Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh chi nhánh Hải Đăng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng. Từ khi ra đời nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với sự hoạt động của ngân hàng và nó được cải tiến, đổi mới theo sự phát triển của nền kinh tế. Ngày nay trước sự cạnh tranh gay gắt thì vốn là yếu tố tiên quyết giúp các ngân hàng có chỗ đứng trên thị trường tài chính. Nhận thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn nên các ngân hàng thương mại tập trung tìm biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả huy động vốn của ngân hàng mình. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Đối với ngân hàng tuy là một ngân hàng còn non trẻ nên việc huy động vốn càng được chú trọng. Trong những năm qua nguồn vốn huy động được của ngân hàng không ngừng gia tăng cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng. Ngân hàng đã đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng. Tuy nhiên cơ cấu vốn huy động của ngân hàng chưa thực sự hợp lý. Nguồn vốn dài hạn chiếm tỷ trọng thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay dài hạn của khách hàng. Ngân hàng sẽ phải bù đắp bằng cách lấy nguồn vốn ngắn hạn điều này làm tăng rủi ro thanh khoản. Ngoài việc đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn thì việc cân đối cơ cấu vốn giúp ngân hàng có lợi ích cao nhất và tránh rủi ro là việc làm cần thiết. Do vậy ngân hàng cần nâng cao hiệu quả huy động vốn là một việc làm cấp thiết.
Trong thời gian thực tập tại ngân hàng TMCP Phát triển Hồ Chí Minh em đã nhận thấy vai trò quan trọng của việc nâng cao hiệu quả huy động vốn nên với kiến thức có được trong thời gian thực tập em đã chọn đề tài:“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh chi nhánh Hải Đăng”.
Kết cấu của khóa luận ngoài Lời mở đâu, Kết luận thì nội dung chính được chia làm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương 2:Thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh Chi nhánh Hải Đăng
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHTMCP Phát triển TP.Hồ Chí Minh Chi nhánh Hải Đăng
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại
1.1.1.1Khái niệm
Khái niệm: Ở mỗi nước khác nhau có nền kinh tế và đặc điểm khác nhau về ngân hàng thương mại nhưng nhìn chung ta có thể thống nhất hiểu rằng ngân hàng thương mại là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ cho nền kinh tế, là tổ chức trung gian tài chính, các tố chức trung gian tài chính này có nhiệm vụ dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn.
Hiện nay ở mỗi nước khác nhau có khái niệm về ngân hàng thương mại riêng như sau:
Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” (Mục 2, điều 98 – Luật các Tổ chức tín dụng)
Nói tóm lại NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
1.1.1.2 Đặc điểm của NHTM Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Nhìn chung có rất nhiều cách hiểu khác nhau về ngân hàng thương mại song ngân hàng thương mại vẫn có những đặc điểm chung sau đây:
Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ. Ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp cho vay mượn, huy động tiền tệ từ các chủ thể đang nắm giữ tiền tạm thời nhàn rỗi để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các ngân hàng ngày càng phải hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh doanh của ngân hàng cũng có sự thay đổi, theo đó các sản phẩm của ngân hàng còn bao gồm các dịch vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán ….
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác. Ngân hàng đi vay, huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay với thời hạn dài hơn với lãi suất cao hơn để thu được lợi nhuận. Từ đó chúng ta có thể thấy được tính chất tập trung rủi ro của lĩnh vực ngân hàng. Nếu đến hạn vì một nguyên nhân nào đó người vay tiền không trả được nợ hoặc trả không dủ sẽ làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng rủi ro. Trường hợp khác là ngân hàng sẽ có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng đến rút tiền trước hạn, ngân hàng phải trả tiền cho khách hàng khi đáo hạn nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền để thanh toán do các khoản cho vay hoặc đầu tư chưa thu hồi được và ngân hàng cũng không thể vay tiền ở các thị trường tài chính khác…
Chính vì đặc điểm này mà ngân hàng phải tạo ra những biện pháp, kỹ thuật để phòng ngừa rủi ro cho người gửi tiền, người vay tiền và cho chính bản thân mình.
Ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lí nghiêm ngặt của nhà nước. Tình hình lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế. Mặt khác rủi ro trong kinh doanh ngân hàng luôn mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Do vậy đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có các biện pháp quản lý nghiêm ngặt sao cho chính sách tiền tệ quốc gia được đảm bảo thực hiện, hệ thống tài chính ngân hàng được đảm bảo an toàn, quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ. Hơn nữa, để tạo ra các dịch vụ toàn diện cho khách hàng, đồng thời các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau khi đứng trước nguy cơ rủi ro, các ngân hàng luôn phải duy trì ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của mình cả về mặt tổ chức và về mặt kỹ thuật.
