Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích tài chính và giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH Hùng Thịnh HD dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.2. Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH Hùng Thịnh HD

2.2.1. Phân tích tổng quát các Báo cáo tài chính

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả quan. Điều đó cho phép công ty thấy rõ thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và dự báo trước khả năng phát triển hay chiều hướng suy thoái của doanh nghiệp, trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu.

Khi tiến hành phân tích thực trạng tài chính tại Công ty cần đánh giá khái quát tình hình qua hệ thống báo cáo tài chính mà chủ yếu là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Những báo cáo này do kế toán soạn thảo vào cuối kỳ kế toán theo đúng quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Để có nhận xét đúng đắn về tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty trong những năm gần đây, ta lập bảng cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty để không những có thể thấy được cơ cấu tài sản và nguồn vốn mà còn theo dõi được sự thay đổi của các khoản mục.

Nhận xét:

Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng tài sản của công ty năm 2018 đạt giá trị 46.127 triệu đồng tăng 3.725 triệu đồng so với năm 2017 (tăng 8,8%); năm 2019 là 56.767 triệu đồng, tăng thêm 10.640 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 23,1% so với năm 2018.

Tài sản ngắn hạn năm 2018 tăng so với năm 2017 là 446 triệu đồng (tăng 1,5%); năm 2019 tăng so với năm 2018 là 5.333 triệu đồng (tăng 17,2%). Tài sản dài hạn năm 2018 tăng so với năm 2017 là 3.279 triệu đồng (tăng 27,7%); năm 2019 tăng so với năm 2018 là 5.307 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 35,1%. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Số liệu trên cho ta thấy sự thay đổi của tổng tài sản là do giá trị của cả tài sản ngắn hạn và dài hạn tăng lên theo từng năm. Việc tài sản ngắn hạn tăng đột biến trong năm 2019 là do giá trị của khoản phải thu và hàng tồn kho tăng lên đáng kể. Cụ thể như sau:

Khoản phải thu ngắn hạn năm 2018 tăng nhẹ 39 triệu đồng so với năm 2017 (tương ứng với tỷ lệ 0,2%), nhưng đến năm 2019 tăng mạnh với giá trị 3.032 triệu đồng (tương ứng 16,4%) so với năm 2018. Như vậy khoản phải thu ngắn hạn của công ty đã không đồng đều qua các năm, trong đó năm 2019 tăng mạnh. Số liệu cho ta thấy khoản phải thu của khách hàng tăng mạnh là do công ty đã cho khách hàng nợ tiền và công tác thu hồi nợ chưa đạt hiệu quả tốt. Công ty cần có biện pháp để cải thiện khả năng thu hồi nợ.

Bảng cân đối kế toán cho ta thấy hàng tồn kho của công ty năm 2018 tăng 1.789 triệu đồng so với năm 2017 (tương đương với tỷ lệ tăng 20,9%), và tiếp tục tăng 3.188 triệu đồng (tăng 30,8%) so với năm 2018. Công tác quản trị hàng tồn kho có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, sự thiếu hụt hay dư thừa trong hàng tồn kho đều chứng tỏ cho sự tốn kém trong tổ chức điều hành. Qua số liệu ta có thể thấy công ty chưa làm tốt trong việc giải phóng hàng tồn kho qua các năm, đây là điều không có lợi cho doanh nghiệp vì sẽ làm tăng chi phí quản lý hàng tồn kho, cũng như làm kéo dài thời gian sản xuất và phân phối luồng hàng hóa gây ra sự tốn kém. Nhưng cũng không thể làm thiếu hụt hàng tồn kho, có thể sẽ không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và kế hoạch của công ty trong tương lai. Xét cả về giá trị và tỷ trọng thì hàng tồn kho đang có nhu cầu tăng lên qua 3 năm.

Ngoài ra, vốn bằng tiền của công ty năm 2018 là 1.432 triệu đồng, giảm 1.710 triệu đồng tương đương với tỷ lệ giảm 54,4 % so với năm 2017. Năm 2019 tiếp tục giảm thêm 212 triệu đồng (tương đương giảm 14,8%) so với năm 2018. Vốn bằng tiền trong ba năm từ 2017 đến năm 2019 có xu hướng giảm do khoản phải thu tăng, cụ thể là phải thu của khách hàng năm 2019 tăng đột biến. Xét về khía cạnh an toàn thanh khoản thì yếu tố tiền mặt giảm là một trong những nguy cơ gây ra rủi ro cho công ty. Bên cạnh đó, tài sản dài hạn của công ty có sự thay đổi qua các năm. Tài sản dài hạn tăng 3.279 triệu đồng vào năm 2018 (tương ứng với 27,7%), nhưng đến năm 2019 tài sản dài hạn tăng thêm 5.307 triệu đồng so với năm 2018 (tương ứng với tỷ lệ tăng 35,1%). Giá trị của tài sản dài hạn chủ yếu bị ảnh hưởng bởi sự tăng lên của tài sản cố định. Cụ thể tài sản cố định năm 2018 tăng 3.273 triệu đồng (tăng 29,1%) so với năm 2017; năm 2019 giá trị của tài sản dài hạn là 19.009 triệu đồng, đã tăng thêm 4.505 triệu đồng (tương ứng 31,1%) so với năm 2018. Điều đó cho thấy Công ty đã có kế hoạch và chủ trường đầu tư cho tài sản cố định, vật kiến trúc cũng như mua sắm sửa chữa máy móc, trang thiết bị khác nhằm nâng cao năng lực sản kinh doanh cho Công ty.

