Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Định hướng phát triển của Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân trong 5 năm tới (2020-2025) và cơ sở của giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn
Định hướng phát triển của Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân trong thời gian tới được xác định căn cứ vào định hướng phát triển của Ngân hàng Quốc DânViệt Nam, chi nhánh Quốc Dân Hải Phòng và tình hình thực tế trong hoạt động của Phòng giao dịch. Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Nội dung định hướng phát triển của NCB – TNH giai đoạn 2020-2025 tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
- Một là, phấn đấu thực hiện huy động vốn trên địa bàn tăng trưởng với tốc độ bình quân 23-24%/ năm. Với tốc độ này trong những năm tiếp theo Phòng giao dịch sẽ tăng thêm lượng vốn huy động lên nhiều và đáp ứng được nhu cầu cho vay ngày một tăng lên.
- Hai là, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, đặc biệt là các hình thức huy động vốn kì hạn trên 12 tháng để nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng trên cùng địa bàn, đồng thời đảm bảo cân đối giữa cơ cấu huy động và cho vay. Tiếp tục tìm kiếm nguồn vốn hoạt động có chi phí thấp, ổn định.
- Ba là, tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn từ tổ chức kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp mạnh để cân đối cơ cấu vốn huy động và đảm bảo duy trì nguồn vốn ổn định. Xây dựng cụ thể chiến lược khách hàng doanh nghiệp để phục vụ tốt cho công tác huy động vốn.
- Bốn là, thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng doanh nghiệp vì trong thực tế đối tượng khách hàng chủ yếu của Phong giao dịch là dân cư và các doanh nghiệp vừa và nhỏ do vậy Phòng giao dịch cần đẩy mạnh cho vay các doanh nghiệp lớn và các thành phần kinh tế có đủ điều kiện tín dụng và hoạt động hiệu quả, tăng thu phí dịch vụ, phục vụ tốt mọi thành phần kinh tế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Xuất phát từ việc phân tích hoạt động và kết quả huy động vốn của Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân trong một số năm ở trên, Em xin mạnh dạn đưa ra một số đề xuất nhỏ nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn như sau:
3.2.1 Thực hiện tốt công tác phân tích thị trường huy động vốn
Thị trường huy động vốn là một thị trường có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Trước khi phát triển và triển khai các sản phầm huy động vốn mới, các ngân hàng đều phải tiến hành công tác phân tích thị trường huy động vốn. Phân tích thị trường huy động vốn là phân tích môi trường hoạt động của ngân hàng nhằm xác định nhu cầu của thị trường, các sản phẩm huy động vốn của các đối thủ cạnh tranh để thay đổi phương hướng hoạt động của ngân hàng cho phù hợp với sự biến đổi của thị trường. Đối với NCB – TNH là thị trường mà Phòng giao dịch cần phải phân tích kỹ để hoạt động tốt hơn. Việc phân tích thị trường vẫn luôn được NCB – TNH quan tâm thực hiện, tuy nhiên để phân tích có hiệu quả thì em xin được đề xuất hướng phân tích như sau:
Nghiên cứu cầu thị trường: Tức là phân tích quy mô cơ cấu và sự vận động của thị trường để xác định những tiềm năng của thị trường đối với ngân hàng, từ đó có cơ sở để ra các quyết định về sản phẩm. Đây là việc nghiên cứu tập tính, thói quen, nhu cầu của khách hàng đối với những sản phẩm huy động vốn của khách hàng. Phòng giao dịch có thể tiến hành công việc này bằng cách điều tra nhu cầu của khách hàng trên địa bàn, phân loại khách hàng thành từng nhóm và đánh giá nhằm tìm ra nhóm khách hàng có triển vọng nhất đối với các loại sản phẩm huy động vốn của Phòng giao dịch. Cần phải đặc biệt chú ý tới những khách hàng truyền thống trên các mặt: sự thay đổi trong nhu cầu, sự thay đổi về số lượng khách hàng….để có cơ sở dự báo nhu cầu trong tương lai và phát triển các sản phẩm mới phù hợp.
Nghiên cứu cung (khả năng thích ứng cầu): Đây là việc nghiên cứu khả năng cung ứng các loại sản phẩm huy động vốn của Phòng giao dịch và khả năng cung ứng của các đối thủ cạnh tranh. Trước hết về khả năng cung ứng các loại sản phẩm huy động vốn của NCB – TNH: hiện nay các sản phẩm huy động vốn của Phòng giao dịch đều là các sản phẩm của Ngân hàng NCB Việt Nam, số lượng cũng khá đa dạng, thu hút được nhiều khách hàng. Đặc biết về huy động tiết kiệm, có hình thức huy động “ Tiết kiệm An Phú” rất hấp dẫn khách hàng song được triển khai không thường xuyên trong năm. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh về sản phẩm huy động vốn của các ngân hàng trên địa bàn rất gay gắt. Một số ngân hàng cũng đưa ra hình thức tiết kiệm dự thưởng, tặng quà như Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Vietcombank, Ngân Hàng BIDV( tiết kiệm ổ trứng vàng)… để cạnh tranh lôi kéo khách hàng gửi tiền. Để có thể hấp dẫn thu hút khách hàng thường xuyên hơn nữa Phòng giao dịch cần có kế hoạch phát triển sản phẩm mới cho riêng mình dựa trên những phân tích về cầu và cung đối với các sản phẩm của phòng giao dịch, ưu thế của các ngân hàng trên địa bàn và trình lên Ngân hàng NCB Việt Nam xem xét.
3.2.2 Đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn bằng cách gia tăng tiện ích và tính chất Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Do sản phẩm của PGD chủ yếu là các sản phẩm truyền thống chưa có đột phá mới trong sản phẩm, vì vậy chưa tạo được sự khác biệt dẫn đến chưa thu hút được lượng khách hàng lớn. Do vậy, PGD cần phải đa dạng hóa các sản phẩm để phù hợp với từng đối tượng và từng thời kỳ.
Để tăng cường thu hút vốn, NCB – TNH cần phải đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn nhằm hấp dẫn và thoả mãn nhu cầu của khách hàng khi lựa chọn sản phẩm gửi tiền. Mỗi một loại sản phẩm huy động vốn đều có những tính chất và hình thức riêng, phù hợp với nhu cầu một nhóm khách hàng nào đó. Đồng thời, lượng khách hàng của các nhóm rất khác nhau. Vì thế các sản phẩm huy động càng đa dạng, mới lạ cũng như đem lại lợi ích cao cho khách hàng thì càng có có khả năng được nhiều nhóm khách hàng chọn lựa, làm cho lượng vốn huy động của ngân hàng tăng lên cả về số lượng lẫn chủng loại.
Các sản phẩm của ngân hàng nói riêng và các sản phẩm huy động vốn nói chung đều rất dễ bắt chước. Hiện nay, hầu như tất cả các ngân hàng trên địa bàn Hải Phòng đều có những sản phẩm huy động vốn có bản chất giống nhau như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi kì hạn, tiết kiệm…Để có thể thu hút khách hàng, mỗi ngân hàng đều thêm vào những sản phẩm truyền thống đó những tính chất, đặc điểm, tiện ích mới nhằm tạo ra nét riêng độc đáo. Việc đa dạng hoá các sản phẩm của NCB – TNH cũng đã và sẽ dựa trên việc làm đó. Em xin được đề xuất một số ý tưởng về các sản phầm huy động vốn mới cho chi Phòng giao dịch như sau:
- Tăng cường các tiện ích cho tiền gửi thanh toán và thẻ ATM:
- Triển khai dịch vụ thanh toán hoá đơn điện thoại, internet…qua tài khoản, thẻ ATM cho khách hàng. Đề thực hiện được dịch vụ này, Phòng giao dịch cần kí hợp đồng với các công ty viễn thông. Ngoài ra cần xây dựng thêm những cây rút tiền và nộp tiền tự động… Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
- Dịch vụ đầu tư tự động với những khách hàng có số dư tiền gửi giao dịch lớn. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng đầu tư theo ý mình.
- Tạo sự linh hoạt, thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng hình thức tiền gửi tiết kiệm truyền thống: Sự đa dạng của các mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho khách hàng. Để khách hàng có thể thoải mái lựa chọn kì hạn phù hợp với mình, Phòng giao dịch nên tạo điều kiện cho khách hàng chuyển đổi kì hạn dễ dàng hơn, cho phép khách hàng rút gốc từng phần khi cần thiết… khuyến khích khách hàng gửi tiền nhiều hơn.
- Phát triển các loại sản phẩm tiền gửi theo đối tượng gửi tiền dựa trên phân loại về thu nhập, tuổi tác, giới tính…. Việc thực hiện giải pháp này có thể tốn nhiều chi phí và thời gian song nó tạo ra sức hấp dẫn, tạo được điểm nhấn trong loạt sản phẩm huy động vốn đa dạng của Phòng giao dịch. Chẳng hạn: vào những dịp kỉ niệm ngày của phụ nữ (20-10, 8-3), Phòng giao dịch có thể triển khai loại sản phẩm tiền gửi tiết kiệm kết hợp với việc tặng quà khuyến mại, dự thưởng… dành riêng cho phụ nữ với những tiện ích hấp dẫn.
Sau khi tìm và thiết kế được các sản phẩm phù hợp mong rằng PGD sẽ có những biến chuyển mới, sẽ làm tăng được hiệu quả công tác huy động vốn.
3.2.3 Cần sử dụng chính sách lãi suất linh hoạt đáp ứng với sự biến động của thị trường Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng cho mình – trong đó chính sách về lãi suất là một yếu tố quan trọng. Sử dụng chính sách lãi suất hợp lý sẽ vừa đẩy mạnh thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn trong xã hội, vừa kích thích các đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng vốn có hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Lãi suất là công cụ quan trọng để ngân hàng thu hút nguồn tiền gửi có trong các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng khác. Lãi suất là yếu tố cấu thành phần lớn thu nhập và chi phí của ngân hàng vì vậy mọi biến động về lãi suất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do lãi suất có tầm quan trọng như vây nên chính sách lãi suất phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ, đặc biệt là trong hoạt động huy động vốn của chính bản thân ngân hàng. Lãi suất là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến lượng vốn huy động được của ngân hàng bởi vì trong cơ cấu nguồn vốn thì tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng (lớn hơn 60%) của tổng nguồn vốn huy động tại chỗ mà mục đích của cá nhân và tổ chức khi gửi tiền theo hình thức tiết kiệm là nhằm tìm kiếm một khoản thu nhập. Mặt khác các cá nhân và tổ chức gửi tiền thanh toán vẫn mong muốn có thêm một khoản thu nhập. Do vậy lãi suất ngân hàng là yếu tố đầu tiên mà người gửi tiền quan tâm để có sự lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng hay là đầu tư vào các tài sản khác.
Xuất phát từ tầm quan trọng của lãi suất, NCB – TNH cần có chính sách lãi suất vừa hấp dẫn người gửi tiền vừa hạn chế gia tăng lãi suất đầu ra, cụ thể như:
Nâng lãi suất đối với tiền gửi trung và dài hạn, hạ thấp lãi suất tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn ngắn. Đảm bảo lãi suất trung bình không tăng lên đối với toàn bộ nguồn vốn huy động.
