Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. Thực trạng về tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng
2.2.1. Thực trạng về tổ chức huy động vốn
Công tác huy động vốn là một trong những công tác chủ yếu, quan trọng bậc nhất của hoạt động ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng nói riêng. Nhìn nhận quan điểm đó, Chi nhánh luôn tạo ra những lợi thế riêng biệt nhằm hấp dẫn, thu hút khách hàng mạnh mẽ hơn qua những biện pháp như: lãi suất linh hoạt, đa dạng hoá sản phẩm huy động, nâng cao tiện ích của sản phẩm…để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn. Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank
Hiện nay tại Chi nhánh có hai hình thức làm sổ tiết kiệm, đó là: nộp tiền mặt để làm sổ tiết kiệm hoặc chuyển khoản để làm sổ tiết kiệm với các hình thức như khác nhau như tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm thông thường, tiết kiệm thông minh. Hầu như các giao dịch đều diễn ra tại quầy giao dịch, hình thức chuyển khoản làm sổ tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất ít và không phổ biến.
2.2.2. Về quy mô huy động vốn
Mặc dù mới khai trương nhưng Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng cũng đã làm tốt công tác huy động vốn của mình, lượng vốn huy động được mỗi năm đều có xu hướng tăng hơn so với năm trước, đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của Chi nhánh. Để thấy được điều này, ta xét biến động nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua:
Bảng 4: Quy mô nguồn vốn huy động qua các năm
Biểu đồ 2: Quy mô huy động vốn qua các năm
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy quy mô nguồn vốn tăng dần qua các năm. Năm 2011 tổng nguồn vốn huy động đạt được 360,037 triệu đồng, năm 2012 tổng nguồn vốn huy động là 525,818 triệu đồng, tăng 165,781 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 46% so với năm 2011. Sang đến năm 2013 tổng nguồn vốn huy động đạt 799,104 triệu đồng, tăng 273,286 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 52 % so với năm 2012. Nguyên nhân của việc tăng vốn huy động này là do: Chi nhánh luôn tạo ra lợi thế riêng nhằm hấp dẫn, thu hút khách hàng qua những biện pháp như: lãi suất linh hoạt, đa dạng hoá sản phẩm huy động, nâng cao tiện ích của sản phẩm… để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, để thu hút được khách hàng thì Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng luôn đưa ra những chính sách khuyến khích, khuyến mãi, tri ân đến khách hàng, đồng thời phục vụ khách hàng với thái độ lịch sự và tốt nhất, tạo được sự thoải mái, niềm tin của khách hàng đối với Ngân hàng. Một nguyên nhân dẫn đến huy động tăng là do trong thời buổi kinh tế khó khăn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay, thì kênh tiết kiệm vẫn là hấp dẫn và đảm bảo an toàn nguồn vốn hơn cả.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.3. Về cơ cấu huy động vốn Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của công tác nguồn vốn, Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng luôn quan tâm tới công tác này, coi tạo nguồn vốn là nhiệm vụ sống còn trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng. Một ngân hàng sẽ không thể hoạt động bền vững nếu không có nguồn vốn vững chắc, ổn định. Trong những năm qua, tập thể cán bộ công nhân viên toàn thể Chi nhánh đã cố gắng nỗ lực trong công tác huy động vốn như: đổi mới phong cách làm việc, đơn giản hoá các thủ tục mở tài khoản cũng như thu chi tiết kiệm, tạo tâm lý an toàn, thoải mái cho khách hàng khi đến gửi tiền tại Ngân hàng.
a.Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng sở hữu vốn
Về mặt cơ cấu theo đối tượng sở hữu vốn, nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng được hình thành từ tiền gửi của tổ chức, tiền gửi của dân cư.
Biểu đồ 3: Cơ cấu huy động vốn theo đối tượng sở hữu giai đoạn 2011-2013
Trong cơ cấu huy động vốn thì tiền gửi của cá nhân luôn chiếm tỷ trọng cao. Đây là nguồn vốn dân cư nhàn rỗi, chưa sử dụng đến đem gửi vào ngân hàng để lấy lãi và nó thường được gửi vào ngân hàng dưới hình thức tiết kiệm. Quan sát tổng quan qua bảng số liệu cho thấy cùng với sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động, năm 2011 tiền gửi cá nhân đạt 358,169 triệu đồng chiếm 99.48% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2012 khoản tiền này là 521,086 triệu đồng chiếm 99.1% trong tổng nguồn vốn huy động và tăng 162,917 triệu đồng so với năm 2011 tương ứng với tốc độ tăng 45.49 %. Đến năm 2013, tiền gửi cá nhân huy động được là 788,716 triệu đồng chiếm 98.7 % trong tổng nguồn vốn huy động và tăng 267,630 triệu đồng so với năm 2012 tương ứng với tốc độ tăng 51.36 %. Để đạt được thành công trong công tác huy động vốn từ dân cư trong những năm qua Chi nhánh đã có những cố gắng không nhỏ trong từng bước thay đổi phong cách giao dịch với khách hàng, áp dụng linh hoạt khung lãi suất quy định tại từng thời điểm, gắn việc giao khoán chỉ tiêu huy động vốn tới từng bộ phận, cá nhân với việc khen thưởng kịp thời những cán bộ, nhân viên có thành tích, cải tiến phương pháp làm việc và có chính sách ưu tiên với khách hàng truyền thống lâu năm, có lượng tiền gửi lớn. Những hoạt động này đã tạo cho người dân tâm lý yên tâm, an toàn khi gửi tiền, do vậy nguồn tiền gửi dân cư tăng nhanh. Từ đó tạo thế chủ động trong cân đối nguồn vốn, nhất là chủ động trong kế hoạch kinh doanh.