Tuy nhiên việc phân tích tình hình tài sản theo chiều ngang chỉ cho ta thấy biến động của các chỉ tiêu qua các năm mà chưa thấy được tỷ trọng tăng lên hay giảm đi của các chỉ tiêu chiếm trong tổng tài sản. Do vậy để phân tích kỹ hơn về cơ cấu tài sản ta cần phân tích cơ cấu tài sản theo chiều dọc.

Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu Tài sản theo chiều dọc

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu thành phần Tài sản theo thời gian

Nhận xét:

Qua bảng phân tích trên ta thấy trong tổng tài sản của công ty thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với tài sản dài hạn. Cụ thể như sau: năm 2017 tài sản ngắn hạn chiếm 72,1%, tài sản dài hạn chiếm 27,9% trong tổng tài sản; năm 2018 tài sản ngắn hạn chiếm 67,3%, tài sản dài hạn chiếm 32,7% trong tổng tài sản; năm 2019 tài sản ngắn hạn chiếm 64%, tài sản dài hạn chiếm 36% trong tổng tài sản.

Có thể thấy tài sản ngắn hạn năm 2019 đã có sự điều chỉnh giảm về tỷ trọng so với cả hai năm 2018 và năm 2017. Mặc dù xét về giá trị tài sản thì vẫn tăng nhưng tỷ trọng có sự thay đổi cho phù hợp khi công ty đầu tư thêm cho tài sản cố định. Dù vậy tài sản ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều này là hợp lý với một công ty trong lĩnh vực xây dựng và quản lý công trình xây dựng như Công ty TNHH Hùng Thịnh HD, khi luôn phải đầu tư vào máy móc, cũng như tăng cường hoạt động bảo dưỡng và sửa chữa máy móc trang thiết bị, phương tiện sản xuất nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho công ty trong thời gian tới.

Trong tài sản ngắn hạn:

Vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất là các khoản phải thu ngắn hạn. Các khoản phải thu ngắn hạn xét về giá trị cũng có xu hướng tăng lên qua các năm (Năm 2017 phải thu ngắn hạn là 18.421 triệu đồng thì đến năm 2019 tăng lên và đạt mức 21.492 triệu đồng). Tuy nhiên xét về tỷ trọng thì lại có xu hướng điều chỉnh giảm. Năm 2017 khoản phải thu chiếm 43,4% trong tổng tài sản, năm 2018 giảm xuống còn 40% trong tổng tài sản và đến năm 2019 tỷ trọng là 37,9% trong tổng tài sản. Như vậy ta thấy tỷ trọng các khoản phải thu có xu hướng giảm nhẹ qua các năm, nhưng giá trị vốn vẫn tăng. Trong các khoản phải thu ngắn hạn chủ yếu là do phải thu của khách hàng tăng lên. Vì vậy công ty cần tìm hiểu và nâng cao khả năng thu hồi nợ của mình, tránh việc bị gặp khó khăn khi bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu.

Hàng tồn kho tăng cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng đầu tư trong 3 năm. Năm 2017 giá trị hàng tồn kho đạt 8.564 triệu đồng, năm 2108: 10.353 triệu đồng, năm 2109: 13.541 triệu đồng); Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản cũng có xu hướng tăng từ mức 20,2% vào năm 2017 đến 22,4% vào năm 2018 và năm 2019 tỷ trọng hàng tồn kho là 23,9%. Hàng tồn kho tăng lên cũng xuất phát từ nhu cầu tăng trưởng doanh thu và dự trữ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Mặc dù tăng giá trị của hàng tồn kho nhưng Công ty vẫn đang xử lý quay vòng được hàng tồn kho, không để ứ đọng quá nhiều cũng như không gây ra khó khăn khi không đủ hàng tồn kho để duy trì hoạt động kinh doanh của mình.

Vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng nhỏ trong tài sản ngắn hạn và có xu hướng giảm. Năm 2017 chiếm 7,4% trong tổng tài sản, năm 2018 chiếm 3,1% trong tổng tài sản và giảm xuống còn chiếm 2,1% trong tổng tài sản vào năm 2019. Vì kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh nên công ty cần một khoản tiền sẵn có nhất định để có thể ứng phó kịp thời khi những sự cố xảy ra đối với các kho bãi, nhà xưởng, trang thiết bị và cả cho việc dự trữ cho hoạt động thanh toán của mình.

Tài sản ngắn hạn giảm về tỷ trọng trong tổng tài sản là do công ty đã chú trọng đầu tư vào tài sản dài hạn, chủ yếu là tài sản cố định cả về giá trị và tỷ trọng. Năm 2017 tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng 27,9% trong tổng tài sản, năm 2018 chiếm 32,7% trong tổng tài sản và tiếp tục tăng lên đạt mức 36% trong tổng tài sản vào năm 2019. Ggiá trị đầu tư của tài sản cố định vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty và chủ yếu là các phương tiện vận chuyển và các máy móc trang thiết bị. Hoạt động đầu tư vào tài sản cố định về cả giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng là cùng chiều qua các năm nên chứng tỏ công ty vừa mua thêm tài sản cố định mới vừa bảo dưỡng và sửa chữa tài sản cũ.

Bảng 2.3: Phân tích cơ cấu Nguồn vốn theo chiều ngang

Nhận xét:

Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng nguồn vốn của công ty năm 2018 tăng so với năm 2017 là 3.725 triệu đồng (tăng 8,8%); năm 2019 tăng mạnh với giá trị so với năm 2018 là 10.640 triệu đồng (tương ứng với tỷ lệ 23,1%). Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tổng nguồn vốn là do nợ phải trả ngắn hạn và vay dài hạn của công ty tăng lên của công ty tăng vào năm 2018 và 2019.

Nợ phải trả là số tiền nợ các cá nhân hay công ty khác, khi họ đã bán hàng hóa, dịch vụ, nguyên liệu cho doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán vì đã mua chúng dưới hình thức tín dụng thương mại. Nợ phải trả của Công ty TNHH Hùng Thịnh HD năm 2018 tăng 1.654 triệu đồng (tăng 6%) chủ yếu do nợ ngắn hạn tăng; năm 2019 tăng mạnh với giá trị 10.024 triệu đồng so với năm 2018 (tương ứng với 34,4%) do tăng cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Nợ ngắn hạn năm 2018 tăng 1.625 triệu đồng do phải trả người bán tăng mạnh với giá trị 2.892 triệu đồng nhưng phải thu khác lại giảm 1.514 triệu đồng. Vay và nợ ngắn hạn dùng để phản ánh các khoản tiền vay, nợ thuê tài chính và tình hình thanh toán các khoản tiền vay, nợ thuê tài chính của doanh nghiệp trong vòng 12 tháng. Đến năm 2019 nợ ngắn hạn tiếp tục tăng thêm 8.019 triệu đồng trong đó vay và nợ ngắn hạn tăng 4.853 triệu đồng so với năm 2018.

Phải trả người bán tăng chứng tỏ công ty năm 2019 nợ một khoản tiền tương đối lớn trong khoản mục này (tăng 1.999 triệu đồng).

Vốn chủ sở hữu là một số liệu quan trọng phản ánh khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp; với công ty TNHH, vốn chủ sở hữu là vốn được hình thành do các thành viên tham gia thành lập công ty đóng góp, do đó các thành viên này chính là chủ sở hữu vốn. Vốn chủ sở hữu của công ty năm 2018 tăng so với năm 2017 là 2.071 triệu đồng (tương đương với 13,9%), năm 2019 tăng 616 triệu đồng (tương đương 3,6%) so với năm 2018. Vốn chủ tăng từ năm 2017 đến năm 2019 là do nguồn kinh phí và quỹ khác tăng lên. Năm 2018 tăng 2.071 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 154,1% so với năm 2017, năm 2019 tăng 18% so với năm 2018; nguồn kinh phí khác tăng là do quỹ khen thưởng, phúc lợi tăng. Điều này chứng tỏ công ty luôn luôn quan tâm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên. Có thể thấy giai đoạn năm 2017 – 2019 Công ty TNHH Hùng Thịnh HD có sự tăng trưởng về tổng nguồn vốn. Công ty có những khoản nợ mới gia tăng trong năm này nhưng đồng thời cũng có sự đầu tư mạnh, chứng tỏ công ty có sự phát triển đột phá trong năm 2018, 2019.

Bảng 2.4: Phân tích cơ cấu Nguồn vốn theo chiều dọc

Biểu đồ 2.2: Biến động của Nguồn vốn theo thời gian

Nợ phải trả năm 2017 chiếm 64,8% và vốn chủ sở hữu chiếm 35,2% trong tổng nguồn vốn. Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu năm 2018 và năm 2019 thay đổi theo xu hướng nợ phải trả tăng dần trong khi vốn chủ sở hữu lại giảm nhẹ về tỷ trọng mặc dù xét về giá trị tuyệt đối vốn chủ đang có sự tích lũy từ lợi nhuận sau thuế. Năm 2018 và năm 2019 nợ phải trả lần lượt là 63,1% và 68,9%; vốn chủ sở hữu lần lượt chiếm 36,9% và 31,1% trong tổng nguồn vốn. Đây là một biểu hiện tốt cho công ty vì chứng tỏ tình hình tài chính của công ty trong mức ổn định, nhất là hai năm 2018 và 2019 nợ dài hạn có có xu hướng tăng trưởng để làm tiền đề cho hoạt động tài trợ dài hạn cho công ty. Công ty đã chủ động nhiều hơn trong việc đảm bảo nguồn vốn dài hạn cho nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và rủi ro về tài chính của công ty cũng đang giảm đi.

Lợi nhuận tăng qua các năm, cụ thể năm 2018 lợi nhuận tăng 533 triệu đồng (tăng 25,3%) so với năm 2017, năm 2019 lợi nhuận tăng mạnh với giá trị 404,2 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 15,3%% so với năm 2018. Điều này cho ta thấy năm 2019 vừa qua doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả.

Lợi nhuận tăng chủ yếu là do doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng. Năm 2018 tăng so với năm 2017 là 7.174 triệu đồng (từ 267.178 triệu đồng lên 274.352 triệu đồng), tương ứng với tỷ lệ tăng 2,7%; năm 2019 tăng so với năm 2018 là 4.919 triệu đồng (từ 274.352 triệu đồng lên 279.271 triệu đồng), tương ứng với tỷ lệ tăng là 1,8%.

