Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng.
2.3.1. Quy mô tín dụng.
2.3.1.1.Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay:
Sự biến động của quy mô tín dụng trong 3 năm 2009-2011 thể hiện qua bảng số liệu dưới đây: Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh số cho vay năm 2011 đạt 1.659 tỷ đồng, đến năm 2012 tăng lên 1.891 tỷ đồng nhưng năm 2013 giảm xuống còn 1.394 tỷ đồng. Mức giảm từ năm 2012 đến 2013 khá rõ rệt do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu làm cho nguồn cung cũng như nhu cầu tín dụng giảm. Tuy nhiên, với những biến động bất lợi của tình hình kinh tế – xã hội trong năm 2013 thì sự giảm sút này là tất yếu và mang tính hợp lý vì đây là sự điều chỉnh nhằm đảm bảo hiệu quả và quan trọng nhất là giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của chi nhánh.
Qua bảng trên ta thấy doanh số thu nợ có sự biến động qua các năm. Năm 2012 tăng 108 tỷ đồng so với năm 2011 (năm 2011: 1598 tỷ đồng; năm 2012: 1706 tỷ đồng). Năm 2013 giảm 498 tỷ đồng so với năm 2012 ( năm 2013: 1208 tỷ đồng ). Do vậy, muốn một NH hoạt động tốt, không phải chỉ nâng cao doanh số cho vay mà còn chú trọng đến công tác thu nợ làm sao để đảm bảo đồng vốn bỏ ra và thu hồi lại đúng hạn, tránh thất thoát và có hiệu quả cao.Mặc dù việc thu nợ là yếu tố chưa nói lên hiệu quả hoạt động của NH một cách trực tiếp, nhưng nó là yếu tố chủ yếu thể hiện khả năng phân tích, đánh giá, kiểm tra khách hàng của NH là thành công hay không. Việc thu hồi một khoản nợ đúng với các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng tín dụng là một thành công rất lớn trong hoạt động cấp tín dụng của NH
Trên cơ sở định hướng phát triển lâu dài của Chi nhánh, từng bước đổi mới, mở rộng mạng lưới khách hàng, chọn lọc khách hàng có tình hình hoạt động ổn định, nâng cao chất lượng tín dụng. Trong những năm qua, Chi nhánh cũng tiếp cận thành công một số khách hàng đến quan hệ tín dụng như: Tổng Công ty Đồ hộp Hạ Long, Công ty Thủy tinh Hải Phòng, Nhà máy Sắt Tráng men nhôm, Công ty Hóa chất, Công ty Nhựa Tiền Phong, Công ty Sơn Hải Phòng, Công ty Bia Hải Phòng…
Bên cạnh đó, Chi nhánh đã tập chung tiếp cận với một số khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nhằm thu hút nguồn ngoại tệ để phục vụ nhu cầu của các khách hàng còn lại, khẳng định tính tích cực của mình trong vai trò cầu nối hoạt động kinh doanh, cán cân cung cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn..
Dư nợ tín dụng của Chi nhánh có sự biến động qua 3 năm 2011-2013.
Năm 2011 đạt 1721 tỷ đồng, đến năm 2012 tăng 232 tỷ đồng lên 1906 tỷ đồng. Năm 2013 giảm xuống 497 tỷ đồng còn 1297 tỷ đồng. qua các năm 2011 – 2013 dư nợ tín dụng của ngân hàng giảm đi rõ rệt. Mặc dù, lợi nhuận từ cho vay là chủ yếu nhưng ngân hàng cũng cần điều chỉnh lãi suất cho vay hợp lý phù hợp với từng đối tượng cho vay để vừa đạt được mục tiêu lợi nhuận và vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng. Cùng với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, ngân hàng đã áp dụng các chính sách tín dụng phù hợp với nền kinh tế tại từng thời kỳđể nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.3.1.2. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ: Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Hiện nay, hoạt động tín dụng tại Chi nhánh chủ yếu gồm hai hình thức cho vay: Cho vay ngắn hạn và Cho vay trung – dài hạn.
Cho vay ngắn hạn:
Trong những năm qua, chi nhánh luôn chú trọng đầu tư cho vay ngắn hạn với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đủ vốn nhập nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu quả. Từ 2011 – 2013 tỷ trọng này lần lượt là 43,41%; 44,46%; 37,42%.
Cho vay trung và dài hạn:
Với lợi thế về kinh nghiệm, vốn và trình độ,VietinBank Chi nhánh Hải Phòng đã thực sự trở thành một địa chỉ cấp vốn tin cậy cho các dự án. Cho vay trung dài hạn chiếm tỉ trọng lớn trongtổngdưnợ. Năm 2013, dưnợ trung dài hạn của chi nhánh đạt 883,3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 68,11% trong tổng dư nợ cho vay. Năm 2012, tỷ trọng dư nợ trung – dài hạn giảm 5,2% so với năm 2011, nhưng sang năm 2013, tỷ trọng cho vay trung – dài hạn lại tăng 9,46% so với 2012.
Như vậy, có thể thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ tại Chi nhánh vẫn tập trung vào hoạt động cho vay trung và dài hạn. Tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn chiếm khá cao trong tổng dư nợ cho vay.Trong khi đó, nguồn vốn huy động có kỳ hạn dài (trên 12 tháng) tại Chi nhánh hiện nay là thấp.
Sau đây ta đi xem xét cụ thể hơn về cơ cấu dư nợ tín dụng:
Cơ cấu Dư nợ tín dụng theo loại tiền: Bao gồm Việt Nam đồng và ngoại tệ quy đổi.
Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền
Biểu đồ 4: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền ( 2011-2013).
Qua biểu đồ trên ta thấy tại VietinBank Hải Phòng cho vay bằng đồng
Việt Nam có xu hướng tăng còn bằng đồng ngoại tệ có xu hướng giảm.
Năm 2011 tỷ trọng cho vay bằng VNĐ là 80,07%, ngoại tệ là 19,93%; đến 2012 và 2013 tỷ trọng VNĐ tăng và ngoại tệ giảm tương ứng ở mức 80,54% và 19,46%(2012); 82,58% và 17,42% (2013).
Tỷ trọng dư nợ bằng ngoại tệ tại Chi nhánh chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, trong khi nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ tại Chi nhánh chưa đủ bù đắp. Việc phải nhận vốn điều hòa từ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đa làm tăng thêm chi phí trong hoạt động tín dụng. Trong khi đó, việc cho vay bằng ngoại tệ chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, do lãi suất cơ sở được áp dụng là Sibor USD 6 tháng. Điều này dẫn tới lãi suất cho vay thấp hơn sàn quy định của VietinBank, thậm chí một số thời điểm còn thấp hơn lãi suất nhận vốn điều hòa và lãi suất huy động tiết kiệm.
Cũng qua biểu đồ ta nhận thấy tín dụng bằng đồng Việt Nam là thế mạnh của chi nhánh. Đồng ngoại tệ qua ba năm có xu hướng giảm năm 2011 chiếm 19,93% tổng dư nợ, sang năm 2012 chiếm19,46%, giảm nhẹ đến năm 2013 chiếm 17,42% tổng dư nợ.
Nhu cầu về ngoại tệ giảm do sự biến động về tỷ giá và sự khủng hoảng của đồng USD nên các doanh nghiệp còn dè dặt trong xin vay bằng các đồng tiền ngoại tệ. Ta nhận thấy rằng chi nhánh ngân hàng nằm trong khu vực có nhu cầu về vốn bằng Việt Nam Đồng rất lớn. Các doanh nghiệp trên địa bàn đang trên đà phát triển và cần nguồn vốn lớn để đáp ứng nhu cầu tài sản cố định, đổi mới máy móc, công nghệ sản xuất cho các dự án mới. Chi nhánh đã đáp ứng kịp thời nhu cầu đó của các doanh nghiệp và chi nhánh cần phát huy thế mạnh của mình cũng như cần chú trọng hơn đến việc cho vay bằng ngoại tệ để đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu tín dụng tích cực hơn trong việc tiếp cận với một số khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nhằm thu hút nguồn ngoại tệ để đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu tín dụng. Chi nhánh cần tích cực hơn trong việc tiếp cần với một số khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nhằm thu hút nguồn ngoại tệ để phục vụ nhu cầu của các khách hàng còn lại, khẳng định tính tích cực của mình trong vai trò cầu nối hoạt động kinh doanh, cán cân cung cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Cơ cấu Dư nợ tín dụng theo hình thức cấp tín dụng:
Bảng 2.8: Cơ cấu tín dụng theo hình thức cấp
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo hìnhthức cấp tín dụng thì hình thức cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước luôn chiếm tỷ trọng cao nhất (>98%). Trong các năm từ 2011-2013, tỷ trọng này tuy có biến động nhưng không đáng kể. Các hình thức cấp tín dụng khác chỉ chiếm 1 tỷ trọng rất nhỏ. Đây là đặc điểm nổi bật trong hoạt động tín dụng không chỉ ở NH Công thương mà hầu hết các NH đang hoạt động ở Việt Nam cũng đều có chung đặc điểm này.
Cơ cấu Doanh số cấp tín dụng theo ngành kinh tế:
Bao gồm các ngành: công nghiệp, thương mại – dịch vụ, nông, lâm nghiệp và các ngành khác…. Ta có bảng sau:
Sự phát triển của danh mục tín dụng theo ngành phản ánh tình hình phát triển kinh tế chung của địa bàn. Doanh số cấp tín dụng của Chi nhánh đối với các ngành Công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ chiếm trên 70% tổng doanh số. Xu thế này phù hợp với chiến lược tín dụng của chi nhánh giai đoạn sắp tới: Tập trung vào các ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng.
Từ năm 2011 đến năm 2013, doanh số cấp tín dụng cho ngành công nghiệp tuy giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cấp tín dụng của chi nhánh. Ngành công nghiệp tập trung vào các doanh nghiệp lớn là chính, do đó doanh số khá cao
Việc đầu tư vào ngành thương mại, dịch vụ cũng tiêu tốn nhiều vốn và nhận thấy đây là thị trường tiềm năng, chi nhánh ngân hàng cũng mở rộng cho vay với các đối tượng này. Một số khách hàng tiềm năng hoạt động trong lĩnh vực thương mại –dịch vụ đã có quan hệ tín dụng tại chi nhánh như: Tổng công ty Đồ hộp Hạ Long, công ty Bia Hải Phòng…Từ năm 2011 đến 2013, doanh số cấp tín dụng của chi nhánh cho lĩnh vực thương mại, dịch vụ có xu hướng tăng: từ 31,3% (năm 2011) tăng lên32,3% (năm 2012) và tăng tiếp lên 32,9% (năm 2013). Đây cũng là một trong các ngành thế mạnh của Hải Phòng nên việc tăng tỷ trọng cho vay đối với ngành này là hướng đi rất đúng đắn.
Hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp có xu hướng chững lại vào giai đoạn này, tăng giảm không đáng kể.
Ngoài ra, hầu hết các phòng giao dịch (PGD) của chi nhánh được đặt tại các khu trung tâm kinh tế, dịch vụ của thành phố nên thế mạnh của Chi nhánh là tập trung vào các lĩnh vực: dịch vụ vận tải, kho bãi, y tế…. Chiến lược của Chi nhánh năm tới là hạn chế tín dụng đối với các ngành đã phát triển đến giai đoạn bão hòa và kém cạnh tranh trong địa bàn.
2.3.1.3. Tỷ lệ doanh số cho vay / Tổng vốn huy động. (%) Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và số vốn cho vay trực tiếp khách hàng. Vốn huy động là nguồn vốn có chi phí thấp (rẻ hơn đi vay), tương đối ổn định về kì hạn nên năng lực cho vay của NHTM thường bị giới hạn bởi năng lực huy động vốn. Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng cũng tự cân đối được nguồn vốn huy động để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động cho vay. Tỷ lệ lý tưởng là xấp xỉ 100%, khi đó NHTM chủ động được nguồn vốn huy động để cân đối nhu cầu cho vay. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó để ngân hàng có thể tự cân đối được vốn huy động để cho vay
Bảng 2.10: Tỷ lệ doanh số cho vay / Vốn huy động (2011-2013)
Qua số liệu trên ta nhận thấy: năm 2011, tỷ lệ Doanh số cho vay/Vốn huy động là 128,90%, đến năm 2012 tăng lên 161,21% (tăng 32,31%), năm 2013 giảm xuống còn 126,84%. Tỷ lệ này >1 chứng tỏ vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu tín dụng của NH.Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh.Vì vậy, chi nhánh cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động vốn trong thời gian tới để đủ vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng. Chi nhánh có thể khai thác tốt hơn với những khách hàng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng nhưng chưa có quan hệ tiền gửi tại ngân hàng, đa dạng hóa hơn nữa các sản phẩm tiền gửi và các hình thức trả lãi linh hoạt để tận dụng tối đa nguồn tiền gửi từ khách hàng.
2.3.2. Tình hình thu nợ.
2.3.2.1. Hệ số thu nợ
Bảng 2.11: Hệ số thu nợ (2011- 2013)
Qua bảng trên ta thấy hệ số thu nợ tại VietinBank Hải Phòng có xu hướng giảm, năm 2011 hệ số thu nợ là 0,96, năm 2012 giảm đi 0,06 so với năm 2011 và năm 2013 tiếp tục giảm 0,07 so với năm 2012 là 0,87 (năm 2012: 0,90; năm 2013: 0,87). Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kì nào đó, với doanh số cho vay nhất định ngân hàng thu về bao nhiêu đồng vốn. Tuy nhiên nó không đánh giá được chính xác tình hình thu nợ của ngân hàng do doanh số thu nợ còn phụ thuộc vào thời điểm cho vay, thời hạn của khoản vay. Hệ số thu nợ của chi nhánh giảm là do các khoản vay ngắn hạn được giải ngân nhiều vào thời điểm cuối năm và sẽ đáo hạn vào năm sau. Như vậy để đánh giá chính xác hơn về tình hình thu nợ tại chi nhánh, ta sẽ xem xét tỷ lệ thu nợ đến hạn.
2.3.2.2 Tỷ lệ thu nợ đến hạn Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Bảng 2.12: Tỷ lệ thu nợ đến hạn (2011-2013)
Tình hình thu nợ đến hạn tại chi nhánh trong ba năm có xu hướng giảm, năm 2011đạt 93,78%, năm 2012 giảm 2,68% xuống còn 91,1%, và đến năm 2013 giảm tiếp 0,12% so với 2012 xuống còn 90,98%. Con số này cho ta thấy, công tác thu hồi vốn vay tại chi nhánh có dấu hiệu giảm sút, vốn cho vay không thu về được hoàn toàn gốc đúng hạn. Do khó khăn chung của tình hình kinh tế nên kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ít nhiều bị ảnh hưởng. Một số doanh nghiệp rất khó khăn chỉ hoạt động cầm chừng dẫn đến việc không thực hiện đúng cam kết trả nợ nên công tác thu hồi nợ không được như mong muốn. Tuy nhiên, cán bộ tín dụng đã nỗ lực đốc thúc khách hàng để kết quả thu hồi nợ đạt được cao nhất có thể. Trong những năm tới, chi nhánh cần chú trọng hơn nữa đến các khoản vay để việc thu hồi vốn được đảm bảo. Sau khi giải ngân, các cán bộ tín dụng cần theo dõi chặt chẽ hơn nữa tình hình sử dụng vốn vay, tình hình sản xuất kinh doanh của DN, thường xuyên kiểm tra tình trạng tài sản đảm bảo tiền vay và đồng thời khi gần đến hạn trả nợ nhắc nhở, đốc thúc khách hàng để công tác thu hồi nợ đến hạn có hiệu quả hơn.
2.3.2.3. Tỷ lệ thu lãi
Biểu đồ 5: Tỷ lệ thu lãi (2011-2013)
Qua biểu đồ trên ta thấy, tỷ lệ thu lãi trong hoạt động tín dụng tại NH Công thương chi nhánh Hải Phòng khá ổn định. Năm 2011 đạt 95%, năm 2012 tăng 3,1% lên 98,1% và năm 2013 giảm 1,9% xuống còn 96,2%. Tuy nhiên mức giảm này không đáng kể. So sánh với hệ thống NH Công thương thì tỷ lệ này tương đối cao (thông thường tỷ lệ này đạt >95% thì ngân hàng được đánh giá là có tình hình thực hiện kế hoạch tài chính, khả năng đôn đốc, thu hồi lãi từ việc cho vay tốt).
2.3.3. Vòng quay vốn tín dụng. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Bảng 2.13: Vòng quay vốn tín dụng (2011-2013).
Như chúng ta đã biết, vòng quay vốn tín dụng càng cao thì chứng tỏ Ngân hàng hoạt động càng hiệu quả. Tuy nhiên, khả năng quay vòng vốn của chi nhánh trong 3 năm gần đây có sự biến động: Năm 2011 đạt 0,81 vòng/ năm, năm 2012tăng 0,13vòng/ năm là 0,94 vòng/ năm, năm 2013 ở mức 1,25 vòng/năm. Năm 2012, tỷ lệ nợ xấu cao khiến ngân hàng thận trọng hơn trong cho vay dẫn đến dư nợ tín dụng giảm. Hậu khủng hoảng kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao, giá cả leo thang ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đầu tư cá nhân không mang lại lợi nhuận khiến cho khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút.
Chỉ tiêu này tăng trong năm 2012 (0,94 vòng/ năm) tăng 0,12 vòng/ năm so với năm 2012, cho thấy tình hình sử dụng vốn tín dụng tốt hơn, hiệu quả hoạt động tín dụng ngày càng cao. Qua đó trước hết đã thể hiện được khả năng thu nợ của ngân hàng ngày càng tốt hơn. Tiếp đến nó thể hiện hiệu quả cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết vòng quay này càng nhiều thì thu được nhiều lợi nhuận, nên chỉ số này càng cao càng tốt.
Vòng quay vốn tín dụng năm 2013 giảm mạnh xuống 0,19 vòng/ năm ở mức 0,75 vòng/ năm. Nguyên nhân làm cho vốn quay vòng chậm và giảm là do dư nợ trung và dài hạn ở chi nhánh còn cao. Vòng quay vốn tín dụng có xu hướng giảm qua các năm 2011-2013 cho thấy hoạt động tín dụng tại chi nhánh chưa hiệu quả. Cán bộ tín dụng cũng như ban lãnh đạo cần có những biện pháp tãng tốc độ quay vòng vốn trong thời gian tới như: tích cực thu hồi nợ, giảm dần dư nợ cho vay trung – dài hạn…
2.3.4. Hiệu suất sử dụng vốn.(%)
Bảng 2.14: Hiệu suất sử dụng vốn (2011- 2013)
Từ bảng trên ta thấy, hiệu suất sử dụng vốn có sự biến động qua các năm, năm 2011 là 133,72%, Năm 2012, hiệu suất sử dụng vốn tăng 28,77% so với năm 2011 và đạt mức 162,49%.Điều này cho thấy, ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay tiêu dùng một cách hiệu quả hơn. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng vốn chỉ còn 118,02%, nghĩa là đã giảm 44,47% so với năm 2012. Mặc dù dư nợ tín dụng tiêu dùng vẫn tăng. Ngân hàng đã không thể sử dụng hết khả năng nguồn vốn huy động phục vụ cho tín dụng tiêu dùng của mình đang có vào kinh doanh khiến cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn ngày một thấp. Nguyên nhân xấu xa là do những khủng hoảng khó khăn của nền kinh tế, lạm phát…cùng chính sách thắt chặt tín dụng của VietinBank Hải Phòng không thể phát huy hết được khả năng vốn từ đó làm cho chất lượng của các khoản tín dụng được cấp là không cao.
Hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh ngân hàng ngày càng tương đối lớnvà vốn huy động đều giảm qua các năm phản ánh tình hình cân đối giữa huy động vốn và cho vay tốt, một mặt đánh giá khả năng huy động vốn chưa tốt. Thông thường khi nguồn vốn huy động ở ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so với tổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn huy động. Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguồn vốn cấp trên thì không hiệu quả bằng việc sử dụng nguồn vốn huy động được. Do vậy, tỷ lệ này càng gần 1 thì càng tốt cho hoạt động ngân hàng, khi đó ngân hàng sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn huy động được. Việc mở rộng tín dụng để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn là rất cần thiết.
2.3.5 Hệ số rủi ro tín dụng
Bảng 2.15: Hệ số rủi ro tín dụng (2011- 2013)
Hệ số rủi ro tín dụng của chi nhánh giai đoạn 2011- 2013 có sự biến động, năm 2011 là 0,95, năm 2012 giảm 0,06 so với năm 2011 nhưng năm 2013 lại tăng mạnh so với năm 2012 (năm 2012 là 0,89, năm 2013 là 0,97) tăng 0.08. Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì có thể lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao. Hệ số này ở chi nhánh tương đối cao và ổn định, điều này cho thấy khả năng rủi ro tín dụng của chi nhánh tương đối cao nhưng khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng cũng cao. Tuy nhiên mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng còn phụ thuộc vào chất lượng của các khoản nợ.
2.3.6. Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
2.3.6.1. Tỷ lệ nợ quá hạn.
Trong năm 2013, tình trạng nợ quá hạn tăng đột biến. Do đó chi nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế tỷ lệ nợ quá hạn theo chỉ đạo của Chính phủ và ngành như: điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, định lại kỳ hạn nợ, giãn nợ… và thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ tối đa.
Bảng 2.16: Tỷ lệ nợ quá hạn (2011-2013).
Dựa theo quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà Nước và Ngân hàng Công Thương thì nhiều khoản nợ vay đến hạn không trả được nợ gốc và lãi ngay sẽ được gia hạn nợ hay điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Quy chế này giúp cho ngân hàng có thể tạm thời giảm bớt tình trạng nợ quá hạn gia tăng, giúp cho khách hàng có thêm một khoảng thời gian để tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng nhưng nếu quá lạm dụng nó thì cũng đồng thời ảnh hưởng xấu đến khả năng thu nợ, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng tức là gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chấp hành nghiêm túc quy chế cho vay và các văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Công Thương Việt Nam về công tác tín dụng, chi nhánh đã thực hiện rất thận trọng trong việc phân tích đánh giá khách hàng để có quyết định tín dụng phù hợp bảo đảm dư nợ tín dụng lành mạnh và phát triển an toàn. Đến 31/12/2011, tại chi nhánh tỷ lệ nợ quá hạn là 6,22%, các khách hàng vay vốn tại chi nhánh không có trường hợp vay vốn nào phải xử lý rủi ro. Năm 2012, tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống còn 5,72%. Nhưng đến năm 2013 chất lượng tín dụng bị suy giảm, tỷ lệ nợ quá hạn tăng lên 7,93%. Do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tỷ suất lợi nhuận quá thấp dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không thể trả nợ cho NH đúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng. Vì kết quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng nên ngân hàng chỉ có thể giảm bớt rủi ro bằng cách giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng tiền vay, cùng doanh nghiệp có những giải pháp tháo gỡ khó khăn.
2.2.6.2. Tình hình nợ xấu Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Bảng 2.17: Chất lượng tín dụng (2011-2013)
Cùng với việc phát triển tín dụng, chất lượng và an toàn tín dụng vẫn là tiêu chí đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng tại VietinBank nói chung và VietinBank chi nhánh Hải Phòng nói riêng. Trong 3 năm qua tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn của VietinBank chi nhánh Hải Phòng luôn ở mức cao cụ thể năm 2011là 93,79%, năm 2012 là 94,28% và năm 2013 là 92,07%. Tỷ trọng nợ đủ tiêu chuẩn luôn ở mức cao là một thành tích đáng kể trong việc phòng ngừa và xử lý nợ xấu của chi nhánh.
Năm 2013 cũng có thể đánh giá là năm thành công trong hoạt động tín dụngcủa chi nhánh. Mặc dù môi trường đầu tư còn nhiều khó khăn và chi nhánh chưa đạt được chỉ tiêu đề ra nhưng chi nhánh vẫn tăng trưởng được tín dụng trong mức cho phép và kiểm soát khá tốt chất lượng tín dụng. Nợ xấu (nợ nhóm 3,4,5) năm 2013 ở mức 36,8 tỷ đồng giảm đáng kể so với năm 2012 (51,5 tỷ đồng). Mức giảm về số tuyệt đối này là do dư nợ tại chi nhánh năm 2013 giảm đi so với năm 2012. Song tỷlệ nợ xấu ở mức3,07% trên tổng dư nợ (tăng 0,16% so với năm 2011 và tăng 0,22% so với 2012).
Nợ xấu của Chi nhánh đến 31/12/2011 là47,2 tỷđồng. Tỷ lệ nợ xấu (nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi nghờ, nợ có khả năng mất vốn) luôn được duy trì ở mức thấp, có xu hướng giảm năm 2013 giảm 14,7 tỷ đồng so với 2012 (năm 2012: 51,5tỷ đồng và năm 2013: 36,8 tỷ đồng).
Việc trích lập dự phòng rủi ro là yếu tố bảo đảm an toàn cho NH cho hoạt động tín dụng của mỗi NH. Nợ xấu tăng qua các năm buộc chi nhánh phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn. Tuy nhiên, VietinBank Hải Phòng đang từng bước cơ cấu lại nợ cho khách hàng để giảm dần nợ xấu. Mức trích lập cao hơn nhiều so với số phải xử lý giúp cho chi nhánh hoàn toàn chủ động trong việc xử lý nợ xấu.
Để dẫn tới tình trạng nợ xấu có rất nhiều nguyên nhân, ở đây ta tập trung vào phân tích hai loại nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân do chủ quan của cán bộ tín dụng và nguyên nhân khách quan về phía khách hàng. Riêng nguyên nhân vềphía khách hàng lại chia thành: do sản xuất kinh doanh thua lỗ, do doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất, do thiên tai dịch họa bất khả kháng, do không có người nhận nợ và nguyên nhân còn lại được xếp vào nguyên nhân khác. Số liệu thểhiện ở biểu đồ dưới đây sẽ cho ta biết tình trạng nợ xấu của chi nhánh đến thời điểm 31/12/2013
Quan sát nguyên nhân của những khoản nợ xấu ta thấy tập trung lớn vào nguyên nhân sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, quản lý yếu kém thua Có thể nói nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ là do vấn đề quản lý. Chính vì vậy, để hạn chế được tình trạng nợ xấu, NH cần giám sát chặt chẽ hơn nữa quá trình sử dụng tiền vay của các DN sau khi giải ngân để các DN sử dụng vốn vay đúng mục đích, tránh thất thoát, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, hạn chế được tình trạng thua lỗ.
Nợ xấu do nguyên nhân thiên tai bất khả kháng cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ so với tổng nợ khó đòi.
2.3.7. Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng: Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng chính là lợi nhuận. Việc nâng cao hiệu quả tín dụng của ngân hàng có thể dẫn đến chi phí tăng, dẫn tới lợi nhuận giảm, nếu mở rộng quy mô tín dụng không hợp lý thì an toàn tín dụng có thể bị đe dọa. Do vậy nâng cao hiệu quả tín dụng phải phù hợp khả năng của NH, đảm bảo an toàn tín dụng nhưng vẫn phải mang lại lợi nhuận cho NH.Ngân hàng sẽ không thực hiện việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nếu lợi nhuận ngân hàng bị đe dọa về lâu dài. Trong những năm qua chi nhánh luôn phấn đấu đạt lợi nhuận tối đa.
Bảng 2.18: Kết quả kinh doanh tín dụng (2011-2013).
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ suất sinh lời của hoạt động tín dụng trong 3 năm 2011-2013 tăng. Mỗi một đồng tín dụng bỏ ra thu được về khoảng 0,0468 đồng lợi nhuận vào năm 2011, đến năm 2012 tăng lên và thu được 0,0504 đồng, sang năm 2013 tăng lên 0,052 đồng lợi nhuận. Đây là tỷ lệ tương đối cao bởi lợi nhuậncủa chi nhánh vẫn dựa trên hoạt động tín dụng là chính, thu nhập từ hoạt động dịch vụ khác vẫn còn hạn chế. Và con số này cũng đã phần nào thể hiện sự cố gắng đáng kể của chi nhánh trong hoạt động tín dụng trước hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.