Có biện pháp khuyến khích khách hàng duy trì số dư tài khoản với thời gian dài hơn thời hạn gửi ban đầu. Ví dụ: người gửi tiền với kỳ hạn 6 tháng nhưng qua 3 lần kỳ hạn gộp lãi mà người gửi vẫn chưa rút tiền thì ngân hàng nên có chính sách thưởng thêm một tỷ lệ % về lãi suất tiền gửi.
Lãi suất được xây dựng phù hợp với từng đối tuợng gửi tiền, từng khu vực dân cư và trong từng thời kỳ cụ thể. Lãi suất phải xây dựng dựa trên tình hình tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, biến động tỷ giá…
Ngân hàng cần phải thường xuyên theo dõi tình hình biến động lãi suất trên thị trường, dự đoán xu hướng biến động, thực hiện tính toán lãi suất đầu ra, đầu vào để đưa ra chính sách lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa linh hoạt, vừa hấp dẫn nhưng cũng phải tuân theo lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước quy định và trong biên độ giao động cho phép. Điều này vừa đảm bảo quyền lợi cho ngân hàng vừa đảm bảo quyền lợi cho khách hàng.
3.2.4 Gắn liền việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
Trong hoạt động ngân hàng, giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có quan hệ thường xuyên, tác động hỗ trợ và chi phối lẫn nhau. Nguồn vốn là cơ sở, là tiền đề để ngân hàng thực hiện công tác sử dụng vốn. Về mặt kinh tế, sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đảm bảo cho ngân hàng có khả năng trang trải cho những nguồn vốn đã huy động, tạo ra uy tín của ngân hàng đồng thời tạo cơ sở để ngân hàng áp dụng các biện pháp kinh tế trong công tác huy động vốn sau này. Hơn nữa việc sử dụng vốn có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển trong quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng của mình, tạo cho ngân hàng ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền vào ngân hàng. Do đó, sử dụng vốn là căn cứ quan trọng để Ngân hàng xác định nguồn vốn cần huy động. Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
NCB – TNH cần đưa ra các giải pháp thích hợp cho việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả:
Thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội, bám sát mục tiêu, biện pháp của ngành. Nắm chắc thị trường, cả thị trường hiện tại và thị trường dự báo để xây dựng chiến lược tổng thể về bề rộng của thị trường.
- Thực hiện phương châm cho vay an toàn – hiệu quả. Kế toán cho vay phải tuân thủ nghiêm ngặt các tỷ lệ giới hạn an toàn vốn trong kinh doanh được qui định trong Luật NHNN và Luật Các TCTD bao gồm:
- Tỷ lệ đảm bảo an toàn về khả năng chi trả gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ đảm bảo khả năng chi trả theo qui định của NHNN.
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
- Tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay trên vốn huy động.
- Tỷ lệ cho vay tối đa trên vốn tự có.
- Tỷ lệ chuyển hoá vốn.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. . .
- NCB cần cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn, đảm bảo sự tương ứng về thời hạn và lãi suất cho nguồn vốn nào thì cho vay loại hình đó. Tuy nhiên, trong điều kiện có chênh lệch giữa nguồn vốn huy động và cho vay, ngân hàng có thể cân đối vốn cho vay bằng cách: nếu có nguồn vốn ngắn hạn có tính ổn định cao hoặc nguồn vốn thường xuyên luân chuyển ngân hàng có thể sử dụng để cho vay trung dài hạn, việc sử dụng tất nhiên phải chú ý đến một tỷ lệ nhất định.