Bên cạnh đó giá vốn hàng bán cũng tăng. Năm 2018 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2017 là 6.846 triệu đồng (tăng 2,6%); năm 2019 giá vốn hàng bán tăng so với năm 2018 là 3.500 triệu đồng (tăng 1,3%). Giá vốn hàng bán tăng lên là do sự tăng của giá vốn dịch vụ đã cung cấp, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của công ty có hiệu quả và tiến hành mở rộng thị trường hơn, có nhiều khách hàng hơn. Nguyên nhân là do giá nguyên vật liệu tăng lên, mặt khác do doanh thu tăng cũng làm cho giá vốn hàng bán tăng lên theo.

Ngoài ra chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty cũng tăng lên nhẹ. Năm 2017 chi phí bán hàng của công ty là 510 triệu đồng, chỉ số này tăng lên thành 513 triệu đồng vào năm 2018 (tương đương tăng 0,6%) và tăng lên đến giá trị 782 triệu đồng vào năm 2019 (tăng 269 triệu đồng ướng với tỷ lệ tăng 52,4 so với năm 2017). Chi phí quản lý DN năm 2017 là 507 triệu đồng, đến năm 2018 chi phí này giảm nhẹ còn 502 triệu nhưng đến năm 2019 tăng đạt mức 566 triệu đồng. Xét trên quy mô sản xuất kinh doanh thì hai chi phí này khá ổn định và mức thay đổi đều phù hợp với thực trạng công ty và mức tăng trưởng doanh thu trong 3 năm.

Chi phí tài chính năm 2019 tăng mạnh so với các năm về trước. Cụ thể, năm 2018 chi phí tài chính là 828 triệu đồng giảm 83 triệu (ứng với mức giảm 9,1%) so với năm 2017, năm 2019 chi phí tài chính đạt giá trị 1.431 triệu đồng tăng 603 triệu đồng (tăng 72,8%) so với năm 2018. Chi phí tài chính tăng là do chi phí lãi vay tăng trong đó đặc biệt là các khoản vay dài hạn mới được bổ sung. Tuy nhiên con số này chỉ góp một phần tương đối nhỏ vào tổng chi phí của công ty.

Bảng 2.6: Phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều dọc

Qua bảng phân tích trên ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu thuần và có xu hướng tăng lên từ năm 2017 đến năm 2019. Cụ thể năm 2017 giá vốn hàng bán chiếm 98,5%, năm 2018 giá vốn hàng bán chiếm 98,4% và năm 2019 là 97,9%. Năm 2019 tỷ trọng này đã giảm xuống so với 2017 điều này thể hiện một hiệu quả quản lý tốt trong nỗ lực giảm chi phí của công ty. Năm 2019 tỷ trọng giá vốn trên doanh thu giảm từ 98,5% xuống còn 97,9% đã góp phần làm cho lợi nhuận của công ty tăng lên. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Do Giá vốn chiếm tỷ lệ rất cao nên mức ợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trên tổng doanh thu của công ty chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn. Nhưng chỉ tiêu này có xu hướn được cải thiện. Năm 2017 lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là 0,8% trong tổng tỷ trọng của doanh thu thuần, nhưng đến năm 2019 tỷ trọng này là 1,1%. Điều này cho thấy năm 2019 hoạt động kinh doanh của công ty có cải thiện, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh có xu hướng tăng lên.

Bảng 2.7: Bảng cân đối giữa Tài sản và Nguồn vốn

Nhìn vào bảng số liệu cho thấy, Công ty TNHH Hùng Thịnh HD chủ yếu đầu tư vốn vào tài sản ngắn hạn, trong 3 năm đều chiếm tỷ lệ từ 64% đến 72%. Trong khi đó tài sản dài hạn có xu hướng tăng dần từ 28% đến 36%. Điều này là phù hợp với loại hình công ty trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ xây dựng và quản lý thi công công trình xây dựng. Các nguồn đầu tư ngắn hạn chủ yếu sẽ được sử dụng cho công cụ dụng cụ, trang thiết bị khác và khoản phải trả cho công nhân viên và một phần tài sản cố định.

Việc dùng vốn dài hạn đầu tư cho tài sản dài hạn của công ty là rất có lợi, vì nếu sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn để đi đầu tư cho tài sản dài hạn sẽ tạo ra áp lực thanh toán lớn hơn rất nhiều cho công ty vì thời gian đáo hạn ngắn và lãi suất cao hơn, từ đó gây ra rủi ro về mặt thanh toán rất lớn. Do đó từ năm 2018 công ty đã có chủ trương tăng vốn dài hạn thông qua các khoản vay dài hạn và tích lũy lợi nhuận sau thuế.

Bảng 2.8: Vốn lưu động ròng

Vốn lưu động ròng:

  • VLĐR năm 2017 = 18.758 triệu đồng > 0
  • VLĐR năm 2018 = 15.925 triệu đồng > 0
  • VLĐR năm 2019 = 15.951 triệu đồng > 0

Vốn lưu động ròng qua 3 năm đều có giá trị dương, thể hiện công ty đã sử dụng một phần vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, điều này thể hiện sự ổn định tài chính của công ty cũng như chiến lược đầu tư nhằm duy trì hoạt động kinh doanh của công ty trong dài hạn.