Mức đóng góp của hoạt động tín dụng vào tổng lợi nhuận ngân hàng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn. Điều này không chỉ thấy ở NH Công thương mà đây là đặc điểm nổi bật trong tổng lợi nhuận ở hầu hết các NHTM hiện nay. Tuy nhiên mức đóng góp của tín dụng vào tổng lợi nhuận ngân hàng thì có xu hướng giảm. Năm 2011, mức đóng góp từ hoạt động tín dụng là 62,56%, năm 2012 giảm 1,41% so với năm 2011 xuống còn1,15% và sang năm 2013 giảm mạnh 15,7% so với năm 2012 xuống còn 45,45%. Mức đóng góp này giảm là do chi nhánh đang dần nâng cao được hiệu quả của các hoạt động dịch vụ khác. Phát triển các dịch vụ NH để tăng thu từ các dịch vụ đó là một trong những giải pháp nhằm tăng thu nhập của chi nhánh trong thời gian tới.
2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng.
2.4.1. Những kết quả đạt được.
Trong những năm qua, hoạt động của ngân hàng gặp khó khăn do tác động của môi trường kinh tế, nhưng dưới sự chỉ đạo của ban lãnh đạo ngân hàng, sự quan tâm sát sao của Ngân hàng Công Thương Việt Nam, chi nhánh Hải Phòng cùng sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên đã phát huy truyền thống và nội lực, tranh thủ thời cơ để khắc phục khó khăn và phấn đấu hoàn thành kế hoạch đặt ra. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Trong công việc điều tra lập hồ sơ xét duyệt cho vay tại chi nhánh đã thực hiện đúng quy chế ban hành của các cấp có thẩm quyền. Mặt khác ngân hàng đã xét duyệt hồ sơ các dự án vay vốn nhanh chóng, giải ngân đúng tiến độ, thu nợ lãi như cam kết cũng như theo hoàn cảnh thực tế.
Chi nhánh ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ giỏi, có trình độ chuyên môn, trách nhiệm với công việc, nhiệt tình vào phòng kinh doanh để hỗ trợ những công trình trọng điểm, nhiều khó khăn, tạo điều kiện giúp đỡ chủ đầu tư hoàn tất trong thời gian ngắn nhất đưa công trình vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Ngân hàng đã triển khai tốt công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành sớm các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi.
Chi nhánh ngân hàng đã tận dụng triệt để các nguồn huy động vốn từ Việt Nam Đồng cũng như USD để cho vay với lãi suất hợp lý, đảm bảo đúng quy định.
Trong những năm qua chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng kể: doanh sốcho vay, thu nợ tín dụng ổn định, số khách hàng đến giao dịch tín dụngtăng khẳng định sự tiếp nhận của khách hàng đối với chi nhánh ngân hàng.
Chi nhánh đã tiếp tục đầu tư và đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị cótình hình tài chính tốt, sản phẩm sản xuất ra có sức cạnh tranh cao, có sức tiêu thụ lớn và đáp ứng được nhu cầu vốn ngắn, trung và dài hạn. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Cùng với việc duy trì quan hệ tín dụng với khách hàng truyền thống, chi nhánh còn quan tâm tới các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, có phương án khả thi, có tài sản đảm bảo phù hợp với quy định của VietinBank.
Hoạt động tín dụng đã thực hiện theo đúng quy trình của VietinBank quy định, hoạt động thẩm định rủi ro độc lập so với hoạt động thẩm định cho vay. Qua thẩm định đã giúp các phòng cho vay đúng đối tượng, mục đích vay, góp phần phát hiện racác phương án, dự án không khả thi.
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàngCông thương Hải Phòng trong thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế, tồn tại.
2.4.2.1. Những tồn tại.
Mặc dù chi nhánh VietinBank được đánh giá là một ngân hàng uy tín lâu đời có chất lượng cao trong thời gian vừa qua, song chi nhánh vẫn tồn tại nhưng hạn chế. Những hạn chế đó là:
- Chiến lược đa dạng hoá đối tượng cho vay của chi nhánh chưa thực sựhoàn thiện. Chiến lược đa dạng hoá đối tượng cho vay của chi nhánh đã được mở rộng và đạt được một số kết quả đáng kể.
- Tỷ trọng cho vay trung – dài hạn vẫn ở mức cao (khoảng 60%) làm cho vòng quay vốn tín dụng giảm.
- Năm 2012 & năm 2013 một số ngành công nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế như ngành đóng tàu, sản suất thép nhưng tỷ trọng cho vay những ngành này vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ.
- Hoạt động cấp tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh mặc dù đã được quan tâm hơn nhưng chưa mang lại kết quả cao.
- Tình trạng nợ quá hạn còn chưa hoàn toàn kiểm soát được. Kết quả hoạt động kinh doanh tín dụng còn chưa cao.
- Công tác Marketing ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu thì vẫn còn nhiều hạn chế, vi vậy cũng ảnh hưởng ít nhiều tới sự tăng trưởng dư nợ nói riêng và hiệu quả tín dụng của chi nhánh nói chung.Công tác điều tra, theo dõi, diễn biến thị trường để nắm bắt xu hướng phát triển của nền kinh tế và nhu cầu thị hiếu của khách hàng tuy đã được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, việc chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư vốn, tiếp cận với khách hàng đã có nhưng chưa mạnh để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của khách hàng.