3.2.5 Xây dựng chính sách tiếp cận và chăm sóc khách hàng hiệu quả Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Khi tiến hành đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, Phòng giao dịch cần phải đồng thời xây dựng chính sách tiếp cận và chăm sóc khách hàng hiệu quả. Đây là công việc có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của các chiến lược huy động vốn, có tác dụng lâu dài đối với hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Dựa trên việc phân nhóm khách hàng, phân tích nhu cầu, đặc điểm khách hàng Phòng giao dịch có thể xây dựng một chiến lược tiếp cận khách hàng hợp lý. Khi tung ra một sản phẩm huy động vốn nào điều quan trọng nhất là phải có một chương trình tuyên truyền, quảng cáo ấn tượng để khách hàng có thể biết và tham gia. Không những chỉ quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng mà cần phải gửi tờ rơi đến tận tay khách hàng, để họ có thể tìm hiểu kĩ hơn về sản phẩm mới của ngân hàng. Bên cạnh đó, tại Phòng giao dịch luôn phải có một bộ phận hỗ trợ nhằm giải đáp những thắc mắc của khách hàng về sản phẩm, truyền đạt sâu hơn những thông tin về sản phẩm để kích thích nhu cầu của khách hàng. Việc chăm sóc khách hàng sau khi cung cấp sản phẩm cũng rất quan trọng. Nó sẽ làm cho khách hàng có ấn tượng tốt về sự chu đáo và chuyên nghiệp của Phòng giao dịch, góp phần tạo ra một lượng khách hàng truyền thống đông đảo cho Phòng giao dịch trong tương lai. Tuy nhiên công việc này chưa được chú ý đúng mức không chỉ ở NCB – TNH mà còn ở rất nhiều ngân hàng tại Việt Nam. Nguyên nhân có thể do họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc làm này trong hoạt động Marketing ngân hàng và một phần do lượng khách hàng của ngân hàng quá đông. Em xin được nêu vài gợi ý nhỏ cho việc chăm sóc khách hàng cho Phòng giao dịch:
- Cuối mỗi đợt trả lãi và gốc cho mỗi khách hàng, Phòng giao dịch nên có thư (thư điện tử) cảm ơn tới khách hàng. Vào dịp lễ Tết, kỷ niệm ngày thành lập chi nhánh nên gửi thiệp hoa chúc mừng tới những khách hàng truyền thống, những khách hàng có lượng tiền gửi lớn… Những việc làm này tuy nhỏ nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc giữ chân khách hàng.
- “Khách hàng giới thiệu khách hàng” và “Khách hàng là người trả lương cho nhân viên ngân hàng” – là các phương châm mà NCB cần hướng tới và thực hiện.
- Ngân hàng cần nắm được những đặc điểm và thông tin liên quan đến khách hàng để giúp cho việc chăm sóc khách hàng phù hợp hơn.
- Mỗi khi triển khai đợt huy động vốn mới, sản phẩm mới… Phòng giao dịch nên có sự tuyên truyền rộng rãi không chỉ ở trụ sở phòng giao dịch mà còn nên đăng báo, hoặc phát tờ rơi tới tay khách hàng. Bên cạnh đó việc điều tra thăm dò ý kiến của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ mới cũng là điều rất nên làm (có thể phát bảng câu hỏi đến tận tay khách hàng tại quầy giao dịch để khách hàng điền vào).
- Huy động vốn bằng “Tiết kiệm dự thưởng”. Ngoài những đợt triển khai vẫn có thể tặng quà khách hàng cá nhân, tổ chức tuỳ theo lượng tiền gửi.
Những việc làm này thể hiện sự quan tâm của ngân hàng đối với khách hàng của mình. Để làm được những việc này Phòng giao dịch nên đẩy mạnh hoạt động của bộ phận marketing hơn nữa. Cần phải xây dựng văn hoá Ngân hàng chuẩn mực và thân thiện để khách hàng xem: “Ngân hàng luôn là người bạn đồng hành của khách hàng”.
3.2.6 Quản lý nguồn vốn theo đúng phương pháp, mục tiêu
Để huy động vốn hiệu quả, Phòng giao dịch cũng cần có phương pháp quản lý nguồn vốn hợp lý. Cụ thể là quản lý nguồn vốn trên các mặt: Cơ cấu nguồn vốn mỗi thời kì và mối quan hệ của các thành phần, chi phí huy động vốn, tính thanh khoản của các khoản nợ. Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Quản lí quy mô, cơ cấu nguồn vốn của Phòng giao dịch bao gồm các nội dung sau:
- Thống kê đầy đủ, kịp thời những thay đổi về các loại nguồn, tốc độ quay vòng của mỗi loại, so sánh tốc độ tăng trưởng các nguồn qua mỗi năm để thấy được những thay đổi, từ đó tìm ra nguyên nhân để có những điều chỉnh kịp thời.
