Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Huyện An Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN AN DƯƠNG, HẢI PHÒNG.
2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn của phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện An Dương, Hải Phòng.
Hàng năm phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương căn cứ kế hoạch tín dụng để kế hoạch hóa các nguồn vốn trình NHCSXH Việt Nam trên cơ sở tỷ lệ hộ nghèo và các đối tượng chính sách trong địa bàn huyện. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận như các Ngân hàng Thương mại; NHCSXH được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán nên nguồn vốn chủ yếu của NHCSXH là do Nhà nước cấp. Bên cạnh đó để tăng khả năng hoạt động có hiệu quả của NHCSXH, ngoài lĩnh vực cho vay hỗ trợ về mặt chính sách, NHCSXH còn thực hiện huy động vốn nhàn rỗi như nhận tiền gửi có trả lãi của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
Trong năm 2016: Nguồn vốn cho vay hộ nghèo theo chỉ tiêu của TP là 63.420 triệu đồng chiếm tỷ trọng 98,43% trong tổng nguồn vốn; tăng 11.220 triệu đồng so với năm 2015, tốc độ tăng 21,4%. Đến năm 2017 thì nguồn vốn cho vay hộ nghèo nhận từ TP là 73.685 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 98,55% trong tổng nguồn vốn, tăng 10.265 triệu đồng so với năm 2016, tốc độ tăng 2,82%. Chỉ tiêu nguồn vốn được TPgiao là chỉ tiêu Pháp lệnh, bắt buộc Phòng giao dịch NHCSXH phải thực hiện 100% chỉ tiêu giao; là cơ sở quan trọng để Phòng giao dịch hoạt động có hiệu quả cao. Nguồn vốn cho vay hộ nghèo để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo cơ bản được TP cân đối để giao cho thành phố và thành phố căn cứ vào tình hình hộ nghèo để giao cho các quận huyện.
Nguồn vốn của địa phương cho vay hộ nghèo qua các năm không tăng mà giữ mức 600 triệu đồng;
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng CSXH không phải là chỉ tiêu bắt buộc; nếu được Trung ương giao thì được TW cấp bù lãi suất và Phòng giao dịch mới được huy động. Do đó, Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương đã thực hiện việc huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư không nhiều.
- Năm 2015: nguồn vốn huy động được là 271 triệu đồng, chiếm trọng 0,52%;
- Năm 2016: huy động được 328 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,57%,
- Năm 2017: Huy động được 280 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,38%;
Việc huy động tiền gửi tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cư không tăng do đặc thù của NHCSXH nên Phòng giao dịch đã không có được nhiều hình thức huy động vốn như các ngân hàng thương mại khác trên cùng một địa bàn.
Trên địa bàn huyện An Dương ngoài chương trình cho vay hộ nghèo còn có các chương trình cho vay khác theo chỉ định của Chính phủ là Cho vay giải quyết việc làm; cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; cho vay đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; cho vay Nước sạch &Vệ sinh Môi Trường Nông thôn. Ngoài ra, tại 03 xã gặp khó khăn nhất còn có chương trình cho vay hộ SXKD vùng khó khăn và cho vay hộ Thương nhân hoạt động thương mại. Mỗi chương trình tín dụng ưu đãi có mục tiêu và yêu cầu riêng, tuy nhiên giữa các chương trình có mối quan hệ và chuyển hoá với nhau trong quá trình thực thi chính sách ưu đãi trên một địa bàn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.2 Thực trạng hoạt động cho vay. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Bảng 2.3. Tình hình cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2015- 2017. (ĐVT: Triệu đồng)
Cho vay hộ nghèo: Qua bảng số liệu ta thấy dư nợ của cho vay hộ nghèo qua các năm đều tăng, trong thời gian này Phòng giao dịch NHCSXH đã tiến hành thu các khoản nợ đến hạn và các khoản nợ quá hạn ở hộ vay. Mặt khác công tác cho vay hộ nghèo đã được cấp uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức hội trong huyện hết sức quan tâm. Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo các cùng các tổ chức Hội, Đoàn thể các địa phương trong huyện đã thực hiện tốt việc giám sát vốn vay, tổ chức họp bình xét hộ nghèo được vay vốn một cách công khai và chặt chẽ và đúng đối tượng hộ nghèo trong chuẩn quy định.
Cụ thể: Trong năm 2015 dư nợ chương trình cho vay hộ nghèo 52.194 triệu đồng, có 2150 hộ vay vốn, bình quân 24,2 triệu đồng/hộ; Nợ quá hạn chiếm tỉ lệ 2,1% tổng dư nợ. Đến năm 2016 dư nợ 63.381 triệu đồng, có 1.870 hộ vay, bình quân dư nợ 33,8 triệu đồng/hộ; nợ quá hạn 2,4%. Năm 2017 dư nợ 73.965 triệu đồng, với 1.356 hộ vay, bình quân dư nợ một hộ vay là 54 triệu đồng/hộ, nợ quá hạn chiếm 2,1% trong tổng dư nợ. Qua bảng số liệu chương trình cho vay hộ nghèo thể hiện đối tượng là hộ nghèo giảm qua các năm. Cụ thể năm 2016 giảm 410 hộ so với năm 2015 và năm 2017 giảm 456 hộ so với năm 2016. Điều này chứng tỏ việc đầu tư cho vay hộ nghèo bằng nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ trong các năm có tác dụng giảm nghèo rõ rệt. Hiệu quả sử dụng vốn vay đúng mục đích và dư nợ bình quân mỗi hộ càng tăng lên.
Cho vay giải quyết việc làm: Vốn cho vay giải quyết việc làm qua các năm đều tăng. Năm 2016 dư nợ 5.050 triệu đồng, có 325 dự án; tăng 454 triệu đồng tương ứng 9,87% so với năm 2008, trong đó nợ quá hạn chiếm 8,4% trong tổng dư nợ. Năm 2017 dư nợ 7.646 triệu đồng, còn 807 dự án, tăng 2.596 triệu đồng tương ứng 51,40% so với năm 2016 trong đó nợ quá hạn 9,1%;
Cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn: qua bảng trên ta thấy dư nợ của chương trình cho vay HSSV có hoàn cánh khó khăn qua các năm đều tăng. Năm 2015: 1.494 triệu đồng/132HSSV cần vay vốn, nợ quá hạn 0% tổng dư nợ. Năm 2016: 1.532 triệu đồng/125HSSV, tăng 38 triệu đồng tương ứng 2,5% so với năm 2015, dự nợ quá hạn chiếm tỉ lệ 1,2% tổng dư nợ; qua năm 2017 có 1.564 triệu đồng/128HSSV vay vốn, tăng 32 triệu đồng tương ứng 2,08% so vơi năm 2017, trong đó nợ quá hạn chiếm tỉ lệ 2,3 % tổng dư nợ.
Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường (NS&VSMT): từ bảng trên ta thấy trong năm 2015 dư nợ 2.439 triệu đồng/472 dự án, trong đó nợ quá hạn chiếm tỉ lệ 1,7% tổng nợ quá hạn, qua năm 2016 dư nợ 3.780 triệu đồng/598 dự án trong đó có nợ quá hạn chiếm 1,8% tổng dư nợ; Năm 2017 dư nợ 4.100 triệu đồng/943 công trình, tăng 320 triệu đồng tương ứng 8% so với năm 2016, nợ quá hạn chiếm 2% tổng dư nợ.
Cho vay đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài (XKLĐ): Vốn vay trọn gói theo quy định của TW nếu các hộ gia đình này có lao động đi làm việc tại nước ngoài đúng quy định. Cụ thể:
- Năm 2015: 898 triệu đồng/42 lao động .
- Năm 2016: 967 triệu đồng/ 61 lao động.
- Năm 2017: 1.182 triệu đồng/84 lao động.
Tóm lại: Nguồn vốn cho vay hộ nghèo của NHCSXH đã giúp cho các hộ nghèo trên địa bàn huyện An Dương tạo được công ăn việc làm, tăng thu nhập, chấm dứt tình trạng cho vay nặng lãi và đã thực sự góp phần tích cực làm giảm số hộ nghèo trong danh sách hộ nghèo theo chuẩn; thể hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã có hiệu quả.
Các đối tượng vay vốn theo quy định của Chính phủ ngày càng tăng; dư nợ các chương trình tăng rõ rệt. Điều đáng quan tâm là chương trình cho vay hộ nghèo với dư nợ tăng hàng năm và số hộ vay vốn chương trình hộ nghèo giảm. Tỉ lệ nợ quá hạn qua các năm tăng ít; chứng tỏ việc cho vay và xử lý nợ, thu hồi nợ đến hạn và quá hạn của Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương là tích cực, kịp thời. Nợ quá hạn chương trình GQVL tăng do số hộ vay chủ yếu để trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, nhưng bị thiệt hạn do bão năm 2016, dẫn đến không thanh toán được nợ vay cho Nhà nước. Chương trình cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn đều tăng qua các năm, chứng tỏ chương trình tín dụng ưu đãi cho HSSV đã có động lực tạo điều kiện cho các gia đình vay vốn cho con đi học. Chương trình NS&VSMT nông thôn đã góp phần giữ gìn vệ sinh và cảnh quan cho huyện An Dương, đồng thời tạo nguồn nước sạch sinh hoạt sạch cho người dân.
2.2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại NHCSXH huyện An Dương. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
2.2.3.1 Quy trình cho vay tại PGD NHCSXH huyện An Dương.
Qui trình và thủ tục cho vay của Ngân hàng CSXH được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn , gửi Tổ TK&VV.
Bước 2: Tổ TK&VV cùng tổ chức chính trị-xã hội tổ chức họp để bình xét những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập danh sách người vay trình UBND cấp xã xác nhận là đối tượng được vay vốn và cư trú hợp pháp tại xã.
Bước 3: UBND cấp xã gửi hồ sơ đề nghị vay vốn tới ngân hàng.
Bước 4: Ngân hàng phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã .
Bước 5: UBND cấp xã thông báo cho tổ chức chính trị-xã hội cấp
Bước 6: Tổ chức chính trị-xã hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV
Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho tổ viên/hộ gia đình vay vốn biết danh sách hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân.
Bước 8: Ngân hàng tiến hành giải ngân đến người vay.
2.2.3.2 Doanh số cho vay. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Thực trạng cho vay hộ nghèo của NHCSXH huyện An Dương Tình hình chung của cho vay hộ nghèo:
Ngân hàng thực hiện cho vay căn cứ vào danh sách hộ nghèo được tổ tiết kiệm và vay vốn (TK & VV) bình xét. Ban xoá đói giảm nghèo và UBND xã, phường phê duyệt theo mẫu quy định, cụ thể tình hình cho vay hộ nghèo qua 3 năm (2015-2017) như sau:
Bảng 2.4- Doanh số cho vay, thu nợ chương trình cho vay tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương, TP Hải phòng(2015-2017)
Với bảng số liệu (số 2.4) cho thấy doanh số cho vay, thu nợ qua 3 năm (2015-2017) đều tăng, quy mô tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng mở rộng.
Doanh số cho vay năm 2017 là 23.331 triệu, tăng 5.672 triệu đồng so với năm 2016. Năm 2017 doanh số thu nợ tiếp tục tăng tương ứng 6.275 triệu đồng so với năm 2016. Sự biến động của doanh số cho vay ngày càng tăng này thể hiện hoạt động cho vay đối với hộ nghèo ngày càng mở rộng.
Cùng với sự tăng trưởng về doanh số cho vay, doanh số thu nợ qua các năm cũng đều tăng (năm 2016 tốc độ tăng trưởng là 71,08% với năm 2015; Năm 2017 tốc độ tăng trưởng 96,95% so với năm 2016). Sự tăng trưởng đó cho thấy công tác thu hồi nợ của Phòng giao dịch đang diễn ra thuận lợi, các hộ nghèo đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả và thu nhập tương đối ổn định nên có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời từng bước thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Dư nợ năm 2016 đạt 63.381 triệu đồng, tăng 11.187 triệu đồng so với năm 2015; đến 2017 tăng 10.584 triệu đồng so với năm 2016. Đây là một tốc độ tăng trưởng khá ổn định thể hiện quy mô tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng được mở rộng.
Dư nợ quá hạn chương trình cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương qua các năm tăng chậm, thể hiện việc thu hồi nợ đến hạn và xử lý các khoản nợ quá hạn đạt cao.
Tóm lại, tình hình cho vay đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH qua 3 năm (2015-2017) tương đối ổn định: quy mô cho vay tăng hàng năm, với tốc độ tăng trưởng cao; hộ nghèo còn dư nợ giảm; chất lượng tín dụng được cải thiện và nâng cao; doanh số thu nợ luôn luôn tăng, tỉ lệ dư nợ quá hạn bình quân tăng chậm.
Để hiểu rõ được tình hình cho vay đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương, cần đi sâu phân tích cụ thể tình hình cho vay đối với hộ nghèo theo từng chỉ tiêu như sau:
Doanh số cho vay hộ nghèo theo thời hạn vay:
Trong những năm qua, mục đích vay vốn của đại đa số hộ nghèo qua kênh tín dụng NHCSXH chủ yếu để đầu tư vào những đối tượng có chu kỳ sản xuất kinh doanh trên 12 tháng như: chăn nuôi bò sinh sản; trồng cây nguyên liệu; trồng rừng; sản xuất nghề truyền thống và dịch vụ… Bên cạnh đó trong những năm trước đây các hộ còn đầu tư vào những đối tượng có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn hạn dưới 12 tháng như: chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt, trứng; sản xuất cây lương thực và hoa màu…; nhưng xu hướng cho vay trung và dài hạn ngày càng chiếm tỉ trọng lớn. Do đó, từ năm 2015 đến nay không còn cho vay ngắn hạn.
Cụ thể tình hình cho vay được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.5: Tình hình cho vay theo thời hạn vay giai đoạn 2015-2017.
Với số liệu ở bảng (số 2.5) đã thể hiện trong 3 năm (2015-2017) Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương đã có nhiều cố gắng trong quá trình sử dụng nguồn vốn cho vay hộ nghèo. Tổng dư nợ năm 2017 là 73.965 triệu đồng tăng 10.584 triệu đồng so với năm 2016 (tăng 16,69%), dư nợ trung hạn chiếm tỷ trọng 100% trên tổng dư nợ. Trong năm 2017 Phòng giao dịch đã cho vay 2356 hộ (trong đó có 1356 hộ nghèo 850 hộ cận nghèo còn lại cho vay SXKD và HSSVCHCKK vay) với doanh số cho vay 23.331 triệu đồng. tăng 5.672 triệu đồng (tỷ lệ tăng 32,11%) so với năm 2016, Phòng giao dịch chủ yếu là cho vay trung hạn chiếm tỷ trọng 100,% trên tổng doanh số cho vay; Năm 2016 doanh số cho vay là 17.659 triệu đồng gồm 2.051 lượt vay tăng 8.506 triệu đồng (tăng 92,93%) so với năm 2015 doanh số cho vay ngắn hạn không trăng trưởng là do tại địa phương đối tượng vay vốn chủ yếu là đầu tư trung và dài hạn. Doanh số cho vay năm và doanh số thu nợ năm 2017 cao hơn nhiều so với năm 2016, điều này là do nhu cầu vốn của các hộ tăng nhằm đáp ứng khả năng phát triển sản xuất kinh doanh.
Cùng với sự tăng trưởng về quy mô thì việc đảm bảo chất lượng tín dụng đối với Phòng giao dịch An Dương ngày càng khó khăn hơn. Nhưng tình hình chất lượng tín dụng của Phòng giao dịch An Dương qua 3 năm ( 2015-2017) đều ngày một cải thiện và nâng cao, thể hiện qua doanh số thu nợ năm sau luôn cao hơn năm trước, bên cạnh đó tình hình nợ quá hạn tăng chậm, tạo điều kiện cho đồng vốn quay vòng nhanh.
Năm 2017 Phòng giao dịch đã thực hiện việc thu nợ với doanh số là 12.474 triệu đồng tăng so với năm 2016 là 6.275 triệu đồng (tăng 96,95%); Năm 2016 doanh số thu nợ là 6.472 triệu đồng tăng 2.689 triệu đồng (tăng 71,08%) so với năm 2015; doanh số thu nợ trung hạn là 6.472 triệu đồng chiếm tỷ trọng 100% trên tổng doanh số thu nợ. Sự tăng trưởng về doanh số thu nợ của Phòng giao dịch qua 3 năm đều ở mức rất cao, điều đó cho thấy công tác thu hồi nợ của Phòng giao dịch tương đối có hiệu quả. Trong tổng doanh số thu nợ thì doanh số thu nợ trung hạn luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu, điều này cũng tỉ lệ thuận với doanh số cho vay.
Trong 3 năm (2015-2017) tình hình nợ quá hạn tại Phòng giao dịch An Dương có xu hướng tăng chậm, điều này thể hiện chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng được nâng cao. Năm 2016, nợ quá hạn chiếm tỷ lệ 2,4% trên tổng dư nợ; đến năm 2017 dư nợ quá hạn tăng so với năm 2016, nhưng tốc độ tăng chậm (2,5%).
Nhìn chung, tình hình cho vay đối với hộ nghèo qua 3 năm (2015 – 2017) của Phòng giao dịch tương đối tốt, tốc độ tăng trưởng khá, về doanh số cho vay chủ yếu cho vay trung hạn. Hàng năm tỷ trọng cho vay tăng chủ yếu là cho vay trung hạn (năm 2016 là 21,43% cho đến năm 2017 tăng 16,69%). Bên cạnh đó, doanh số dư nợ cũng thể hiện quy mô tín dụng hộ nghèo ngày càng mở rộng. Đặc biệt là công tác thu hồi và xử lý nợ quá hạn, nợ khó đòi qua các năm thực hện khá tốt. Như vậy, có thể nhận thấy sự cố gắng giảm nợ quá hạn và tăng cường công tác thu hồi nợ của Phòng giao dịch NHCSH huyện An Dương-TP Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng vì mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo là rất đáng kể.
Phân tích tình hình cho vay theo ngành nghề.
Qua 3 năm hoạt động ( 2015-2017), Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương ngoài việc thực hiện các mục tiêu, phương hướng đề ra thì Phòng giao dịch còn góp phần trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của huyện đề ra trong từng giai đoạn 2015-2020 . Vì vậy, trong những năm qua cơ cấu cho vay theo các ngành kinh tế tại Phòng giao dịch huyện Hòa Vang đều thực hiện theo định hướng chung của Nghị quyết Đảng bộ huyện và Thành uỷ. Cụ thể được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.6:Tình hình cho vay theo ngành nghề tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương ( 2015-2017)
Qua bảng số liệu trên, thể hiện hoạt động cho vay của Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương chủ yếu là ngành nông nghiệp. Phần lớn dân cư là lao động nông nghiệp. Ngành này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh số cho vay hộ nghèo. Cụ thể, việc cho vay theo ngành kinh tế như sau:
Doanh số cho vay ngành nông nghiệp qua 3 năm (2015-2017) có tỷ trọng trên tổng doanh số cho vay ngày một giảm (năm 2015 chiếm tỷ trọng 90,9% doanh số cho vay, đến năm 2017 chỉ còn chiếm 83,38% trên tổng doanh số cho vay. Nhưng vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh số cho vay. Còn các ngành nghề khác thì tỷ trọng trên tổng doanh số cho vay ngày một tăng.
Cho vay khác (chủ yếu mục đích sử dụng vốn của hộ nghèo là đầu tư vào buôn bán nhỏ): Năm 2016 có tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay chỉ đạt 54,64% (tăng 300 triệu đồng) so với năm 2015, nhưng đến năm 2017 tốc độ tăng doanh số cho vay là 190,1% (tăng 1.614 triệu đồng) so với năm 2016. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Về việc tỷ trọng doanh số cho vay ngành nông nghiệp ngày một giảm, còn các ngành khác thì ngày một tăng là do:
Trong những năm gần đây thực hiện theo định hướng chung của huyện là từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển ngành nghề ở từng địa phương.
Trong những năm qua tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là dịch cúm gia cầm. Mặt khác điều kiện thời tiết khí hậu không thuận lợi, dẫn đến việc sản xuất kinh doanh của các hộ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là ngành nông nghiệp (sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, dịch bệnh … ) . Làm cho các hộ có tâm lý muốn chuyển đổi sang ngành nghề khác để sản xuất kinh doanh.
Song song với việc tăng trưởng về doanh số cho vay, Phòng giao dịch cũng thực hiện tốt công tác thu nợ. Doanh số thu nợ qua 3 năm đã tăng đáng kể. Năm 2016 doanh số thu nợ chỉ đạt 6.472 triệu đồng, tăng 71.08% so với năm 2015, đến năm 2017 đạt 12.747 triệu đồng tăng 96,95% so với năm 2016. Doanh số thu nợ ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh số thu nợ (bình quân qua 3 năm tỷ trọng doanh số thu nợ ngành nông nghiệp chiếm 92,22% trong tổng doanh số thu nợ trong năm). Còn các ngành khác doanh số thu nợ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh số thu nợ.
Do đặc thù của một huyện nông nghiệp, nông thôn điều kiện kinh tế khó khan,nên việc cho vay, thu nợ, thu lãi gặp khó khăn. Nhưng trong 3 năm (2015-2017) tình hình nợ quá hạn tại Phòng giao dịch Huyện An Dương có xu hướng tăng nhưng chậm, điều này có nghĩa chất lượng tín dụng đối với cho vay hộ nghèo ngày càng được cải thiện và giữ được mức an toàn. Còn tình hình nợ quá hạn phân theo ngành nghề cũng ngày một giảm, điều này cũng tỷ lệ thuận với tình hình chung về nợ quá hạn tại Phòng giao dịch.
Mục đích vay vốn của hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương chủ yếu để đầu tư vào ngành nông nghiệp, tiếp đến là thủy hải sản và cho vay khác. Tỷ trọng giữa các ngành này có xu hướng ngày càng thu hẹp, điều này thể hiện sự chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành nghề với nhau, phù hợp với chủ trương, chính sách của huyện.
Tỷ lệ nợ quá hạn.
Bảng 2.7. Doanh số cho vay, thu nợ chương trình cho vay tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương, TP Hải phòng(2015-2017)
Với bảng số liệu (số 2.7) cho thấy doanh số cho vay, thu nợ qua 3 năm (2015-2017) đều tăng, quy mô tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng mở rộng.
Doanh số cho vay năm 2017 là 23.331 triệu, tăng 5.672 triệu đồng so với năm 2016. Năm 2017 doanh số thu nợ tiếp tục tăng tương ứng 6.275 triệu đồng so với năm 2016. Sự biến động của doanh số cho vay ngày càng tăng này thể hiện hoạt động cho vay đối với hộ nghèo ngày càng mở rộng.
Cùng với sự tăng trưởng về doanh số cho vay, doanh số thu nợ qua các năm cũng đều tăng (năm 2016 tốc độ tăng trưởng là 71,08% với năm 2015; Năm 2017 tốc độ tăng trưởng 96,95% so với năm 2016). Sự tăng trưởng đó cho thấy công tác thu hồi nợ của Phòng giao dịch đang diễn ra thuận lợi, các hộ nghèo đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả và thu nhập tương đối ổn định nên có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời từng bước thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Dư nợ năm 2016 đạt 63.381 triệu đồng, tăng 11.187 triệu đồng so với năm 2015; đến 2017 tăng 10.584 triệu đồng so với năm 2016. Đây là một tốc độ tăng trưởng khá ổn định thể hiện quy mô tín dụng đối với hộ nghèo ngày càng được mở rộng.
Dư nợ quá hạn chương trình cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương qua các năm tăng chậm, thể hiện việc thu hồi nợ đến hạn và xử lý các khoản nợ quá hạn đạt cao.
Tóm lại, tình hình cho vay đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH qua 3 năm (2015-2017) tương đối ổn định: quy mô cho vay tăng hàng năm, với tốc độ tăng trưởng cao; hộ nghèo còn dư nợ giảm; chất lượng tín dụng được cải thiện và nâng cao; doanh số thu nợ luôn luôn tăng, tỉ lệ dư nợ quá hạn bình quân tăng chậm.
Để hiểu rõ được tình hình cho vay đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương, cần đi sâu phân tích cụ thể tình hình cho vay đối với hộ nghèo theo từng chỉ tiêu như sau:
Chất lượng cho vay qua tổ chức ủy thác.
Thực hiện Điều 5, Nghị định 78/2002/NĐ-CP, công tác cho vay của Ngân hàng CSXH được thực hiện theo hình thức uỷ thác từng phần, từng công đoạn cho các tổ chức Chính trị-xã hội trên địa bàn. Phòng giao dịch NHCSXH và các tổ chức Chính trị – xã hội (gọi tắt là Hội đoàn thể-HĐT) huyện An Dương-TP Hải Phòng đã cùng nhau thoả thuận ký văn bản liên tịch về ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác do Chính phủ quy định. Đối với HĐT huyện Phòng giao dịch NHCSXH ký Văn bản thoả thuận để huyện chỉ đạo HĐT các xã, NHCSXH huyện ký hợp đồng uỷ nhiệm, quy định rõ những nội dung HĐT thực hiện và nội dung Ngân hàng CSXH thực hiện. Như vậy, trong quy trình cho vay của Ngân hàng CSXH thì đã có 6 công đoạn uỷ thác cho HĐT và 3 công đoạn Ngân hàng thực hiện.
Cùng với sự uỷ thác của HĐT xã kết hợp với việc thực hiện một quy trình cho vay hợp lý, trong những năm qua, công tác cho vay uỷ thác được thực hiện thuận lợi; các HĐT huyện và xã đã triển khai cho vay đúng quy trình và đem lại hiệu quả thiết thực. Các HĐT nhận uỷ thác gồm: Hội Nông dân (ND); Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN); Hội Cựu chiến binh (CCB) và Đoàn Thanh niên (Đoàn TN).
Bảng 2.8: Doanh số cho vay ủy thác thông qua các tổ chức Chính trị – xã hội huyện An Dương ( 2015-2017).
Dựa vào Bảng số liệu trên ta nhận thấy rằng Doanh số cho vay của Ngân hàng CSXH huyện đều được uỷ thác qua các tổ chức Chính trị-Xã hội. Trong đó Hội LHPN và Hội Nông dân có doanh số cho vay chiếm tỉ lệ cao. Đoàn Thanh niên huyện mới nhận uỷ thác do đó doanh số cho vay thấp. Cụ thể:
Hội Nông dân:
Năm 2015: doanh số cho vay là 3.210 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 35,07% trong tổng doanh số cho vay. Nhưng đến năm 2016 doanh số cho vay là 5.665 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 32,07% trong tổng doanh số cho vay, đến năm 2017 là 8.542 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 36,61% trong tổng doanh số cho vay.
Mức tăng doanh số cho vay năm 2016 so với năm 2015 là: 2.455 triệu đồng, đạt tốc độ tăng 76,47%, còn năm 2017 so với năm 2016: 2.877 triệu đồng, tốc độ tăng là 50,78%.
Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN):
Với số liệu ở bảng trên cho thấy doanh số cho vay thông qua Hội LHPN chiếm tỉ lệ cao và năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể: Năm 2016:6.351 triệu đồng tăng 2.504 triệu đồng, tốc độ tăng 65,08% so với năm 2015. Năm 2017:10.288 triệu đồng tăng 3.937 triệu đồng, tốc độ tăng 61,99% so với năm 2016.
Hội Cựu chiến binh:
Doanh số cho vay thông qua Hội cựu chiến binh qua 3 năm ( 2015 -2017) như sau:
Năm 2016 cho vay 4.005triệu đồng, tăng 2.456 triệu đồng, tốc độ tăng 258,5% so với năm 2015. Đến năm 2017 là 3.667 triệu đồng, giảm 338 triệu đồng, tốc độ giảm 8,43% so với năm 2016 nhưng không đáng kể;
Đoàn Thanh niên:
Cuộc vận động “ Thanh niên xoá đói giảm nghèo làm giàu chính đáng” được triển khai thực hiện nhằm tạo điều kiện đào tạo nhân lực trẻ, phát triển kinh tế xã hội; trong đó việc vay vốn trong Đoàn thanh niên đã có hiệu quả. Năm 2016: 1.638 triệu đồng, tăng 1.091 triệu đồng, tốc độ tăng 199,45% so với năm 2015. Đến năm 2017: 834 triệu đồng, giảm 804 triệu đồng, tốc độ giảm 49,08%. Vay vốn giải quyết việc làm để thông qua đó giúp cho đoàn viên thanh niên có điều kiện vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, góp phần giải quyết việc làm tại cơ sở, đồng thời tăng cường đoàn kết và tập hợp thanh niên vào tổ chức đoàn, Hội tại cơ sở. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Nhờ có vốn vay từ NHCSXH mà trong thời gian qua, phong trào thanh niên lập nghiệp, phong trào thanh niên nông thôn xung kích tình nguyện xoá đói giảm nghèo, tham gia phát triển kinh tế được triển khai phát động rộng rãi trong toàn Huyện và được đoàn viên thanh niên tích cực tham gia. Từ đó góp phần hình thành nên nhiều hoạt động thiết thực của thanh niên nông thôn đem lại hiệu quả tích cực cho xã hội.
Bên cạnh đó vẫn còn một số thành viên trong đoàn thanh niên đã vay vốn từ Ngân hàng nhưng không biết cách làm ăn nên nghèo vẫn hoàn nghèo. Nhưng nhìn chung với tỉ lệ vay vốn này, giải quyết việc làm đã giúp cho thanh niên thể hiện được vai trò, sức trẻ, xung kích đầu tư trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình. Thông qua các chương trình vay vốn, các dự án, các mô hình phát triển kinh tế tạo nên sức hút thanh niên vào tổ chức đoàn – hội tại địa phưong. Giảm thiểu tình trạng thất nghiệp trong thanh niên, nâng cao thu nhập cho thanh niên và gia đình trẻ.
Doanh số thu nợ:
Việc thu hồi nợ gốc được Ngân hàng CSXH trực tiếp thu tận hộ vay, còn lãi vay được Ngân hàng uỷ thác cho Tổ TK&VV. Việc thu hồi nợ gốc có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết xử lý nợ quá hạn và tạo điều kiện cho vay quay vòng vốn. HĐT các cáp có trách nhiệm đôn đốc thu nợ và phối hợp với CHính quyền địa phương để xử lý những trường hợp hộ vay chây ỳ không trả nợ. Trong những năm qua việc thu hồi nợ gốc đến hạn đã phối hợp tốt giữa Ngân hàng CSXH, Chính quyền địa phương và HĐT nhận uỷ thác; do đó, tình hình thu nợ cho vay hộ nghèo tại Phòng giao dịch An Dương năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể:
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tình hình doanh số thu nợ thông qua các hội như sau:
Hội Nông dân:
Năm 2015 doanh số thu nợ chỉ đạt 1.389 triệu, nhưng sang năm 2016 là 2.094 triệu, tăng 705 triệu so với năm 2015, với tỷ lệ tăng 50,7%. Bước sang năm 2017 doanh số thu nợ tăng 1.717 triệu đồng, đạt tốc độ tăng là 81,9%, so với năm 2016.
Hội phụ nữ:
Từ nguồn vốn vay của NHCSXH nhiều hộ nghèo đã có điều kiện phát triển sản xuất trong quá trình vay vốn hầu hết sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả tăng thu nhập cải thiện đời sống gia đình. Tín hiệu đáng mừng là các Hội viên vay vốn có khả năng thanh toán với ngân hàng khi đến hạn. Năm 2016: 2.623 triệu tăng 910 triệu so với năm 2015, với tỷ lệ tăng lên đến 53,1%. Đến năm 2017: 4.903 triệu, tăng 2.280 triệu so với năm 2016 với tốc độ tăng 86,9%.
Hội cựu chiến binh
Doanh số thu nợ qua các năm đều tăng. Doanh số thu nợ năm 2016 tăng so với năm 2015 là 971 triệu, tốc độ tăng 164,8%. Doanh số thu nợ năm 2017 tăng so với năm 2016 là 2.013 triệu đồng, tốc độ tăng 129,0%. Các hộ đã đứng ra tổ chức, vận động các hội viên ủng hộ tích cực tham gia vào quá trình sản xuất, hướng dẫn Cựu chiến binh phát triển kinh tế xoá đói giảm nghèo, nên việc thu nợ của Ngân hàng diễn ra thuận lợi. Hội Cựu chiến binh đã nâng cao đời sống vật chất tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp phát của cựu chiến binh , gắn với tham gia chính trị, kinh tế văn hoá xã hội ở địa phương.
Đoàn Thanh niên:
Doanh số thu nợ năm 2016 tăng so với 2015 là 103 triệu đồng, tốc độ tăng 111,9%. Doanh số thu nợ năm 2017 tăng so với 2016 là 265 triệu đồng, tốc độ tăng 135,8%.
Nhìn chung, doanh số thu nợ hộ nghèo của Phòng giao dịch tương đối tốt. Chứng tỏ NHCSXH huyện An Dương hoạt động có hiệu quả. Bởi công tác thu hồi nợ đạt kết quả tốt và diễn ra thuận lợi còn chứng tỏ việc sử dụng vốn vay của hộ nghèo đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt trong sản xuất kinh doanh.
Dư nợ:
Doanh số cho vay và doanh số thu nợ ảnh hưởng trực tiếp quy mô dư nợ và chất lượng dư nợ. Vì vậy quy mô tín dụng có được ngày càng nâng cao hay không cũng được thể hiện qua chi tiêu dư nợ. Mặt khác, dư nợ quá hạn phản ảnh về chất lượng tín dụng có đạt chỉ hiệu quả hay không ? Chỉ tiêu này dùng để đánh giá phân tích nguyên nhân nào tác động dẫn đến nợ quá hạn tăng hoặc giảm để ngân hàng có biện pháp xử lý.
Vì vậy, trong những năm qua Phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để ngày càng nâng cao về quy mô và chất lượng tín dụng, cụ thể được thể hiện qua tình hình dư nợ và dư nợ quá hạn qua 3 năm tại Phòng giao dịch như sau:
Bảng 2.10 Tổng dư nợ và số hộ vay uỷ thác chương trình cho vay thông qua các tổ chức Chính trị – xã hội huyện An Dương.
Theo số liệu ở bảng (số 2.10), cho thấy dư nợ chương trình cho vay hộ nghèo của các Hội đoàn thể nhận uỷ thác qua các năm tăng lên. Trong đó, điều quan tâm nhất là số hộ nghèo còn dư nợ qua các năm giảm rõ rệt; mức đầu tư cho hộ vay tăng lên qua các năm. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Hội Nông dân:
Qua 3 năm ( 2015-2017), dư nợ do Hội Nông dân quản lý có sự tăng trưởng. Năm 2016 tỷ lệ tăng trưởng là 17,21% so với năm 2015, tổng dư nợ năm 2016 là 24.315 triệu đồng chiếm tỷ trọng 38,36% trên tổng dư nợ bình quân năm 2016. Bước sang 2017 tỷ lệ tăng trưởng tăng so với tỷ lệ năm 2016 là 19,45%. Số hộ còn dư nợ giảm; mức đầu tư bình quân cho hộ còn dư nợ năm 2017 là 40.7 triệu đồng/hộ dư nợ;
Hội LHPN:
Năm 2017 dư nợ đạt 31.718 triệu đồng tăng so với năm 2016 là 5.385 triệu đồng (tăng 20,44%); Năm 2016 dư nợ đạt 26.333 triệu đồng, tăng so vớinăm 2015 là 3.728 triệu đồng, đạt tốc độ tăng trưởng dư nợ khá cao (tăng 16,49%). Số hộ nghèo còn dư nợ giảm, mức bình quân năm 2017 là 65triệu/hộ năm 2017.
Hội Cựu chiến binh:
Năm 2016 có tốc độ tăng trưởng dư nợ 2.445 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng( 30,49%) so với năm 2015 ; Năm 2017 dư nợ đạt 10.557 triệu đồng, tăng so với năm 2016 là 94 triệu đồng (tăng 0,89%). Số hộ còn dư nợ giảm và mức dư nợ bình quân tăng 37.9 triệu năm 2016 lên 47.9 triệu năm 2017.
Đoàn Thanh niên:
Việc cho vay đối với hộ nghèo ủy thác thông qua Đoàn thanh niên chiếm tỉ lệ thấp; dư nợ uỷ thác tăng và số hộ nghèo dư nợ vẫn giảm.
Các tổ tiết kiệm và vay vốn, các tổ chức Chính trị-xã hội ở các xã đã hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực tín dụng và huy động tiết kiệm với việc lồng ghép các chương trình khác vào sinh hoạt. Tổ đã giúp các thành viên trong Hội chỉ bảo nhau làm ăn góp phần tạo dựng cuộc sống ổn định, vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Với những gì đã làm được ở trên, phòng giao dịch NHCSXH huyện An Dương thực sự là người bạn, là chỗ dựa tin cậy cho các Hội và bà con nông dân trong công cuộc chống đói nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc trên mảnh đất anh hùng.
2.2.3.3 Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn.
BẢNG 2.11: TỶ LỆ HỘ NGHÈO ĐƯỢC VAY VỐN NĂM 2017.
Qua bảng 2.11 ta thấy tỉ lệ hộ nghèo được vay vốn của huyện An Dương chiếm 12,78% trên tổng hộ nghèo của thành phố, tỉ lệ hộ cận nghèo được vay vốn trên tổng hộ cận nghèo của thành phố chiếm 14,17%, điều này chứng tầm ảnh hưởng của NHCSXHhuyện An Dương đối với người nghèo trong địa phương, tuyên truyền phổ biến cho các HN, HCN có cơ hội được tiếp xúc và sử dụng vốn của NHCSXH quận đúng mục đích,.
2.2.3.4 Tỷ lệ hộ nghèo thoát nghèo. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
BẢNG 2.12: TỶ LỆ HỘ NGHÈO THOÁT NGHÈO DO ĐƯỢC VAY VỐN THEO CÁC NĂM (2015-2017)
(Nguồn: Phòng KH- NV NHCSXH huyện An Dương năm 2015 – 2017) Bảng 2.12 phản ánh được rằng,vốn vay từ NHCSXH huyện An Dương đã giúp được nhiều hộ nghèo cải thiện sản xuất, nâng cao năng suất lao động, biết kinh doanh để có mức thu nhấp cao hơn, thoát nghèo. Từ đó, có cơ hội phát triển kinh tế từ khá trở lên, điển hình 2017 Ngân hàng đã giúp90 hộ nghèo thoát nghèo nâng tỷ lên hộ thoát nghèo do được vay vốn từ NHCSXH lên 6,06%.
Chất lượng từ hoạt động tín dụng chính sách ủy thác thông qua các tổ chức chính trị xã hội
Về mặt kinh tế:
Nguồn vốn tín dụng chính sách đã đi vào cuộc sống của người dân, đã giúp cho hàng ngàn lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình, không những thế còn phát triển tạo việc làm cho các đối tượng khác tại địa phương.
Về mặt xã hội:
Chính sách tín dụng ưu đãi là giải pháp quan trọng trong quá trình thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm của địa phương, khắc phục tình trạng thiếu vốn, thiếu việc làm, ngăn chặn tệ cho vay nặng lãi, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, cải thiện điều kiện ăn ở, đi lại học hành của các tầng lớp nhân dân.
2.3.ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN AN DƯƠNG Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
2.3.1 Những kết quả đạt được
Cho vay hộ nghèo không phải là một vấn để đơn giản, bởi những đối tượng vay vốn là những hộ nghèo thường bị hạn chế về kiến thức, trình độ sản xuất, chăn nuôi, lại sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém do đó để đảm bảo chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo NHCSXH huyện An Dươngluôn phải đối mặt với những khó khăn nhất định. Nếu mở rộng cho vay một cách ồ ạt để đạt được chỉ tiêu đề ra thì đồng vốn có khi không đến đúng tay hộ nghèo có khả năng sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng vốn không hiệu quả, chất lượng không đảm bảo dẫn đến phát sinh nợ quá hạn nhưng nếu khắt khe và sợ không thu được nợ thì NHCSXH cũng không đạt được mục tiêu đề ra.
Trong thời gian qua, tuy thời gian hoạt động của NHCSXH huyện An Dươngchưa lâu nhưng cũng đã đạt được một số kết qủa nhất định về kinh tế cũng như xã hội từng bước khẳng định vị trí vai trò của mình trong cộng đồng người nghèo.
Kết quả cho vay hộ nghèo được thể hiện ở sự tăng lên về doanh số cho vay, doanh số thu nợ. Nhờ nguồn vốn của NHCSXH huyện An Dươngmà nhiều người nghèo đã có thêm việc làm, phát huy hiệu quả trong sản xuất chăn nuôi, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, từng bước thoát khỏi cảnh nghèo đói, vươn lên hoà nhập cộng đồng. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Công tác cho vay hộ nghèo được biểu hiện về mặt xã hội rất rõ nét, đã thúc đẩy phong trào hoạt động các tổ chức hội, đoàn thể ở nông thôn, thành thị ngày càng phong phú đa dạng, làm tăng tính cộng động xã hội, tinh thần tương thân tương ái. Đặc biệt công tác cho vay hộ nghèo đã hạn chế được các tệ nạn xã hội nhất là trong nạn cho vay nặng lãi.Nhiều hộ nghèo vươn lên tiếp cận với sản xuất hàng hoá và vượt khỏi ngưỡng nghèo đói. Kiểm tra các dự án, về cơ bản các dự án phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết một phần lao động dôi dư tại địa phương.
2.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của NHCSXH huyện An Dươngcòn bộc lộ những hạnchế cơ bản sau:
2.3.2.1 Về nguồn vốn cho vay hộ nghèo
Đây là kênh tín dụng bao cấp mà nguồn vốn phụ thuộc quá lớn vào nguồn Trung Ương chuyển về, còn nguồn vốn huy động tại địa phương lại tập trung chủ yếu vào nguồn ngân sách thành phố và 1 số ít vốn khác.
Do hiện nay, Ngân hàng thương mại huy động vốn với mức lãi suất cao do vậy ảnh hưởng không nhỏ tới việc huy động vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội.
2.3.2.2 Về cho vay ủy thác qua các tổ chức hội. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Thứ nhất: Tồn tại lớn nhất hiện nay là các tổ chức chính trị xã hội chưa bao quát toàn diện cả 6 nội dung công việc được ủy thác, mới chủ yếu quan tâm đến việc giải ngân cho vay mà thiếu quan tâm đến những nội dung công việc khác
Thứ hai: Phí dịch vụ ủy thác có thay đổi nhưng chưa phù hợp do dư nợ có tăng nhưng tỷ lệ chung bị cắt giảm nên mức phí được thụ hưởng của hội cấp xã còn nhỏ.
Thứ ba: Sự phối hợp giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội có nơi, có lúc chưa được tốt. Chưa thực hiện tốt chế độ giao ban giữa NHCSXH với các tổ chức chính trị xã hội cùng cấp để giải quyết những vướng mắc, tồn tại trong quá trình triển khai.
2.3.2.3 Về Tổ Tiết kiệm và vay vốn.
Thứ nhất: Hiện nay việc củng cố, sắp xếp lại tổ TK&VV được xem là công việc quan trọng và là việc làm thường xuyên, nên việc củng cố sắp xếp lại và chuyển đổi hoạt động của tổ theo phương thức mới là việc làm không dễ, phải làm lâu dài, từng bước hoàn thiện bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp.
Thứ hai: Việc xác định vị trí, chức năng, địa vị pháp lý của tổ TK&VV chưa đủ rõ. Để hoàn thiện mô hình của NHCSXH, cần có những nghiên cứu sâu hơn về tổ TK&VV vì đây là khâu qua trọng nhất nhưng cũng là khâu còn yếu nhất trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng xã hội ở cấp cơ sở.
Thứ ba: Trên cơ sở tách bạch chức năng quản lý của các hội với tư cách là người nhận ủy thác, chức năng trực tiếp điều hành hoạt động của tổ TK&VV, các cán bộ lãnh đạo hội không nên kiêm nhiệm làm tổ trưởng, ban quản lý tổ TK&VV; đồng thời tổ chức hội cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tất cả các công việc của tổ (đây là khâu yếu nhất).
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên của chi nhánh, nhưng theo tôi những tồn tại trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất: Do hoạt động của chi nhánh còn mang tính phụ thuộc cao, nguồn vốn phụ thuộc vào kế hoạch điều chỉnh của Trung ương, đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc cho vay đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.
- Thứ hai: Do cơ chế cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách hiện nay còn nhiều bất cập, thông qua nhiều cấp, chưa có sự ràng buộc trách nhiệm cụ thể cho từng tổ chức. Cách thức giải ngân hiện nay chưa thực sự chú ý đến hiệu quả, chỉ cần hộ nghèo trả xong món nợ cũ, có nhu cầu là được vay lại món mới ngay, điều này làm cho tín dụng chính sách chứa đựng rủi ro cao và khó nhận biết, mức cho vay một số chương trình nay không còn phù hợp.
- Thứ ba: Do đối tượng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác rất lớn, lại nằm rải rác, hơn nữa cán bộ lại ít dẫn đến việc kiểm tra, giám sát vốn vay không thường xuyên là đương nhiên. Sự phối kết hợp giữa NHCSXH với tổ chức hội làm ủy thác dễ xảy ra tình trạng khoán trắng, từ đó sẽ tạo ra kẽ hở để các tiêu cực phát sinh và tạo ra khoảng cách giữa Ngân hàng và khách hàng.
- Thứ tư: Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương ở một số nơi còn yếu, gây khó khăn cho hoạt động vay vốn ưu đãi.
Nguyên nhân chủ quan
Ngoài những nguyên nhân khách quan nêu trên thì còn có một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự tồn tại, hạn chế trong hoạt động cho vay ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách.
- Thứ nhất: Một số cán bộ công nhân viên trong Ngân hàng chưa ý thức đầy đủ ý nghĩa của chính sách tín dụng ưu đãi, chưa thấy rõ vị trí, vai trò của NHCSXH trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, do đó chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa tâm huyết với nghề nghiệp. Mặt khác, do đa số cán bộ của Ngân hàng mới được tuyển dụng đều là cán bộ trẻ được học hành cơ bản, có sức khỏe song lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn, kinh nghiệm quản lý, nên dẫn đến hiệu quả trong công việc không cao.
- Thứ hai: Một số tổ chức hội đoàn thể chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc ủy thác, một số cán bộ hội năng lực yếu, chưa làm hết trách nhiệm của mình, vì vậy sự phối kết hợp giữa NHCSXH và tổ chức hội chưa cao. Cá biệt còn có một số cán bộ hội, Ban quản lý tổ TK&VV xâm tiêu vốn ưu đãi.
- Thứ ba: Công tác thông tin tuyên truyền về chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác còn hạn chế, vì vậy còn có một số bộ phận cán bộ và nhân dân chưa hiểu rõ, chưa tham gia, công tác xã hội hóa hoạt động NHCSXH chưa cao.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 khóa luận nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của chi nhánh NHCSXH huyện An Dươnggiai đoạn 2015 – 2017. Qua nghiên cứu rút ra một số nhận xét sau:Nâng cao chất lượng công tác tín dụng là một yêu cầu cấp thiết của NHCSXH huyện An Dươngnhằm góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo tại địa phương và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
Qua nghiên cứu chất lượng công tác tín dụng tại NHCSXH huyện An Dương giai đoạn 2015 – 2017, khóa luận đã rút ra những mặt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế. Các kết luận rút ra là cơ sở để đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tín dụng của chi nhánh trong những năm tiếp theo. Khóa luận: Thực trạng về ngân hàng CSXH Huyện An Dương
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao tín dụng tại NHCSXH An Dương

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về giao dịch tại Ngân hàng CSXH