1.1.2. Vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
1.1.2.1 Vai trò của NHTM
Trong sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước, không thể phủ nhận vai trò đóng góp to lớn của ngành ngân hàng. Do thị trường chứng khoán ở nước ta vẫn còn non trẻ, hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. Vì vậy, khai thác vốn từ các trung gian tài chính như các ngân hàng thương mại chiếm vị trí rất quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Một số vai trò quan trọng của NHTM có thể nói đến như sau:
Thứ nhất: NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn và cho vay đã giải quyết sự “ thừa”; “thiếu” vốn tạm thời trong nền kinh tế. NHTM thu gom những khoản tiền nhỏ trong nền kinh tế và cung cấp cho doanh nghiệp những khoản tiền lớn trong thời gian ngắn. Như vậy ngân hàng đóng vai trò cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giúp cho các đơn vị kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp.
Thông qua những dịch vụ của ngân hàng cung ứng như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc thanh toán,… các doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ để thu, chi những khoản tiền có giá trị với độ an toàn cao. Bên cạnh đó ngân hàng cũng là trung tâm thông tin tài chính về các doanh nghiệp tương đối chính xác, có độ tin cậy cao từ đó giúp cho hoạt động quản lý của doanh nghiệp có hiệu quả tốt hơn.
Thứ ba: NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động của NHTM, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ phục vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của Chính phủ bằng các công cụ như: ấn định hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Thứ tư: Là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
1.1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Chức năng trung gian tín dụng
Do đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong qúa trình tái sản xuất xã hội nên xuất hiện mâu thuẫn giữa những người thừa vốn và những người thiếu vốn. Quan hệ tín dụng trực tiếp gặp nhiều hạn chế vì nhu cầu giữa các chủ thể khó có thể trùng nhau về mặt khối lượng, thời gian tín dụng và giữa các chủ thể hầu như không có đủ sự tin tưởng để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng vốn cho nhau.
Với tư cách là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, NHTM trên cơ sở tập hợp các nguồn vốn huy động được thành một quỹ để cho vay, đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Từ đó, đảm bảo quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá được diễn ra liên tục, dễ dàng hơn.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện chức năng trung gian tín dụng và góp phần vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản thanh toán chi trả cho khách hàng.
Hàng ngày, nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các giao dịch với khối lượng các khoản thanh toán vô cùng lớn. Trong quá trình làm trung gian tín dụng, ngân hàng đã thu hút các nhà kinh doanh buôn bán với nhau mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Ngân hàng thực hiện chức năng trung giân thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản. Đây chính là phương thức thanh toán qua đó giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông, đẩy mạnh hình thức thanh toán không dùng tiền mặt với chi phí thấp hơn rất nhiều. Hoạt động thanh toán khẳng định vai trò trung gian không thể thiếu của NHTM đồng thời tạo ra nguồn thu cho ngân hàng từ phí thanh toán. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại
Chức năng này được thực hiện và thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của NHTM trong mối quan hệ với khối dự trữ bắt buộc của NHNN. Khi NHTM cấp vốn tín dụng cho một khách hàng A, lập tức số tiền này có thể trở thành tiền gửi của khách hàng B (mở tại một ngân hàng bất kỳ). NHTM lại dùng vốn này để cho đối tượng khác vay. Như vậy từ một đồng vốn ban đầu, hệ thống NHTM có thể tạo ra một số tín dụng lớn hơn rất nhiều lần đẻ ra bội số tín dụng. Đây chính là khả năng tạo tiền của NHTM. Để kiểm soát khả năng này, NHNN buộc NHTM phải ký gửi tại NHNN một phần tổng số tiền họ nhận được từ nền kinh tế (khoản dự trữ bắt buộc).
Ta có thể nhận thấy khi một khối lượng tiền gửi tăng lên khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM cũng sẽ tăng lên rất nhiều lần. Ngược lại, khi bớt đi một lượng tiền gửi khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ giảm đi rất nhiều lần.
Chức năng tạo tiền có ý nghĩa to lớn trong việc quyết định quy mô nguồn vốn của ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt. NHNN coi ngân hàng thương mại như một kênh tạo tiền quan trọng. Qua đó NHNN có thể cung ứng tiền vào lưu thông hay thu hẹp khối lượng tiền tệ ngoài lưu thông nhằm đảm bảo sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ, thực hiện chính sách giá cả, tăng trưởng kinh tế lành mạnh và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã phát triển rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song các nghiệp vụ của ngân hàng được chia ra làm 3 loại nghiệp vụ chính như sau: nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian.
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn :
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như nhận tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, và các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín của ngân hàng sẽ ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó, các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương để đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .
1.1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Do vậy, ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất .
Một là, ngân hàng tiến hành cấp tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động tín dụng. Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng. Các loại tín dụng có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả…
Hai là tiến hành đầu tư
Cùng với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu cầu khác nhau. Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương mại có thể tiến hành là:
- Đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
- Đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh mong muốn. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các yếu tố cần quan tâm. Một trong những yếu tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy rủi ro,mạo hiểm nên trong hoạt động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN đề ra.
1.1.3.3 Nghiệp vụ trung gian tài chính
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, các ngân hàng thương mại còn tiến hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác giải ngân và thu hộ…
Như vậy, nếu thực hiện tốt các nghiệp vụ trên sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên tác động qua lại với nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động kinh doanh quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại. Để tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại thì đầu tiên ta cần phải hiểu như thế nào về vốn.
1.2.1 Khái niệm vốn, cơ cấu và vai trò của vốn với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khái niệm về vốn
Vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn phải được đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định. Vốn biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng, bạc, đá quý…) và phản ánh giá trị những tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa…). Ngoài ra nó còn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình (uy tín, trình độ, phát minh, sáng chế, thông tin, công nghệ…). Do sự biểu hiện dưới các hình thức phong phú và đa dạng đó mà vốn cần phải được khai thác, sử dụng có hiệu quả mới đem lại lợi nhuận cao.
Trong nền kinh tế thị trường dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy, muốn hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả cao thì công tác huy động cần phải được quan tâm đúng mức. Từ đó, ta có thể hiểu khái niệm cơ bản về vốn như sau:
“Vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.”
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những giúp cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại
Vốn tự có
Vốn tự có hay còn gọi là vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại. Đây là số vốn ban đầu và được bổ sung không ngừng trong quá trình phát triển của NHTM. Theo phương diện quản lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh và là cơ sở để thu hút nguồn vốn khác. Vốn tự có của ngân hàng gồm:
Vốn cấp 1 bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính và lợi nhuận chưa phân phối.
Vốn cấp 2 bao gồm:
50% giá trị tăng thêm của tài sản cố định và 40% giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại theo quy định của pháp luật.
Dự phòng chung.
Các trái phiếu chuyển đổi và một số các công cụ nợ khác thỏa mãn điều kiện do Ngân hàng Nhà nước qui định
Với tầm quan trọng trong vấn đề phòng và xử lý những rủi ro ngân hàng, NHNN quy định mức vốn tự có tối thiểu khi thành lập hoặc NHTM chỉ được huy động vốn không quá bội số nhất định của vốn tự có. * Nguồn vốn huy động
Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng thương mại, thường tỷ lệ này chiếm 70% – 80%. Nguồn vốn này không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng ngân hàng được quyền sử dụng tạm thời nguồn vốn này. Ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền, khách hàng mua trái phiếu, kỳ phiếu một khoản tiền bằng lãi suất huy động tính trên số tiền huy động. Bên cạnh đó ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn các khoản vốn này theo thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng. Có thể phân loại nguồn vốn huy động thành 2 loại sau: + Huy động từ tiền gửi
Tiền gửi là nguồn mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân, bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là nguồn có tính ổn định cao nhưng ngân hàng phải trả chi phí cao cho những khoản đó.
- Tiền gửi không kỳ hạn: tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng là những khoản thường để khách hàng thanh toán thông qua ngân hàng. Đay là nguồn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào.Ngày nay các ngân hàng thương mại rất chú trọng huy động loại tiền gửi này vì chi phí cho nguồn huy động thấp, nhờ vậy giảm mà hạ thấp được chi phí bình quân huy động vốn và làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
- Huy động qua thị trường vố
Đây là nguồn vốn ngân hàng chủ động thu gom thông qua việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu. Nguồn này ngân hàng có thể chủ động khai thác huy động một cách linh động đáp ứng nhu cầu của khách hành nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nguồn vốn đi vay
Đây là loại vốn mà NHTM đi vay của NHNN, TCTD khác,…với lãi suất tùy thuộc và người cho vay và NHTM cũng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Khoản vốn vay của NHTM phát sinh khi ngân hàng có nhu cầu lớn trong thanh toán hoặc tín dụng. Đây là khoản vốn nhằm giải quyết những khó khăn trong thanh toán hoặc bù đắp những thiếu hụt về vốn một cách tạm thời của NHTM. Thường thì những chi phí cho khoản vốn này cao hơn so với lãi suất cho vay của ngân hàng nhưng ngân hàng vẫn phải chấp nhận vì nguồn vốn huy động có nhiều sự biến động, đôi khi nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Trong quan hệ tín dụng với các NHTM, NHNN cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là hình thức cho vay chiết khấu vì lãi suất thấp và NHTM có thể chấp nhận được. Nhưng có một hạn chế đối với NHTM đó là NHNN chỉ cấp khoản tín dụng nhất định mà thường thì khoản tín dụng đó lại quá nhỏ so với nhu cầu về vốn của các ngân hàng. * Vốn khác
Khi ngân hàng có kết quả kinh doanh tốt, tạo uy tín trên thị trường thì có thể nhận thêm được nhiều nguồn vốn khác như: vốn tài trợ, vốn ủy thác đầu tư,… trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Việc giành được những nguồn vốn này giúp làm đa dạng hóa hoạt động của ngân hàng và nâng cao tỷ trọng cho vay trung dài hạn của NHTM. Mặt khác, ngân hàng cũng nhận được một khoản chênh lệch lãi suất trong vai trò giải ngân. Để có thể làm phát triển được nguồn vốn này ngân hàng cần phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ tăng cường uy tín của mình trên thị trường tiền tệ.