- Phân tích kĩ lưỡng những nhân tố gắn liền với thay đổi đó.
- Lập kế hoạch nguồn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu câu và mục tiêu sử dụng nguồn.
- Quản lý chi phí huy động vốn: bao gồm quản lý lãi suất huy động vốn và chi phí huy động vốn phi lãi suất. Quản lý lãi suất huy động vốn là xác định lãi suất chi trả phù hợp cho mỗi loại nguồn, đồng thời xác định khả năng chi trả lãi của chi nhánh cho khách hàng trong mối quan hệ với lãi thu được từ hoạt động cho vay. Bên cạnh đó, cần xác định chi phí phi lãi suất cần thiết mỗi khi triển khai kế hoạch huy động vốn, làm thế nào để sử dụng chi phí này có hiệu quả mà vẫn tiết kiệm được cho ngân hàng.
- Quản lý tính thanh khoản của của các khoản nợ (vốn huy động): Đây là việc xác định kì hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu về kì hạn sử dụng đồng thời tạo sự ổn định của nguồn. Phòng giao dịch nên nghiên cứu phát triển các sản phẩm có kì hạn mới, các sản phẩm dễ chuyển đổi kì hạn thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
3.2.7 Đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ của cán bộ Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất trong suốt quá trình hoạt động của Ngân hàng. Bởi tất cả các chiến lược huy động vốn, các biện pháp nâng cao sức huy động vốn có thành công đều phụ thuộc lớn vào khả năng, trình độ của con người. Đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ là một công việc nên làm thường xuyên vì có tác dụng vừa phát triển trình độ nghiệp vụ vừa nâng cao khả năng sáng tạo của nhân viên để thích ứng tốt với những điều kiện mới. Trong quá trình đào tạo nên chú ý đến hai vấn đề sau:
- Nâng cao kĩ năng nghiệp vụ cho các giao dịch viên: Vai trò của các giao dịch viên là rất quan trọng, là hình ảnh và sự đánh giá của khách hàng về Phòng giao dịch. Do đó cần nâng cao hơn nữa ý thức tác phong nghiệp vụ giao tiếp của đội ngũ giao dịch viên bằng việc đào tạo nghiệp vụ: Thuê các chuyên gia về Marketing, tiếp xúc khách hàng, đào tạo các kĩ năng xử lý tình huống. Bên cạnh đó cần có chế độ khen thưởng nhân viên giao dịch hợp lý để khuyến khích tinh thần làm việc của họ.
- Cử cán bộ nguồn vốn đi học thêm các khoá ngắn hoặc dài hạn về huy động vốn, marketing… để họ có thêm những kiến thức mới và cập nhật thông tin về các sản phẩm và phương pháp huy động vốn mới của các ngân hàng trên thế giới để từ đó xây dựng được những chính sách huy động vốn hiệu quả hơn.
- Ban giám đốc nên có những buổi “Training” và trao đổi với nhân viên bộ phận kế toán. Trong những buổi Training đó đào tạo cho các nhân viên kế toán các kỹ năng về giao tiếp, nói chuyện, đàm phán, thuyết phục… với khách hàng. Thông qua những buổi như vậy Ban giám đốc có thể nâng cao được ý thức của giao dịch viên nói riêng và tất cán bộ nhân viên của Phòng giao dịch để họ hiểu rằng: “Khi tiền về ngân hàng cũng như tiền về nhà mình và khi tiền ra khỏi ngân hàng cũng như tiền ra khỏi nhà mình”.
