làm ăn phi pháp, kinh doanh không hiệu quả vẫn còn khá phổ biến. Trong khi đó, nhận thức cũ về kinh tế tư nhân vẫn tồn tại trong dân, chưa thể sớm khắc phục.
Nhìn chung, môi trường thể chế chưa tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Môi trường thể chế được hiểu là tổng hợp toàn bộ các nhân tố mang tính chính trị, nhà nước, pháp luật có tác động ảnh hưởng ở mức độ nhất định lên quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, thể chế chính trị giữ vai trò quan trọng nhất, nó định hướng, chi phối toàn bộ hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh. Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng định hướng chính trị nhằm chi phối những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
Mối quan hệ giữa chính trị, pháp luật, kinh doanh trong đó chính phủ giữ vai trò quan trọng. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế nhằm mục đích giữ vững định hướng chính trị, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi công dân tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó thiết lập các chính sách chủ yếu tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng.
Hiện nay, môi trường kinh doanh còn thiếu lành mạnh, cạnh tranh thiếu bình đẳng, tồn tại nhiều hoạt động gian lận thương mại cũng như tiêu cực do bộ máy quản lý yếu kém gây ra đã đẩy khu vực tư nhân vào tình thế bất lợi.
Nguyên nhân do việc xác định vai trò quan trọng của khu vực tư nhân mới chỉ chung chung mà chưa có những chính sách, chiến lược phát triển cụ thn tại. Cho đến nay, chưa có một bộ phận quản lý Nhà nước chính thức đối với hoạt động của các doanh nghiệp thuộc thành phể, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế này. Bên cạnh đó, tư tưởng kỳ thị, phân biệt khu vực tư nhân trong bộ máy quản lý vẫn tần kinh tế tư nhân để theo dõi, điều chỉnh, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ.
Ngoài ra, cơ chế chính sách phát triển kinh tế tư nhân còn thiếu đồng bộ và chưa nhất quán.
Trên thực tế, hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Tình trạng văn bản pháp luật còn thiếu đồng bộ, không nhất quán đã làm cho các doanh nghiệp có tâm lý không tốt, luôn luôn lo sợ sự thay đổi của cơ chế, chính sách nên không dám đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, những quy định còn phức tạp, chồng chéo gây khó khăn cho các doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam