Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Thực trạng công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân
Tạo vốn hiện đang là vấn đề được ngành tài chính ngân hàng, các doanh nghiệp hết sức quan tâm. Bởi vì chỉ khi nguồn vốn được đảm bảo thì mới tạo đà cho việc sử dụng vốn hợp lý vào mục đích khác nhau. Và để có thể tạo được nguồn vón riêng cho mình với chi phí rẻ nhất thì cách tốt nhất là ngân hàng huy động từ nền kinh tế mà chủ yếu từ tổ chức kinh tế và dân cư.
Huy động vốn là hoạt động mang tính truyền thống của mỗi ngân hàng, đóng vai trò khởi nguồn mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân rất chú trọng đến công tác huy động vốn. Với uy tín và năng lực hoạt động tốt, Phòng giao dịch đã thu hút được một lượng khách hàng lớn và thường xuyên.
2.2.1 Chiến lược huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn Ngân hàng TMCP Quốc Dân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Xác định rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh, NCB – TNH luôn luôn xây dựng chiến lược và kế hoạch huy động vốn mỗi năm kết hợp với những dự báo , phân tích về thị trường và bản thân Phòng giao dịch trong năm tới. Trọng tâm của các chiến lược huy động vốn của NCB – TNH tập trung vào các nội dung sau:
- Thực hiện hiệu quả kế hoạch huy động vốn từ Ngân hàng Quốc Dân Việt Nam, Chi nhánh Hải Phòng giao xuống mỗi năm (bao gồm tổng lượng vốn huy động kế hoạch, chính sách lãi suất, cơ cấu nguồn vốn huy động…). Đồng thời triển khai thành công các đợt huy động vốn theo quý cùng với Ngân hàng Quốc Dân Việt Nam , đặc biệt là các đợt huy động vốn tiết kiệm Mẹ yêu con, tiết kiệm An Phú, tặng quà khách hàng…
- Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn trên địa bàn bằng nhiều biện pháp như: tăng cường quảng cáo để NCB được biết đến nhiều hơn, khẳng định được giá trị mà NCB mang lại và vị thế của Ngân hàng (chương trình giảm giá đặc biệt dành cho khách hàng mua vé máy bay tại website của hãng hàng không Tre Việt – Bamboo Airways, Bamboo Airways giảm đến 10% cho chủ thẻ NCB bank – Shopiness…), nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên giao dịch, kiến nghị Ngân hàng Quốc Dân Việt Nam điều chỉnh chính sách lãi suất hợp lý.
- Tích cực tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp, ổn định. Tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế , tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư trên địa bàn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
- Phấn đấu tăng thị phần huy động vốn trên địa bàn Trần Nguyên Hãn lên, duy trì nguồn vốn ổn định và phát triển.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2.2 Các sản phẩm huy động vốn của NCB Trần Nguyên Hãn
Trong thời gian qua, Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân đã từng bước tìm cho mình những hướng đi mới phù hợp với sự biến động của thị trường. Các sản phẩm huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng với nhu cầu ngày càng phức tạp của khách hàng. Các sản phẩm huy động vốn: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm.
Trong đó sản phẩm về tiền gửi tiết kiệm là đa dạng và phong phú nhất với các hình thức như: không kỳ hạn, có kỳ hạn từ 1 tuần đến 60 tháng, tiết kiệm Mẹ yêu con, tiết kiệm Tích lũy, tiết kiệm An Phú, tiết kiệm định kỳ sinh lời, tiết kiệm Điện tử, tiết kiệm kỳ hạn quyền chọn, tiết kiệm Bảo An… Các sản phẩm này có kèm theo nhiều tiện ích như: không giới hạn số tiền nộp thêm và số lần nộp thêm (trừ 30 ngày cuối cùng của kỳ hạn gửi tiền), đặt lịch tự động chuyển tiền định kỳ từ Tài khoản thanh toán sang tài khoản tiết kiệm, chủ động gửi thêm tiền và quản lý thông tin sổ tiết kiệm bằng dịch vụ Ngân hàng số, thủ tục nhanh chóng, thuậ tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí, các hình thức gửi tiền phong phú về loại hình, linh hoạt về kỳ hạn, luôn được phục vụ nhiệt tình và chu đáo. Chính các tiện ích này đã thu hút rất hiệu quả nguồn vốn huy động cho Phòng giao dịch. Đây là kênh huy động vốn có hiệu quả, thu hút được lượng vốn lớn từ khách hàng.
2.2.3 Kết quả công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quôc Dân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
Nhìn vào biểu đồ 2.1 cho thấy nguồn vốn huy động của NCB – TNH đạt mức tăng trưởng ngày càng cao, đặc biệt trong năm 2019. Mặc dụ trong những năm qua điều kiện huy động vốn có nhiều yếu tố không thuận lợi như tỷ lệ lạm phát cao gây tâm lý chuyển hướng sang đầu tư vào các công việc khác thay vì gửi tiền vào các ngân hàng , bên cạnh đó thị trường chứng khoán , thị trường bất động sản và thị trường vàng cạnh tranh trực tiếp trong công việc huy động vốn của dân cư và các tổ chức kinh tế, tuy nhiên hoạt động huy động vốn của ngân hàng vẫn tăng trưởng ổn định đáp ứng đầy đủ nhanh chóng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Và để đạt được mức độ tăng trưởng nguồn vốn, NCB – TNH đã chú trọng tìm các giải pháp thích hợp, ngoài thể thức tiết kiệm truyền thống còn có tiết kiệm Mẹ yêu con, tiết kiệm Tích lũy và tiết kiệm An Phú với lãi suất có kỳ hạn hấp dẫn và khách hàng được phép nộp tiền tăng gốc vào tài khoản tiết kiệm bất cứ lúc nào.
Năm 2018 tăng 56.223 triệu đồng (tương đương tăng 20,3%) so với 2017. Năm 2019 tăng 99.990 triệu đồng (tương đương tăng 30,1%) so với 2018. Điều này cho thấy uy tín của NCB – TNH ngày càng tăng lên, đã có những chính sách huy động vốn đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm và niềm tin của khách hàng đến giao dịch và gửi tiền. Đạt được kết quả này là sự cố gắng lớn và nỗ lực không ngừng của cán bộ công nhân viên NCB – TNH trong tình hình kinh tế có nhiều biến động hiện nay.
Biểu đồ 2.2 Huy động vốn heo đối tượng
Dựa vào biểu đồ 2.2 ta nhận thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng là tương đối ổn định. Tỷ lệ biến động của nguồn vốn huy động qua các năm đều khá lớn. Nguồn vốn huy động từ dân cư là chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng đều qua các năm (với 185.313 triệu đồng tương ứng 67,1% vào năm 2017, 235.457 triệu đồng tương ứng 70,8% và 334.547 triệu đồng tướng ứng 77,3%), tiếp theo là nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp đứng thứ hai nhưng tỷ lệ đều giảm qua các năm và cuối cùng là nguồn vốn huy động khác giữ tỷ trọng tương đối ổn định. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Phân tích hoạt động huy động vốn từ tiền gửi dân cư
Nhìn vào biểu đồ 2.2, tiền gửi dân cư từ năm 2017 – 2019 đều tăng từ 27,1% đến 42,1%. Đây là con số đáng khích lệ khi mà số tiền tiết kiệm của dân cư tin tưởng gửi tại NCB – TNH. Năm 2018 số tiền tiết kiệm của dân cư tăng 50.144 triệu đồng (tương đương với mức tăng 27,1%) so với năm 2017, đến năm 2019 con số này tăng lên 99.090 triệu đồng (tương ứng với mức tăng 42,1%) so với năm 2019. NCB –TNH căn cứ vào hoạt động kinh nghiệm trên địa bàn đưa ra giải pháp huy động từng thời điểm sao cho hợp lý để nguồn vốn tập trung về Ngân hàng. NCB – TNH tích cực thiết lập các mối quan hệ với cá nhân là hộ sản xuất kinh doanh, hộ hưu trí, triển khai từng sản phẩm dịch vụ về huy động tiết kiệm. Hoàn thiện danh sách khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại PGD và khách hàng gửi tiết kiệm với số dư lớn để giao nhiệm vụ cho từng nhân viên quản lý, theo giõi và có kế kế hoạch chăm sóc tốt.
Phân tích hoạt động huy động vốn từ tiền gửi doanh nghiệp
Nhìn vào và biểu đồ 2.2, tiền gửi của doanh nghiệp có tăng qua các năm nhưng đến năm 2019 chỉ tăng thêm với tỷ lệ nhỏ. Năm 2018, số tiền vốn huy động từ các doanh nghiệp là 92.431 triệu đồng tăng 5.878 triệu đồng (tương ứng với tỷ lệ 6,8%) so với năm 2017. Năm 2019 đạt 92.529 triệu đồng tăng 98 triệu đồng (ứng với mức tăng 0,1%). Nhận thấy nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp sẽ được chi trả trong thời gian nhất định, do tiền gửi thanh toán thuận tiện nhưng mức lãi suất thấp, do đó NCB – TNH đã đưa ra các lãi suất kỳ hạn linh hoạt tháng như đối với 3 tháng là 4%; lãi suất 6 tháng là 6,4%; lãi suất 9 tháng là 6,7% để khuyến khích các doanh nghiệp gửi tiền tại NCB – TNH. Đây là yếu tố sáng tạo mà NCB – TNH đã thu hút được nhiều nguồn tiết kiệm nhàn rỗi của các doanh nghiệp nhằm tăng nguồn vốn kinh doanh đa dạng hơn.
Phân tích hoạt động huy động vốn theo kỳ hạn
Qua biểu đồ 2.3 trên cho thấy:
- Tiền gửi không kỳ hạn năm 2017 là 59.034 triệu đồng (ứng với 21,4% trên tổng nguồn vốn huy động). Năm 2018 đạt 53.944 triệu đồng (ứng với 16,2% trên tổng nguồn vốn huy động), giảm 5.090 triệu đồng so với năm 2017. Năm 2019 đạt 69.644 triệu đồng (ứng với 16,1% trên tổng nguồn vốn huy động), tăng 15.700 triệu đồng so với năm 2018. Tỷ trọng có sự thay đổi qua các năm mà vẫn thấp so với tổng nguồn vốn huy động nhưng qua 3 năm số tiền này vẫn tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn năm 2017 là 276.355 triệu đồng (ứng với 78,6% trên tổng nguồn vốn huy động). Năm 2018 đạt 278.634 triệu đồng (ứng với 83,8% trên tổng nguồn vốn huy động), tăng 61.313 triệu đồng so với năm 2017. Năm 2019 đạt 362.924 triệu đồng (ứng với 83,9% trên tổng nguồn vốn), tăng 84.290 triệu đồng so với năm 2018. Tỷ trọng có sự biến động nhẹ qua các năm, cao nhất năm 2019. Tuy vậy nhưng số tiền huy động tiền gửi có kỳ hạn tăng cao qua các năm.
2.2.4 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
2.2.4.1 Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Để phân tích hiệu quả huy động vốn NCB – TNH , đầu tiên ta sẽ căn cứ vào quy mô huy động vốn huy động, thể hiện qua chỉ tiêu: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn (TLHTKHHĐV).
TLHTKHHĐV = Lượng vốn huy động thực tế/ Kế hoạch huy động vốn
Ta sẽ xem xét tỷ lệ huy động vốn của NCB – TNH qua bảng số liệu sau đây:
Bảng 2.3 Kế hoạch huy động vốn
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn đều đạt trên 100% tức là PGD đã hoàn thành kế hoạch huy động vốn theo kế hoạch đầu năm. Theo số liệu từ bảng 2.5 trên, ta có thể thấy tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn luôn lớn hơn 100%, điều này cho thấy, PGD tuy có cố gắng thực hiện công tác huy động vốn, mở rộng nguồn vốn của mình bằng việc đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp, các kênh huy động vốn từ mọi nguồn trong mọi thành phần kinh tế mặc dù có những biến động của thị trường cộng với kế hoạch cao nên kết quả lượng vốn huy động luôn vượt kế hoạch đề ra.
Cụ thể, năm 2017 đạt 104%, năm 2018 đạt 105%, năm 2019 đạt 113% so với kế hoạch đặt ra. Với tỷ lệ hoàn thành kê hoạch như vậy, cho thấy công tác lập kế hoạch nguồn đó dự báo không chính xác lượng vốn có thể huy động của NCB – TNH và lượng vốn huy động đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng trong các năm.
Với vai trò là một trung gian tài chính cung cấp vốn cho nền kinh tế dưới hình thức cho vay và đầu tư, các ngân hàng hiểu rõ tầm quan trọng của việc tìm nguồn vốn cho mình. NCB – TNH đã rất coi trọng công tác huy động vốn và coi vốn là yêu tố đầu tiên của hoạt động kinh doanh và cũng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Khi nguồn vốn huy động được có cơ cấu hợp lý, chi phí huy động thấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho ngân hàng.
Như đã phân tích hoạt động huy động vôn của ngân hàng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng hàng năm. Qua đó có thể đánh giá hiệu quả huy động vốn là khá tốt. Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động huy động vốn không chỉ thể hiện ở mức độ tăng giảm của đồng vốn huy động mà còn ở nhiều yếu tố khác mà chúng ta cần xem xét như cơ cấu vốn, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn.
2.2.4.2 Chi phí huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Nguồn vốn huy động hiệu quả không những đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của ngân hàng mà còn phải là nguồn vốn có chi phí huy động thấp. Trong đó lãi suất trực tiếp ảnh hưởng đến sự biến động của nguồn vốn huy động cũng như tốc độ vay vốn, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Do chi phí huy động có ý nghĩa như vậy nên trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng cần tìm giải pháp nhằm giảm chi phí.
Bảng 2.4 Chi phí huy động vốn
Nhận thấy tổng quan chi phí vốn tăng theo các năm, năm 2018 tăng 12,2% so với năm 2017. Sang năm 2019, do lượng vốn huy động tăng thêm khá lớn so với năm 2018 nên tổng chi phí vốn huy động cũng gia tăng thêm khoảng 20,2%. Trong tổng chi phí thì chủ yếu là chi phí trả lãi, thường chiếm hơn 90%.
Năm 2018 chi phí lãi tăng 2.329 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 14,5% so với năm Năm 2019 chi phí lãi tiếp tục tăng thêm 3.876 triệu đồng ứng với tỷ lệ 21,1% . Sư gia tăng của chi phí cho thấy sự tăng lên của vốn huy đông trong 3 năm 2017 – 2019 do yêu cầu tăng vôn để phát triển của nền kinh tế nên thúc đẩy hoạt động huy động vốn cũng gia tăng theo. Ngoài ra sự ra tăng của chi phí những năm gần đây còn là do sự biến động tăng của lãi suất trên thị trường. Do vậy, ngân hàng phải có chính sách lãi suất phù hợp với sự phát triển của thị trường bù đắp mức độ trượt giá thu hút được nguồn vốn huy động trong nên kinh tế.
Ngoài chi phí lãi ngân hàng còn có các chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí quảng cáo, trích lập dự phòng rủi ro… Tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng chi phí nhưng nó cũng có ảnh hưởng đến kết quả doanh thu. Đặc biệt trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, các ngân hàng đua nhau thực hiện các chương trình khuyến mãi, cạnh tranh huy động làm cho chi phí tăng lên. Thực tế, tốc độ tăng chi phí của NCB – TNH là tương đối thấp, vì vậy ngân hàng cần phát huy và kiềm chế chi phí sao cho các năm đều ở mức thấp như vậy thì ngân hàng mới đảm bảo được khả năng hoạt động của mình.
Tóm lại, chi phí vẫn tăng qua các năm và tăng tương đối lớn vì vậy NCB – TNH cần đưa ra các giải pháp giảm thiểu chi phí cho các năm tới để đảm bảo cho hiệu quả công tác huy động vốn.
2.2.4.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Trong thực tế, không chỉ tăng trưởng về qui mô, cơ cấu nguồn vốn nói chung và nguồn vốn huy động nói riêng đánh giá được hoàn toàn hiệu quả công tác huy động vốn tại ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động vốn nhiều mà sử dụng ít sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn. Ngược lại, nếu huy động vốn ít mà sử dụng vốn cao thì rủi ro sẽ xảy ra cho Ngân hàng là rất lớn. Khi đó, Ngân hàng tìm biện pháp để hạn chế rủi rỏ như vay tổ chức tín dụng khác hoặc NHNN, Kho bạc Nhà nước…
Điều này cho thấy ngay cả khi Ngân hàng huy động vốn nhiều nhưng hiệu quả kinh doanh vẫn không cao và để đạt được hiệu quả thì Ngân hàng phải kết hợp một cash hài hòa giữa nguồn vốn huy động được với khả năng cho vay. Trong hoạt động của Ngân hàng thì việc cho vay là nhiều nhất và thu lãi cho vay là lớn nhất. Bên cạnh đó còn có hoạt động đầu tư nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Qua bảng số liệu cho thấy cơ cấu kỳ hạn nguồn tiền gửi của NCB – TNH diễn ra theo xu hướng tăng dần nguồn có kỳ hạn theo các năm (năm 2018 tăng 28,2% so với năm 2017, năm 2019 tăng 30,3% so với năm 2018) và vốn không có kỳ hạn nhìn chung cũng tăng lên (năm 2018 giảm 8,6% so với nă 2017, năm 2019 tăng 29,1% so với năm 2018). Tiền gửi có kỳ hạn chiếm từ 78,6% đến 83,9% trong tổng vốn huy động. Nhìn về mặt tài chính đây là mặt thuận lợi đối với ngân hàng.
Vì nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn có lãi suất cao khi có nhu cầu vốn trung và dài hạn nguồn tiền gửi có kỳ hạn đáp ứng hết và giúp cho PGD có kế hoạch cho khách hàng vay và cũng có kế hoạch thanh toán tiền gửi của người gửi tiền. Điều này chứng tỏ, uy tín của NCB – TNH cao nên số gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm phần lớn trong tổng số huy động vốn của PGD. Tuy nhiên, cũng nên có những biện pháp thu hút thêm gửi không kỳ để chi phí trả lãi thấp và tăng lợi nhuận cho PGD.
Hiệu quả hoạt động huy động vốn còn thể hiện ở tính hợp lý, cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Hoạt động chủ yếu của PGD, cho vay lấy từ nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Qua bảng trên cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng NCB – TNH chưa cao, công tác huy động vốn không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn. Vì vậy NCB – TNH cần đưa ra các giải pháp ngân cao hiệu quả công tác huy động vốn.
2.2.5 Đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn của Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn Ngân hàng TMCP Quốc Dân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
2.2.5.1 Những kết quả đạt được của Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn Ngân hàng TMCP Quốc Dân trong công tác huy động vốn
Một là về quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
- Nguồn vốn huy động là nguồn vốn cơ bản và quan trọng để ngân hàng dùng vào hoạt động kinh doanh tiền tệ của mình. Do đó công tác huy động vốn được ngân hàng quan tâm đúng mức. Trong những năm qua, với nhiều nỗ lực cố gắng NCB – TNH đã đạt được những kết quả khả quan trong công tác huy động vốn. Nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng nhanh và bền vững, hình thức huy động đa dạng hơn. Quy mô nguồn vốn năm 2018 tăng so với năm 2017 là 56.223 triệu đồng với tốc độ tăng là 20,3%. Năm 2019 tăng so với 2018 là 99.990 triệu đồng, tốc độ tăng là 30,1%.
- Quy trình nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện, đổi mới nhằm làm giảm thời gian giao dịch của khách hàng và tăng khối lượng huy động vốn trong thời gian làm việc của ngân hàng. Đặc biệt đối với các quầy giao dịch với khách hàng nhân viên ngân hàng luôn có thái độ nhiệt tình hướng dẫn cũng như trả lời khách hàng. Điều đó đã gây được thiện cảm đối với khách hàng, tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn của ngân hàng.
Hai là về cơ cấu nguồn vốn huy động
Trong cơ cấu vốn huy động thì vốn huy động tiết kiệm từ dân cư là một nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao và quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng. Đây là nguồn vốn có độ ổn định cao điều đó giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc sử dụng vốn để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Thu hút được một lượng vốn lớn từ khu vực dân cư trên địa bàn. Nguồn vốn này có tính chất ổn định do mối quan hệ giữa ngân hàng và người dân trên địa bàn bền chặt và uy tín của ngân hàng với đối tượng đó. Mặt khác do Phòng giao dịch đã triển khai khá thành công các đợt huy động vốn do ngân hàng Quốc Dân phát động: Các chương trình Tiết kiệm Mẹ yêu con, tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm An Phú, tiết kiệm Bảo An… Các chương trình này đã thu hút được một lượng lớn vốn từ dân cư trên địa bàn Trần Nguyên Hãn. Có được thành công trên là do mỗi lần tổ chức một chương trình huy động tiết kiệm mới, NCB – TNH đều treo băng rôn khẩu hiệu tại trụ sở kết hợp với việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin như: trên mạng internet, trên báo và tờ rơi tạo điều kiện cho khách hàng nắm được thông tin nhanh hơn.
Bên cạnh đó lượng tiền gửi từ các tổ chức kinh tế cũng tăng theo các năm nhất là năm 2019 vừa qua, cho thấy ngân hàng đã có những chiến lược phù hợp để thu hút vốn huy động từ các tổ chức kinh tế này.
Trong cơ cấu kì hạn: Cơ cấu nguồn huy động giữa ngắn hạn và trung dài hạn chênh lệch ít. Đây là một kết quả khả quan. Ngân hàng có thể sử dụng vốn trung dài hạn huy động để cho vay đối với các doanh nghiệp. Giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho Ngân hàng.
Ba là về chi phí huy động vốn:
- NCB – TNH đã luôn quan tâm đến lợi ích của khách hàng trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng đã đưa ra mức lãi suất tương ứng với nhiều kỳ hạn gửi tiền khác nhau do vậy khách hàng có thể chọn cho mình cách thức gửi tiền phù hợp.
- NCB – TNH cung cấp sản phẩm tiền gửi cho khách hàng doanh nghiệp gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Đối với tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng doanh nghiệp, lãi suất áp dụng cho tiền gửi không kỳ hạn là lãi suất thả nổi. Đối với tiền gửi có kỳ hạn có thời hạn có định từ 01 đến 60 tháng và lãi suất áp dụng có thể là lãi suất thả nổi hoặc lãi suất cố định, người gửi có thể rút tiền trước hạn tuy nhiên trong trường hợp này khoản tiền gửi chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn thông thường được tự động quay vòng.
- Ngân hàng bán lẻ là lĩnh vực thế mạnh truyền thống của NCB đặc biệt trong việc thu hút tiền gửi cá nhân bằng việc cung cấp cho khách hàng cá nhân một loạt sản phẩm tiền gửi với lãi suất linh hoạt cụ thể như: lãi suất tiết kiệm F@stsaving, lãi suất tiết kiệm theo tuần, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 8,9,10,11,12,15,17 ngày với số tiền gửi từ 1 triệu đồng trở lên, lãi suất huy động đối với sản phẩm tiết kiệm thường, đối với sản phẩm tiết kiệm An Phú, tiết kiệm online, phát lộc online,…
Ngoài ra, sự đoàn kết thống nhất của cán bộ công nhân viên, tuổi đời còn tương đối trẻ có trình độ nghiệp vụ vững chắc, nhiệt tình công tác, có khả năng nhanh chóng tiếp cận các ứng dụng hiện đại nhất trong lĩnh vực ngân hàng tiền tệ, cùng việc điều hành kinh doanh ngày càng khoa học và thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng nói riêng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thường xuyên biến động, sự cạnh tranh giữa các TCTD diễn ra ngày càng gay gắt thì những kết quả trên đây của NCB – TNH thật đáng khích lệ. Nó chứng tỏ sự phát triển vững chắc của NCB trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung cũng như hoạt động huy động vốn nói riêng, một nguồn vốn tăng trưởng khá vững chắc.
2.2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác huy động vốn của Phòng giao dịch Tràn Nguyên Hãn Ngân hàng TMCP Quốc Dân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Tồn tại
Một là về quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn
Trong 3 năm qua, mặc dù quy mô nguồn vốn huy động của NCB- TNH ngày càng mở rộng nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn chưa được cao.
Hai là về cơ cấu nguồn vốn huy động
Cơ cấu vốn của Phòng giao dịch vẫn chưa hợp lý. Tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức kinh tế thấp hơn nhiều so với tỷ lệ vốn huy động từ dân cư.
Ba là về sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đã phát triển thêm nhiều hình thức mới nhưng chủ yếu vẫn là những sản phẩm truyền thống, những sản phẩm huy động vốn của ngân hàng Quốc Dân, Phòng giao dịch chưa phát triển được sản phẩm riêng biệt nào. Thực ra để phát triển một sản phẩm riêng thì phải có sự đồng ý và có kế hoạch của Ngân hàng Quốc Dân nên điều này khó thực hiện ngay. Nhưng Phòng giao dịch cũng nên quan tâm và lập kế hoạch phát triển sản phẩm huy động vốn mới để góp phần tăng cường thu hút vốn trên địa bàn.Ngân hàng chủ yếu cạnh tranh bằng lãi suất, còn các dịch vụ khác thì còn ở mức hạn chế. Trong thời gian tới cần nghiên cứu ứng dụng và nhân ra diện rộng các loại hình dịch vụ mới nhằm tăng thu hút thêm nhiều khách hàng mới.
Công tác Marketing của NCB tuy đã được chú trọng và là công tác trọng tâm của ngân hàng trong điều kiện gay gắt nhưng vẫn chưa được thực hiện theo một chính sách nhất quán. Từng bộ phận, từng cán bộ vẫn chưa ý thức được hết tầm quan trọng của công tác này, nhận thức còn đơn giản nên trong phối hợp thực hiện vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Tuy ngân hàng đã chủ động tìm đến khách hàng nhưng do môi trường cạnh tranh quyết liệt, do điều kiện và phương pháp tiếp cận chưa phù hợp nên hiệu quả chưa cao. Công tác thu thập thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng, về đối thủ cạnh tranh còn hạn chế do vậy mà thiếu thông tin phản hồi để có những điều chỉnh kịp thời.
Nguyên nhân của những tồn tại
Những tồn tại trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác huy động vốn của NCB – TNH. Xem xét đầy đủ các mặt có thể rút ra một số các nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân khách quan đầu tiên là do tình trạng phát triển của nền kinh tế. Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động, chưa thực sự ổn định do chịu ảnh hưởng chung của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, còn chứa đựng nhiều yếu tố biến động khó dự đoán về lạm phát, tỷ giá, lãi suất. Vì vậy, các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn thường được khách hàng lựa chọn để dễ dàng chuyển đổi mục đích sử dụng vốn sang mua vàng, ngoại tệ hơn là gửi tiết kiệm. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Nguyên nhân thứ hai là do ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật. Sự điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất của nhà nước còn chưa đồng bộ và phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế. Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, liên tục thay đổi và còn nhiều chồng chéo đôi khi còn mâu thuẫn nhau, còn phải chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác làm cho hoạt động huy động vốn gặp khó khăn trong công tác quản lý, gây tâm lý thiếu tin tưởng cho nhà đầu tư. Đặc biệt là trong thời điểm lạm phát tăng cao như hiện nay, NHNN cần đưa ra chính sách lãi suất hợp lý vừa có lợi cho cả doanh nghiệp, vừa có lợi cho cả ngân hàng.
Do tâm lý ưa dùng tiền mặt của người dân Việt Nam cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động huy động của ngân hàng, chưa thật sự tạo điều kiện cần thiết cho các dịch vụ thanh toán qua tài khoản cá nhân mở tại các ngân hàng, mà vẫn còn thu tiền mặt là chủ yếu. Một số khách hàng chưa thật sự tin vào Ngân hàng, có một bộ phận nhỏ trong dân chúng vẫn chưa quen với các hoạt động cũng như sử dụng các tiện ích của ngân hàng, tâm lý lo sợ tiền mất giá… khiến họ vẫn ngần ngại trong việc gửi tiền vào ngân hàng.
Sự cạnh tranh gay gắt trong huy động vốn của các ngân hàng và các tổ chức tài chính trên địa bàn huyện Trần Nguyên Hãn. Cùng với sự mở rộng và phát triển kinh tế của các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã tích cực mở thêm chi nhánh, Phòng giao dịch tại Trần Nguyên Hãn. Sự tăng lên về số lượng các ngân hàng ở địa bàn vừa tạo ra khó khăn thách thức vừa là động lực thúc đẩy cho sự phát triển của Phòng giao dịch, đặc biệt là hoạt động huy động vốn.
Nguyên nhân chủ quan
Trong cơ cấu nguồn vốn của NCB – TNH tiền gửi tiết kiệm chiếm một tỷ trọng khá lớn còn nguồn tiền huy động từ các TCKT chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Do đó NCB – TNH cần quan tâm hơn nữa tới việc thu hút tiền gửi từ các TCKT. Bởi vì đây là nguồn tiền ngân hàng chỉ phải trả với một mức lãi suất tương đối thấp, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể giảm chi phí huy động vốn.
Công tác huy động vốn của NCB – TNH vẫn còn nặng về các biện pháp huy động truyền thống, chủ yếu thực hiện qua công cụ lãi suất, biện pháp tiếp thị chưa rộng khắp đến các khu vực dân cư. Các hình thức khuyến mãi, quảng cáo còn hạn chế một phần do cơ chế, một phần do tính thiếu chủ động trong nghiên cứu, đề xuất các biện pháp huy động, chưa nghiên cứu sâu thị hiếu của thị trường. Mặc dù thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới được truyền tải đến các chủ thể trong nền kinh tế nhưng Phòng giao dịch vẫn chưa khai thác triệt để các kênh truyền thông tin hiện có.
Phòng giao dịch chưa có nhiều chiến lược khách hàng rõ ràng, cũng như vạch ra biện pháp tăng cường huy động vốn cụ thể trong tình hình mới (cạnh tranh huy động vốn gay gắt). Sự chậm lại này cho thấy Phòng giao dịch cần phải tích cực cải thiện tình hình huy động vốn hơn để đẩy nhanh tốc độ tăng vốn huy động, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động tín dụng của Phòng giao dịch.
- Cán bộ nhân viên trẻ, năng động, đào tạo bài bản nhưng do tuổi đời còn trẻ nên đội ngũ nhân sự này không tránh khỏi việc thiếu kinh nghiệm chuyên môn lẫn thực tế.
- Công nghệ ngân hàng cả về quy trình nghiệp vụ lẫn trang thiết bị công nghệ là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng còn hạn chế.
- Tuy đã có sự đổi mới trong qui trình giao dịch nhưng thủ tục giấy tờ vẫn còn rườm rà. Cụ thể khi khách hàng muốn gửi tiền tiết kiệm thì phải viết giấy gửi tiền có chứng minh nhân dân kèm theo, viết bảng kê nộp tiền và nộp tiền tại quỹ và sau một loạt các thủ tục khác do kế toán tiến hành thì sổ tiết kiệm mới đến tay khách hàng… Điều này làm mất nhiều thời gian của khách hàng làm cho khách hàng ngại đến ngân hàng giao dịch từ đó làm giảm hiệu quả công tác huy động vốn của ngân hàng.
Tóm lại: Chương II tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn, tìm ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó trong công tác huy động vốn tại NCB – TNH qua các năm 2017 – 2019. Từ đó làm cơ sở cho chương III đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Phòng giao dịch NCB – TNH. Đề xuất một số kiến nghị với Ngân hàng Quốc Dân, với NHNN, với Nhà nước để tạo điều kiện cho những giải pháp trên phát huy tác dụng trong thực tiễn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về phòng giao dịch Trân Nguyên Hãn