3.2.8 Mở rộng việc sử dụng tài khoản cá nhân Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
Hoạt đông huy động vốn của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chủ yếu chỉ dựa vào hai công cụ chủ yếu là tài khoản tiết kiệm và ngân phiếu. Nhưng do có rất nhiều ngân hàng với các hình thức khác nhau cộng với sự có mặt của các tổ chức tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt và sự cạnh tranh đó đã bộc lộ những mặt tiêu cực. Trong tình hình đó tài khoản cá nhân và những dịch vụ kèm theo nó với dịch vụ có từ trước tạo nên sự kết hợp tuyệt vời giúp ngân hàng thoát khỏi phạm vi cạnh tranh nhỏ hẹp, thu hút khách hàng về phía mình. Tài khoản cá nhân là cơ sở giúp ngân hàng thực hiện thành công đa dạng hóa, dịch vụ ngân hàng.
Tài khoản cá nhân tạo tiền đề cho việc mở rộng hoạt động thanh toán qua ngân hàng. Từ hoạt động này ngân hàng sẽ thu được phí và thay đổi cơ cấu doanh thu của mình: giảm tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng, tăng nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm. Dần dần đưa ngân hàng đạt thu nhập từ hoạt động dịch vụ ngân hàng chiếm không dưới 30% tổng thu nhập của ngân hàng, đạt tiêu chuẩn ngân hàng tiên tiến theo tiêu chí của ngân hàng thế giới.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc đa dạng hình thức huy động vốn là cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong giao dịch kinh tế, vừa giúp ngân hàng huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Ngân hàng cần mở rộng quảng cáo việc sử dụng tài khoản cá nhân để khách hàng hiểu được lợi ích của việc sử dụng tài khoản này. Có như vậy mới thu hút được nhiều khách hàng sử dụng tài khoản cá nhân. Mang lại lợi ích không nhỏ cho công tác huy động vốn của ngân hàng. Việc mở rộng và phát triển tài khoản cá nhân giúp cho ngân hàng huy động được một nguồn vốn rẻ nhất mà ngân hàng có thể có được, sử dụng thực hiện cho vay và đầu tư kiếm lời.
KẾT LUẬN
Vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng, là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế. Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn khác nhau và huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và hiệu quả nhất. Nhu cầu vốn đầu tư ngày càng tăng của nền kinh tế cũng tương đương với việc huy động vốn của các Ngân hàng thương mại phải được tăng cường, mở rộng cho phù hợp. Mặt khác việc tăng cường huy động và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả hơn.
Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân có nhiều điểm mạnh như nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng nhanh và bền vững, hình thức huy động đa dạng hơn, tỷ trọng tiền gửi từ dân cư cao,… bên cạnh đó có không ít những hạn chế như cơ cấu vốn của Phòng giao dịch vẫn chưa hợp lý. Tỷ lệ vốn huy động từ tổ chức kinh tế thấp hơn nhiều so với tỷ lệ vốn huy động từ dân cư.
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, những lý thuyết được học trong chương trình đào tạo bậc đại học – Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng vào điều kiện thực tế ở Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn – Hải Phòng Chi nhánh Hải Phòng Ngân hàng TMCP Quốc Dân, Khóa luận đã thực hiện được các nội dung sau đây:
- Phân tích làm rõ nội dung cơ bản về công tác huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
- Đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn, tìm ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó trong công tác huy động vốn tại NCB – TNH.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Phòng giao dịch NCB – TNH đáp ứng được nhu cầu vay vốn của những năm tới mà không cần luân chuyển vốn như 3 năm qua nữa (dù huy động và cho vay qua 3 năm vừa qua tương đối ổn định nhưng cho vay vẫn nhỉnh hơn nên vẫn cần luân chuyển vốn). Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Huy động vốn tại Phòng giao dịch Trần Nguyên Hãn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Trần Nguyên Hãn