Mỗi loại vốn trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM đều có tầm quan trọng riêng và không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh và sự tồn tại của ngân hàng. Nhưng trong đó chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng hơn cả của nguồn vốn huy động, nó chiếm tỷ trọng lớn nhất, chi phí thấp. Việc nghiên cứu sâu sắc loại vốn này là rất cần thiết đối với sự phát triển của ngân hàng.
- Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng
- Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng thương mại
Đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào muốn hoạt động được thì cần phải có 3 yếu tố sau: Công nghệ – Lao động – Tiền vốn. Trong đó vốn là nhân tố quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Đối với ngân hàng thương mại, vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức hoạt động kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn. Như đã biết, đặc trưng của hoạt động ngân hàng: Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại. Vốn lớn là lợi thế đầu tiên, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ đối với các NHTM. Chính vì vậy, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, là khâu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, ngoài số vốn điều lệ ban đầu theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
Vốn quyết định khả năng thanh toán và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường
Nguồn vốn huy động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Để đảm bảo việc thu hút khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình thì ngân hàng phải tạo được niềm tin với khách hàng. Điều này được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng chỉ khi ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn. Mặt khác, uy tín của ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng. Ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như ngân hàng có nguồn vốn lớn và ổn định. Điều này phụ thuộc lớn vào khả năng huy động vốn của ngân hàng.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng: Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động của ngân hàng. Nguồn vốn khả dụng của ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh hay hoạt động thanh toán của ngân hàng. So với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có các khoản mục về đầu tư, cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng tín dụng cũng lớn hơn. Ngược lại, các ngân hàng nhỏ bị giới hạn bởi phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Vốn của ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng. So với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có các khoản mục về đầu tư, cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng tín dụng cũng nhỏ hơn. Do đó, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư, và không đáp ứng được nhu cầu vốn vay trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Chúng ta đã biết, đại bộ phận vốn của ngân hàng là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy ngân hàng phải trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu rút tiền. Với một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, khi nhu cầu vay vốn trên thị trường là rất lớn, một mặt ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vay, mặt khác với quy mô nhỏ, ngân hàng nếu cho tỷ lệ lớn trên tổng nguồn vốn huy động được, dự trữ ít sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán, mất khách hàng và không tận dụng được cơ hội kinh doanh. Trong khi đó, với một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào họ sẽ thực hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao. Nguồn vốn lớn còn giúp ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác nhau như: Liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng khoán… các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng thời nâng cao uy tín và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, vốn có vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số cho vay của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện để bổ sung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Xuất phát từ vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và của nền kinh tế, nguồn vốn nói chung và vốn huy động nói riêng phải thường xuyên được bảo toàn và không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả của vốn. Đây là tiền đề quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh ngân hàng, đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn là sự cần thiết trong quá trình hoạt động của NHTM ở tất cả các quốc gia.
1.2.1.2 Khái niệm và vai trò nguồn vốn huy động.
Khái niệm vốn huy động
Nguồn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nhưng lại là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng,thường thì tiền gửi vào và tiền rút ra không đồng thời hoặc chênh lệch nhau một lượng nhất định. Ngân hàng sẽ sử dụng lượng vốn tạm thời nhàn rỗi này vào mục đích cho vay kiếm lời. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Tiền gửi giao dịch:
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào nhằm mục đích giao dịch thanh toán, chi trả các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh một cách an toàn, thuận tiện. Đặc tính cơ bản của tiền gửi giao dịch là có thể phát hành séc, lãi suất thấp và có tính không ổn định.
Tiền gửi phi giao dịch:
Bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn, chúng có tính ổn định cao, người gửi được hưởng lãi suất cao nhưng không được phát hành séc.
Bên cạnh đó, NHTM còn có thể huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Trong đó chứng chỉ tiền gửi và kỳ phiếu là loại phiếu nợ ngắn hạn; trái phiếu là loại phiếu nợ trung, dài hạn. Các loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng đợt với mục đích, số lượng cụ thể và chỉ phát hành khi được sự cho phép của NHNN. Đặc điểm của các loại giấy nợ này là chúng có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm, có tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác.
Vai trò của nguồn vốn huy động đối với ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn huy động quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này.
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành.
Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, ngân hàng có thể nắm bắt phần nào được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM. Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được. Nếu một ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn. Hiện nay, việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không được vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được lại là nguồn để cho các doanh nghiệp khác vay nên công tác huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.
1.2.1.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
NHTM hoạt động theo phương châm : “Đi vay để cho vay” mà vốn tự có của ngân hàng thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động ( khoảng 5% ). Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển NHTM cần phải đặc biệt quan tâm tới các hình thức tạo và mở rộng các nguồn vốn nhằm phát triển quy mô của ngân hàng, tạo sức cạnh tranh trên thị trường. Như chúng ta đã biết nguồn vốn huy động được của ngân hàng thông qua tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm hoặc phát hành các công cụ nợ. Những khoản vốn này ngân hàng không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng tạm thời. Có nhiều tiêu thức để phân chia nguồn vốn huy động thành những loại khác nhau như : theo đối tượng huy động, theo thời gian huy động, theo loại tiền tệ,…. Bên cạnh đó để có một cái nhìn khái quát, toàn diện về công tác huy động vốn, qua đó có thể đề ra các biện pháp chủ yếu để tăng cường và mở rộng khả năng huy động vốn của NHTM, ta có thể phân chia thành các hình thức huy động sau:
Huy động từ tài khoản tiền gửi
Tiền gửi của ngân hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau do đó cũng có nhiều loại tiền gửi khác nhau. * Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn :
Tiền gửi không kỳ hạn là những khoản tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu này của người gửi tiền. Đây là tiền của cá nhân, doanh nghiệp gửi vào ngân hàng với mục đích chính là để hưởng dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Trong phạm vi số dư cho phép các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp, cá nhân đều được ngân hàng thực hiện và các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện nhập vào tài khoản thanh toán theo yêu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Do vậy, nó là nguồn vốn biến động nhiều nhất mà ngân hàng khó có thể dự đoán về quy mô tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng có thể huy động được.
Là sản phẩm huy động truyền thống với các hình thức phong phú và kỳ hạn đa dạng nên tiền gửi tiết kiệm rất phù hợp với dân cư và đáp ứng được nhu cầu người gửi, khả năng huy động của ngân hàng từ nguồn vốn này là rất tiềm năng. Tuy nhiên, ngân hàng cần chú ý đến chính sách lãi suất huy động, nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động hấp dẫn, phù hợp với tính đa dạng phong phú và phức tạp của đối tượng dân cư. Đặc biệt cần có cơ chế trả lãi hợp lý đối với loại tiết kiệm không kỳ hạn, cơ chế đảm bảo bằng giá trị vàng, hay ngoại tệ mạnh cho các loại tiết kiệm nội tệ, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi, tạo niềm tin để khuyến khích dân cư gửi vào ngân hàng ngày càng lớn.
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ cấp. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn.
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình trạng tài chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs. Mức lãi suất của CDs do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi ro của từng ngân hàng. Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất giúp các NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường cạnh tranh mới. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Trái phiếu :
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất định. Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc phát hành trái phiếu sẽ thu hút được lượng tiền ổn định trong dài hạn do vậy phát hành trái phiếu chỉ được thực hiện khi ngân hàng thực sự cần một lượng vốn lớn hoặc khi ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay trung dài hạn.
Kỳ phiếu:
Kỳ phiếu là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời hạn, có lãi suất tương ứng với từng loại kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi trước hoặc sau. Đây là giấy tờ có giá ngắn hạn nghĩa là ngân hàng sẽ có được nguồn vốn chủ động với tính chất ổn định cao nhưng chi phí mà ngân hàng bỏ ra cũng rất lớn. Do vậy ngân hàng phải có chính sách huy động vốn linh hoạt để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
Huy động vốn qua các khoản đi vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHNN, hoặc giũa các NHTM với nhau trên thị trường liên ngân hàng, hay với các tổ chức tài chính khác.
Vay NHNN:
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ ( thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán ) NHTM thường vay NHNN. Hình thức cho vay của NHNN chủ yếu là tái chiết khấu các thương phiếu hoặc tái cấp vốn. Trong điều kiện của Việt Nam chưa có thương phiếu NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
Vay các TCTD khác:
Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có sự gia tăng bất ngờ về các khoản huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm lãi suất cao hơn. Ngược lại các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy nguồn vốn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó có thể bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN. Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc nhà nước.
1.2.2 Hoạt động tín dụng
Đây là hoạt động có đem lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, thường chiếm 80-90% trong tổng số tài sản có. Khoản mục này thể hiện mức độ đáp ứng của ngân hàng đối với nhu cầu vay vốn của nền kinh tế.
Xét theo góc độ về thời hạn số tiền mà ngân hàng huy động được, cho vay theo hai loại: cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn nhằm thực hiên các sự án đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống.
1.2.3. Đầu tư Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Ngân hàng có thể kiếm con đường sinh lợi cho mình và cho khách hàng của mình bằng những hoạt động đầu tư. Tham gia hoạt động này, ngân hàng có thể chủ động trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giảm bớt rủi ro cho mình và cho khách hàng. Tùy vào mục đích của mình (an toàn hay sinh lợi) mà ngân hàng sẽ đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau đối với những nước có nền kinh tế phát triển cổ phiếu công ty và những hoạt động góp vốn kinh doanh đầu. Nhưng ở nước ta do thị trường tài chính kém phát triển, trình độ, công nghệ ngân hàng chưa cao nên việc đầu tư chủ yếu tập trung trái phiếu kho bạc Nhà nước, tín phiếu có tính an toàn cao.
1.2.4 Các hoạt động ngoại bảng
Thanh toán và tín dụng là cơ sở của mọi hoạt động ngân hàng trong đó thanh toán là nền của hoạt động tín dụng. Nó là mảng có tốc độ phát triển rất nhanh cả về phương thức lẫn phương tiện. Ngày nay, tiền không còn là phương tiện thanh toán duy nhất mà còn có séc, thẻ tín dụng,…
Các dịch vụ ngân hàng cũng được mở rộng. Nhờ vào uy tín và khả năng của mình ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụ tư vấn, phát hành thư bảo lãnh, bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty. Từ đó làm tăng doanh thu, thay đổi cơ cấu các nguồn thu.Đối với các nước có thị trường tài chính phát triển doanh thu của các hoạt động ngoại bảng chiếm tỷ trọng cao. Doanh thu của các hoạt động này phản ánh mức độ hiện đại và uy tín của mỗi ngân hàng trong thị trường tiền tệ ở một quốc gia.
1.3 Hiệu quả công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý. Một trong những chức năng của NHTM là trung gian tài chính của nền kinh tế, do đó nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng tập tung và thu hút các nguồn vốn lớn để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, các công trình kinh tế xã hội, biến chúng thành những đồng vốn mang lại hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy, ngân hàng phải có chính sách huy động vốn phù hợp với đặc điểm của ngân hàng mình để đem lại hiệu quả tối ưu nhất.
1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
13.1.1 Nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định về quy mô
Quy mô nguồn vốn huy động là tổng khối lượng vốn huy động của ngân hàng huy động được trong một thời gian nhất định.
Quy mô nguồn vốn huy động của ngân hàng là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn của ngân hàng. Điều đó cho thấy ngân hàng đã thành công khi thu hút được nhiều khách hàng biết tới ngân hàng, tin tưởng và gửi tiền vào ngân hàng. Trước khi thực hiện một chiến lược huy động vốn thì ngân hàng cần có kế hoạch đề ra xem liệu nguồn vốn mà ngân hàng cần cho họat động kinh doanh là bao nhiêu, liệu có mang lại lợi nhuận cho ngân hàng hay không. Ngân hàng cần dựa vào một tỷ lệ sau:
Tỷ lệ tỷ trọng từng loại hình huy động:
Chỉ tiêu này dùng để xác định cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng từng thời kỳ, từ đó phát hiện những ưu nhược điểm của ngân hàng trong công tác huy động vốn.
Cơ cấu NVHĐ ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng. Cơ cấu huy động vốn phải phù hợp với cơ cấu sử dụng. Nếu cơ cấu NVHĐ không phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng thì sẽ không tối đa được dư nợ tín dụng và đầu tư, ngược lại cơ cấu huy động nhiều mà sử dụng không hết thì hoạt động không hiệu quả, ngân hàng vẫn phải chịu lãi suất trên phần huy động thừa. Nhìn chung, cơ cấu vốn được xem là hợp lý khi nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, ít nhất là 50%. Bên cạnh đó, thì ngân hàng cũng cần phát triển nguồn huy động từ tiền gửi thanh toán vì nguồn này mặc dù không ổn định nhưng có chi phí thấp và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thông qua dịch vụ thanh toán hộ. Còn nếu xét về mặt thời gian thì nguồn vốn của ngân hàng được coi là ổn định khi nguồn vốn trung và dài hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn bởi vì ngân hàng có thể mang nguồn vốn trung dài hạn đi đầu tư trung và dài hạn.