Vốn lưu động ròng dương càng lớn thì khả năng ổn định sản xuất kinh doanh càng cao. Nhưng đổi lại công ty phải chấp nhận chịu chi phí huy động vốn dài hạn cao hơn so với vốn ngắn hạn. Bên cạnh đó công ty giữ lại các khoản lợi nhuận để tái đầu tư và củng cố năng lực tài chính đã góp phần cải thiện và nâng cao năng lực tài chính cho công ty. Đây là tiền đề rất quan trọng cho các công ty trong lĩnh vực này nếu muốn tăng khả năng cạnh trang và mở rộng thị trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.2. Phân tích các nhóm chỉ số tài chính Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

2.2.2.1. Phân tích các hệ số về khả năng thanh toán

Bảng 2.9: Các hệ số về khả năng thanh toán

Nhận xét: Từ bảng biểu 2.9: Các hệ số khả năng thanh toán ta nhận thấy

  • Khả năng thanh toán tổng quát của công ty qua 3 năm có sự thay đổi không ổn định. Cụ thể năm 2018 chỉ số này bằng 1,58 lần, tăng 0,04 lần (tương ứng 2,6%) so với năm 2017. Khả năng thanh toán tổng quát của năm 2019 lại giảm xuống còn 1,45 lần thấp hơn cả năm 2018 và 2017.Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn được xem là chỉ số chấp nhận được đối với lĩnh vực mà công ty đang tham gia. Như vậy tổng giá trị tài sản của công ty đủ để có thể thanh toán các khoản nợ hiện tại của công ty.
  • Khả năng thanh toán hiện thời của công ty giảm dần, năm 2018 chỉ số này là 1,29 lần, giảm 0,06 lần (tương ứng 5,4%) so với năm 2017. Năm 2019 chỉ số này là 1,13 giảm tiếp 0,16 lần (tương ứng 12,1%) so với năm 2018.

Tỷ lệ này trong 3 năm đều cao hơn 1. Điều này cho thấy việc thanh toán công nợ của công ty vẫn năm trong khả năng vì giá trị của các tài sản ngắn hạn sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu thanh toán và trả nợ các món ngắn hạn vẫn cao hơn khá nhiều. Khả năng chi trả các khoản nợ của công ty khá tốt do các khoản nợ của công ty nhỏ hơn nhiều so với tổng tài sản hiện có.

Chỉ số khả năng thanh toán nhanh của công ty lại không ổn định. Tỷ lệ tăng của các khoản nợ so với tỷ lệ tăng của tổng tài sản qua 3 năm không ổn định. Năm 2018 tổng tài sản tăng nhanh hơn (8,8%) trong khi nợ ngắn hạn tăng ở mức 7,2%. Đến năm 2019 tỷ lệ tăng tài sản là 23,1% những nợ ngắn hạn lại tăng rất nhanh vởi tỷ lệ 33,3%. Tuy nhiên hệ số thanh toán nhanh lại có xu hướng giảm khá mạnh từ mức 0,16 lần năm 2017 đến năm 2019 chỉ còn ở mức 0,04 lần. Sự điều chỉnh giảm mạnh mẽ này là do công ty cơ cấu lại các khoản mục trong tài sản ngắn hạn; đặc biệt công ty kiểm soát khá chặt lượng tiền mặt. Chủ trương giảm thiểu giá trị tiền mặt nhưng vẫn phải đáp ứng cho nhu cầu thanh toán và trả nợ đến hạn. Với khả năng quản trị khá hiệu quả công ty vẫn được đánh giá là an toàn trong thanh toán.

Khả năng thanh toán lãi vay của công ty năm 2018 là 4,19 lần, tăng 0,88 lần (tương ứng 26,4%) so với năm 2017. Năm 2019 là 3,13 lần, giảm 1,06 lần (tương ứng 25,3%) so với năm 2018. Cả ba năm công ty đều đạt tỷ lệ thanh toán lãi vay trên 3 lần. Điều đó cho thấy công ty vẫn đủ khả năng thanh toán các khoản lãi vay cho ngân hàng.

Cả 3 năm vốn vay của công ty đã được sử dụng hợp lý, đem lại 1 khoản lợi nhuận lớn và thừa đủ để bù đắp lãi vay.

2.2.2.2. Phân tích các chỉ số về hoạt động Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Nhận xét: Qua bảng phân tích các chỉ số về hoạt động ta thấy:

Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho:

Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản lý hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Số vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng trong việc đánh giá tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất cho đến khi tiêu thụ sản phẩm. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao thì thời gian luân chuyển một vòng càng ngắn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều khả năng giải phóng hàng tồn kho, tăng khả năng thanh toán.

Bảng 2.10: Bảng phân tích các hệ số về khả năng hoạt động

Số vòng quay hàng tồn kho của công ty năm 2019 giảm so với năm 2017. Năm 2018 công ty có 28,5 vòng, giảm 7 vòng so với năm 2017. Năm 2019 lại giảm tiếp 5,7 vòng chỉ còn ở mức là 22,9 vòng. Việc hàng tồn kho của công ty qua ba năm giảm sút là do giá trị hàng tồn kho tăng khá nhanh từ mức 7.405 triệu đồng năm 2017 lên đến 11.947 triệu đồng vào năm 2019. Việc công ty tăng nhanh hàng tồn kho để dự trữ cho hoạt động mở rộng doanh thu trong tương lai là điều khá hợp lý. Tuy nhiên việc chuyển hóa hàng tồn kho thành doanh thu của công ty Hùng Thịnh HD trong ba năm chưa đạt như kỳ vọng.

Từ việc xác định số vòng quay hàng tồn kho ta có thể tính được số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Số vòng quay hàng tồn kho giảm sẽ làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho tăng lên. Năm 2018 số ngày một vòng quay hàng tồn kho là 12,6 ngày (tăng 2,5 ngày so với năm 2017) thì năm 2019 tăng lên còn 15,7 ngày (tăng thêm tiếp 3,1 ngày so với 2018). Đây là một biểu hiện chưa tốt chứng tỏ khả năng giải quyết hàng tồn kho của công ty qua ba năm chưa được cải thiện, khiến cho các hoạt động tạo ra doanh thu chậm và phát sinh thêm các chi phí liên quan đến khâu dự trữ, lưu kho.

Số vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:

Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với các bạn hàng, chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng nhanh. Năm 2018 số vòng quay khoản phải thu là 14,9 vòng (tăng 0,1 vòng so với năm 2017), năm 2019 số vòng quay khoản phải thu chỉ còn 14 vòng (giảm 0,9 vòng so với năm 2018).

Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại. Cụ thể năm 2018 cứ 24,2 ngày công ty thu được các khoản phải thu, và đến năm 2019 thì công ty cứ 25,8 ngày là thu được khoản phải thu của khách hàng. Số ngày thu tiền kéo dài thêm sẽ làm công ty mất thêm chi phí vốn và lỡ cơ hội quay vòng vốn kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Vòng quay vốn lưu động và số ngày một vòng quay vốn lưu động:

Vòng quay vốn lưu động là số ngày hoàn thành chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp, chỉ số vòng quay vốn lưu động đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả trong kinh doanh; đối với chỉ số vòng quay vốn lưu động càng lớn thì càng tốt vì nó là con số chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng vốn lưu động tốt. Năm 2018 vòng quay vốn lưu động là 8,9 vòng tức là bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì thu về 8,9 đồng doanh thu thuần ứng với số ngày một vòng quay vốn lưu động là 40,4 ngày; tới năm 2019 vòng quay vốn lưu động giảm 0,6 vòng tức là bình quân 1 đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra thì thu về 8,3 đồng doanh thu thuần làm cho số ngày một vòng quay vốn lưu động tăng lên đạt mức 43,4 ngày. Nguyên nhân là do doanh thu thuần của công ty có tốc độ tăng chậm hơn mức tăng của vốn lưu động bình quân, trong khi doanh thu thuần tăng được 2,7% năm 2018; 1,8% năm 2019 thì vốn lưu động bình quân tăng được 2% năm 2018 và 9,4% năm 2019.

Hiệu suất sử dụng vốn cố định:

Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty có xu hướng giảm qua ba năm. Năm 2018 hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty là 20,4 lần tức là 1 đồng vốn cố định bình quân bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 20,4 đồng doanh thu thuần; năm 2019 hiệu suất sử dụng vốn cố định giảm chỉ còn ở mức 15,7 lần tức là cứ 1 đồng vốn cố định bỏ vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra 15,7 đồng doanh thu thuần. Điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty ngày bị giảm sút. Mặc dù có sự đầu tư thêm vào tài sản cố định trong năm 2018 và tăng mạnh vào năm 2019 nhưng khả năng tạo ra doanh thu từ các hoạt động đầu tư vào tài sản cố định này vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Do đó công ty cần có các biện pháp khai thác hiệu quả vốn cố định hơn nữa nhằm tăng thêm doanh thu và nâng cao chỉ tiêu hiệu quả.

Vòng quay toàn bộ vốn:

Vòng quay toàn bộ vốn phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng, qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư. Vòng quay càng lớn thể hiện hiệu quả càng cao.

Năm 2018 vòng quay toàn bộ vốn là 6,2 vòng tức là trung bình cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân bo vào sản xuất kinh doanh thi thu được 6,2 đồng doanh thu thuần và đến năm 2019 đã giảm xuống chỉ còn 5,4 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do doanh thu thuần của công ty tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của vốn kinh doanh bình quân, doanh thu thuần tăng 2,7% năm 2018; 1,8% năm 2019 trong khi vốn kinh doanh bình quân tăng được 7,4% vào năm 2018 và 16,2% vào năm 2019.

2.2.2.3. Phân tích các hệ số cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Bảng 2.11: Bảng phân tích các hệ số về cơ cấu tài sản, nguồn vốn và tình hình đầu tư

Qua bảng phân tích trên ta thấy:

Hệ số nợ của công ty: năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,65 đồng nợ phải trả, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,63 đồng nợ phải trả, năm 2019 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,69 đồng nợ phải trả. Hệ số nợ của công ty trong ba năm đều chiếm tỷ trọng trên 60% và có xu hướng tăng trong năm 2019. Điều này là do công ty tăng khoản nợ dài hạn trong năm 2019 nhằm đầu tư thêm cho các tài sản dài hạn, hay nói cách khác là công ty không sử dụng vốn tự có của. Khoản vay dài hạn sẽ làm cho áp lực trả nợ trong tương lai tăng lên, chi phí lãi vay tăng lên. Nhưng công ty có thể tận dụng vai trò đòn bẩu cảu những khoản nợ để kích thích tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ nhằm cải thiện lợi nhuận trong tương lai.