Tuy nhiên, tiền gửi của tổ chức chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn huy động. Năm 2012 số tiền huy động của tổ chức là 4,732 triệu đồng, tăng 2,864 triệu đồng so với năm 2011; năm 2013 là 10,338 triệu đồng. Mặc dù tiền gửi của tổ chức tăng dần qua các năm nhưng tỷ trọng lại giảm, là do: số lượng khách hàng là tổ chức trên tổng khách hàng của Ngân hàng Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng ít, đương nhiên tiền gửi của tổ chức sẽ ít. Nguyên nhân thứ hai dẫn tới lượng tiền của tổ chức giảm là do trong năm 2013, Ngân hàng tập trung đưa ra một số chính sách, một số sản phẩm tập trung vào đối tượng khách hàng cá nhân như tiết kiệm tích lũy, sản phẩm lãi suất bậc thang… với mức lãi suất ưu đãi hơn đối tượng là tổ chức, dẫn tới tỷ trọng tiền gửi của tổ chức thấp.
b. Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền
Đối với NH TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng, trong hình thức huy động vốn theo loại tiền, huy đông vốn bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với huy động vốn bằng ngoại tệ. Số liệu cụ thể như sau: Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank
Biểu đồ 4: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền giai đoạn 2011-2013
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy nguồn nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng. Năm 2011 nguồn nội tệ huy động được là 344,567 triệu đồng chiếm 95.7% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2012 nguồn nội tệ huy động được tăng lên so với 2011 là 164,313 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 47.69%. Năm 2013 nguồn nội tệ huy động được tăng so với 2012 là 267,850 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 52.64%.
Ngược lại, nguồn ngoại tệ lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng. Năm 2011 số vốn huy động bằng ngoại tệ (quy đổi ra VND) là 15,470 triệu đồng chiếm 4.3% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2012 số vốn huy động bằng ngoại tệ tăng so với năm 2011 là 1,468 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 9.49%. Năm 2013 số vốn huy động bằng ngoại tệ tăng so với năm 2012 là 5,436 triệu đồng
Thực trạng chung của các ngân hàng thương mại trong cơ cấu nguồn vốn đó là vốn nội tệ luôn có tỷ trọng lớn hơn vốn ngoại tệ. Nguyên nhân là do Chi nhánh nằm trong địa bàn mà kinh tế vẫn còn nhỏ lẻ nên hình thức thanh toán chủ yếu bằng VND và trong số khách hàng doanh nghiệp của Chi nhánh, hầu hết là các doanh nghiệp có môi trường làm ăn ở trong nước. Mặt khác là do do chủ trương chính sách của Nhà nước không khuyến khích gửi tiền bằng đồng ngoại tệ, lãi suất đồng ngoại tệ hiện nay thấp nên ít hấp dẫn khách hàng.
c. Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn
Biểu đồ 5: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2011-2013
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy có sự tăng lên của tiền gửi có kỳ hạn qua các năm.
Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền rất nhạy cảm với lãi suất do thời gian nhàn rỗi dài, khách hàng đã kế hoạch từ trước khi quyết định gửi tiền vào Ngân hàng theo những kỳ hạn đã định. Trong tiền gửi có kỳ hạn thì phần lớn là tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, các kỳ hạn dài chiếm tỷ trọng nhỏ.
Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng: năm 2011 là 357,877 triệu đồng chiếm tỷ trọng 99.40% trong tổng nguồn vốn huy động; năm 2012 là 520,928 triệu đồng chiếm tỷ trọng 99.07% trong tổng nguồn vốn huy động; đến năm 2013 là 98.80%. Trong khoản tiền gửi này, dân cư chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng liên tục.
Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi này phần lớn là số dư trên tài khoản của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, dân cư không đáng kể. Tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng tăng dần qua các năm cả về số tiền và tỷ trọng. Cụ thể tiền gửi không kỳ hạn năm 2011 đạt 2,160 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0.6 % trong tổng nguồn vốn huy động, năm 2012 tăng lên là 4,890 triệu đồng chiếm tỷ trọng 0.93 trong tổng nguồn vốn huy động, đến năm 2013 là 9,589 triệu đồng, chiếm 1.2% trong tổng nguồn vốn huy động. Tỷ trọng của tiền gửi không kỳ hạn nhỏ so với tổng vốn huy động, nguyên nhân là do: lãi suất của loại tiền này thấp, không hấp dẫn khách hàng. Đồng thời số lượng khách hàng tổ chức của Ngân hàng ít và hoạt động giao dịch tài khoản của khách hàng không nhiều, nên đã ảnh hưởng đến số dư huy động không kỳ hạn của Ngân hàng. Trong khi đó đối với Ngân hàng thì vốn này là nguồn vốn rẻ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên trong thời gian tới Ngân hàng cần có nhiều biện pháp thúc đẩy lượng vốn trên.
2.3. Đánh giá tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kiên Long – CN Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank
2.3.1. Những kết quả đạt được
Trong hơn 6 năm hoạt động tuy khó khăn còn nhiều nhưng Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng cũng đạt được những thành công nhất định. Trải qua những khó khăn thách thức buổi đầu mới thành lập, hiện nay Ngân hàng đã có chỗ đứng nhất định đối với hoạt động kinh tế của Hải Phòng, từng bước khẳng định mình bằng những bước đi vững chắc.
Qua phân tích ở trên, ta thấy hiệu quả công tác huy động vốn tương đối cao. Điều này thể hiện qua các kết quả đạt được cụ thể như sau:
Tổng vốn huy động của Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Hải Phòng tăng dần qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng chủ động thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư tài chính của mình.
Chi nhánh đã chủ động mở rộng mạng lưới huy động tiền gửi, tích cực thu hút vận động khách hàng nên đã tạo điều kiện tốt cho tăng trưởng nguồn vốn, nhất là nguồn tiền gửi của khách hàng dân cư. Mạng lưới chi nhánh và các phòng giao dịch được trang bị thiết bị hiện đại nhằm tạo điều kiện cho khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng.
Quy trình nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, đổi mới nhằm làm giảm thời gian giao dịch của khách hàng. Đặc biệt đối với các quầy giao dịch với khách hàng, nhân viên Ngân hàng luôn có thái độ nhiệt tình hướng dẫn cũng như trả lời khách hàng. Điều đó đã gây được thiện cảm đối với khách hàng, tăng uy tín của Ngân hàng trên thị trường từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn của Ngân hàng.
Chi nhánh đã luôn quan tâm đến lợi ích của khách hàng trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng đã đưa ra mức lãi suất hợp lý, linh hoạt và đưa ra nhiều kỳ hạn gửi tiền khác nhau, do vậy khách hàng có thể chọn cho mình cách thức gửi tiền phù hợp.
Sự đoàn kết thống nhất trong ban lãnh đạo, sự đồng tâm nhất trí, hăng say lao động của đại đa số cán bộ nhân viên, tuổi đời còn tương đối trẻ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, nhiệt tình công tác, có khả năng nhanh chóng tiếp cận các ứng dụng hiện đại nhất trong lĩnh vực ngân hàng tiền tệ… đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung cũng như hoạt động huy động vốn của Ngân hàng nói riêng.
2.3.2. Những hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được thì chất lượng công tác huy động vốn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Có thể nêu một số tồn tại như sau:
Chi phí huy động vốn cao: Chi nhánh đã huy động tiền gửi với mức lãi suất hấp dẫn, nên chi phí đầu vào của Ngân hàng tương đối cao. Đồng thời làm cho lãi suất cho vay cũng bị ảnh hưởng, gây sự băn khoăn, ngập ngừng của khách hàng trước khi vay vốn, có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của Chi nhánh.
Dịch vụ của Ngân hàng chưa thực sự đa dạng, mới chỉ dừng ở các nghiệp vụ mang tính chất truyền thống cho khách hàng, chưa có nhiều dịch vụ tiện ích cao như: tiết kiệm trực tuyến… Điều này ảnh hưởng tới vị thế cạnh tranh của Ngân hàng.
Trên thực tế hiện nay, khách hàng tiết kiệm chủ yếu của Ngân hàng là cá nhân, nguồn vốn huy động cũng tập trung chủ yếu vào đối tượng này. Đồng thời là việc Ngân hàng đang bỏ qua đối tượng là khách hàng tổ chức, với số dư tài khoản lớn cùng chi phí huy động thấp. Ngân hàng cần chú ý đến đối tượng khách hàng tiềm năng này để tăng thêm nguồn huy động cho Ngân hàng.
Hiện nay có hai hình thức làm sổ tiết kiệm, đó là: nộp tiền mặt để làm sổ tiết kiệm hoặc Khóa luận: Thực trạng tình hình huy động vốn tại KSBank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp NC huy động vốn tại Ngân hàng KSBank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Ngân hàng TMCP Kiên Long