Quy mô nguồn vốn lớn cho phép ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho vay vốn của ngân hàng, đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình để từ đó giảm rủi ro, giảm chi phí phụ cho một đồng vốn huy động, tăng khả năng thanh toán, khả năng cạnh tranh. Những lợi ích mà quy mô lớn mang lại cho ngân hàng là khả năng sinh lời cao cũng như tăng vị thế ngân hàng trên thương trường. Khi huy động với quy mô và cơ cấu hợp lí, ngân hàng sẽ tạo lập được nguồn vốn tăng trưởng có tính ổn định kết hợp với chi phí vốn huy động hợp lí sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng hoạt động hiệu quả.
1.3.1.2 Chi phí huy động vốn Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Chi phí huy động vốn là toàn bộ chi phí ngân hàng bỏ ra để được hưởng quyền sử dụng một đồng vốn trong một thời gian nhất định. Chi phí huy động bao gồm hai phần: Chi phí trả lãi (trả lãi huy động ) và chi phí phi lãi (chi phí tiền lương cho cán bộ huy động vốn, chi phí cơ sở vật chất, chi phí marketing, quảng cáo, …). Trong đó, lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế: Người gửi tiền luôn muốn lãi suất cao, còn người vay tiền lại muốn lãi suất vay thấp. Là trung gian đóng vai trò cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền, NHTM cần đảm bảo đa dạng hóa lợi ích các bên, đặc biệt quan trọng nhất là đảm bảo lợi ích cho ngân hàng. Công tác huy động vốn của ngân hàng được đánh giá là có chất lượng và hiệu quả cao về phương diện chi phí khi nó đạt được các yêu cầu sau:
- Tìm kiếm được nguồn vốn chi phí thấp nhất để đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trong khi vẫn thỏa mãn các yêu cầu tương xứng giữa huy động vốn và sử dụng vốn về phương diện quy mô, tính ổn định.
- Tăng lợi nhuận cho ngân hàng mà không nhất thiết là phải chấp nhận những rủi ro cao do sức ép tăng chi phí huy động vốn. Lợi nhuận của ngân hàng về cơ bản sẽ bằng tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí và thuế, do đó việc tăng lợi nhuận bằng cách tăng thu nhập (thông qua việc đầu tư vào tài sản sinh lời cao tương ứng với rủi ro cao) sẽ mạo hiểm hơn là cách quản lý hiệu quả chi phí vốn. Hầu hết các ngân hàng xác định chi phí huy động vốn theo công thức sau:
Trong đó:
Chi phí trả lãi = ∑ lãi suất huy độngi x NVHĐi i: là thời điểm huy động
Việc xác định chi phí huy động vốn là việc làm rất hữu ích cho ngân hàng để từ đó xây dựng chính sách kinh doanh có hiệu quả.
1.3.1.3 Cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn
Hoạt động huy động vốn của NHTM không thể tách rời với hoạt động sử dụng vốn. NHTM huy động vốn bằng nhiều hình thức với các kì hạn khác nhau. Tuy nhiên tính tự chủ của NHTM đối với mỗi nguồn vốn có quan hệ tỷ lệ thuận với chi phí trả lãi để có được quyền sử dụng nguồn vốn đó. Một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn trong từng thời kì sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. Sự hài hòa giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn giữa các ngân hàng. Đó là biện pháp nghiệp vụ, là một công cụ quản lý của nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối vốn đã lập, các cán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương ai, từ đó có chính sách huy động vốn thích hợp. Ngân hàng thường dựa vào tỷ lệ vốn huy động trên dư nợ làm cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Công thức: Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Hiệu suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu này cho phép so sánh khả năng cho vay với khả năng huy động, cho biết khả năng đáp ứng nhu cầu vốn, từ đó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.
Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn phản ánh hiệu quả huy động vốn thông qua 3 khía cạnh sau:
Về quy mô: quy mô huy động vốn phải đủ lớn để đáp ứng các nhu cầu về tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. _ Về kỳ hạn: Chính sách về kỳ hạn là tất cả các quy định của ngân hàng ấn định các mức kỳ hạn thời gian, số lượng, mức độ nhất định của mỗi loại nguồn vốn, mỗi hình thức huy động vốn và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng trong hệ thống các chính sách của ngân hàng nhằm đạt được các mục đích đã đề ra của ngân hàng thông thường các ngân hàng vẫn sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có thời hạn dài hơn, nhưng ở một tỷ lệ nhất định vì nếu lớn hơn nữa thì tức là sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn thì đến một thời điểm nào đó các ngân hàng phải chịu sức ép về khả năng thanh toán. Ngược lại nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và không hiệu quả vì nguồn vốn dài hạn có chi phí huy động cao hơn, trong khi cho vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp hơn cho vay trung dài hạn. Do đó, dựa vào mô hình cấu trúc kỳ hạn giúp ngân hàng phân tích sự phù hợp giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Qua đó, ngân hàng điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn và danh mục tài sản để nâng cao hiểu quả huy động vốn, sử dụng vốn, tăng doanh lợi, duy trì khả năng thanh toán.