- Chi nhánh VietinBank Hải Phòng nằm trên địa bàn có nhiều hệ thống chi nhánh các ngân hàng khác phải chịu cạnh tranh gay gắt về thị phần. Doanh số cho vay lại bị giới hạn bởi hạn mức tín dụng hay phải phụ thuộc vào quy mô nguồn vốn huy động được nhất là khi tình hình kinh tế có nhiều biến động như hiện nay.
2.4.2.2. Nguyên nhân những tồn tại. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Nguyên nhân chủ quan:
- Trước hết là điều kiện vay vốn, là việc đảm bảo tiền vay, đó là một trong những nguyên nhân chính ngăn cản việc các thành phần kinh tế vay vốn ngân hàng. Tài sản đảm bảo có thể là máy móc, thiết bị, quyến sử dụng đất…, nên việc định giá là rất khó khăn. Nếu định giá quá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng.
- Công tác thu thập thông tin thường dựa vào khách hàng cung cấp và những thông tin ngân hàng thu thập được từ bên ngoài. Những thông tin mà các khách hàng cung cấp cho ngân hàng thường là các báo cáo tài chính, thường các báo cáo là không chính xác, phản ánh không đúng về tiềm lực tài chính của khách hàng. Cho nên, việc thu thập thông tin không tốt ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả dự án cũng như khả năng của khách hàng.
- Marketing ngân hàng: Hoạt động marketing tại ngân hàng mới tập trung ở bề nổi là quảng cáo, khuếch trương, còn việc áp dụng marketing vào phân tích thị trường, nghiên cứu khách hàng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ vẫn còn nhiều hạn chế.
- Do sự cạnh tranh gay gắt giữa các TCTD, các ngân hàng khác trên cùng địa bàn hoạt động.
- Mặc khác, môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa được hoàn thiện. Sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật gây khó khăn cho hoạt động tín dụng trong việc nâng cao mức dư nợ và an toàn tín dụng tại chi nhánh.Một số yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô chưa thật sự ổn định như tỷ giá hối đoái, lạm phát đã ảnh hưởng đến lãi suất, chất lượng cho vay của ngân hàng.
Nguyên nhân khách quan:. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
Thứ nhất là những nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng.
Các báo cáo tài chính mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng không đảm bảo được tính minh bạch về thông tin. Hệ thống báo cáo tài chính thường không đầy đủ, không cập nhật và thiếu tin cậy, điều này khiến cho công tác thẩm định, kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng gặp nhiều khó khăn.
Năng lực tài chính của khách hàng không đủ điều kiện để vay vốn tại ngân hàng. Đây là khó khăn lớn nhất cản trở khách hàng vay vốn tại ngân hàng. Quy mô vốn tự có nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của khách hàng, do vậy không đáp ứng được các điều kiện về vốn tự có, tài sản thế chấp, tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để ngân hàng cho vay.
Trình độ yếu kém của khách hàng trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý dẫn đến thất thoát, thua thiệt trong kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
Các doanh nghiệp còn khá lúng túng trong lựa chọn hướng đầu tư, dự án thiếu khả thi và không đủ điều kiện về mức vốn tự có tham gia. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn rất cao nhưng họ lại không đủ điều kiện vay vốn: như không có các dự án khả thi, không đủ vốn tự có tham gia dự án, không có đủ tài sản thế chấp hợp pháp.
Thứ hai là những nguyên nhân từ các yếu tố thị trường:
Môi trường pháp lý: Mặc dù các luật, văn bản dưới luật chi phối hoạt động ngân hàng đã được sửa đổi cho ngày càng phù hợp hơn với các quy luật của nền kinh tế thị trường song cũng vẫn còn nhiều vướng mắc như sự chồng chéo giữa quy định của các luật, việc ban hành nghị định hướng dẫn thi hành luật còn chậm, công tác thực hiện của bộ máy thi hành luật pháp còn quan liêu, tuỳ tiện.
Môi trường kinh tế: Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô có cải thiện hơn trong năm 2013 nhưng dự báo tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục ở dưới mức tiềm năng do phải đối mặt với các vấn đề về cơ cấu liên quan đến các Doanh nghiệp Nhà nước, lĩnh vực ngân hàng, thu ngân sách giảm, khó khăn trong đầu tư tư nhân.
Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh tế thế giới (độ mở của nền kinh tế tính theo quy mô ngoại thương/GDP trong giai đoạn gần đây lên đến 150%).… Bên cạnh đó,NHNN thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm giảm áp lực của lạm phát khiến cho hoạt động ngân hàng bị hạn chế.
Chi nhánh mới thành lập và hoạt động trên địa bàn có rất nhiều Ngân hàng thương mại cũng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng nên luôn phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển. Khóa luận: Thực trạng HĐ tín dụng tại Ngân hàng VietinBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp NC tín dụng tại Ngân hàng VietinBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Ngân hàng VietinBank