Tỷ suất tự tài trợ: trong năm 2017 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,35 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,37 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2019 cứ 1 đồng vốn công ty đang sử dụng thì có 0,31 đồng là vốn chủ sở hữu. Kết quả này cho thấy mức độ độc lập về tài chính của công ty còn thấp và cũng cho thấy khả năng chiếm dụng vốn của công ty khá cao.

Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty năm 2017 trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,72 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, có xu hướng giảm vào năm 2018 (giảm 6,7% so với năm 2017, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,67 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn) và giảm tiếp vào năm 2019 (giảm 4,8% so với năm 2018, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,64 đồng đầu tư vào tài sản ngắn hạn). Như vậy mức độ quan trọng của tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản mà công ty sử dụng đã có xu hướng điều chỉnh giảm dần trong giai đoạn năm 2018, 2019. Điều này cũng xuất phát từ chủ trương của công ty cơ cấu lại tài sản dài hạn nhằm nâng cao năng lực sản xuất, cung cấp dịch vụ cho thị trường.

Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngược chiều với tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn, năm 2018 cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,33 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn, cũng có nghĩa vào năm 2018 tỷ suất đầu tư vào tài sản của công ty tăng so với năm 2017 (tăng 17,4%, cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,28 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn), và năm 2019 tỷ suất này tăng 9,8% so với năm 2018 (cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,36 đồng đầu tư vào tài sản dài hạn).

Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn: tỷ suất tự tài trợ của công ty có xu hướng giảm vào năm 2018 nhưng lại tăng lên vào năm 2017, tỷ suất nầy cho biết năm 2017 cứ 1 đồng vốn đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 1,26 đồng là vốn chủ sở hữu, năm 2018 cứ 1 đồng đầu tư cho tài sản dài hạn thì có 1,13 đồng là của vốn chủ sở hữu, năm 2019 đã tăng lên 0,86 đồng. Xu hướng tỷ lệ tự tài trợ tài sản dài hạn của công ty giảm qua ba năm. Công ty đã thực hiện đầu tư thêm các tài sản dài hạn dựa chủ yếu trên sự tài trợ từ vốn vay dài hạn. Đây là một lựa chọn khá hợp lý trong giai đoạn hiện tại của công ty. Công ty đang có khoản vốn lưu động ròng dương và vốn dài hạn vẫn đang tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. Nên với việc đầu tư thêm Tài sản dài hạn dựa trên vốn vay dài hạn là hoàn toàn phù hợp.

Nhìn chung cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty là hợp lý vì công ty đang hoạt động trong lĩnh vực quản lý công trình xây dựng và thi công công trình xây dựng. Vì vậy tài sản dài hạn phải dần chiếm một tỷ trọng đang kể trong tổng tài sản và được đầu tư phần lớn từ vốn dài hạn của công ty. Tài sản dài hạn đó là vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. Còn tài sản ngắn hạn chủ yếu là hàng tồn kho, các khoản phải thu và một phần tiền để phục vụ ngày càng tốt trong quá trình giao dịch với các bạn hàng.

2.2.2.4. Phân tích chỉ số sinh lời Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Nhận xét: Từ Bảng 2.12 ta thấy:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng được cải hiện qua ba năm. Năm 2018 cứ 100 đồng doanh thu thì có 0,8 đồng lợi nhuận sau thuế tăng 0,2 đồng sơ với năm 2017, sang năm 2019 cứ 100 đồng doanh thu thì tạo ra 0,09 đồng lợi nhuận sau thuế.

Bảng 2.12: Phân tích chỉ số sinh lời

Tỷ suất sinh lời của tài sản: năm 2017 là 4% và năm 2018 tỷ suất sinh lời là 4,6% (tăng 0,6% so với năm 2017). Năm 2019 tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản giảm còn 4,3% (cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra 4,3 đồng lợi nhuận sau thuế cho công ty). Qua số liệu tổng hợp ba năm từ 2017 đến 2019 cho thấy khả năng sinh lời của tổng tài sản chưa ổn định. Năm 2018 có sự cải thiện so với năm 2017 nhưng đến năm 2019 do công ty đầu tư thêm tài sản cố định vào giai đoạn gần cuối năm 2019 nên các tài sản đầu tư mới chưa phát huy hết được khả năng tạo ra doanh thu. Do đó chỉ số này có thể sẽ được cải thiện trong thời gian tới khi tài sản đi vào hoạt động ổn định hơn.

Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh bình quân: năm 2018 bình quân cứ 100 đồng vốn kinh doanh bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh thì đem lại cho công ty 4,8 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2019 cứ 100 đồng vốn kinh doanh đem lại 4,7 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh của công ty không ổn định qua các năm; tăng trong năm 2018 nhưng lại giảm nhẹ năm 2109. Mặc dù doanh thu tăng nhưng lợi nhuận lại tăng chậm hơn do công ty đang trong giai đoạn phát triển nên các chi phí tăng cao hơn so với tỷ lệ tăng doanh thu. Đôi khi công ty phải hi sinh lợi nhuận trước mắt để nhắm đến mục tiêu dài hạn.