Về lãi suất: Từ nền kinh tế tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường, chính sách cho vay và các hoạt động cho vay là những vấn đề phức tạp. Chính sách lãi suất phải thực sự là đòn bẩy kinh tế khuyến khích sự phát triển chung của nền kinh tế, đồng thời phải là công cụ đấu tranh chống cho vay nặng lãi và hạn chế những tiêu cực trong hoạt động cho vay. Chính vì vậy, hoạt động cho vay sẽ trở nên khó khăn nếu một mắt xích quá trình lưu chuyển vốn bị đứt hay đột ngột chững lại. Lúc đó khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ không thể đáp ứng, gây lên phản ứng lan truyền “ khủng hoảng ngân hàng” và mất đi độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng đó.
1.3.2 Ý nghĩa của nâng cao hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản và thiết yếu của ngân hàng. Đó là cơ sở để thực hiện tất cả các hoạt động huy động vốn. Vì vậy chất lượng huy động vốn có mối quan hệ chặt chẽ đến chất lượng của mọi hoạt động khác trong ngân hàng.
Việc mở rộng hoạt động, mở rộng thị trường, tăng lợi nhuận luôn là định hướng phát triển của mọi ngân hàng. Tất cả những hoạt động của ngân hàng đều phụ thuộc vào tình hình nguồn vốn. Nếu như những dự án tốt, cơ hội đầu tư tốt mà ngân hàng không có khả năng huy động vốn thì cũng không thể tiến hành. Khả năng về vốn không chỉ số lượng mà còn là chất lượng của các nguồn vốn khi đem sử dụng có đảm bảo lợi ích lâu dài của ngân hàng.
Đánh giá hiệu quả huy động vốn sẽ làm cho ngân hàng chủ động trong việc khắc phục những điểm yếu của ngân hàng và phát huy những thế mạnh trong công tác huy động vốn của mình qua đó tạo điều kiện giành ưu thế trong cạnh tranh với các ngân hàng khác trên thị trường.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
1.3.3.1 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Một là, chu kỳ phát triển kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng và ổn định, thu nhập của người dân được đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn, từ đó lượng tiền gửi vào ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên. Cùng với đó, ngân hàng có thể mở rộng khối lượng tín dụng bằng cách tăng lãi suất huy động nhằm kích thích người dân gửi tiền vào ngân hàng để tạo nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, thu nhập thực tế của người lao động giảm, điều này sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng vào sự ổn định của đồng tiền.
Hai là, môi trường pháp lý. Các hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) đều chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của nhà nước. Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay, các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty. Do vậy, các chi nhánh ngân hàng ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước, còn phải tuân thủ theo các quy định mà Ngân hàng Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn mức cho vay…
Ba là, môi trường cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và khách quan. Ngân hàng là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và ngày càng phức tạp. Hiện nay, số lượng ngân hàng được phép hoạt động ngày càng tăng cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nhiều tổ chức phi ngân hàng, trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế là có hạn…
Bốn là, yếu tố tiết kiệm của dân cư. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Do đó, công tác huy động vốn của ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố này. Nếu không có tiết kiệm thì sẽ không có vốn để đầu tư cho sản xuất và ngược lại.
1.3.3.2 Các nhân tố thuộc về ngân hàng Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
Một là, chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài ngân hàng. Chiến lược kinh doanh có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức.
Hai là, các hình thức huy động vốn, chất lượng các dịch vụ do ngân hàng cung ứng và hệ thống các mạng lưới. Do nhu cầu của khách hàng khi đến ngân hàng là khác nhau nên việc thoả mãn được những nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Ba là, chính sách lãi suất. Đây là một trong những chính sách quan trọng nhất trong số các chính sách hỗ trợ cho công tác huy động vốn của các ngân hàng hiện nay. Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi quy mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên…
Bốn là, đổi mới công nghệ nhất là khâu thanh toán. Hiện các NHTM ngày càng chú trọng tới việc áp dụng khoa học – công nghệ hiện đại vào hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt là khâu thanh toán. Nhờ đó làm cho nguồn vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàn cho khách hàng trong việc gửi tiền, rút tiền và vay vốn.
Năm là, hoạt động marketing ngân hàng. Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúp cho ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng phù hợp.
Sáu là, thâm niên và uy tín của ngân hàng. Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được hình ảnh riêng của mình trên thị trường. Một ngân hàng lớn, có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động. Khóa luận: Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng HDBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