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm. Năm 2018 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bình quân đưa vào sản xuất kinh doanh đã tạo ra được 12,4 đồng lợi nhuận sau thuế, nhưng năm 2019 tạo ra được 13,8 đồng lợi nhuận sau thuế. ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tỷ suất ROE có xu hướng tăng qua ba năm nhưng vẫn duy trì được mức trên 10% trong 3 năm thì công ty vẫn được đánh giá là làm ăn hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu tăng nhẹ là do vốn chủ sở hữu của công ty có tốc độ tăng chậm hơn mức giảm của lợi nhuận sau thuế, cụ thể vốn chủ sở hữu bình quân năm 2019 chỉ tăng 13,86% năm 2018, 3,62% năm 2019 nhưng lợi nhuận sau thuế năm 2018 lại tăng 25,32% và 15,32% năm 2019.

2.2.2.5. Tổng hợp các chỉ số phân tích tài chính cơ bản

Qua phân tích các chỉ số tài chính cho thấy Công ty TNHH Hùng Thịnh HD hoạt động khá hiệu quả, có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên có một số hạn chế về tiềm lực tài chính và đang tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn. Rủi ro ở mức trung bình, khả năng tự chủ tài chính chưa cao, các khoản bán chịu thu hồi chậm gây ra khả năng thanh toán các khoản nợ còn thấp. Hệ số nợ cao dẫn đến nguy cơ rủi ro thanh khoản, khả năng chi trả yếu. Công ty cần có chính sách quản lý các khoản thu hồi chặt chẽ, đồng thời chú trọng điều hòa nguồn vốn hợp lý để giảm bớt rủi ro về khả năng chi trả các khoản vay nợ.

2.2.3. Phương trình phân tích Dupont Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của các chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp.

Phương pháp Dupont dựa trên cơ sở kiểm soát các chỉ tiêu phân tích tài chính khá là phức tạp.

Với mỗi chỉ tiêu lại phản ánh mối quan hệ tài chính dưới dạng các tỷ số. Mỗi tỷ số tài chính lại chịu ảnh hưởng từ các quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các bên có liên quan.

Dựa vào đó, việc thiết lập các mối quan hệ của mỗi tỷ số tài chính cùng các nhân tố ảnh hưởng cần theo một trình tự logic chặt chẽ. Cần nhìn nhận rõ ràng hơn các hoạt động tài chính doanh nghiệp. Việc tác động vào các nhân tố cũng cần thực hiện sao cho hiệu quả và hợp lý nhất.

Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)

Tỷ số ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:

  • Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
  • Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
  • Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản của công ty có xu hướng tăng qua ba năm. Từ đẳng thức trên ta thấy bình quân cứ đưa ra 100 đồng giá trị tài sản vào sử dụng trong năm 2017 tạo ra được 3,97 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2018 tạo ra 4,58 đồng lợi nhuận sau thuế và đến năm 2019 giảm nhẹ xuống còn 4,29 đồng lợi nhuận sau thuế.
  • Điều này là do tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu tăng qua ba năm nhưng khả năng tạo ra doanh thu trên tổng tài sản lại giảm. Do công ty có hoạt động đầu tư thêm vào tài sản cố định năm 2019 nhưng do đầu tư vào giai đoạn gần cuối năm (quý 3 năm 2019) nên sức sinh lời của nhóm tài sản này chưa phản ánh đúng thực chất hiệu quả đầu tư.
  • Có hai hướng để có thể tăng chỉ số ROA là tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần (ROS) hoặc tăng khả năng tạo ra doanh thu dựa trên tài sản đầu tư:
  • Muốn tăng ROS công ty có thể thực hiện bằng cách tiết kiệm chi phí.
  • Muốn tăng tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản thì có thể sử dụng cách kích thích bán hàng để tăng doanh thu dựa vào biện pháp giảm giá bán, cùng với tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng.

Tiếp theo, ta xem xét tỷ số tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

(ROE):

ROE =  Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.

Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì doanh lợi vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu bằng nhau vì khi đó Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn.

Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có mối liên hệ giữa ROA và ROE:

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ năm 2019 tăng lên so với năm 2018 và 2017. Ta thấy bình quân 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì năm 2017 tạo ra được 11,27 đồng lợi nhuận sau thuế và năm 2018 tạo ra được 12,4 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2019 tạo ra 13,8 đồng lợi nhuận sau thuế. Điều này cho thấy mức độ sinh lời trên vốn chủ đã có sự cải thiện do công ty tập trung vào mở rộng thị trường, cung cấp đa dạng hơn các dịch vụ cho thị trường, doanh thu có sự tăng trưởng theo thời gian.

Có hai hướng để có thể giúp công ty tăng ROE: tăng ROA hoặc tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu:

  • Tăng ROA như phương pháp đã nêu trên.
  • Tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu bằng cách giảm vốn chủ sở hữu và tăng nợ. Ta thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của vốn chủ sở hữu càng cao. Tuy nhiên khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro cũng sẽ tăng theo do đó nên công ty sẽ phải hết sức thận trọng khi sử dụng nợ.

Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trình Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ.

Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ. Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp cải thiện tài chính tại Cty Hùng Thịnh HD

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tài chính của Cty Hùng Thịnh HD

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về Công ty TNHH Hùng Thịnh HD

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464